tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550433
Tiểu thuyết
05.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Dưới chế độ phong kiến, nhân dân Hà Nội phải dành những thức ăn ngon để tiến vua như rau muống Sơn Tây sản xuất tại huyện Phúc Thọ (thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội) là thứ rau ngon, luộc hay xào ăn rất giòn hoặc chuối ngự, vải thiều. Hồi nước ta bị nhà Đường đô hộ, cô vợ lẽ của Đường Minh Hoàng là Dương Quý Phi thích ăn vải tiến của Việt Nam. Hàng năm đến mùa vải, nhân dân ta phải cung tiến vải rất khổ, nên đã có câu "chạy như chạy trái vải". Khi vải vừa hái trên cây xuống phải cho mấy chục người lính đeo những giỏ nan đựng vải chạy ngựa trạm đến biên giới nhà Đường giao cho lính trạm nhà Đường lại chạy ngựa về Trường An để cung tiến. Hồi bấy giờ nhà thơ Đỗ Mục làm bài thơ "Qua cung Hoa Thanh", có hai câu:


Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu,


Vô nhân tri thị lệ chi lai!


(Một kỵ mã phi trong đám bụi hồng; Quý Phi nhoẻn cười, không ai không biết là quả vải đã đem đến tiến).


Mỗi năm đến mùa vải vào khoảng cuối tháng Ba đầu tháng Tư âm lịch, tiết trời bắt đầu nóng nực, lính trạm Việt Nam và lính trạm nhà Đường nhiều người bị chết vì chạy trái vải. Tại Việt Nam sau cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế (722) chống ách thống trị của nhà Đường, dân Việt Nam không phải tiến vải nữa. Tại nhà Đường, cuộc khởi nghĩa của An Lộc Sơn làm cho Dương Quý Phi bị thắt cổ chết tại Mã Ngôi[1], dân Đường cũng thoát được cái nạn "chạy trái vải".


Dưới thời Tự Đức (1847- 1883) nhân dân Hà Nội lại còn khổ về nạn tiến chim sâm cầm vào Huế. Tại vùng Hồ Tây và làng Nghi Tàm ngày xưa có giống chim sâm cầm lớn hơn chim ngói một chút, mình nó hơi dài, có con lông đen có con lông màu tro xam xám, thịt rất ngon và bổ, tương truyền là nó được ăn sâm ở Trung Quốc, về mùa đông tránh lạnh ở Trung Quốc bay sang nước ta hàng đàn. Nhân dân vùng Hồ Tây và Nghi Tàm thường săn bắt để ăn và bán. Sang triều Nguyễn bọn quan lại đem thứ chim này vào Huế tiến. Gia Long định bắt nhân dân Nghi Tàm phải nộp thuế sân chim(1) như các tỉnh An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, Cần Thơ nhưng dân nói chim ở Bắc Hà chỉ có từng mùa mấy tháng về vụ lạnh, không có nhiều và có quanh năm như trong Nam nên vua quan nhà Nguyễn không bắt đóng thuế sân chim, nhưng mỗi năm khi có chim phải đem tiến năm chục đôi, tức là một trăm con. Về sau số chim mỗi ngày một ít đi, nên số đem tiến được giảm dần. Đến triều Tự Đức chỉ phải tiến có mười đôi, là hai mươi con, nhưng bọn quan lại bắt dân phải nộp năm bảy chục con để chúng được dịp xà xẻo. Thiếu chim chúng trách cứ vào lý trưởng, lý trưởng lại trách cứ vào phường săn. Nhiều lý trưởng ở Nghi Tàm bị đòn đánh khổ sở về tội thiếu chim nên chức lý trưởng trong làng người nọ đùn đẩy cho người kia, không ai dám làm. Năm 1870, có ông trong phường săn tên là Râu, nhà nghèo nhưng tính thẳng thắn, bướng bỉnh không sợ quyền thế. Ông ta bảo lý trưởng Nghi Tàm chỉ nộp đủ số chim tiến, không nộp hơn, tội vạ đâu ông ta chịu. Dân làng Nghi Tàm liền cử ông làm lý trưởng. Khi ông đem chim nộp cho viên phủ Vĩnh Thuận, viên này đòi đủ số năm chục đôi. Ông lý Râu nói là chim khan khó săn bắt, viên phủ nọc ra đánh, ông ta chịu đòn đem chim về. Cách nửa tháng viên phủ sức đòi chim, ông ta lại xách lồng chim có mười đôi đem nộp. Viên phủ lại nọc ra đánh. Ông đánh trống đằng văn để kêu oan. Tự Đức sai viên thái giám ra xét hỏi. Ông lý Râu kể nỗi dân tình Hà Nội khổ về nạn tiến chim sâm cầm, vì chim mỗi năm một ít đi mà bọn quan lại ở Hà Nội còn hà lạm bắt nộp quá số chim triều đình quy định. Hồi bấy giờ bà Huyện Thanh Quan lại đương làm chức cung giáo tập (dạy cung nữ học chữ Nho), bà người làng Nghi Tàm biết rõ nỗi khổ của dân về việc tiến chim sâm cầm, bèn tâu xin giúp. Tự Đức liền bãi việc tiến chim sâm cầm. Hồi Pháp thuộc chim sâm cầm bị tuyệt chủng, nhưng chuyện ông lý Râu còn truyền tụng mãi.


Các bữa ăn của dân Hà Nội thời xưa không thống nhất: những nhà làm ruộng, nhà làm thủ công nghệ đều ăn cơm sáng vào quãng 5 giờ, chiều vào quãng 13 giờ hay 13 giờ 30, tối chỉ ăn ít quà vặt như ngô, khoai luộc, bỏng rang hoặc ngô nướng, khoai lùi. Những nhà buôn bán trên các phố phường và những nhà có người làm quan, làm đề lại, thừa phái, thầy nho thường ăn cơm sáng vào quãng 7 giờ 30, 8 giờ; chiều vào quãng 4 giờ 30, 5 giờ, giữa trưa thì ăn quà. Là những người luôn luôn kiếm được lãi và có bổng lộc, nên quà của họ đắt tiền hơn: bún bung, bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh đúc chấm tương, cháo sườn, cháo lươn. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội làm nhượng địa, mở các công sở dụ dỗ người đi làm cho chúng ngày hai buổi: sáng 7 giờ 30 đến 11 giờ, chiều 2 giờ 30 đến 5 giờ 30 (mùa hè) và từ 8 giờ đến 11g30, 14 giờ đến 17 giờ (mùa đông), việc ăn uống của những nhà có người đi làm "việc Tây" cũng thay đổi khác: bữa cơm chính vào quãng 12 giờ trưa, bữa cơm chiều vào quãng 6 giờ 30 hay 7 giờ. Mỗi buổi sáng những người đi làm ăn quà lót dạ: cháo hoa, đậu kho, xôi lạc, xôi đậu, bánh đúc sốt, bánh cuốn Thanh Trì v.v… Đến hồi này hàng quà phát triển rất nhiều. Ngoài những món quà của dân nghèo Việt Nam bán rong, lại có những món quà của dân nghèo người Hoa gọi là "ngẫu nhục phắn" ta nghe lạ tai gọi lầm tiếng "phắn" thành tiếng "phẩn". Món ăn vào mồm mà gọi là "phẩn" rất vô lý, nên ta gọi tránh ra thành "phở". Ba tiếng "ngẫu nhục phắn" chữ Hán là "nghiu nhục phắn" nghĩa là bánh bột nấu với thịt bò, thoạt đầu mới có còn là thịt bò chín, sau họ làm phở tái, phở xào, phở áp chảo. Người Hoa còn làm thứ vằn thắn, chữ Hán là vân thôn, nghĩa là nuốt mây, nó lại còn có tên gọi là "xực tắc", vì khi đem bán rong họ không rao bằng mồm mà dùng cái mõ bằng tre gõ hai đầu có tiếng trầm tiếng bổng nghe như xực tắc. Có một món quà ta quen gọi là "quẩy" là gọi nhầm, vì quẩy là quỷ, thực ra nó là "dầu chao quải", nghĩa là "cối bỏ vạc dầu". Đây là món ăn có tính cách lịch sử Trung Quốc: thời Tống quân Kim xưa là một nước ở ngoài Vạn Lý Trường Thành kéo vào xâm lược nhà Tống. Tống Nhạc Phi chiến đấu rất anh dũng, quân Kim luôn luôn bị thua. Sau chúng biết trong triều đình Tống có tên Tần Cối làm Tể tướng đứng đầu trăm quan rất có quyền thế và lại tham nhũng, chúng liền sai người đem vàng ngọc đến nhà riêng Tần Cối đút lót để làm hại Tống Nhạc Phi. Tần Cối làm giả chiếu vua Tống đòi Tống Nhạc Phi về kinh đô giam luôn vào ngục, rồi giết chết và xướng lên thuyết chủ hòa với quân Kim, những viên đại thần nào chủ chiến đều bị Tần Cối giết hại. Sau đó nhà Bắc Tống đầu hàng Kim, nộp cống xưng thần. Tần Cối chết được một thời gian, nhân dân Trung Quốc mới phát hiện được đủ bằng chứng hắn là tên Tống gian bán nước hại dân. Bấy giờ nhân dân kết tội vợ chồng hắn phải bỏ vạc dầu. Họ làm thứ bánh bằng bột mì có hai chiếc dính nhau thả vào dầu mỡ rán, xé đôi ra ăn. Thứ bánh này gọi là "dầu chao quải ".


Dưới chế độ thực dân phong kiến, người cày không có ruộng, bị áp bức bóc lột, không sống nổi ở nông thôn nên nông dân kéo cả ra Hà Nội tìm kế sinh nhai: người đàn ông khỏe mạnh thì kéo xe tay, người yếu đuối và phụ nữ thì đi bán quà rong. Họ rao ời ợi ngoài phố suốt ngày. Từ sáng sớm tinh mơ đến đêm khuya vẫn có hàng quà bán rong, những người bán quà đa số là người ở các vùng Thái Bình, Nam Định. Có những bà già, không có vốn mua hàng đào củ gấu củ súng đem luộc bán rong. Món quà vặt này phụ nữ thích ăn vì tin là bổ huyết. Củ súng được dùng làm thuốc bắc gọi là khiếm thực. Những người đi bán quà rong như vậy, cuộc sống của họ không được đảm bảo, bữa đói bữa no.


QUẦN ÁO VÀ CÁCH PHỤC SỨC


Vải lụa, vóc nhiễu


Ngày xưa, những nhà có con gái nhà nào cũng có cái khung cửi dệt vải. Khắp nước ta nơi nào cũng có cây bông, nhiều nhất ở vùng Nam Định. Đến mùa bông, người ta mua bông về cán hết hột rồi thuê những người thợ chuyên môn đến nhà bắn bông và đánh thành con cúi, từ những con cúi, người ta kéo ra sợi vải, người kéo khéo sợi rất săn và nhỏ. Sợi ấy đem đạp cơm (tức là hồ sợi) rồi đánh thành ống mắc lên khung cửi làm sợi dọc; còn sợi ngang thì đánh vào con suốt và lắp vào cái thoi. Khung cửi dệt vải là một dụng cụ rất thô sơ, go bằng sợi, lược bằng nan tre vót nhẵn, khổ vải dệt ra chỉ vào khoảng 35 phân, khi dệt thành tấm vải bao giờ cũng tính vuông. Cầm một đầu góc mép vải gấp chéo sang mép bên kia để đo gọi là một vuông, tức là mỗi bề có 35 phân. Vải dệt xong đem giặt hết hồ rồi nhuộm nâu và nhuộm thâm; làng nhuộm nâu nổi tiếng là làng Đồng Lầm (nay là khu Kim Liên), làng nhuộm thâm nổi tiếng là làng Hoa Cầu (đời Thiệu Trị phải đổi tên là Xuân Cầu) nên đã có ca dao:


Ai về Đồng Tỉnh , Huê Cầu


Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm


    Làng Đồng Tỉnh ở cạnh làng chuyên buôn bán thuốc lào. Vải nhuộm nâu rồi lại nhuộm với nước lá bàng và vùi vào đống đất bùn ao đen để vài ba ngày đêm. Trong nâu và trong lá bàng có chất ta-nanh, trong bùn ao có chất sắt hợp với nhau thành chất tanate de fer nên đen thẫm. Vải nâu dùng may quần áo đàn ông và đàn bà; vải thâm dùng may váy đàn bà.


    Nhân dân khắp nước ta còn có nghề chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa, là, the, lượt, gấu, vóc, nhiễu, lĩnh, đoạn. Những thứ này do các làng có nghề chuyên môn làm. Những người chuyên nghề chăn tằm ươm tơ đều là nông dân nghèo, chăn được lứa tằm ươm ra tơ đánh thành con, đem bán cho các nhà giàu buôn tơ tại phố Hàng Đào và Hàng Gai. Những người này lại bán tơ cho những người làm nghề dệt lụa, nhiễu, the, lượt, lĩnh v.v… rồi lại mua thành phẩm của họ (người hàng cửi tức người dệt) bán cho nhân dân.


    Các thứ the, lượt, là, lĩnh đều nhuộm thâm để may áo, làm khăn đội đầu cho đàn ông, lĩnh may váy đàn bà, the có mấy thứ: the ba chỉ, the dọc kép, the hoa to (may áo đàn ông), the hoa băng (hoa nhỏ may áo đàn bà). Những thứ hàng phải cải hoa như the, gấm, vóc, lĩnh hoa chanh khi dệt phải có một người thợ chuyên môn ngồi trên nóc khung cửi rút sợi để cải hoa; khi dệt nhiễu cũng phải rút sợi để cho nổi vân và nổi cát lên. Trong nghề dệt tơ việc hồ sợi tơ ngoài cơm thổi trắng và dẻo làm hồ phải dùng thêm mỡ lòng lợn (gọi là mỡ cơm xôi ) và sáp ong chuốt cho sợi tơ trơn óng mới dệt được. Ngoài tơ còn thứ gốc hay sồi , cũng kéo ở kén ra, là thứ căn kén sợi thô, sần sùi dùng dệt thứ hàng dày hơn the lụa gọi là sồi hay đũi. Thứ này bán rẻ tiền hơn lụa, dùng may áo và váy. Phó sản phẩm trong nghề dệt tơ là những tơ đứt, tơ lỗi trong khi mắc, tơ “rối vay” đều bán cho người làng Triều Khúc để làm quai thao, làm tua mũ, se chỉ, se dây đàn.


    Cách phục sức của nhân dân ta ngày xưa đều theo câu “ăn chắc mặc bền”. Việc kéo tơ, kéo sợi đến dệt thành vải lụa, may thành quần áo đều làm bằng tay nên việc may mặc của nhân dân có phần hạn chế. Tuy nhiên, đàn ông, đàn bà đều mặc rất kín đáo và có phần diêm dúa. Người đàn ông mặc cái quần phải có cái thắt lưng dài, quấn hai vòng quanh bụng giữ lấy cạp quần và buông bốn múi xuống trước mặt, những khi làm việc lao động chân tay mặc áo cánh, đội khăn đầu rìu. Mỗi người, dù là nông dân hay người lao động đều có một bộ quần áo lịch sự gồm một quần trắng, một áo the thâm, chiếc khăn lượt quấn được bốn năm vòng, để dùng khi đi lễ tết , dự việc cúng tế ở đình chùa và dự đám cưới, đám hỏi. Từ năm 1925 trở đi, chiếc khăn lượt hay khăn nhiễu được thay bằng chiếc khăn xếp. Khăn xếp đội nhẹ, không tốn lượt hay nhiễu, không mất thì giờ khi quấn khăn. Chỉ những người trẻ và trung niên thích dùng khăn xếp, các cụ dùng khăn nhiễu tam giang hay khăn là nhuộm thâm gấp nếp qua quít rồi quấn quanh đầu bốn năm vòng. Từ năm 1915, thanh niên Hà Nội lác đác có một số ít người mặc Âu phục, đó là những người xuất thân trường thông ngôn, đi làm trong các sở của Pháp. Phụ nữ không ai mặc áo cánh, những bà nông dân, tiểu thương hay làm việc thủ công đều mặc áo dài bốn thân, hai vạt trước thắt quắt lại trước mặt, để lộ hai giải yếm dài thắt vòng qua lưng buông xuống khỏi đầu gối. Khi làm công việc gì thì tất cả các thứ lòa xòa phía trước đều thắt quặt cả ra sau lưng cho gọn. Phụ nữ nông dân và lao động hay mặc áo bốn thân đổi vai: nửa trên từ lưng đến cổ một màu vải nâu non, nửa dưới từ lưng trở xuống màu nâu sẫm. Phụ nữ Hà Nội nhà giàu, nhà buôn bán trên phố, vợ con các quan, ở trong mặc áo bốn thân, váy sồi, khi ra ngoài đường ngoài phố đều mặc áo năm thân cài khuy về phía bên phải; cổ áo có một khuy ít khi cài để lộ cổ yếm, chỉ cài khuy chỗ xương quai xanh và ba khuy dưới nách. Khuy áo thường là khuy tết bằng vải, sau dùng khuy hổ phách rồi khuy đồng và khuy vàng. Từ khi có lệnh cấm của Minh Mệnh, tất cả phụ nữ Hà Nội đều mặc quần, ở nhà mặc quần sồi, quần vải, ra phố mặc quân sồi hoặc quần lĩnh, lĩnh do làng Bái Ân, Trích Sài gần vùng Bưởi dệt, có thứ lĩnh trơn và lĩnh hoa chanh.


Sau khi Pháp chiếm Hà Nội, cách phục sức của phụ nữ Hà thành dần dần thay đổi: các bà, các cô may áo cánh mặc lót trong và mặc ở nhà về mùa hè, đi ra ngoài phố mặc áo dài bốn thân, năm thân. Từ năm 1930, phụ nữ nhà giàu sang nổi lên phong trào mặc quần trắng, bỏ yếm đeo su chiêng; các cụ cấm đoán không được, rồi phong trào lan tràn khắp nơi, tiếp đến phong trào cạo răng trắng. Từ hồi này trở đi các hàng dệt của nhân dân ta sút kém dần do có nhiều hàng tơ lụa của nước ngoài nhập vào. Gần khắp phố Hàng Đào, những hiệu vải của người Ấn Độ mở ra nhan nhản: vải chúc bâu, phin nõn, nhung lụa, vải tâu đỏ, các thứ nhiễu hoa nhuộm các màu. Tại phố Hàng Ngang, người Hoa kiều cũng nhập từ Trung Hoa nhiều thứ hàng vóc, nhiễu, gấm, satanh trơn, satanh hoa. Các hiệu buôn của Pháp như hiệu Godart bán nhiều thứ hàng tơ lụa các màu, mỏng và đẹp. Các thứ hàng ngoại ấy làm ảnh hưởng đến nghề dệt của Việt Nam.


    Lối phục sức của đàn ông Hà Nội cũng dần dần thay đổi, không ai mặc quần áo vải ta, mặc hàng chúc bâu (hay diềm bâu) và dần dần mặc Âu phục. Từ 1935 trở về trước, lối mặc Âu phục về mùa hè, dù trời nóng nực, mọi ngưòi vẫn đóng đủ bộ: quần trắng, sơ mi, áo bành tô, đeo ca-vát hoặc nơ, về sau bỏ áo bành tô mặc sơ mi. Do lối phục sức giản dị này mà đại đa số thợ may ngày nay chỉ biết may quần và sơ mi, không may được áo bành tô.


                                            Nón, ô và mũ


 Hồi xưa, nhân dân ta dùng nhiều thứ nón: nón phụ nữ, nón đàn ông. Riêng phụ nữ có ba thứ nón khác nhau: nón con phẳng như cái mâm, đường kính rộng 80 phân, chung quanh có cái diềm rủ xuống độ 5 phân, giữa có cái gua bằng nan để chụp lên đầu, hai bên vành nón buộc cái quai bằng sợi mây quàng chặt qua cằm giữ vững nón trên đầu. Vợ con những người làm quan và những người làm ăn buôn bán giàu có trên các phố thường đội thứ nón nghệ quai thao. Thứ nón này làm rất công phu: đường kính rộng như nón con, lợp mấy lớp lá, chung quanh có cái rèm rủ xuống rộng đến 15 phân. Phía trong nón lót toàn bằng những vòng nan vót nhẵn và đều để ken sát nhau; dưới lớp vòng nan chỗ sát với lá nón có giát những hình long, ly, quy, phượng trổ bằng giấy trang kim, có những mảnh gương con mỏng và tròn (thường đính ở vàng mã) làm cái gua bằng nan rất cứng trát nhựa thông, giữa gua có cái chiêu thẻ bằng bạc mỏng, to bằng nắp hộp sữa bò, chạm trổ hoa rất phức tạp. Hai bên diềm nón có hai cái thẻ bạc mỏng to bản bằng quân bài tam cúc dài độ 15 phân cũng chạm trổ hoa văn, dùng để mắc quai nón. Quai nón là một bộ gồm từ 6 đến 8 sợi dây se bằng tơ nhuộm thâm to gần bằng dây phanh xe đạp, mỗi sợi dài 80 phân, hai đầu sợi mắc vào hai thẻ bạc ở diềm nón, chỗ này lại tết thành quả găng to bằng quả chanh có nhiều tua buông rủ xuống dài đến 20 phân. Quai thao dùng để trang trí nón cho đẹp, không có tác dụng giữ nón cho vững trên đầu. Người đội nón bao giờ cũng phải đưa tay ra giữ lấy những sợi dây thao buông rủ xuống trước bụng.


Những bà những cô nông dân khi ra làm đồng thường đội thứ nón nhỏ, nhỏ hơn nón con, đường kính độ 50 phân không có rèm rủ xuống, chung quanh mép hơi khum khum xuống một chút, giữa có cái gua nan chụp lên đầu và có quai bằng mây hay lạt giang thít chặt vào cằm, giữ nón cho vững.


Về phía đàn ông, nhân dân lao động đội nón chóp như chúng ta thấy ngày nay; người làm lính đội thứ nón chóp bé hơn nhiều, che không kín vai, sơn đỏ. Những người học trò cũng đội nón chóp to nhưng sơn đen; còn những người đỗ đạt làm quan thường đội nón lợp bằng lá dừa có quai lụa bạch, trên chóp nón có người gắn cái chóp bằng bạc chạm trổ hoa văn rất cầu kỳ; những người làm chánh tổng, lý trưởng thường đội nón lông, lợp bên ngoài bằng lông ngỗng.


Khi Pháp chiếm Hà Nội, đặt các công sở, các trường Pháp Việt, người đi làm và đi học, có một số người bỏ khăn, nón, dùng mũ như thứ mũ ngày nay, nhưng lợp vải trắng dày; những người còn đội khăn lượt thì dùng ô thay cho nón. Ô có mấy thứ: ô cán sắt, gọng sắt, chỗ tay cầm bằng gỗ uốn cong vòng lên, lợp bằng vải đen, gọi là ô đen; thứ lợp bằng lụa ngoại nhẵn, óng đẹp, gọi là ô lục soạn; có thứ ô có gọng sắt cán bằng tre lợp vải trắng (bên ngoài trắng, bên trong xanh) gọi là ô trắng. Ta dùng ô vừa che mưa vừa che nắng, mọi người đi ra đường không mưa không nắng cũng đeo cái ô cụp trên tay, coi như dụng cụ để trưng diện. Về sau các bà, các cô giàu có cũng bỏ nón nghệ quai thao dùng ô, thứ ô đàn bà cũng giống ô đàn ông, chỉ khác chỗ tay cầm tiện bằng xương hay sừng không uốn vòng mà xâu sợi dây lụa đen dùng đeo ở cổ tay khi không muốn giương để che. Dụng cụ che mưa này, đồng bào ngoài Bắc quen gọi là cái ô, đồng bào miền Nam gọi là cái dù. Từ dù theo tiếng Quảng Đông (Trung Quốc) là “vũ” (mưa), vũ tán (cái tán che mưa) , người ta gọi tắt là “vũ”; tiếng Quảng Đông là “dù”. Sau đại chiến Thế giới thứ nhất, ngành hàng không phát triển, người lái máy bay các nước dùng một dụng cụ giống như cái ô đeo vào người nhảy từ trên máy bay xuống đất, các nhà báo Hà Nội gọi là “nhảy bằng ô đỏ ngà”. Danh từ ấy dài và không gọn, sau bắt chước các báo trong Nam gọi là “nhảy dù”. Danh từ “nhảy dù” ngày nay rất phổ biến khắp nước ta từ Nam chí Bắc.


Giày, dép, guốc


Từ thời xa xưa, nông dân, công nhân, dân nghèo và những người đi lính đi chân đất, khi lội nước, khi leo núi, vượt đồi đều dễ dàng nhanh nhẹn. Vì quân lính phải đi đất, nên chỗ đóng quân của đối phương ban đêm rắc gai (lộc giốc: thứ gai nhọn sắc có nhiều cành nhánh như sừng hươu) để đề phòng quân địch đánh úp.


Trong khi làm việc lao động mọi người đi đất cho tiện nhưng ngày tết, ngày cưới, khi vọng họp việc làng mọi người đi dép bằng da trâu bò phơi khô, gọi là da sống. Thứ dép này là hai miếng da mỏng vừa hai bàn chân, đầu dép có cái khuyết bằng da để xỏ ngón chân giữa vào, chỗ cổ chân có cái quai ngang giữ cho dép sát chặt vào chân. Về sau ta biết cách thuộc da đóng giày, có thứ giày da lợn xuất hiện đầu tiên. Đế giày và gót giày đóng bằng da dày và cứng, mũi giày là thứ da mỏng và mềm, màu đỏ, giày đóng toàn bằng đinh tre. Giày đóng mất nhiều công, giá đắt, chỉ những người giàu có, làm quan mới mua dùng. Về sau có thứ giày, mũi đóng bằng da sơn đen bóng láng do một hiệu buôn Hoa Kiều là hiệu Chí Long nhập vào bán; thợ giày dùng da này làm mũi giày nên gọi là giày Chí Long; mũi giày dài và hơi cứng. Ít lâu sau có người đem kiểu giày từ tỉnh Gia Định ra, mũi bằng da đen bóng, ngắn và mềm, đẹp hơn giày Chí Long. Thợ đóng giày theo mẫu đóng giày này, giày khâu bằng dây đàn và đế đóng bằng đang tre. Hồi Pháp mới chiếm Hà Nội, một số người đi làm cho Pháp đi giày tây đen có cổ gọi là giày “bốc-can”, sau lại có thứ giày da đỏ như mai cua luộc gọi là giày “Giôn”. Nhưng cũng chỉ là trong số những người có tiền, những người đi làm cho Pháp thôi.


    Về phần phụ nữ, những người giàu có, vợ con người làm quan thường đi dép cong (gọi là dép cong, vì mũi dép làm cong vút lên chạm đến gấu quần). Có hai thứ dép cong: một thứ dép mỏng nhuộm đen, quai da dùng đi ngày thường; một thứ dép dày sơn đen bóng quai da bọc với nhiễu hay lụa, nhung dùng đi ngày tết, đi dự lễ cưới ngày nay.


Theo tục lệ ta ngày xưa, những người đi giày dép, guốc khi vào nhà quan, vào công đường, khi đi lễ các đền chùa đều phải bỏ giày dép bên ngoài, đi chân đất.


Đời Lê, triều đình đóng đô tại Hà Nội, những người làm quan trong triều và vợ con họ thường dùng thứ giày văn hài, gọi tắt là hài. Thứ giày này đế bằng gỗ nhẹ như gỗ vông, mũi giày bằng vóc, nhiễu, thêu hoa văn bằng các thứ chỉ ngũ sắc. Giày đẹp nhưng không được bền. Sang đời Nguyễn, ít người dùng. Phố Hàng Hài (nay là đoạn phố Hàng Bông từ đầu Hàng Trống, Hàng Hòm đến đầu Hàng Mành - Lý Quốc Sư) là nơi có những người thợ chuyên đóng giày này, về sau ít người dùng, giày bán không chạy, người ta chuyển sang làm thứ giày hài nên phố này được đặt tên là phố Hàng Hài, xưa thuộc phường Kim Cổ.


Giữa phố Đinh Liệt có cái ngõ gọi là ngõ Hài Tượng, do trong ngõ có ngôi đền thờ ông thợ giày, chữ Nho là hài tượng. Ông thợ này được tất cả những người làm nghề đóng giày tại Hà Nội thờ làm tổ sư.


Khỏi ngõ này một quãng có phố Hàng Giày, nơi ngày xưa tụ tập những người chuyên đóng giày và thuộc da.


Ngoài phố Hàng Giày lại có phố Hàng Dép, nay sáp nhập với phố Hàng Bồ gọi chung là phố Hàng Bồ. Phố này bắt đầu từ đầu Hàng Đào rẽ ngoặt ra tới đầu phố Lương Văn Can, xưa là phố có những người chuyên nghề đóng và bán dép da cho phụ nữ.


   TỤC CƯỚI GẢ CỦA NGƯỜI HÀ NỘI XƯA


Tục lấy vợ lấy chồng của nhân dân ta ngày xưa gần như tự do kết hôn: trai gái tìm hiểu nhau rồi nhờ người nói với bố mẹ hai bên, sau đó tổ chức lễ cưới tuy có giản dị, nhưng vẫn có sự ăn uống. Đời Nguyễn, Minh Mệnh hạ lệnh bắt buộc mọi gia đình khi có con giai con gái lớn phải do bố mẹ đứng cưới gả và có người làm mối; những đám giai gái tìm hiểu nhau rồi cưới đều bị cấm bị phạt, thường gọi là ngả vạ hay bắt vạ. Lệnh ấy gây nên nhiều lệ tục về sau này, nhưng chỉ có người Hà Nội phải tuân theo, còn dân nhiều nơi vẫn theo cổ tục trong làng mình. Trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1945, tôi có dịp đi chơi về nhiều vùng nông thôn, được nghe các bà lão nói về tập tục cưới gả trong làng các cụ. Làng Nội Duệ Cầu Lim, trai gái tìm hiểu nhau rồi đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch, làng mở hội vào đám, anh chị rủ nhau lên đồi Lim có tên là Hồng Sơn tổ chức hát đúm tức là hát quan họ (mỗi bên trai gái thường có ba hay bốn người). Sau cuộc hát, cô con gái mời người yêu về nhà mình, giới thiệu với bố mẹ mình, sau đó tổ chức lễ cưới và nộp cheo.


Tại một làng thuộc huyện Kinh Môn, vào dịp sau Tết dân làng tổ chức các cuộc đánh đu. Họ trồng những cây đu cao ngoài đồng rộng, nam nữ thanh niên trèo lên đánh: một trai một gái đứng xáp mặt nhau. Kẻ nhún đi, người nhún lại, cái quang đu lên rất bổng. Sau cuộc đánh đu này, trai gái tìm hiểu nhau rồi nói với bố mẹ; hai bên bố mẹ tổ chức lễ cưới. Lễ cưới thường làm vào dịp cuối năm âm lịch từ 15 hay 20 tháng Chạp trở đi, và thường đón dâu về ban đêm. Cỗ bàn ăn buổi chiều xong, quan viên họ nhà trai đốt đuốc và khiêng võng sang nhà gái. Nhà gái đón tiếp trịnh trọng, sau vài tuần trầu nước, quan viên họ nhà trai mời cô dâu không đi trên đường cái mà lại đi xuống đồng ruộng và chạy nhanh, có khi họ bị vấp ngã quăng cả cô dâu xuống ruộng.


Tại một làng thuộc tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang) ngày xưa cũng có tục trai gái tìm hiểu nhau rồi tổ chức lễ cưới. Hôm cưới, không đón dâu, tất cả họ nhà gái: bố mẹ cô dâu, cô dâu, ông chú, bà bác, người trong họ và những người được mời đi ăn cưới đều kéo cả sang nhà trai ăn cỗ, trong khi đó thì toàn thể họ nhà trai và cả chú rể kéo sang nhà gái ăn cỗ, tức là lối ăn đánh đổi cùng một lúc. Sau khi ăn uống xong, họ nhà gái kéo về hết để cô dâu ở lại nhà trai; còn họ nhà trai sau khi ăn uống kéo nhau về, để lại một món lễ gồm buồng cau, mấy gói chè và mấy chục quan tiền. Thế là lễ cưới tổ chức xong.


Trong đồng bào dân tộc nước ta, xưa có nơi có tục trai gái tìm hiểu nhau trong các cuộc hát lượn hay tung còn, rồi con trai sửa lễ đưa sang nhà gái; bố mẹ người con gái nhận lễ là bằng lòng gả con gái cho anh trai ấy. Thế rồi cách ít lâu, vào một đêm tối trời anh con trai ấy mò sang nhà người con gái cạy cửa buồng lẻn vào, cõng cô gái chạy về; bố mẹ anh em cô gái vác gậy đuổi bắt lại, nhưng chỉ làm giả vờ thế thôi, chứ không cố ý bắt thật. Còn cô gái có nói trước với người yêu nên đêm ấy cửa buồng chỉ khép hờ cho anh con trai vào được dễ dàng.


Tục cướp người về làm vợ, về đời Hán, Đường bên Trung Quốc cũng có. Trong cuốn “Tiểu thuyết trung khảo” do nhà xuất bản “Cổ điển văn học xuất bản xã”, tác giả là Triều Tĩnh Phương kể rằng về thời Tam Quốc, ông Trương Phi một hôm cưỡi ngựa đi chơi qua bãi dâu, thấy người con gái hái dâu xinh đẹp liền “bắt sống” đem về làm vợ.


Trong đồng bào dân tộc nước ta có nơi còn có tục: trai gái tìm hiểu nhau rồi, anh con trai đến xin ở rể nhà gái, bố mẹ cô gái bằng lòng cho anh ta phải nai lưng ra làm việc sản xuất cho nhà cô gái ấy. Sau một năm, bố mẹ cô gái cho hai người ăn nằm với nhau. Được vài ba năm, hai vợ chồng đẻ được một vài con rồi, bố mẹ vợ làm nhà cho vợ chồng con rể ở riêng. Ngày dọn về nhà mới là ngày tổ chức lễ cưới và ăn mừng nhà mới nhân thể. Họ hàng và bà con thân thuộc kéo đến làm giúp cỗ bàn rất đông, vợ chồng anh chủ nhà mới không phải làm việc gì. Khi vợ chồng từ nhà bố mẹ vợ về nhà mới, việc trước tiên là đưa nhau vào buồng âu yếm nhau đã rồi mới ra chào bà con họ hàng và tiếp khách.


Trên đây chúng tôi dẫn tục cưới gả của một số nơi xa Hà Nội do các cố lão kể cho nghe để tỏ rằng lệnh của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn cấm tự do kết hôn không được nông dân các nơi tuân theo, vì bà con nông dân ta vẫn thường nói “phép vua thua lệ làng”. Hà Nội có Bắc thành Tổng trấn rồi khâm sai đại thần giám sát chặt chẽ nên mỗi mệnh lệnh của vua quan nhà Nguyễn ở Huế đưa ra dân Hà Nội phải tuân theo. Thêm nữa người Hà Nội xưa tiêm nhiễm thói xa xỉ của các chúa Trịnh đời Lê Trung Hưng trở về sau nên cũng bày vẽ ra nhiều nghi thức tốn kém trong việc hiếu hỷ. Việc lấy vợ cho con, bố mẹ người con trai nhờ người đứng giữa làm môi giới , gọi là bà mối, trai gái không hề biết mặt nhau. Trước hết nhà trai đem buồng cau đi với bà mối đến biếu nhà gái gọi là lễ chạm ngõ, hai bên trao đổi ngày tháng năm sinh của đôi trai gái rồi nhờ ông thầy bói thầy số so đôi tuổi. Hễ tuổi hai bên hợp nhau thì nhà trai nhờ bà mối báo tin cho nhà gái biết để đưa lễ sêu. Mùa nào thức ấy, nhà trai đưa biếu nhà gái : mùa vải biếu vải, mùa nhãn biếu nhãn; Tết Đoan ngọ biếu đôi ngỗng và thúng gạo nếp; tết Trung thu biếu cốm, hồng, chuối tiêu; Tết Nguyên đán biếu gà, gạo, cau, rượu và chè. Mỗi lần đưa lễ biếu bà mối theo yêu cầu của nhà trai nói với nhà gái xin cho đi tiểu lễ tức là lễ ăn hỏi. Có nhà gái để hàng năm ăn lễ sêu mãi rồi mới cho ăn hỏi, cũng có nhà giản dị chỉ nhận một hai lần lễ sêu rồi cho ăn hỏi luôn. Đối với những nhà giàu có, lễ ăn hỏi làm trịnh trọng: nhà trai phải đưa từ hai nghìn quả cau ngon, hai nghìn lá trầu không, mấy cân mứt (vừa mứt bí vừa mứt sen trần) mấy trăm bánh dày, mấy trăm bánh chưng, mấy trăm gói nem, một mâm xôi gấc đầy, một con lợn quay béo, mấy chai rượu ngon. Việc dẫn lễ hỏi tổ chức thành một đám rước: dẫn đầu là hai người đội hai cái mâm đồng đựng cau và trầu trên phủ cái khăn nhiễu đỏ, tiếp đến hai người đội hai cái quả to sơn son thếp vàng trên phủ khăn nhiễu đỏ, bên trong là chè và mứt, rồi đến hai người khiêng cái chóe rượu, chóe bằng sứ đặt trong cái giá và đòn khiêng đều sơn son thếp vàng; sau chóe rượu là một cái thồi đặt lợn quay, sau lợn quay đến thồi đặt xôi gấc, rồi đến mấy cái thồi nữa đựng bánh dày, bánh chưng và nem. Các thồi này đều sơn son thếp vàng và mỗi thồi có cái lọng xanh che bên trên, mỗi thồi phải có ba người: hai người khiêng một người cầm lọng che bên trên. Những người đội và khiêng đều mặc áo the thâm, đội khăn lượt, quần chúc bâu trắng, thắt lưng nhiễu đỏ ra ngoài áo tết múi buông thõng giải sang bên sườn. Các buồng cau và bánh chưng bánh dày trang trí cho đẹp, mỗi buồng cau dán một miếng giấy đỏ trên đài, cắt hình vuông; mỗi chiếc bánh dày dán miếng giấy đỏ, hình tròn to bằng miệng chén uống nước, chung quanh tỉa răng cưa, trên miếng giấy đỏ dán miếng trang kim cũng hình trong tỉa chữ song hỷ. Bánh chưng gói bên ngoài bằng lá chuối tươi và buộc bốn lạt nhuộm đỏ; gói nem cũng gói bên ngoài bằng lá chuối tươi và buộc lạt đỏ. Từ chóe rượu, đến những cái thồi trước kia nhà trai mượn của các đình và đền là những nơi thường có đám rước thánh, sau này có một bọn người ở phố Hàng Lược sắm sửa các thứ ấy cho thuê đám cưới, gọi chung là quả phù trang. Đi theo các đồ lễ là quan viên họ nhà trai vừa đàn ông đàn bà tất cả từ 8 đến 12 người kể cả bà mối và chú rể. Bà mẹ chú rể tay cầm cái hộp bên trong đựng đồ vàng và tiền để đưa nhà gái. Khi đám rước lễ hỏi sắp đến nhà gái thì bà mối vào trước báo tin, nhà gái ra đón. Các lễ vật đặt lên án thư kê trước bàn thờ đã thắp đèn hương sẵn kèm theo hộp đựng đồ vàng và tiền cùng tờ giấy hoa tiên có viết niên canh quán chỉ chú rể. Ông bố cô dâu ra quỳ khấn, sau đó chú rể mặc áo thụng xanh đến trước bàn thờ lễ bốn lễ. Chờ một lúc tàn tuần hương, nhà gái hạ lễ xuống, biếu lại nhà trai mỗi thứ một ít gọi là “lại quả” kèm theo tờ hoa tiên viết niên canh quán chỉ cô dâu. Do việc trao đổi tên tuổi này nên lễ ăn hỏi gọi là “vấn danh”. Trong lễ này thường nhà gái chỉ thết trầu nước, cũng có đám nhà gái mời cả những người khiêng đồ lễ ăn trầu uống nước và biếu tiền phong bao. Sau khi nhà trai ra về, nhà gái đem biếu phần các bà con thân thuộc, bạn bè, mỗi người một bánh dày, một bánh chưng, một gói nem, bốn quả cau tươi, bốn lá trầu, một gói mứt, một gói chè vừa đủ pha một ấm.


Sau lễ ăn hỏi độ nửa tháng hay một tháng, hai bên tổ chức lễ cưới. Những tháng cưới được chọn nhiều nhất là từ tháng Giêng đến tháng Ba và từ tháng Tám đến tháng Chạp âm lịch, ta kiêng cưới mùa hè và tháng Bảy vì là tháng Ngâu. Trước hôm cưới sáu, bảy ngày, cả hai họ mời khách khứa họ hàng đến ăn cưới. Ngày xưa, khi mời ăn cưới thường có hai người đem tráp trầu đi mời, hai người đều mặc lịch sự, tráp trầu phủ vuông nhiễu đỏ; khi đến nhà nào thì dưa ra một miếng trầu và nói mời ngày nào đó đến ăn cưới. Người được mời phải chuẩn bị đồ mừng và mừng trước ngày ăn cỗ một vài ngày. Thời xưa, nhân dân ta nhà giàu cũng như nhà nghèo đều mừng cô dâu chú rể những quan tiền đen, tiền đồng hoặc câu đối bằng nhiễu đỏ, vóc đỏ hoặc cau, chè, rượu. Đến thời Pháp thuộc, những nhà giàu có ở Hà Nội hay mừng nhau bằng những món hàng ngoại do Pháp nhập vào bán, cho là quý giá, thói xa xỉ lại tăng nhiều hơn.


Cỗ cưới của bà con nông dân thường là cỗ lòng giấm, có lòng luộc tiết canh, thịt ba chỉ luộc thái miếng to, chân giò và thịt mông ninh măng, giò lụa, chả rán, giả cầy, dưa giá hay nộm giá rau cải, canh rau cải nấu với nước suýt, điểm thêm món thịt gà hay ngỗng, vịt. Sau khi ăn xong ra về mỗi người còn được biếu một phần gồm nửa đĩa xôi gấc và miếng thịt lợn luộc. Các nhà giàu có thì cỗ cưới thuê thợ nấu cỗ, phần nhiều là người làng Cự Đà, có nghề nấu nướng chuyên môn cha truyền con nối. Với con lợn, chục con gà và vịt, một số cá trắm, cá chép, rau củ chỉ có rau muống, rau cải, rau diếp, rau thơm, mùi, húng, thì là, cải cúc, rau cần, rau đay; các thứ củ có măng tươi, củ đậu, mướp hương, mướp đắng, bầu, bí , đậu ván, hoa lý, khoai sọ, khoai lang, củ từ, củ cải… mà người thợ nấu cỗ khéo xoay thành những món nấu rất ngon. Khách ăn cỗ cưới khi về còn được nhận một phần biếu gồm các thứ bánh : bánh bò, bánh gừng, bánh quế, bánh gấc, xôi kê, mảnh cộng, điểm trang gói phần cho đẹp và thêm một chiếc đũa nhưng nhỏ hơn nhiều, một đầu nhọn dùng xỉa răng dưới, chỗ đập toẹt ra như bàn chải để cọ răng; dưới chỗ đập toẹt quấn mấy sợi chỉ xanh đỏ. Cái tăm bông ấy cài vào một tờ giấy đỏ tết thành hai hình vuông dính nhau.


    Các món bánh và tăm bông gói bằng tờ giấy phèn, tức là giấy mời , một mặt phết phèn chua cho khỏi thấm nước, ngoài tờ giấy phèn có một vuông lụa hay nhiễu hoa đỏ bọc lại và buộc túm bốn đầu.


   Lễ đón dâu


     Lễ đón dâu là ngày cưới chính thức đã được chọn sẵn từ trước. Khi đi đón dâu, nhà trai mời một ông già sáu, bảy mươi tuổi, vợ chồng song toàn, đông con, cầm bó hương đen đi trước, tiếp đến bốn người mặc áo the thâm quần trắng, thắt lưng nhiễu đỏ ra ngoài áo, buông múi sang bên sườn, đầu chít khăn lượt, đội bốn mâm đồ lễ gồm cau, rượu, xôi, thủ lợn, tiếp đến các ông bà, chú bác, họ hàng thân thích, rồi đến chú rể có bốn anh bạn phù rể đi kèm. Đám cưới hồi xưa, đường gần đi bộ, đường xa đi thuyền; những nhà giàu và nhà quan khi đi bộ thì các ông bà già ngồi cáng. Hồi Pháp mới chiếm Hà Nội , có xe kéo thì tất cả mọi người đều ngồi xe, trừ bốn người đội đồ lễ đi bộ; có đám dâu đi xe song mã, mỗi xe ngồi được sáu người, hai ngựa kéo và có hai xà-ích     ( người cầm cương ngựa, một chính một phụ đều mặc áo dạ đỏ). Từ năm 1928 trở đi, các đám cưới ở Hà Nội đều đi bằng ô-tô du lịch, mỗi xe ngồi được 8 người; xe cô dâu trang trí thêm tràng hoa. Thông thường mỗi đám cưới từ 4 đến 6 xe; đám nhà giàu thuê từ 8 đến 12 xe. Các xe đám cưới thường đi nối đuôi nhau và đi rất chậm.


    Khi đám cưới đến trước cửa, nhà gái đốt bánh pháo đón mừng và cử hai người con gái cầm cơi trầu ra mời khách. Khi họ nhà trai vào nhà, nhà gái thết cỗ nhà trai, việc ăn uống này phải có ước hẹn với nhau trước. Trước khi ăn uống, nhà trai xin cho chú rể lễ gia tiên, rồi lễ sống ông bà, bố mẹ, chú bác, thím, cô dâu. Sau khi ăn uống nhà trai xin cho dâu ra, lúc này đến lượt cô dâu ra lễ bàn thờ rồi lễ sống ông bà, bố mẹ, chú, bác, thím. Lệ cô dâu ngày xưa khi về nhà chồng phải khóc, sự khóc đó có ý nghĩa là phải xa rời tổ ấm nhà mình làm con nhà khác, sự khóc để cho người xấu đi, ma quái không ám ảnh trêu chọc. Người ta cài vào tà áo cô dâu nơi gần cổ áo chín cái kim khâu để giữ cho chín vía (xưa ta tin rằng đàn bà 9 vía, đàn ông 7 vía và thường nói sợ hãi mất vía). Khi đám cưới từ nhà gái ra đi, lại vẫn ông già cầm bó hương đen đi trước, rồi đến bốn người đội hai cái hòm sơn đỏ hoặc sơn đen trong đựng quần áo cô dâu, hai người đội hai cái mâm, một mâm đặt chăn bông, một mâm đặt màn và gối, tiếp đến họ hàng hai bên, đến chú rể và cách một lớp các bà trung niên đến cô dâu, có bốn cô phù dâu đi kèm. Cô dâu khi ra đến cửa phải che mặt bằng vuông the hay nhiễu đỏ, rồi che ngoài vuông the nhiễu là cái quạt phết bằng lụa, lại che ngoài cùng một cái nón nghệ quai thao. Các cô phù dâu xúm xít chung quanh vừa che vừa dìu cho cô dâu đi. Đám cưới ra khỏi cửa nhà cô dâu một quãng, có mấy người bày hương án bàn độc và chăng cái thắt lưng nhiễu đỏ chắn ngang đường, gọi là chăng dây tơ hồng. Nhà trai phải cho họ món tiền họ mới dẹp lối cho đi. Có đám cưới bị ba bốn bọn chăng dây tơ hồng vòi tiền. Việc chăng dây tơ hồng sau sinh ra mới tệ, đến năm 1910, người Hà Nội nhờ đội xếp can thiệp mới chấm dứt tệ này.


    Khi đám cưới về đến nhà trai thì nhà trai đốt bánh pháo mừng và cũng cử hai cô con gái bưng hai cơi trầu ra cửa đón mời họ nhà gái. Khách khứa vào ngồi trong nhà rồi, việc thết khách cũng chỉ có trầu, nước hoặc có đám nhà trai thết cỗ nhà gái, việc ăn uống này cũng phải có ước hẹn trước. Sau tuần trầu nước hoặc bữa cỗ bàn rồi thì nhà trai bày bàn thờ tế tơ hồng giữa sân. Việc tế tơ hồng ngày xưa coi là việc rất quan trọng, nhà trai phải mời một ông già từ sáu, bảy mươi tuổi trở lên, vợ chồng song toàn và đông con cháu làm chủ tế, mặc áo thụng xanh, nhờ hai ông già nữa làm đông xướng và tây xướng, một ông tốt giọng để đọc văn tế. Trên bàn thờ tơ hồng bày một đĩa xôi gấc, một con gà trống luộc, một cơi trầu đủ một trăm miếng, một mâm ngũ quả, một nậm rượu và ba cái chén đặt trong đài rượu. Khi sắp tế thì một người đốt nến và hương, rồi ban bát âm cử nhạc. Dứt bản nhạc hai ông đông xướng tây xướng mặc áo thụng xanh, đầu đội khăn lượt chia nhau đứng hai bên đầu bàn. Ông đông xướng cất cao giọng xướng “Tựu vị”, ông chủ tế và cô dâu chú rể ra đứng trên chiếu hoa cạp điều trải dưới đất trước bàn thờ, chú rể phải mặc áo thụng xanh. Sau khi mọi người đứng vào chỗ rồi, ông đông xướng xướng “bái”, ông chủ tế và cô dâu chú rể sụp xuống lễ, đầu phải chạm đất; khi nghe ông tây xướng xướng “ hâng”( tức là hưng), mọi người đứng lên và cúi theo tiếng xướng “bái hâng”. Mọi người lễ đủ 4 lễ, cô dâu được lễ ngồi, đàn ông phải lễ lên gối, xuống gối. Trong khi lễ ban bát âm cử nhạc. Lễ xong, mọi người lại đứng chắp tay, ông đông xướng “ tiến tửu”, ông tây xướng cầm nậm rượu trên bàn thờ trao cho ông chủ tế. Ông chủ tế hai tay đỡ lấy nậm rượu, vái một vái rồi rót rượu vào ba cái chén đặt lên bàn thờ rồi chắp tay vái một vái. Hai ông đông, tây xướng lại xướng “ bái hâng”, mọi người lại sì sụp lễ bốn lễ và ban bát âm vẫn cử nhạc. Lễ xong 4 lễ, ông đông xướng xướng “giai quỵ”, ông chủ tế và chú rể quỳ xuống vẫn chắp hai tay, rồi ông tây xướng xướng “độc chúc”, một ông mặc áo thụng xanh cất giọng ra quỳ trước ban thờ bên cạnh ông chủ tế và ông tây xướng nâng cái giá gỗ có dán sẵn bài văn tế tơ hồng viết trên mấy tờ hoa tiên đỏ, trao cho ông mới vào quỳ, ban bát âm ngừng cử nhạc, ông mới vào quỳ cất giọng sang sảng đọc văn tế tơ hồng. Bài văn tế này thường chép trong cuốn “Thọ mai gia lễ”, nhưng những nhà có văn học tự làm một bài, chớ không theo “Thọ mai”. Đọc văn tế xong, ông đọc văn tế đặt cái giá dán bài văn lên bàn, vái một vái rồi lui ra. Ban bát âm cử nhạc xong, hai ông đông tây xướng lại xướng “ bái hâng”, mọi người lễ đủ bốn lễ, rồi ông đông xướng lại xướng “ lễ tất”, mọi người vái hai vái. Thế là xong cuộc tế. Lúc này chú rể và cô dâu ra bàn thờ lễ gia tiên rồi lễ sống ông bà nội, bố mẹ và chú, bác, thím chú rể. Sau đó họ nhà gái xin về, nhà trai đốt bánh pháo và cử hai người đi tiễn họ nhà gái về đến nhà gái. Sau khi tiễn phải trở lại nhà trai ngồi một lúc rồi mới về nhà mình chớ không được nhân tiện một đưòng về thẳng nhà mình, vì nhà trai kiêng: “Có đi mà không có về”.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








[1] Do cuộc khởi nghĩa của An Lộc Sơn, Đường Huyền Tông và đám quần thần phải rời kinh thành chạy vào đất Thục. Tại Mã Ngôi đã xảy ra binh biến.Theo trang mạng Wikipedia, ngày 15/7/756, Đường Huyền Tông đành ban cho Quý Phi một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý Phi cho đến chết rồi đem xác chôn vội bên đường. Lúc chết, Dương Quý Phi 38 tuổi.




(2) Nhân dân ở trong Nam hàng năm phải nộp thuế sân chim cho nhà Nguyễn. Từ triều Gia Long cho đến thời Pháp thuôc, thực dân Pháp cũng theo nếp ấy bắt dân đóng thuế sân chim, đến Cách mạng tháng Tám nhân dân bãi bỏ. 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »