tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19730498
Tiểu thuyết
05.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

d. Bất túc quyển


Bất túc quyển nghĩa là viết văn không đủ quyển. Gặp bài văn khó quá người học kém không viết cho trọn bài hoặc người học giỏi nhưng khi đang viết dở dang bị cảm sốt, đau bụng nhức đầu hoa mắt không viết tiếp được đành phải nộp quyển dở dang, vì đã hết giờ.


Người học trò nào phạm bốn tội kể trên chẳng những bị đánh hỏng mà còn bị viết tên ra bảng con treo trước cửa trước để bêu diếu họ. Ngoài bốn tội kể trên, những người mắc sai lầm sau đây đều bị đánh hỏng nhưng không bị nêu tên lên bảng con.


a.           Bạch tự


Khi viết văn phải viết chân phương không được viết thảo, không được viết chữ đơn (ngày nay gọi là giản tự). Phạm sai lầm này bị gọi là bạch tự, nghĩa là chữ ấy không kể đến coi như bỏ trắng.


 


b.           Thiệp tích


 


Trong quyển thi xóa, chữa, móc, đổi (gọi là đồ, di, câu, cải) nhiều quá bị coi là thiệp tích.


c.           Phạm trường quy


Chung quanh chỗ có dấu Giáp phùng và dấu Nhật trung không được xóa, chữa, móc, đổi; nếu xóa, chữa, móc, đổi vào các chỗ ấy bị coi là phạm trường quy. Khi viết đến chữ Sĩ (trong thi hương) và chữ Thần (trong thi hội) là những chữ trỏ về bản thân mình có nghĩa là tôi, phải viết nhỏ hơn các chữ khác và viết lách về bên phải, nếu không cũng bị coi là phạm trường quy, tức là quy củ của nhà trường.


Những chữ viết nhầm muốn xóa bỏ đi chữ được chấm ba chấm vào mặt chữ bỏ đi ấy, chớ không được xóa mù mịt, vì bị coi là phạm trường quy.  


d.           Khiếm trang


Không được đặt những chữ có nghĩa xấu trên các chữ đế, vương, quân, chủ - là những chữ nói về vua, như chữ hung, bạo, ác, sát v.v… Dù những chữ có nghĩa xấu ấy ở cuối câu trên, còn các chữ đế, vương, quân, chủ ở đầu câu dưới đã phải đài lên tầng thứ nhì của dòng sau cũng bị coi là khiếm trang, nghĩa là thiếu sự trang nhã.


e.           Tì ố


Quyển thi để dây mực, bùn, đất, vết nhọ, dầu mỡ bị coi là tì ố. Để tránh bị dây bẩn, mỗi người học trò phải dùng ống đóng quyển để đựng quyển thi. Học trò nông thôn thường dùng ống tre có gióng dài của một đoạn dài chừng 40 phân làm thân, đốt tre làm đáy và một đoạn ngắn độ 10 phân làm nắp có đốt che kín một đầu, rồi gọt cho thân lồng vào nắp, buộc cái dây chuỗi để đeo lên cổ. Học trò Hà Nội thì thường mua ống quyển của các hiệu thợ tiện tiện bằng gỗ để mộc hoặc sơn đỏ. Mỗi người học trò khi vào trường thi đều đeo ống quyển lủng lẳng trước ngực. Lúc được gọi tên vào trường, lại phòng trao cho quyển thi, người học trò nhận lấy cho vào ống quyển. Khi làm bài mới lấy ra viết, lúc lấy dấu Nhật trung cũng phải đặt quyển văn vào ống, đến nhà Thập đạo mở ống đưa quyển thi ra xin dấu, sau đó lại tra vào ống đeo về lều. Khi làm bài xong cũng lại đặt quyển thi vào ống đem đến nhà Thập đạo mở ống lấy quyển thi ra nộp. Quyển thi phải giữ sạch sẽ không được để nhàu nát hay có tờ rách vá.


Dưới triều Nguyễn, người học trò đi thi chữ phải kiêng tên húy ông vua, bố, mẹ, vợ, tổ tiên, cung điện nhà vua; dưới triều Lê, có vua lại có chúa, quyền chúa to hơn quyền vua, người học trò cũng phải kiêng tên húy chúa, bố, mẹ, vợ, tổ tiên, cung điện chúa.


Ngoài những tội kể trên, lại còn cái nạn ngoại hàm: đến chiều tối, có trống thu quyển, người lính đánh ba hồi trống rất thong thả, học trò phải đem nộp quyển thi dứt tiếng trống cuối cùng, người lính giữ hòm đựng quyển thi, khóa hòm lại, dán giấy niêm phong, người học trò nào đem quyển thi đến nộp chậm sau khi niêm phong rồi, người lính vẫn cứ nhận, nhưng để ngoài, đưa trình quan trường. Quyển thi ấy gọi là bị ngoại hàm, không được chấm. Dù không được chấm, người học trò vẫn phải nộp quyển thi, nếu không nộp, sau này, thi xong quan trường xét ra người ấy có được gọi tên vào thi mà sao lại không có quyển thi đem nộp, người ta cho là vào trường thi gian hay để gà bài thi cho người khác sẽ bị bắt bớ xét hỏi, cho là ngạo mạn quan trường, có khi bị đánh đòn mấy chục roi hoặc bị cấm suốt đời không được đi thi.


Các khoa thi hương tại Hà Nội, khoa nào ít nhất cũng bảy - tám nghìn người, khoa nào nhiều cũng trên một vạn học trò đi thi, số lấy đỗ chỉ vào khoảng ngót hai trăm người kể cả cử nhân, tú tài. Số lấy đỗ cử nhân vào khoảng 30 người, còn tú tài độ hơn trăm người.


Những người đỗ cử nhân được gọi tên qua loa đồng gọi là truyền lô trước cửa trường thi. Nếu người ấy không đến chờ trước cửa trường thi, sẽ có hai anh lính đứng trên bành hai con voi đi khắp các phố gọi tên. Trước hết gọi tên người đỗ đầu, tức là thủ khoa hay giải nguyên, gọi được ông này vào trường nhận mũ áo xong mới gọi tên người đỗ thứ nhì là á nguyên, sau đó mới lần lượt gọi tên người đỗ thứ ba, thứ tư… cho đến hết. Cứ gọi được người nọ dạ rồi, lính đón vào trường rồi mới gọi tên người kia. Có nhiều người có tính rụt rè, không biết chắc mình có đỗ hay không nên không dám đến trước cửa trường nghe xướng danh và xem bảng, sợ rằng không đỗ bị bẽ mặt, nên cứ nấp kín ở nhà trọ hay ở nhà riêng (nếu là người Hà Nội); cũng có người biết chắc rằng mình sẽ đỗ nhưng không ra ngay vội, để cho người lính đi truyền loa khắp các phố xá cho mọi người biết. Do đó việc gọi tên các ông đỗ cử nhân được yết tên họ, niên canh quán chỉ trên cái bảng cót quét vôi trắng, dưới chỗ tên, người ta vẽ con hổ đội tên các ông tân khoa, mọi người gọi là bảng hổ. Còn những người đỗ tú tài yết tên riêng một bảng khác không vẽ gì cả. Người đã đỗ cử nhân được vào kinh thi hội và thi đình; còn người đỗ tú tài vẫn phải thi hương nữa. Người nào đỗ một khoa tú tài gọi là ông tú, đỗ hai khoa tú tài gọi là ông kép, đỗ ba bốn khoa tú tài gọi là ông mền, ông đụp. Những người đã đỗ tú tài vẫn phải đi thi để được đỗ cử nhân, nếu không đi thi phải làm đơn nộp lên viên Tổng đốc tỉnh mình nói lý do có tang ông bà hay cha mẹ hoặc đau ốm xin cáo không đi thi. Người đã đỗ tú tài một hay hai khoa rồi, khi đi thi khoa sau văn bài kém quá bị đánh hỏng, bị truất luôn cả cái tú tài mình đỗ một hay hai khoa trước.


Những người đang có tang cha mẹ hay cha mẹ chết vào giữa ngày mình vào trường thi, phải nộp đơn lên Tổng đốc xin cáo vì có tang không đi, nếu chưa nộp quyển thi, không cần phải báo cáo. Người nào đang có tang hay gặp lúc cha mẹ chết giữa hôm vào trường thi mà cứ đi thi, không đỗ thì thôi, nếu đỗ, dù là đỗ tú tài, có kẻ ghen ghét phát giác ra sẽ bị trượt hết cử nhân tú tài, bị bắt trừng trị và bị cấm suốt đời không được đi thi.


Những người đã qua kỳ phúc hạch, bố mẹ hay anh em chuẩn bị sẵn cho cái áo thụng xanh, khi nghe xướng danh được đỗ liền mặc vào, đến cửa trường, có anh người nhà đi theo, lĩnh mũ áo, rồi vào trường ngồi chờ cho đến khi gọi hết tên các ông cử. Lúc bấy giờ các ông tân khoa làm quen nhau và cùng đến chào các quan trường. Ngày hôm sau các ông tân khoa đem theo mũ áo vua ban vào trường làm lễ tạ ân vua, tạ ân các quan trường, sau đó dự yến, gọi là yến lộc minh. Sau khi dự yến, mỗi ông được ban thêm một cái lọng xanh do một anh lính cầm che đưa về tận nhà trọ hay nhà riêng. Những người ở Hà Nội thì bà con họ hàng, hàng xóm láng giềng, người quen biết đều đem võng lọng cờ quạt trống biển lên huyện hay phủ đón rước về làng. Gia đình ông tân khoa phải làm cỗ khao.


VIỆC CHẤM THI CỦA CÁC QUAN TRƯỜNG


Ông chánh chủ khảo là người có nhiệm vụ ra đầu bài thi của các kỳ thi và quyết định việc lấy đỗ cho học trò. Ông phải nghiên cứu về số lượng học trò đi thi nhiều hay ít, số cử nhân, tú tài triều đình định cho lấy bao nhiêu để liệu việc ra đầu bài. Kỳ đầu gọi là Nhất trường có khoa thi đến một vạn hai nghìn học trò, mà số lấy đỗ chỉ độ hơn một trăm. Ông chủ khảo ra đầu bài thi kinh nghĩa chọn các chữ trong các sách Luận ngữ, Hạnh tri, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu ra đầu bài. Kỳ thi đầu gọi là Nhất trường là kỳ thi loại, đầu bài ra đã khó khăn, rắc rối, quan trường chấm văn cũng rất khắc nghiệt nên số người bị bay kinh nghĩa ngay kỳ đầu có tới hàng vạn. Mỗi kỳ, Nhất trường, Tam trường, Phúc hạch loại dần một số, cuối cùng chỉ còn đúng số cử nhân, tú tài triều đình đã định.


Trong một khoa thi có một vạn hai nghìn học trò, thì trên dưới một vạn là những người đi thi một hai khóa không sao tránh khỏi những lỗi lầm kể trên; hơn nghìn người tuy đã thi ba, bốn, năm khoa cũng vẫn nhầm lẫn trong khi mải viết bài nghĩ văn; cuối cùng còn vài ba trăm người sức học khá và đã qua sáu bảy khoa thi may ra được đỗ kỳ đầu.


Lọt kỳ đầu còn bị gạn lọc 3 kỳ nữa, cuối cùng chỉ có hơn trăm người được đỗ chính thức, trong đó chỉ có 30 ông cử nhân, 120 ông tú tài. Do thể lệ, quy chế và cách chấm thi nghiệt ngã quá, người học trò cho việc đi thi là sự may rủi và họ đâm ra mê tín về thần quyền và ma quỷ, về báo ân báo oán, về phúc đức, về mồ mả. Có người mải mê về thi cử, đi thi đến mười khoa, mười lăm khoa, đầu đã bạc, răng đã long vẫn cứ cố đeo lều chõng đi thi, hỏng vẫn hoàn hỏng. Có những người văn hay chữ tốt không bị sai nhầm hoặc phạm lỗi gì, quan trường đã lấy đỗ mà sau lại bị hỏng, xin kể vài chuyện sau đây:


Dưới triều Gia Long, khoa thi hương năm Bính Tý, ông Nguyễn Công Trứ, các văn bài đều được phê ưu, các quan trường đều quyết định cho đỗ thủ khoa, nhưng ông chánh chủ khảo còn ngần ngại, vì ông Nguyễn Công Trứ là cố Lê Công Tử (con quan đời Lê). Khi ấy Gia Long mới chiếm được nước, còn sợ các cựu thần nhà Lê, nên cuối cùng ông chánh chủ khảo đánh hỏng, hứa khoa sau sẽ cho đỗ.


Dưới triều Thiệu Trị, khoa thi hương tại trường thi Thừa Thiên năm Đinh Mùi (1847), ông Ông Ích Khiêm mới có 15 tuổi, đỗ cử nhân thứ 14. Thiệu Trị xem danh sách lấy làm ngờ sai gọi vào triều, ra đầu đề một bài thơ Đường luật "Thiếu niên đăng cao khoa" (tuổi trẻ đỗ cao). Ông Ông Ích Khiêm cầm bút làm xong bài thơ ngay. Thiệu Trị xem xong nói: "Tuổi trẻ hồi có tài. Tuy ý thơ chưa thông hoạt lắm song có thể lấy được. Chỉ có điều là tuổi còn ít, chưa thể cho ra làm quan, làm hại cả tư chất tốt. Hãy chuẩn cho về quê học tập, đợi sau trưởng thành tiến lên cũng chưa lấy gì làm muộn".


Thế là ông Ông Ích Khiêm bị đánh hỏng. Hiện nay Ông Ích Khiêm được đặt tên phố thuộc quận Ba Đình.


Dưới triều Minh Mệnh, khoa thi hương tại Thừa Thiên năm Canh Tý (1840), có hai ông Mai Trúc Tùng và Vũ Khắc Đồng được quan trường lấy đỗ cử nhân, ban phát mũ áo và [1]lọng. Khi các quyển thi đưa vào triều, các quan trong bộ Lễ xem lại bài phú thấy có một vần ở câu cuối điệp với vần câu trên đầu bài, làm sớ tâu lên. Minh Mệnh sai đánh tụt xuống tú tài, hạ lệnh cho Tổng đốc Thừa Thiên đòi mũ áo và lọng về; còn các quan trường khoa ấy từ chánh chủ khảo đến sơ khảo đều bị phạt một cấp1.


Sau khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội làm thuộc địa Pháp, chúng không cho triều đình Huế mở khoa thi hương tại Hà Nội nữa. Bắt đầu từ năm này trở đi, học trò Hà Nội và các tỉnh phải xuống thi tại trường thi Nam Định. Năm 1890, thực dân Pháp can thiệp vào thi hương. Chúng bắt mỗi khi có khoa thi hương, trường thi phải treo nhiều cờ tam tài: trước cửa mỗi vi treo một lá cờ to, trên nóc nhà thập đạo chăng dây treo nhiều lá cờ tam tài con. Chúng tuyên truyền cổ động cho học trò phải học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Pháp và cho phát hành những quyển sách học vần Quốc ngữ A, B, C, dưới chua chữ Nho và chữ Nôm cho học trò dễ học.  đâytrường thi hương ở Nghệ An và Nam Định phải ra thêm đầu bài thi chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và bốn phép tính. Những bài thi này, khoa ấy không bắt buộc, học trò người nào có khả năng làm được thì được tính thêm điểm, dù văn chữ Nho có kém bị đánh hỏng mà văn Quốc ngữ và bốn phép tính làm được cũng được đỗ tú tài; người nào làm nổi cả văn chữ Pháp được đỗ cử nhân. Từ năm 1909 đến năm 1915, các bài thi Quốc ngữ, chữ Pháp và bốn phép tính trở thành bài thi bắt buộc, giảm bớt bài thi chữ Nho đi. Người học trò nào làm các văn bài Quốc ngữ, chữ Pháp và bốn phép tính thông thạo đều được đỗ cử nhân, tú tài dù văn chữ Nho bị kém, bị phạm lỗi cũng vẫn được đỗ. Sau khoa thi hương, Nam Định 1915 (Ất Mão) thực dân Pháp bắt triều đình Huế bãi việc mở thi hương ở Bắc kỳ, chỉ cho mở thi hương từ Nghệ An trở vào thôi. Bấy giờ thực dân Pháp chia nước ta ra làm ba kỳ: từ Ninh Bình trở ra là Bắc kỳ, xứ bảo hộ từ Hà Nội và Hải Phòng là nhượng địa Pháp; từ Thanh Hóa vào đến Phan Thiết là Trung kỳ thuộc triều đình Huế, từ Đà Nẵng là nhượng địa Pháp; từ Biên Hòa trở vào thuộc Nam kỳ là nhượng địa Pháp. Một nước ta chúng chia thành ba nước nhỏ, chia rẽ dân tâm.


Từ đời Lê trở về trước, cả nước ta ở trong hoàn cảnh bế quan tỏa cảng, chỉ có sự liên lạc với phong kiến phương Bắc và một số nước nhỏ chung quanh mình. Khi bị kẻ địch xâm lăng, thì cuộc giao chiến ta với địch toàn dùng gươm, giáo, cung nỏ, sự chiến thắng tuy nhờ vào sức dũng cảm của võ quan và binh lính, nhưng phần nhiều nhờ vào mưu trí của văn quan là những người biết chữ, đọc được nhiều sách, biết cách bài binh bố trận lấy ít thắng nhiều. Do đó văn quan tuy là trói gà không nổi song ra nơi trận mạc lại là người chỉ huy và điều khiển quan võ. Trong lịch sử nước ta, có những ông thám hoa, bảng nhãn, thường bị triều đình phái đi cầm quân đánh giặc. Đời Trần có Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, đời Lê có Nguyễn Trãi là những văn quan chỉ huy các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc xâm lăng. Trong triều đường quan văn vẫn đứng trên quan võ.


Sang triều Nguyễn, nước ta tiếp xúc với các nước phương Tây, là những nước có khí giới tối tân, có chiến lược chiến thuật tiên tiến, có nền khoa học mới lạ, nhưng bọn phong kiến nhà Nguyễn vẫn sống say chết ngủ với những giáo lý Khổng Mạnh với những từ chương bát cổ. Đã có người như Nguyễn Trường Tộ đưa ra bản điều trần yêu cầu cải cách việc học, việc thi, sửa sang võ bị, phái người đi học nước ngoài để mở mang dân trí, chấn chỉnh dân phong nhưng bọn vua quan nhà Nguyễn vẫn ngoan cố không nghe theo. Khi bị giặc Pháp đem súng lớn tàu to đến chiếm nước đành cứ cúi cổ đầu hàng, khiến nhân dân ta chìm đắm trong vòng nô lệ, lầm than dưới ách thực dân hơn tám mươi năm.


Sau Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân ta đã xóa bỏ sự ngăn cách ấy đi và cùng nhau thống nhất đất nước, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.


 


 CHÙA, ĐỀN, ĐÌNH MIẾU VỚI SỰ TÍN NGƯỠNG VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN CỦA NGƯỜI HÀ NỘI


 


Khắp nước ta, từ Bắc chí Nam, không một thành phố nào có nhiều chùa, đình, đền, miếu như thành phố Hà Nội. Mỗi phố có ít nhất một hay hai ngôi đền hay đình, có phố có đến năm, sáu ngôi vừa đình, chùa đền miếu. Nếu tính theo đầu người ngày nay thì cứ một trăm người dân Hà Nội có một cái chùa cái đình, cái đền hay cái miếu là điều không ngoa.


Sở dĩ Hà Nội xưa có nhiều chùa chiền, đình, đền, miếu như vậy là do các nguyên nhân sau:


a. Chùa


Ông vua sáng lập ra nhà Lý là Lý Công Uẩn, con nuôi sư Khánh Vân. Lý Công Uẩn lớn lên làm quan với nhà tiền Lê, sau được sư Vạn Hạnh cũng làm quan trong triều, tôn lên làm vua, miếu hiệu là Lý Thái Tổ. Ông đóng đô ở Hà Nội ngày nay và đặt tên là Thăng Long. Xuất thân là một ông sư, nên ông tôn sùng đạo Phật, vốn đã có sẵn và được tôn sùng từ đời Đinh Tiên Hoàng còn đóng đô ở Hoa Lư. Đời Đinh và đời tiền Lê, các sư đã được tôn trọng và được làm quan trong triều.


Lý Thái Tổ lên làm vua, muốn chấn hưng đạo Phật. Năm Mậu Ngọ (1018) sai hai người là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Trung Quốc lấy Kinh Tam Tạng, cho xây thêm một số chùa. Về sau các vua nhà Lý vẫn tiếp tục xây thêm nhiều chùa đền, như chùa Khai Quốc, chùa Một Cột, đền Đồng Cổ, chùa Báo Thiên v.v… Đến đời Trần, các vua nhà Trần sau khi chiến thắng quân Nguyên, cũng rời ngôi vua đi tu. Triều đình tôn sùng đạo Phật nên dân gian sinh lòng tín ngưỡng, do đó chùa xây dựng mỗi ngày một nhiều.


Ngày xưa những người đi tu là những người có học nhiều vào bậc túc nho, được quý trọng. Mỗi người tu tại chùa vào dạy thêm một số học trò này gọi là tiểu đồng, sau gọi tắt là tiểu, chú tiểu. Chú tiểu lớn lên, học thuộc các kinh, hiểu giáo lý của đạo Phật, được gọi là sư chú, rồi lên sư bác, sư ông. Khi đã lên sư ông vào khoảng ngoài ba mươi tuổi, sư thầy phải tìm chùa cho sư ông ra ở riêng và tu đạo. Sư ông lại thu nhận và dạy một số học trò gọi là tiểu và cũng phải tìm chùa gây dựng cho họ. Việc tìm chùa hoặc phải dựng lên một ngôi chùa, có nhiều cách: khuyến khích những người mộ đạo hay đến lễ chùa mỗi người góp cho ít tiền xây một chùa; hoặc hàng ngày sư và tiểu đi quyên giáo hàng phố, cóp nhặt để dành xây chùa; hoặc nghe tin đâu có chùa mới xây dựng thiếu sư trụ trì, sư cụ đến xin cho học trò vào tu. Do việc các sư cụ gây dựng cho học trò, nên chùa phát triển nhiều lên mãi.


Theo thanh quy của nhà chùa, người đi tu gọi là xuất gia, phải từ bỏ hết thảy những ham muốn vật dục, không tham danh, hám lợi, không lấy vợ, không mê gái. Khi bố mẹ chết chỉ về nhà thăm hỏi, không lễ, không để trở, không chống gậy và khóc, chỉ tụng kinh siêu độ và thay cái khăn nâu đội đầu bằng khăn nhuộm chàm và chỉ đội khăn chàm ba tháng. Người đi tu phải cạo tóc, cạo râu để tỏ sự hủy hoại thân thể của bố mẹ để lại cho giũ sạch trần tâm; mỗi người chỉ ăn mỗi ngày một bữa trưa vào giờ Ngọ gọi là Ngọ phan, món ăn là rau, dưa, tương cà, vừng, lạc ; uống toàn nước lã. Người đi tu, người nào cũng gầy gò, mình hạc xương mai; về mặc thì quần nâu áo vải, chân đi đất, đội nón tu lờ, thứ nón to đan bằng nan, hai lần nan trên dưới, giữa là lá gồi. Người tình nguyện phải theo đúng tam quy ngũ giới, tam quy là quy y Phật.


Theo giáo lý của Phật, quy y pháp theo phép tắc của nhà chùa; quy y tăng theo sự dạy bảo của các sư cụ, sư ông là những người bậc trên mình. Ngũ giới là năm điều răn: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không nói tục nói bậy. Khi bực mình với ai, chỉ được mắng người ta bằng hai chữ "bãi Ngọ" nghĩa là bỏ bữa ăn trưa của người ấy đi, sau này nói sai đi thành "bá Ngọ".


Từ đời Trần trở về trước, đạo Phật được coi là Quốc giáo, người đi tu phải học chữ cho giỏi, vì phải qua một khoa thi gọi là thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão); người nào đỗ trong khoa thi Phật giáo mới được lên bậc, nếu không đỗ cứ phải học mãi, học không nổi phải hoàn tục, tức là nhà chùa đuổi về làm dân thường. Vì đạo Phật được tôn trọng nên những người đi tu cũng như các nho sĩ đều được miễn đi lính, miễn lao dịch, không phải đi làm việc lao động cho Nhà nước phong kiến. Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, chính trị suy bại, vua nhu nhược không có quyền hành, các chúa Trịnh nắm quyền cai trị lấn át cả vua, hoang tàng xa xỉ, dâm dục, hay bày ra các trò chơi, dân gian cũng bắt chước thói xa xỉ ấy, các chùa biến thành ngôi hàng bán Phật buôn thần: nhà chùa bày ra các việc làm thay, đặt ra các khóa cúng để kiếm lợi hơn là truyền các giáo lý của Phật. Những người đi tu không bị bắt buộc phải học chữ cho giỏi mà chỉ thuộc một số kinh kệ, biết các cách khua trống thanh la, não bạt tiu cảnh, học thuộc lòng một số bài văn cúng, thế là dần dần được lên bậc sư ông sư cụ. Nhân đó có những kẻ lười lao động, ham sống an nhàn, xin đi tu để khỏi bị đi lính, đi lao động, ta mới có câu "trốn việc quan đi ở chùa". Những kẻ này phá hoại thanh quy nhà chùa: ăn thịt, uống rượu, chơi gái, mỗi ngày ăn ba bốn bữa, lắm anh béo mập như ông Phật Di Lặc, người ta gọi họ là "sư hổ mang", nghĩa là ông sư như con rắn hổ mang có hai đầu, một đầu chạy một đầu nằm. Các chùa được phát triển lên mãi để làm "cửa hàng" buôn thần bán Phật, do sự quyến rũ của bọn "sư hổ mang" với những người giàu có để họ bỏ tiền ra xây dựng chùa, nên chùa mọc lên nhan nhản khắp các phố phường. Đến hồi Pháp thuộc, các chùa càng phát triển.


Về mặt "buôn bán" một cách trắng trợn, là đặt thêm một gian thờ vua mẫu để thỏa mãn các bà thích lên đồng; những việc làm chay, đốt mã, xin thẻ trước tượng đức ông là những dịp làm cho các chùa được phát tài. Các chùa còn cạnh tranh nhau bằng việc làm cỗ chay, chùa nào cỗ chay ngon và khéo sẽ được nhiều người đến xin làm chay cho gia tiên cho bố mẹ quá cố. Những việc làm đó đã làm tiêu tan cả giáo lý của đạo Phật.


b. Đình


Theo tài liệu của cụ cử Mai Đăng Đệ in trong Đại Việt sử ký toàn thư quyển I (do Thực nghiệp Dân báo xuất bản năm 1929) thì từ đời Lý, các vua nhà Lý hay đi hành hạt các nơi trong nước, đi đến nơi nào gặp tối phải nghỉ lại. Triều đình bắt dân phải xây dựng hành cung để vua tạm nghỉ dọc đường; hành cung ấy gọi là cái đình. Sau nhà Lý đổ nhà Trần lên thay, quyền hành đều ở trong tay Trần Thủ Độ, ông tâu vua Trần Thái Tông phong cho mỗi cái đình một ông Thành hoàng là một ông vua vô hình, sức cho dân cúng tế xuân thu hai kỳ, nghi thức theo như khi các quan vào chầu vua. Trong mỗi làng chia ra ngôi thứ trên dưới: đứng đầu dân làng là ông Tiên chỉ, rồi ông Thứ chỉ, ông Tổng, ông Lý, ông Hương, ông Nhiêu, ông Xã, những thanh thiếu niên trên mười tuổi, đóng góp vào làng được làm quan viên, cuối làng ông mõ, thường gọi là ông Xeo hay ông Đốp, là hạng công bộc của làng, khi trong làng có cuộc hội họp thì phải ra hầu hạ, giầu nước, cỗ bàn. Khi làng có công việc gì cần thông báo cho cả dân làng cùng biết, ông mõ tay cầm cái mõ, tay cầm cái dùi đi khua một hồi, rồi cất to tiếng báo tin từ đầu làng đến cuối làng.


Mỗi làng có một tục lệ riêng, có khi là một nghề nghiệp riêng. Mỗi năm vào dịp xuân tế, mỗi làng lại mở hội tập tục của làng mình. Như làng Nội Duệ Cầu Lim, ngày 13 tháng Giêng âm lịch có tục hát quan họ: sau khi các cụ chức sắc trong làng tế thần ở đình rồi, trai gái kéo nhau lên núi Hồng Sơn tìm nhau trao đổi mấy câu thăm hỏi rồi cất tiếng hát đối đáp. Làng Bịu, tên chữ là làng Hoài Bão, cạnh làng Nội Duệ cũng có tục hát quan họ vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, nhưng hát ở dưới thuyền: mấy anh con trai ngồi một thuyền, mấy cô con gái ngồi một thuyền, bơi quanh quẩn trên một khúc sông con ở giữa làng, gặp nhau dừng thuyền lại hát đối đáp, có khi vừa bơi thuyền sóng đôi vừa hát.


Làng Thị Cấm thuộc tổng Canh Diễn có tục thổi cơm thi vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch: bốn giáp chia nhau chiếm bốn góc sân đình làm chỗ thổi cơm; nồi cơm chỉ là cái niêu con bằng đất đặt trên ba viên gạch hoặc ba cái đầu rau con; mỗi giáp đem đến một gánh rơm to. Trước hết mỗi giáp cử một cậu bé con độ trên mười tuổi, mỗi cậu cầm một cái vò sành, đứng xếp hàng trước cửa đình, theo lệnh của một ông trưởng giáp chạy thi ra cái giếng ở đầu làng cách đó độ ba trăm thước, lấy nước rồi chạy về; trong khi đó thì các ông hàng giáp dùng lạt dang khô quấn vào ống tre khô kéo lấy lửa. Khi có lửa và nước bắt đầu thổi cơm. Giáp nào thổi cơm chín trước, cơm thơm, ngon, dẻo không khê không có cháy là được giải nhất và được giữ giải đứng đầu cái giáp khác suốt một năm. Làng Canh Vân Hoàng có tục thổi cơm thi cho cá nhân. Các thanh niên trong làng đều được dự thi, mỗi người phải buộc một cần tre dài ở sau lưng, đầu cần uốn cong vút qua đầu, trên đầu cần buộc cái quang bằng dây thép rủ xuống khỏi ngực, trên quang đặt cái niêu có sẵn nước và gạo. Mỗi thí sinh phải vừa đi vừa thổi cơm, không được đi trên đường cái mà phải đi dưới cánh đồng mấp mô, chỗ cao chỗ thấp, tay cầm nắm củi nứa đốt dưới niêu, lửa đốt ra ngoài, mải nhìn về niêu cơm thì chân bị vấp ngã, gây một trò vui cho người xem.


Mỗi làng có một cái đình có một ông vua vô hình, có một tập tục riêng, nghiễm nhiên là một nước nhỏ trong cái nước lớn, do đó có câu "Hương đảng tiểu triều đình". Người làng nọ sang ở làng kia không khác một người nước này sang kiều ngụ nước khác, người này bị gọi là dân ngụ cư.


Hà Nội từ đời Lý không có đình, sang đời Trần sau cuộc chiến thắng quân Nguyên, trong cảnh đất nước thanh bình người các nơi kéo đến làm ăn buôn bán đông, những người cùng làng góp nhau xây cái đình thờ vọng ông thành hoàng làng mình, hàng năm cũng có cúng tế, chứa trọ, chứa đăng cai. Phố Hàng Bạc có cái đình Trâu Khê do người làm nghề thợ bạc xây dựng lên thờ vọng ông thành hoàng làng mình là vị tổ sư nghề thợ bạc. Nhà số 22 phố Lò Sũ xưa là cái đình của người làng Liễu Viên thuộc huyện Thường Tín, Hà Đông, thờ vọng ông thành hoàng làng mình là vị tổ sư nghề thợ mộc; cách đấy mấy nhà là nhà số 30 cũng có cái đình thờ vị thành hoàng làng Liễu Viên, nhưng thuộc về giáp khác. Nhà số 42 phố Hàng Tre, xưa là cái đình của người làng Phượng Dực đối diện với làng Liễu Viên (cách nhau một con sông con) thờ vị thành hoàng làm nghệ thợ nề. Những ngôi đình này thường có hai tầng: trên gác làm cung điện thờ thành hoàng, dưới nhà cho thuê lấy hoa lợi để cúng tế.


c. Đền


 


Đền phiên âm từ chữ điện mà ra. Đền là nơi thờ những bậc anh hùng, những người có công giúp nước được Nhà nước phong kiến cho lập đền thờ để ghi nhớ công ơn. Cũng có những ngôi đền theo truyền thuyết trong sử sách cho là vị thần thiêng có phép thuật trừ diệt ma quái, như đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ có phép thuật trừ ma quái phương Bắc nên được thờ để trấn áp ma quái phương bắc thành Thăng Long. Vì phương bắc thuộc thủy màu đen nên tượng thần đúc bằng đồng rồi được hun đen, chớ không phải đồng đen. Dưới triều Nguyễn những ngôi đền thờ thần thánh ở Hà Nội đều có phân biệt đẳng cấp: Thượng đẳng tối linh từ, tối linh từ; Thượng đẳng từ, linh từ, đều là những đẳng cấp do vua quan nhà Nguyễn phong cho các đền. Sang thời Pháp thuộc, những ông từ bà đồng làm quảng cáo cho ngôi đền của mình trông nom và hưởng lộc, muốn được nhiều người đến lễ nên lạm dụng các đẳng cấp, đề bừa các chữ Thượng đẳng tối linh từ. Những người lợi dụng việc thờ cúng vua mẫu, thần thánh tựu lập ra những ngôi đền làm "cửa hàng buôn thần bán thánh". Tại góc phố Hàng Thùng và Nguyễn Hữu Huân có ngôi đền gọi là đền Hàng Tre thờ vọng bà Liễu Hạnh. Nguyên xưa một bà có tính đồng bóng lập bàn thờ trong nhà riêng, ngôi nhà thấp, có một tầng, nhiều người đến lễ bái, được phát tài, bà vào đền Lộ thuộc huyện Thanh Trì thi đồng quan tức là người đứng đầu các bà khác. Người đi thi đồng quan không cần học hành biết chữ hay có tài cán gì, chỉ cần có nhiều tiền vung ra cho các con công đệ tử các thầy cúng cung văn được nhiều người ủng hộ bầu cho thế là đỗ đồng quan. Năm 1928, bà đồng này xây ngôi đền to lên và nâng lên hai tầng, nhờ vào lộc thánh. Thấy nghề buôn thần bán thánh được phát tài, các đền thờ vua mẫu, thờ cậu thờ cô mọc lên nhan nhản trong thành phố. Những ông thầy cúng cung văn, dựa vào các đền ấy sống phong lưu nhàn tản, đội ngũ các ông mỗi ngày phát triển mãi lên. Những nhà giàu trong thành phố có những cô con gái dậy thì không học hành không lao động nên có "chứng bệnh" vẩn vơ. Các bà đồng, các ông thầy cúng khuyên bố mẹ đem các cô đi đội bát nhang vì các cô bị vua mẫu bắt lính. Bố mẹ các cô biện đồ lễ và món tiền cúng vào đền được bà đồng phong cho một chức "công chúa" là đệ tử của Lê Sơn Thánh mẫu hay Cửu thiên Huyền nữ. Một tháng đôi tuần, và mỗi năm vào những dịp Thượng nguyên, Tất niên, vào hè ra hè, Tết Đoan ngọ, Tết Trung nguyên, ngày vía thánh các cô phải biện lễ vật đến để hầu bóng rồi tập sự lên đồng. Thời Pháp thuộc trong thành phố Hà Nội, các xưởng công kỹ nghệ không có gì mấy, mà các đền chùa, đình miếu chiếm đến hai phần ba thành phố. Bọn thực dân Pháp lợi dụng sự mê tín dị đoan làm chính sách ngu dân, chúng mặc cho dân Hà Nội được tự do xây đền miếu và lễ bái bừa bãi. Trước đây dưới gốc cây đa phố Hàng Gai, dưới gốc đa phố Ngõ Gạch, dưới gốc si ngõ Tạ Hiện (hồi Pháp thuộc gọi là ngõ Sầm Công) ăn thông ra phố Mã Mây và nhiều nơi nữa ở mạn chợ Hôm, có người xây những cái miếu con con, hàng ngày nhiều bà đến lễ bái xì xụp; dưới gốc đa ở góc Văn Miếu cũng có cái miếu con, sau những ông thầy cúng cung văn và bà đồng xây thành cái đền con cho các bà các cô “nghiện” đồng bóng đến lên đồng. Thanh niên khu phố này thấy là việc chướng tai gai mắt phải phá bỏ ngôi đền ấy đi để bài trừ thói mê tín dị đoan. Ngoài thói lễ bái quàng xiêng, lại còn cái thói cầu tự. Các đền chùa trước đây đặt riêng một bàn thờ có những pho tượng con con để các bà đến lễ cầu tự. Trong chùa Hương có những cái thạch nhũ nhô cao lên, người mê tín dị đoan nói là tượng các cô các cậu, họ đến lễ xoa đầu, xin cô cậu về đầu thai làm con. Nhiều người xoa mãi đến nỗi những cái thạch nhũ ấy tròn và nhẵn thín như được mài bằng máy.


 


   NHÀ Ở VÀ CÁCH ĂN MẶC CỦA NGƯỜI HÀ NỘI


Nhà ở


Dưới chế độ phong kiến, dân Hà Nội cũng như nông thôn chỉ được làm nhà tranh vách đất, người nào giàu có mới làm nhà vách ván; riêng những người đỗ đại khoa làm quan to mới được phép làm nhà ngói tường gạch sân gạch, nhưng chỉ được làm thấp một tầng, nếu có làm gác, chỉ là cái gác xép thấp bé, không được trổ cửa gác trông ra phố. Các nhà ở Hà Nội thời bấy giờ đều có sân có vườn rộng rãi; mỗi gia đình ở riêng một nhà; nhưng các gia đình đều sống theo chế độ đại gia đình: ông bà, bố mẹ, con, cháu, chắt đều ở chung một nhà. Gia đình nào có bốn, năm đời ở chung với nhau đều được triều đình phong kiến ban thưởng cho bức thêu hay bức hoành "tứ đại đồng đường" hoặc "ngũ đại đồng đường" và được ban cấp vàng bạc, vải vóc.


Những nhà ở vào các phường Đại Lợi, Đồng Lục, Đồng Xuân, Đông Thành, Thái Cực, Kim Cổ, Đông Hà, Cổ Vũ - sau này là các phố Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Bồ, Đồng Xuân, Hàng Cót, Cửa Đông, Hàng Gai, Hàng Bông, Cửa Nam – đều là những nơi buôn bán sầm uất, nên nhà cửa làm sát nhau, chia làm hai hàng giữa có đường đi rộng, được gọi là phố xá. Phố nghĩa là cửa hàng trông ra đường, xá là đường đi, sau này danh từ phố dùng rộng rãi gọi cả một nhóm nhà ở liền với nhau một khu vực: phố Hàng Đào, phố Hàng Gai v.v…


Về mạn chung quanh hồ Hoàn Kiếm và các vùng lân cận, không phải là nơi buôn bán, nhân dân thường chuyên về nông trang hay thủ công nghiệp, nhà cửa không làm sát vách nhau: mỗi nhà cách nhau một hàng rào hoặc cái ao, hoặc một lối đi hoặc bãi đất trống, nhà nào cũng có ngăn nắp gọn gàng. Những nhà làm ruộng có chuồng trâu, chuồng bò, có vườn, có chuồng lợn, chuồng gà; không nhà nào xây dựng nhà vệ sinh và nhà tắm trong nhà, mọi người đều đi tiêu ngoài đồng, ngoài sông, ngoài bãi.


Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, lấy đạo hiếu làm đầu, nên nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên, nhà nào cũng có bàn thờ thổ công, thường gọi là vua bếp hay ông Táo. Việc thờ cúng vua bếp theo truyền thuyết trong truyện cổ tích: một người đàn bà lấy người chồng con nhà giàu nhưng anh chồng chỉ ham mê cờ bạc, vợ khuyên can không được, còn đánh đuổi vợ đi. Người đàn bà ra đi sau lấy một người chồng khác chuyên nghề săn bắn. Người chồng cũ về sau bị sa sút phải đi ăn mày, một hôm anh ta tình cờ đến xin tiền nhà người vợ cũ. Người vợ cũ nhận ra được, thương hại lấy cơm cho ăn. Giữa lúc anh ta đương ăn thì người chồng sau đi săn về, vác con nai trên vai, người vợ vội vàng bảo anh chồng cũ chui vào đống rơm trốn; bất đồ người đi săn đặt con nai vào đống rơm thui, anh chồng cũ bị chết cháy. Người đàn bà thương cảm quá, nhảy vào đống lửa chết theo. Người đi săn, tức là anh chồng sau của người đàn bà, thương vợ cũng nhảy vào đống lửa chết theo. Thượng đế thương họ là những người tiết nghĩa, phong cho họ chức "Đông trù tư mệnh tai phủ thần quân", chuyên coi sóc các nhà trong dân gian dưới hạ giới, mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch phải lên thiên đình tâu mọi việc thiện ác của từng người để Thượng đế khen thưởng ban phúc cho những người làm việc thiện và trừng trị những kẻ làm điều ác. Mỗi tháng đôi tuần vào ngày rằm và mùng Một âm lịch hoặc các ngày giỗ gia tiên, các dịp tết lớn nhỏ, mọi nhà đều thổi xôi, làm gà hoặc đặt cỗ cúng vua bếp. Mỗi năm ngày 23 tháng Chạp các nhà lại làm lễ cúng tiễn ông Táo lên chầu trời. Lễ tiễn, ngoài xôi thịt hoặc cỗ bàn phải có hai con cá chép sống thả vào chậu nước đặt lên bàn thờ; trên bàn thờ bày ba cỗ mũ: hai mũ cánh chuồn và một mũ mệnh phụ (cho bà Táo). Việc thờ cúng ông Táo chỉ là sự mê tín dị đoan do bọn thầy cúng bịa đặt ra để người ta phải mời họ cúng mà kiếm tiền. Việc thờ cúng này trái với đạo Nho, vì Khổng Tử có nói: "Vị ư Áo, bất vị ư Táo", nghĩa là nịnh thần Áo, không nịnh thần Táo.


Sang triều Nguyễn, các nhà ở Hà Nội thêm tục thờ thần hổ, gọi là ông ba mươi hay ông lớn, do truyện tích như sau:


Khi Gia Long bị quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đánh cho thua to phải lẩn lút vào rừng trong Nam, bị thiếu lương ăn. Gia Long sai quân lính vào trong rừng sâu săn bắt chim thú rừng và tìm quả rừng để ăn. Quân lính đi một lúc thấy có con nai đã bị hổ ăn mất cái đầu, thịt mình nai còn tươi ngon, họ liền khiêng về mổ rồi thui cho Gia Long và bọn quan tùy tùng ăn. Nhân đó Gia Long nói là mình được trời giúp nên sai thần hổ kiếm nai đem dâng. Đây là cách tuyên truyền bịp bợm của Gia Long để cho bọn tùy tùng và quân lính không bỏ mình hay phản mình trong lúc thất thế. Về thực tế thì những giống vật ăn thịt như hổ, báo, mèo, chó khi bắt được con mồi nó ăn thịt sống chóng ngán nên hay bỏ dở, lúc khác lại tìm đến ăn nốt. Sau khi Gia Long lên làm vua, liền phong cho hổ là thần vật và ra lệnh cho nhân dân ai bắt được hổ sẽ được thưởng ba mươi quan tiền và bị phạt ba mươi roi đòn (đòn đánh nhẹ, người bị đánh không đau) để trừng phạt về việc phạm vào thần vật của nhà vua. Nhân việc này bọn thầy cúng bày cho các nhà ở Hà Nội đặt bàn thờ hổ để hổ giữ nhà chống các ma quái vào nhà. Bọn họ còn bịa ra ngũ hổ: người thuộc mạng thủy thờ hắc hổ, thuộc kim thờ bạch hổ, thuộc mộc thờ thanh hổ, thuộc hỏa thờ xích hổ, thuộc thổ thờ hoàng hổ. Khi đặt bàn thờ hổ phải mời bọn thầy cúng đến khai quang điểm nhỡn, bọn họ có cách làm tiền.


Các món ăn


Người Hà Nội ngày xưa ăn rất thanh đạm. Cơm thường là thứ gạo đỏ, một thứ gạo rẻ tiền nhất, mà vẫn phải độn thêm ngô khoai. Các cụ đã có câu thơ:


Dặn vợ có cà đừng lấy muối


Khuyên con bớt gạo cạo thêm khoai


Bữa cơm chỉ có vài ba món toàn là rau dưa, cà, muối vừng, có nhà không có vừng lấy gạo rang với muối giã nhỏ để ăn với cơm cho đậm và thơm, thỉnh thoảng mới ăn mắm tép mắm ngấu. Nhiều thứ rau, mỗi nhà trồng lấy được như mướp, đậu ván, hoa lý, bầu, bí; các món cua, ốc, tôm, tép thường thường đi mò, đi vợt lấy được chứ không phải mua. Riêng các nhà quan, các nhà buôn giàu có hàng ngày mới đi chợ mua thức ăn, nhưng thường ăn cá nhiều hơn ăn thịt nên ta đã có câu "hàng thịt nguýt hàng cá" vì tôm cá, cua, ốc, lươn, chạch, ếch là những món rẻ hơn thịt. Nông dân và công nhân thỉnh thoảng mới có dịp được ăn thịt vào những ngày giỗ tết khao vọng, thường ăn thịt gà vịt nhiều hơn thịt lợn. Gà, vịt nhà nào cũng nuôi lấy được, còn lợn chỉ những nhà làm ruộng, làm hàng xáo mới nuôi được vì những nhà ấy có sẵn thức ăn cho lợn. Thịt trâu, bò vẫn thường có, do những nhà làm các nghề bịt tang trống, đóng giày dép, làm mực nho thếp vàng vào đồ gỗ cần đến da trâu, bò nên hay giết trâu bò để lấy da. Nơi giết trâu nhiều nhất là làng Kiêu Kỵ thuộc huyện Gia Lâm. Nhân dân làng này có nghề làm mực nho và thếp vàng vào gỗ, thỉnh thoảng họ lại mổ trâu hay mổ bò lấy da làm hàng. Da trâu miếng to lột ở mình nó ra thì họ bán cho thợ giày ở phường Hài Tượng (xưa gồm cả khu phố Hàng Giày, Đinh Liệt và một phần thôn Trung Yên) để thuộc đi đóng giày dép, còn các chỗ da vụn ở đầu, cổ, bốn chân, khấu đuôi, họ đem nấu lấy keo. Người ta lấy keo ấy, gọi là keo da trâu, trộn với muội khói đánh cho nhuyễn rồi đổ khuôn làm mực nho. Việc làm muội khói cũng công phu: người ta làm một cái lều bằng tre uốn vòng xuống như cái tùm hum, trên nóc và bốn bề chung quanh bao bằng lá cọ và rơm cho thật kín, dưới mái chăng nhiều dây gai hay dây mây. Người ta lấy gỗ cây thông còn tươi xếp đống trong tùm hum (hai đầu có cửa bằng phên đóng kín) rồi nổi lửa đốt gỗ thông, khói gỗ thông bốc lên bám vào đầy dưới mái bốn bên bờ tùm hum. Phải đốt luôn mấy ngày đêm, khi được nhiều muội khói người ta gỡ lấy muội và dùng chổi quét chung quanh để lấy cho thật hết muội. Những thỏi mực nho làm bằng muội gỗ thông là mực tốt, đen nhánh, khi khô có ánh sáng bóng. Khi không kiếm được gỗ thông, người ta đốt bằng củi và gỗ tạp thường, được ít muội, làm ra mực không đen và không bóng, bán kém tiền.


Việc thếp vàng vào các đồ gỗ, như câu đối sơn son thếp vàng hay hòm rương, án gian v.v…, người ta lấy keo da trâu phết vào chỗ định thếp vàng rồi lấy những miếng vàng quì đã dát mỏng như tờ giấy thuốc lá dán lên. Khi phải vẽ rồng, phượng hoa lá bằng vàng người ta dùng thứ vàng vụn đã tán nghiền như bột gọi là kim nhũ trộn với keo da trâu nấu lỏng, dùng bút lông mà vẽ. Ngày xưa tại phường Kim Cổ, sau này là phố Hàng Hài, bây giờ là phố Hàng Bông, có những người thợ chuyên nghề dát vàng quì, cứ mỗi cặp hai người ngồi đối diện nhau dùng cái vồ con bằng gỗ nghiến hay gỗ đinh, gỗ sến gõ chan chát suốt ngày lên miếng vàng cho thật mỏng như tờ giấy thuốc lá, những mẩu vàng và vàng vụn, người ta đem nghiền và tán làm bùn nhũ.


Nhân dân làng Kiêu Kỵ mỗi khi mổ trâu để lấy da làm hàng, dù không gặp đình đám gì cũng đem thịt ra đình cúng tế thành hoàng rồi chia phần mỗi người một tí còn đem bán để gỡ lấy vốn. Những người giàu có ít người ăn thịt trâu, người cho là độc, người mộ đạo Phật kiêng không ăn, nên thịt trâu bán rẻ hơn thịt bò, thịt bò bán rẻ hơn thịt lợn. Mỡ trâu bò, người ta bán cho Hoa kiều để làm nến. Họ lấy giấy bản quấn vào cái que to bằng cái que kem nhưng dài hơn, rồi rán mỡ trâu bò cho chảy ra, tẩm que ấy vào để ra ngoài có gió mát mỡ đông lại và tẩm nhiều lần cho dày lên, sau bọc một lượt giấy bản nhuộm đỏ nữa ra ngoài, rồi đem bán. Vì chưa biết cách nấu lọc lấy nguyên chất acid tartaric, nên trong nến còn chất acid palmitic, gặp nóng nó chảy ra bẩn nên khi thắp người ta phải cắm vào cái bát tro khô. Từ năm 1920 trở đi, không ai dùng thứ nến này nữa vì có nến nấu bằng paraphin, rẻ hơn và thắp tiện hơn, sạch hơn. Trong bọng đái của trâu bò, thường có sỏi hay sạn, người ta gạn lấy bán cho các hiệu thuốc bắc làm chất ngưu hoàng chữa bệnh sốt trẻ em, còn cái bọng đái (bàng quang) người ta rửa sạch ngâm với nước muối rồi ngâm với nước phèn chua phơi khô dùng làm vật đựng rượu. Một bóng trâu to có thể chứa được 15 lít rượu.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 








1.Nhân chuyện thi cử này, tôi chợt nhớ đến bài thơ Hỏng thi của Tú Xương:


                          Mai không tên tớ, tớ đi ngay!


                          Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày!


                          Học đã sôi cơm nhưng chửa chín


                          Thi không phải ớt thế mà cay!


                          Sách đèn phó mặc đàn con trẻ


                          Thưng đấu nhờ tay một mẹ mày


                          “Cống hỉ”, “Méc-xì” đây thuộc cả


                           Không sang Tàu tớ cũng sang Tây!


              Giải thích: “Cống hỉ” là lời chào bằng tiếng Quảng Đông, còn “Méc-xì” (Merci) là Cảm ơn, tiếng Pháp (TTĐP).      



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »