tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047612
Tiểu thuyết
05.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Lời tác giả


Lịch sử Hà Nội đã được sử sách nói đến nhiều, vì thế ở đây chúng tôi chỉ sưu tầm những sự kiện xảy ra tại Hà Nội từ cuối thời kỳ phong kiến qua thời Pháp thuộc cho đến ngày nay. Chúng tôi chú trọng vào phong tục tập quán, cổ vũ cho những hoạt động xã hội của nhân dân Hà Nội dưới thời phong kiến đế quốc cai trị.


Những sự kiện này, chúng tôi đã được các vị lão thành và bè bạn kể cho nghe, nay đem cống hiến cho bạn đọc để góp vào những điều mà sách, sử nói về Hà Nội nhưng không đề cập đến.


     Viết cuốn sách này, chúng tôi cũng noi gương Phạm Đình Hồ và Trần Danh Án là tác giả các cuốn Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút, hy vọng góp một số tài liệu phục vụ cho công việc khảo cứu, sau cuộc tiến bước nhảy vọt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, vị anh hùng cứu quốc được nổi tiếng khắp năm châu thế giới.


Cuốn sách này chia làm hai phần: Phần Xưa đề cập đến khoảng thời gian từ cuối thời kỳ phong kiến cho đến Cách mạng tháng Tám; Phần Nay chúng tôi ghi lại những sự kiện từ Cách mạng tháng Tám đến kỳ họp Quốc hội Toàn quốc ngày 24-6-1976.


     Từ cố đô Thăng Long đến Hà Nội của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trải qua ngót nghìn năm với biết bao nhiêu sự việc xảy ra, song sức tôi chỉ có hạn nên không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, mong được bạn đọc bổ sung thêm cho.


Bạch Diện Nguyễn Văn Cư


Vài nét về Tác giả


Bạch Diện Nguyễn Văn Cư sinh trưởng trong một gia đình nho học sinh sống lâu đời ở Hà Nội. Theo sử sách chép lại, thời Hà Nội còn hoang sơ dưới thời vua Lý Thái Tổ, nhà vua thường lệnh cho quân lính đưa voi nhà lên mạn Hồ Tây để dọa voi rừng vì vùng này thường có nhiều “trăn, gấu”.


Kể từ khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Hà Nội đặt tên là Thăng Long đã tiến những bước dài trên con đường kiến quốc và phát triển về các phương diện văn hóa, văn nghệ, nông nghiệp cũng như công nghiệp.


Chùa Một Cột xây năm 1049 thời nhà Lý được coi là kỳ quan của Hà Nội.


Văn Miếu xây năm 1070 dưới triều Lý Thánh Tông, trong nhà đại bái có một bức hoành phi sơn son thếp vàng có bốn chữ “Vạn thế sơn biểu” (Bậc thầy tiêu biểu của muôn đời) do chính tay vua Càn Long nhà Thanh cung tiến vào Văn Miếu dưới triều Nguyễn.


Tác giả còn viết: Ngày Hà Nội tác chiến 19-12-1946, quân đội Pháp nã đại bác vào Văn Miếu phá tan nhà thờ bố mẹ Khổng Tử (ông Thúc Lương Ngột và bà Nhạn Trung Tại).


Trong sách tác giả đã viết kỹ về nếp sinh hoạt của người Hà Nội xưa, thời người ta chia dân làm bốn giới: sĩ, nông, công, thương, trong bốn giới ấy sĩ là giới cao quý nhất. Học và thi là hai sự việc đứng đầu trong ngành văn hóa của nước ta thời bấy giờ, nên đã có câu ca:


         Muốn sang thì bắc cầu kiều


       Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy


Việc thi được tác giả nêu rõ sự nghiêm ngặt của nhà nước phong kiến đến mức học trò vào thi bị khám xét từ trong tới ngoài cho đến khi học trò vào trường hết rồi thì có loa truyền rất to: “Cửa trường đóng kín, trong không ra, ngoài không vào. Kẻ nào trái lệnh bị chém”.


Tác giả nói rất kỹ thời thực dân Pháp chiếm Hà Nội làm thuộc địa, chúng không cho triều đình Huế mở khoa thi hương tại Hà Nội nữa. Chúng tuyên truyền cho học trò phải học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Chúng còn chia nước ta làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để dễ cai trị, mỗi kỳ lại có một chế độ riêng nhằm chia rẽ nhân tâm.


Nguyễn Trường Tộ là người sáng suốt dám đưa ra bản điều trần yêu cầu cải cách việc học, việc thi, sắm sửa võ bị, đồng thời phái người ra nước ngoài học hỏi để mở mang dân trí nhưng vua quan nhà Nguyễn đã ngoan cố không nghe. Khi giặc Pháp đem súng lớn, tàu to đánh chiếm nước ta, họ đành cúi cổ đầu hàng, khiến dân ta chìm đắm trong vòng nô lệ dưới ách thực dân hơn tám mươi năm.


                                            *


Hà Nội xưa và nay cũng nêu rõ: triều đình tôn sùng đạo Phật nên dân gian sinh lòng tín ngưỡng, do đó chùa xây dựng mỗi ngày một nhiều, chưa kể số đình, đền cũng tăng theo. Thực dân Pháp đã lợi dụng lòng tín ngưỡng đạo Phật của dân chúng lái họ chuyển sang chiều hướng mê tín dị đoan nhằm thực hiện chính sách ngu dân. Chúng để mặc cho dân Hà Nội tự do xây đền chùa miếu mạo và lễ bái bừa bãi.


Là người Hà Nội gốc, am hiểu phong tục tập quán cũng như nếp ăn nếp nghĩ của người Hà thành, tác giả dành nhiều trang nói về cách ăn mặc của họ thời xa xưa, tục lệ dành của ngon vật lạ để tiến vua như rau muống Sơn Tây, vải thiều để cung tiến cho cô vợ lẽ của Đường Minh Hoàng là Dương Quý Phi. Tác giả đề cập đến quần áo, cách phục sức cũng như không quên nói đến tục cưới xin, ma chay, giỗ chạp rồi tục đốt vàng mã, tục ăn Tết của người Hà Nội.


Với kiến thức uyên bác, nhà văn – nhà báo Bạch Diện đã cung cấp cho độc giả những phong tục tập quán của người Hà Nội xưa để bạn đọc càng hiểu, càng yêu quý và tự hào về Hà Nội. Chính bản thân tác giả cũng là người thức thời nên không hề nệ cổ: đã cho con gái đi học chữ như con trai. Tác giả có sáu người con: hai con trai là Nguyễn Quang Huỳnh – tiến sĩ Hóa, Nguyễn Thượng Hùng – tiến sĩ Ngôn ngữ học và bốn con gái: Nguyễn Thị Bích Thuận – nhà văn, cán bộ tiền khởi nghĩa, đại học Tổng hợp Khoa Ngữ văn; Nguyễn Thị Thu Yến, Nguyễn Thị Ngọc Hồ, Nguyễn Văn Kim đều là cán bộ cốt cán của Đảng và nhà nước; cháu ngoại Võ Việt Dũng là một chiến sĩ ngoan cường trên chiến trường miền Nam, từng tham dự nhiều trận đánh ác liệt, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau này Võ Việt Dũng cũng theo nghề báo như ông ngoại mình.


Nhân đây chúng tôi cũng xin được nói thêm một vài điều về tập bản thảo Hà Nội xưa và nay của tác giả Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. Sở dĩ chúng tôi có được tập bản thảo này một phần lớn cũng là nhờ công của người cháu ngoại của cụ, nhà báo Võ Việt Dũng. Trong một lần về thăm nhà ở 46 Hàng Tre, Võ Việt Dũng leo lên gác và phát hiện ra tập bản thảo viết tay Hà Nội xưa và nay giữa vô số chồng sách báo cũ mà ông ngoại đã cất trên đấy. Với con mắt của người làm báo, Võ Việt Dũng đã thu thập, sắp xếp lại, đọc sơ bộ rồi đưa đi đánh máy. Nhờ thế mới có được tập bản thảo hoàn chỉnh như quý vị đã thấy.


Đọc cuốn sách của tác giả Bạch Diện (Nguyễn Văn Cư) chúng ta càng thêm yêu quý tự hào về Hà Nội “thành phố vì hòa bình”, thành phố trên 1.000 năm tuổi, hào hùng trong chiến đấu, vững vàng bảo vệ những thành quả đạt được trong lao động, đang sánh vai cùng thủ đô các nước tiên tiến để xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và văn minh với tất cả hào sảng của người Thăng Long. Mong rằng cuốn sách này ra đời sẽ được bạn đọc xa gần nhiệt liệt hưởng ứng.


Điều sau cùng chúng tôi muốn thưa với quý độc giả là, trong quá trình tập hợp tư liệu, chỉnh sửa cũng như biên tập sơ bộ, do kiến thức có hạn – nhất là những hiểu biết về Hà Nội xưa – chúng tôi không thể tránh khỏi những sai sót khiến quý vị bận lòng. Chúng tôi mong quý vị lượng thứ và tận tình chỉ vẽ để chúng tôi có dịp học hỏi thêm.


Xin trân trọng cảm ơn!


Hà Nội, ngày 02 -1-2015


 Bích Thuận


Nhà văn. Con gái nhà văn, nhà báo Bạch Diện


 


Phần I. HÀ NỘI XƯA


  NHỮNG TÊN CŨ VÀ DI TÍCH CỦA HÀ NỘI


 Trước khi có cái tên Kinh diện oai hùng như ngày nay, Hà Nội đã trải qua nhiều phen biến đổi và mang nhiều tên: Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Bắc Kinh Thành.


Xét về vị trí, chúng ta có thể đoán biết rằng thời Hùng Vương dựng nước, Hà Nội chỉ là một thôn quê hẻo lánh, ít người ở, rừng rậm cây to, ao hồ gò bãi nhiều. Cho đến đời Lý dựng đô Thăng Long, chung quanh thành vẫn còn là rừng rậm. Sử chép rằng vua Lý Thái Tổ thường sai mang voi nhà lên mạn Hồ Tây để dọa voi rừng và tại vùng này thường có trăn gấm. Như vậy, Hà Nội, nói cho đúng hơn, thành Thăng Long thời ấy ở vào chỗ cửa rừng; mạch rừng này chạy suốt từ Vĩnh Phú về đến đây và liền lạc với các khu rừng ở Hà Sơn Bình (tức Hà Đông – Sơn Tây – Hòa Bình, nay là Hà Nội và Hòa Bình) vào đến Thanh Hóa.


Theo bản đồ đời Lê 1490, thời thành Đông Kinh, tức Hà Nội ngày nay, lấn về phía tây nhiều. Sau này Gia Long sửa chữa lại, xén bớt thành về phía tây mà cho lấn về phía Đông nam, xây theo kiểu Vanlean và xây thêm cột cờ. Thi hào Nguyễn Du đã từng làm quan ở Thăng Long từ đời Lê, sau dời đi nơi khác. Cách mấy chục năm sau, sang đầu đời Nguyễn, trong một lần có dịp trở lại Thăng Long, thấy cảnh vật cũng như con người có nhiều thay đổi, ông đã cảm khái viết nên bài thơ Thăng Long:  


Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng


Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long


Thiên niên cự thất thành quan đạo


Nhất phiếu tân thành một cố cung


Tương thức mỹ nhân khan bão tử


Đồng du hiệp thiếu tận thành ông


Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy


Đoản dịch thanh thanh minh nguyệt trung.


                               (Bắc hành tạp lục- Nguyễn Du)


Dịch:


Núi Tản sông Lô cảnh vẫn cùng


Bạc đầu lại được thấy Thăng Long


Nghìn năm như lớn thành quan đạo


Một mảnh thành xây mất cố cung


Người đẹp quen xưa nay bế trẻ


Bạn chơi thuở nhỏ đã nên ông


Năm canh khắc khoải không an giấc


Văng vẳng đêm trăng tiếng sáo đồng.


  (Bạch Diện dịch)


Hà Nội từ khi có tên là Thăng Long đã tiến những bước dài trên con đường kiến quốc và phát triển về các phương diện văn hóa văn nghệ cũng như nông nghiệp, công nghiệp.


Có thể chứng minh được điều này nếu lưu ý đến những di tích về văn hiến của nhà Lý còn sót lại đến ngày nay. Chùa Một Cột xây năm 1049 dưới triều vua Lý Thánh Tông được coi là một kỳ quan của Hà Nội. Khi chùa mới xây, cột to đỡ chùa bằng gỗ nguyên súc, thời Pháp thuộc (vào khoảng từ 1920 đến 1925), tên toàn quyền Jean Baptiste Paul Beau mới xây thang gạch cũng vào thời bấy giờ. Trước kia mỗi ngày chú tiểu ở chùa dưới phải bắc thang tre trèo lên chùa thắp hương và quét dọn. Hồi 3 giờ chiều ngày 10-9-1954, trước khi di cư vào Nam theo đám bại binh Pháp, bọn tay sai đặt mìn chất dẻo phá tan ngôi chùa này. Năm 1955, Chính phủ ta xây dựng lại như cũ.


Văn Miếu xây năm 1070 dưới triều Lý Thánh Tông cũng qua nhiều lần trùng tu. Bọn vua chúa nhà Nguyễn xây thêm lầu Khuê Văn và đào văn hồ trước lầu. Trong nhà đại bái có treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng có bốn chữ "Vạn thế sự biểu" (nghĩa là Bậc thầy tiêu biểu của muôn đời), do chính bút tích của vua Càn Long nhà Thanh cung tiến vào Văn Miếu dưới triều Nguyễn.


Hồi Hà Nội tác chiến (19-12-1946), quân đội thực dân Pháp đã nã đại bác vào Văn Miếu phá tan nhà thờ bố mẹ Khổng Tử (ông Thúc Lương Ngột và bà Nhan Trung Tại).


Ở sau Văn Miếu về phía đường Nguyễn Thái Học; hai nhà Tả Vu, Hữu Vu ở hai bên trước sân Văn Miếu cũng bị trúng đạn đổ sập hết. Hai ngôi nhà này ngày xưa dùng làm chỗ cho những người đến tế ngồi nghỉ, thay áo và sửa soạn các lễ phẩm khi có cuộc Xuân tế và Thu tế. Hai ngôi nhà này do một bọn người quyên tiền các nơi xây dựng lại năm 1952. Nền cũ ngôi nhà thờ bố mẹ Khổng Tử đến nay vẫn bỏ hoang không xây dựng lại nữa. Dưới triều Lý còn một số kiến trúc nữa nhưng nay không còn di tích gì, như An Nam tứ khí:


     - Tháp Bảo Thiên.


     - Đỉnh Phổ Minh.


     - Phật Quỳnh Lâm.


     - Chuông Quy Điền.


Xem các nét chạm khắc trên các rui dầm trong nhà đại bái ở Văn Miếu và các pho tượng cùng cách kiến trúc, chúng ta thấy về triều Lý trình độ kỹ thuật, mỹ thuật của nhân dân ta đã rất tinh xảo và tiến bộ rất nhiều. Không chỉ ở Văn Miếu, các đền chùa cổ tại các nơi còn sót lại ngày nay, từ cách kiến trúc đến các nét chạm khắc đã nói lên cuộc sinh hoạt rất thoải mái của nhân dân ta qua các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.


Sau đây chúng tôi nói về nếp sinh hoạt của nhân dân ta từ thời cuối Lê đầu Nguyễn đến sau này. Trong thời gian này, tập tục sinh hoạt của nhân dân ta như thế nào còn được ghi trong gia phả của các gia đình, và còn được các vị cố lão kể lại cho con cháu về sau nghe biết.


Nhân nói về cuộc sinh hoạt đó, chúng ta được biết rõ thêm về tính tình phong tục của nhân dân ta thời xưa.


   NẾP SINH HOẠT CỦA NGƯỜI HÀ NỘI XƯA


Dưới chế độ phong kiến, người ta chia dân làm bốn giới: sĩ, nông, công, thương. Trong bốn giới đó, sĩ là giới cao quý, nên nhiều người đổ xô vào việc đi học để được đỗ đạt làm quan, hưởng "ân vua lộc nước", ăn ngon mặc đẹp, không phải làm việc nặng nhọc và được tôn trọng. Những người trí óc kém học không được hoặc những người nhà nghèo quá, vì kế sinh sống thiếu thốn không có thì giờ và công thương, nhưng vẫn nuôi hy vọng cho con cháu đi học đỗ đạt làm quan. Học và thi là hai sự việc đứng đầu trong ngành văn hóa của nước ta dưới thời phong kiến.


 


 Việc học


 


Việc học chữ xưa chỉ dành riêng cho con giai, còn con gái không được đi học mà phải tập làm các việc nữ công hay buôn bán. Trong số con gái nếu có những người nổi tiếng hay chữ như bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân Hương đều là những người thiên tài xuất chúng do bố hay chú bác dạy cho học trong gia đình. Những bà này dù học giỏi đến mấy cũng không được bén mảng đến trường thi.


Con giai khi lên năm - sáu tuổi, bố mẹ cho đi học, gọi là học vỡ lòng. Nhà khá giả, đông con cháu mời thầy đồ về nhà dạy học và cũng để ông đồ được nhận thêm học trò các nơi đến học. Nhà chủ cung đốn cho thầy đồ đủ cơm nước ngày hai bữa, trầu thuốc quà cáp vặt nếu có; khi thầy đồ có một vài ông bạn hay người nhà từ xa đến chơi, nhà chủ coi như bạn và người nhà nhà mình, thết đãi cơm rượu và dọn giường chiếu cho những ông khách phương xa ấy ngủ. Khi thầy đồ về quê vào dịp giỗ và Tết mùng 5 tháng 5, Tết Trung nguyên (rằm tháng 7) và Tết Nguyên đán, chủ nhà phải trù biện quà biếu và tiền đò giang. Chủ nhà chỉ nuôi cơm và cung biện cho thầy đồ như vậy thôi, chứ không trả lương hàng tháng hay hàng năm. Do đó, xưa có câu ca:


Muốn sang thì bắc cầu kiều


Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.


Những nhà không nuôi thầy đồ, cho con đến học nhờ, hàng năm cũng phải biếu thầy đồ gà, gạo, vải lụa khi thầy đồ có dịp về quê, và nhân dịp Tết cũng biếu quà cho chủ nhà.


Trường học của thầy đồ không có bàn ghế, chỉ có một cái giường, ghế ngựa, trên giải chiếu đậu. Thầy đồ ngồi giữa giường, bên cạnh có tráp sơn đen bóng (ngoài sơn đen trong lòng tráp sơn đỏ) trong tráp đựng các món đồ dùng lặt vặt như giấy, bút, mấy cuốn sách khổ nhỏ dùng tra cứu, hộp thuốc lào, mấy miếng trầu cau, con dao con; bên cạnh tráp có cái điếu thuốc lào, cái giỏ ấm tích bộ khung chén; trước mặt thầy đồ ngồi có cái yên viết hay cái kỷ con, đặt ống bút nghiên mực; nghiên son, mấy cuốn sách; cạnh yên còn có cái roi mây to bằng ngón tay út.


Học trò nhỏ mới học vỡ lòng, ông dạy cho học sách Tam tự kinh (Kinh ba chữ, mở đầu có những chữ: Nhân chi sơ, tính bản thiện, nghĩa là "Người chưng xưa, tính vốn lành". Học độ 6 hay 7 tháng hết cuốn Tam tự kinh đến cuốn Sơ học vấn tân (nghĩa là "hỏi bến mới học") là thứ sách bốn chữ một câu:


Hỗn mang chi sơ


Vị phân thiên địa


Bản Cổ thủ xuất.


Thủy phán âm dương


Nghĩa là: Xưa thời hỗn mang, chưa phân biệt giời đất, ông Bản Cổ ra đời đầu tiên, lúc bấy giờ mới bắt đầu chia ra âm dương.


Học hết quyển này đến quyển Trạng nguyên thi hay Ngũ ngôn thi, toàn là thơ năm chữ:


Thiên tử trọng hiền hào,


Văn chương giáo nhĩ tào,


Vạn ban giai hạ phẩm,


Duy hữu độc thư cao!


*


Thiếu tiểu tu cần học,


Văn chương khả lập thân.


Mãn triều chu, tử quý,


Tận thị độc thư nhân.


Nghĩa là vua trọng kẻ hiền hào, đem văn chương ra dạy lũ trẻ nhỏ chúng bay. Muôn ban (tức là muôn nghề) đều là thấp hèn, chỉ có đọc sách mới là cao quý.


Còn nhỏ nên chăm học, về sau này có thể dùng văn chương để lập thân (nghĩa là kiếm được kế sinh sống phong lưu danh giá). Trong triều đình đầy những ông áo đỏ áo tía rất cao quý, đều là những người có đọc sách cả.


Học hết cuốn này đến cuốn Kinh tâm bảo giám (nghĩa là gương cao quý soi sáng lòng). Sau đó đến cuốn Đường thơ (thơ Đường) lựa những bài thơ dễ, ít điển tích.


Những năm sắp có khoa thi hương, viên tổng đốc và đốc học đầu tỉnh mở khoa thi hàng xứ để kén học trò cho đi thi hương. Khoa thi hàng xứ này gọi là khảo hạch; người nào trúng tuyển mới được tổng đốc và đốc học nhận quyền cho đi thi hương. Người đỗ đầu khảo hạch gọi là đỗ đầu xứ, thường gọi là ông đầu xứ hay ông xứ. Ví dụ cụ Nguyễn Khắc Nhu, mọi người quen gọi là cụ Xứ Nhu, vì cụ đỗ đầu xứ.


Ngoài những trường do các cụ cử, cụ nghè, cụ bảng rèn dạy học trò Trung tập và Đại tập, Nhà nước phong kiến cũng lập trường Quốc học. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập ra Quốc Tử Giám trong Văn Miếu, chọn các quan có văn học bổ vào dạy học; nhà Giám này chỉ dành riêng cho con các quan. Đến đời Trần năm 1252, vua Trần Thái Tông mở rộng Quốc Tử Giám và cho cả con các nhà thường dân được vào học. Đến đời Lê, các vua nhà Lê cũng theo nền nếp ấy để kén nhân tài, không phân biệt con quan lại hay thứ dân. Quốc Tử Giám là trường Trung học và Đại học, những người được vào học phải là hạng Trung tập và Đại tập, việc giảng sách có hàng ngày; một tháng đôi kỳ vào ngày Rằm và mùng Một thì có bình văn và làm văn nhật khắc; mỗi tháng một lần tiểu tập; ba tháng một lần đại tập. Những người được vào học trong Quốc Tử Giám được gọi là cậu Chiêu do chữ chiêu sinh nghĩa là vời học trò, tức là được vời vào học. Phạm Đình Hổ được người đương thời gọi là Chiêu Hổ; Đào Duy Tài được gọi là Chiêu Năm (ông là con thứ năm Đào Tá Hán). Do Quốc Tử Giám đặt trong Văn Miếu, nên nhân dân ta thường gọi Văn Miếu là nhà Giám.


 


Việc thi


 


Về đời Lê, trường thi hương tại Thăng Long không mở nhất định một chỗ nào: khoa thì mở trường thi tại Giảng Võ ngày nay; khoa thì mở tại phường Tả Bà Ngô (khu phố Nguyễn Khuyến và các vùng lân cận ngày nay); khoa thì mở tại bờ sông (vào khoảng chỗ cột đồng đường Trần Nhật Duật ngày nay). Đến đời Nguyễn mới đặt trường thi tại đường Trường Thi ngày nay. Nơi này xưa là một cánh đồng rộng mênh mông bao gồm các phố Trường Thi, một phần phố Hàng Bông, một phần phố Hai Bà Trưng, phố Thợ Nhuộm, phố Bà Triệu ngày nay. Chỗ phòng đọc sách trong thư viện Quốc gia ngày nay là chỗ nhà thập đạo của trường thi xưa.


Khoa thi hương tại Hà Nội thường mở vào sau vụ gặt lúa mùa của những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức là vào khoảng cuối tháng chín, đầu tháng mười âm lịch. Sau vụ gặt, viên Tổng đốc Hà Nội xuất tiền kho cho mua tre nứa rơm rạ, thuê nhiều người rào trường dựng nhà làm chỗ thi. Chung quanh trường đều rào nứa và chia làm bốn ô rất rộng gọi là bốn vi, mỗi vi có một tên gọi riêng: Giáp, Ất, Tả, Hữu. Chỗ gặp nhau của bốn đường đi giữa cánh đồng gọi là Thập đạo (nghĩa là con đường hình chữ thập), giữa chỗ bốn đường gặp nhau có sẵn ngôi nhà tường gạch lợp ngói, nền lát gạch lá nem rất sạch sẽ, gọi là nhà Thập đạo dùng làm chỗ hội họp của các quan trường; bốn chung quanh ngôi nhà gạch có nhiều ngôi nhà tranh vách đất làm chỗ nhận bài, thu quyển, đổi quyển (gọi là cánh quyển), đóng dấu nhật trung và là chỗ ở của các quan chánh phó chủ khảo, phân khảo. Các quan chấm bài thi của học trò chia làm hai hạng: hạng ngoại trường và hạng nội trường. Mỗi ông quan nội trường ở riêng một cái nhà con cách nhau một con đường đi. Những nhà con này có chỗ ăn, chỗ ngủ, nhà bếp, nhà xí, chăn màn, nồi niêu, bát đũa, rổ rá, vại nước.


Khi đến khoa thi, các quan trong triều kén chọn các quan văn: người làm chánh chủ khảo, người làm phó chủ khảo, một số các ông phân khảo, bốn ông ngự sử và kén chọn bốn ông quan võ làm chức đề điệu. Kén chọn được người rồi, các ông quan trong triều làm biểu dâng lên vua duyệt. Trước ngày thi năm ba ngày, các quan thường phải vào trường nhận việc gọi là làm lễ tiến trường. Viên Tổng đốc Hà Nội thì sai phái một số người làm thư lại, đề lại, thừa phái tại dinh tổng đốc và tại các phủ huyện đến trường thi làm các việc nhận quyển, chọn quyển, đóng dấu, giữ hòm đựng các quyển thi, những người này gọi là lại phòng và lễ sinh. Viên tổng đốc lại phái thêm một số lính vào hầu hạ các quan trường, làm việc xướng danh, khám xét học trò, canh gác chung quanh trường thi, đứng trên chòi cao giúp ông ngự sử kiểm soát học trò không cho người nọ chạy sang lều người kia, không cho họ đứng chơi nhốn nháo ngoài lều hay trò chuyện ngoài lều. Học trò chỉ được ra khỏi lều những khi đến nhà thập đạo để đổi quyển (gọi là cánh quyển vì viết nhầm) lấy dấu nhật trung, nộp quyển. Trong khi học trò tụ tập trước nhà thập đạo chờ đổi quyển, lấy dấu nhật trung, thì viên ngự sử và bọn lính đứng trên chòi cao kiểm soát rất kỹ, dưới đất thì viên đề điệu và lính thể sát canh phòng cẩn mật, sợ rằng học trò thông đồng với nhau, gà bài cho nhau.


Sau khi các quan làm lễ tiến trường, những ông sơ khảo, phúc khảo và giám khảo (vào khoảng hai chục ông cho mỗi vi phải vào ở trong những ngôi nhà tranh dành riêng cho các ông, khóa trái cửa lại và giữ chìa khóa. Các ông sơ khảo phúc khảo và giám khảo chỉ được đem theo một anh người nhà hay một cậu nhỏ giúp việc cơm nước, giặt giũ, và đem theo quần áo chăn màn, điếu hút thuốc, không được đem sách vở, giấy bút mực đen. Mỗi ông được viên tổng đốc phát cho một cái nghiên son, hòn son và vài cây bút đỏ để chấm bài. Hàng ngày có anh lính của viên Tổng đốc Hà Nội phái đến đem gạo, nước, mắm, muối, rau sống, dưa cà muối; thịt cá hoặc xóc tôm he cùng trầu cau, chè, thuốc lào, thuốc lá, qua cái cửa tò vò; anh người nhà hoặc cậu nhỏ giúp việc ra đón nhận đem vào bếp làm cơm. Những ông này gọi là các quan nội trường phải ở luôn trong những cái nhà ấy từ hôm tiến trường cho đến hôm thi xong (vào khoảng một tháng rưỡi hay hai tháng) mới được ra ngoài.


Các quan ngoại trường gồm quan chánh chủ khảo, phó chủ khảo và vài chục ông phân khảo chung cho cả bốn và đều được ở nhà thập đạo đi lại ra vào thong thả, không bị câu thúc như các quan chấm thi nội trường, nhưng không được tiếp xúc với học trò. Các ông đều bị ông ngự sử, ông đề điệu và lính mật giám sát cẩn thận.


Về phần học trò, những người ở tỉnh nào khảo hạch ở tỉnh ấy, do viên đốc học và tổng đốc sát hạch. Người nào trúng hạch mới được nộp quyển thi. Riêng những người đã thi hương một, hai khoa rồi không đỗ nay đi thi nữa, không phải khảo hạch. Cũng có người khảo hạch bị hỏng nhưng được bố, bác hay chú có quen biết ông tổng đốc hay ông đốc học, vận động cho cũng được nộp quyển thi, sau khi các ông này xem lại văn bài kỳ khảo hạch thấy văn lý cũng thông, bị hỏng hạch vì viết nhầm chứ không phải dốt quá.


Mỗi người học trò phải nộp bốn quyển đóng bằng giấy lệnh - thứ giấy dó tốt, mỗi quyển phải trên hai chục trang đến bốn chục trang. Trên đầu mỗi quyển viết tên họ, tuổi, quán chỉ của học sinh và kê khai ông tam đại, ông bố mình trước làm việc gì, gọi là kê khai tam đại. Những người học trò, ông hay bố ngày xưa làm nghề mà triều đình phong kiến cho là nghề hèn hạ đều không được đi thi. Trường hợp Đào Duy Từ đời Lê, bố là Đào Tá Hán làm lính quan trong triều, tức là nghề xướng ca, không được đi thi; những người ông, người cha có phạm lỗi nhẹ với triều đình không được đi còn những người mà ông cha phạm tội nặng đều không dám nộp quyển thi.


Các quyển thi do viên Tổng đốc tỉnh nào thu nhận đóng vào hòm đệ lên viên Tổng đốc Hà Nội nơi có trường thi, thi viên này lại nộp vào trường. Trước ngày thi một vài tháng, học trò phải đến Hà Nội tìm nhà trọ. Những nơi học trò đến trọ đông là nơi gần trường thi, đông nhất là phố Hàng Lờ, phường Tả Bà Ngô (nay là phố Nguyễn Khuyến), mạn Hàng Khay. Tại các nơi gần trường thi, nhiều nhà có con gái, ngày thường buôn bán lặt vặt, đến khoa thi xoay ra mở hàng cơm chứa trọ học trò. Lại cũng có nhiều người từ các nơi khác đến khoa thi lên Hà Nội thuê tạm nhà mở hàng cơm chứa trọ. Họ có mục đích kén chàng rể tương lai trong đám tân khoa; một số cô đào cũng tìm nhà thuê ở mạn Hàng Lờ, Hàng Giấy để đón tiếp khách là những anh học trò. Các cô hy vọng tốt số may được làm cô cử. Những năm có khoa thi hương, Hà Nội vui vẻ nhộn nhịp như những ngày hội lớn.


Trước ngày vào thi một vài ngày, học trò chuẩn bị sẵn các thứ cần dùng: gọng lều, áo tơi, buồm cói, giấy bồi cậy để lợp mái và che lều; chõng tre, yên viết, tráp sơn trong đựng bút, mực, giấy, cơm nắm hoặc ngô rang, giò chả, thuốc lào thuốc lá, điếu cày, đá đánh lửa, bùi nhùi; lọ bầu be đựng nước uống, ống quyển để đựng quyển văn… Các thứ này thường đeo trên cổ khi vào trường. Từ mấy ngày hôm trước, học trò đã phải đến trước cửa trường xem cái bảng cót quét vôi trắng treo trước cửa các vi xem mình được vào vi nào.


Đến hôm thi, từ nửa đêm học trò đã tụ tập trước cửa các vi để chờ được gọi tên thì vào, nhưng đến mãi giờ Dần (vào khoảng 4 giờ sáng) lính trong trường mới kéo ra sửa soạn. Họ đốt những cây mía to cháy sáng rực, gọi là đình liệu, khiêng bốn chiếc ghế chéo cao chừng 2,5 mét, đặt trước bốn cửa vi. Những người lính thể sát đứng xếp hàng trước bốn cửa vi, một lúc sau có chiêng trống cờ lọng rước bốn ông quan trường ra: ông chánh chủ khảo ngồi trên chiếc ghế chéo trước cửa vi Giáp, ông phó chủ khảo ngồi trên ghế chéo trước cửa vi Ất; hai ông phân khảo ngồi trên ghế chéo trước cửa hai vi Tả - Hữu. Bốn ông này đều mặc triều phục, đội mũ cánh chuồn, tay cầm hốt ngà, trên ghế chéo các ông ngồi đều cắm một chiếc lọng xanh. Tiếp đó đến bốn anh lễ sinh áo the dài quét gót, đầu quấn khăn lượt đi ra theo sau có anh lính ôm hòm đựng quyển thi học trò và một anh lính tay cầm cái loa đồng có buộc cái quai bằng nhiễu đỏ, một tay xách cái ghế đẩu. Theo lệnh quan trường, anh lính cầm loa đứng lên ghế vừa nói vừa quay loa vung lên:


- Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập! Sĩ tử thứ thứ nhập!


Nghĩa là hồn quỷ chết oan muốn báo oán thì vào trước! Hồn ma muốn báo ân thì vào sau! Học trò lần lượt vào sau cùng. Ngày xưa người ta chia ma với quỷ khác nhau: quỷ là những hồn ma bị chết oan uổng thường hay quấy phá người làm hại mình; còn ma thì lành hơn và hay đền ơn trả nghĩa người có ơn với mình. Do đó mới có câu: "Nhất quỷ, nhì ma thứ ba học trò". Sau đó, người lễ sinh mở hòm đựng quyển thi đọc cho anh lính cầm loa biết. Anh lính này lại cầm loa vung lên gọi tên học trò vào trường. Người nào nghe gọi tên mình cất tiếng dạ to lên rồi len lách vào cửa trường, lập tức lính thể sát xúm vào khám xét. Họ mở cả gói gọng lều, áo tơi, buồm, giấy bồi cậy ra khám xét, khám cả yên niết, tráp sơn, lọ bầu be đựng nước, điếu cày và lần lưng móc túi học trò. Mục đích khám xét là xem anh học trò có mang sách vở hay tài liệu vào trường không. Nếu không có gì, anh lễ sinh trao quyển thi cho anh học trò để anh ta tra vào ống quyển đeo lên cổ rồi vác đồ đạc lỉnh kỉnh vào trường. Người học trò nào bị khám thấy có đem sách vở tài liệu theo liền bị lính thể sát trói lại đưa trình quan trường xét xử và bị đuổi ra không cho thi.


Nhân việc khám học trò vào trường thi, xin kể một việc xảy ra trong khoa thi hương tại trường thi Nghệ An năm 1909 (Kỷ Dậu) dưới triều Duy Tân. Trong khi khám xét học trò, lính thể sát phát hiện một chị phụ nữ còn trẻ đẹp mặc giả trai đeo lều chõng vào thi. Họ liền dẫn chị ta đến trình với quan trường. Sau cuộc xét hỏi mới biết cô ta tên là Nguyễn Thị Hiên, người Hà Nội, học chữ Nho rất giỏi lấy chồng người huyện Hương Sơn thuộc tỉnh Hà Tĩnh, tên Võ Văn Lục. Chồng cô đã nộp quyển thi rồi, nhưng hôm thi bị ốm nặng nên cô mặc giả trai đi thi thay chồng. Quan trường hỏi cô có biết chữ không mà dám giả trai vào trường rồi ra cho đầu đề một bài thơ chữ Hán. Cô cầm bút viết ngay, chữ rất đẹp, thơ rất hay. Quan trường xem thơ khen mãi rồi tha cho về, không bắt tội. Về sau chồng chết, cô Nguyễn Thị Hiên ra ở Hà Nội buôn cau Nghệ đưa ra Hà Nội bán, cửa hàng cau của cô ở nhà số 35 phố Hàng Bè ngày nay. Ít lâu sau cô lấy lẽ một người tên Lê Đình Ngạn làm ở sở Công chính Bắc kỳ phố Hàng Tre và là Hội trưởng Hội Bút chèo Cải lương ký Viện, phố Hàng Bạc, nay là rạp Chuông Vàng. Cô Hiên soạn vở chèo "Một cảnh làm dâu" đã diễn nhiều lần.


*


 


Khi học trò các vi vào trường hết rồi, anh lính cầm loa nói to lên:


- Trường môn khẩn bế, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Vi lệnh giả trảm.


Nghĩa là: Cửa trường đóng kín trong không ra, ngoài không vào. Kẻ nào trái lệnh bị chém!


Học trò vào trường, việc trước tiên là đóng lều kê chõng để ngồi viết. Những người được vào trước đóng lều gần nhà thập đạo để đi lại cho gần, còn những người vào sau cùng phải đóng lều gần hàng rào; mỗi lều cách nhau một lối đi, trên nóc lều lợp áo tơi hay lá cót để che mưa nắng, ba mặt lều che bằng buồm cói hoặc giấy bồi cậy. Sau khi đóng lều rồi, người nào cũng phải sắp sẵn bút, mực, giấy và ở luôn trong lều. Ông Ngự sử và bọn lính của ông đứng trên chòi cao luôn luôn kiểm soát không cho học trò đứng ngoài lều trò chuyện với nhau. Vào lúc sáng rõ mặt người có một hồi trống, học trò đem giấy bút mực đến trước nhà thập đạo chờ chép đầu bài. Đầu bài do ông chánh chủ khảo viết. Các lễ sinh chép lại, đoạn giao cho các võ quan đem đến trước nhà thập đạo đưa cho lại phòng dán lên bảng cót. Học trò xúm vào chép rồi đem về lều. Kỳ đầu, gọi là nhất trường, thi kinh nghĩa, tất cả có 6 hay 7 đầu bài, học trò muốn làm bài nào cũng được, người học kém làm một hay hai bài, người học khá làm 4 đến 5 bài, người học giỏi làm cả 7 bài. Thường thường học trò phải viết vào bản nháp, xem đi xem lại cho kỹ, không bị sai nhầm, phạm húy rồi mới chép vào quyển thi. Khi chép được độ nửa trang hay ba bốn dòng phải ngừng lại, chờ có tiếng trống báo hiệu đóng dấu Nhật trung phải đem đến nhà thập đạo xin đóng dấu vào giữa trang rồi mới được viết tiếp. Nhật trung có nghĩa là giữa trưa, nhưng vào khoảng độ 9 giờ 30 hay 10 giờ người ta đã bắt đầu đóng dấu ấy cho học trò. Dấu này có mục đích kiểm tra bài thi của học trò là viết tại trong trường. Mỗi quyển thi của học trò có ba thứ dấu: tờ đầu chỗ cung khai tam tại và niên canh quán chỉ học trò có dấu "Hà Nội thi trường" do viên Tổng đốc sai lại phòng dưới quyền mình đóng dấu rồi đưa vào trường thi. Tại trường thi lại phòng đóng một dấu son giữa hai trang hai và ba có bốn chữ "Văn hành công khí", gọi là dấu giáp phùng. Khi học trò viết được nửa trang đem quyển thi vào nhà Thập đạo xin dấu, lại phòng đóng cho cái dấu Nhật trung vào giữa trang chỗ chưa viết đến. Còn từ trang thứ tư không có dấu, khi viết văn ở trang hai, trang ba và trang tư phải rất cẩn thận, nếu sai nhầm hay chữa xóa nhiều bị dây mực bẩn phải đóng quyển thi khác, khai niên canh quán chỉ và kê khai tam đại rồi đem đến nhà Thập đạo xin dấu. Người lại phòng đóng cho cái dấu "Hà Nội thi trường" ở trang đầu, rồi đóng cho cái dấu Giáp phùng giữa hai trang hai và ba. Xin được dấu rồi, người học trò đem quyển ấy về lều viết lấy độ ba, bốn dòng hay nửa trang rồi lại đem đến nhà Thập đạo xin dấu Nhật trung, rồi viết tiếp. Lối đổi quyển này xưa quen gọi là cánh quyển. Khi cánh quyển, người học trò phải đưa quyển viết hỏng cho lại phòng để người ta hủy đi rồi mới đóng dấu vào quyển mới. Khi đến cánh quyển hay xin dấu Nhật trung, người học trò phải đứng ngoài hàng rào trước thềm nhà Thập đạo, bên trong hàng rào có mấy người lính đứng canh gác, người lính nhận quyển của học trò đem vào nhà Thập đạo cho lại phòng đóng dấu rồi đưa ra trả lại. Học trò không được phép vào nhà Thập đạo và không được tiếp xúc với lại phòng hay lễ sinh.


Người học trò đi thi không phải cứ văn hay chữ tốt là chắc đỗ. Trong trường thi, người ta đặt ra nhiều quy chế, thể thức rắc rối, người học trò nào sơ ý là bị đánh hỏng ngay:


 


Phạm húy


 


Ngay từ khi mới cắp quyển sách đi học, thầy đồ, các cụ cử, cụ nghè, cụ bảng dạy lớp trung tập, đại tập đã phải căn dặn và bắt buộc học trò phải kiêng tên húy của các ông vua, bố mẹ vua, vợ vua đương thời. Khi đi thi, trước cửa trường thi, người ta cũng treo cái bảng viết những chữ húy phải kiêng, phải tránh không được viết trong quyển văn. Ví dụ ông vua Tự Đức tên là Hồng Nhậm, khi viết chữ Hồng (chữ đệm) phải bớt đi một nét; còn chữ Nhậm thì không được viết, phải tìm chữ khác đồng nghĩa thay vào. Cả khi đọc cũng phải đọc tránh đi: Hồng là Hường; Nhậm đọc là Nhiệm. Sự kiêng húy ấy lâu ngày thành quen, bây giờ chúng ta vẫn cứ phải kiêng, mà không biết như trách nhậm, ta đọc là trách nhiệm.


Năm 1861, vua Tự Đức đưa ra 48 chữ húy các ông tổ tiên nhà Nguyễn bắt mọi người phải kiêng, như chữ Hoàng phải đọc là Huỳnh, khi viết văn thi phải bớt đi một nét; chữ tông phải đọc là tôn. Năm 1862, vua Tự Đức cho rằng "trời đất là chữ xưng hô rất cao, rất lớn bắt mọi người phải đổi, phải tránh để tỏ ra kính cẩn", khi viết văn phải để trống hoặc viết khác đi. Hiện nay, ở phố Hàng Bông cây đa Cô Quyền, bên cạnh Vọng Tiên quán có ngôi đền "Chiêu Tiên Điện", người ta viết chữ thiên, thành hai chữ thanh, khi ghép lại. Lệnh kiêng húy chữ thiên, đến năm 1869 thì bãi bỏ.


Ông vua Thiệu Trị có bà vợ lẽ tên Hoa, bắt các nơi có tên đất là Hoa phải đổi hết, như tỉnh Thanh Hoa đổi làm Thanh Hóa; làng Hoa Cầu (thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hải Hưng, nay thuộc tỉnh Hải Dương) phải đổi là Xuân Cầu. Khi đọc từ hoa phải đọc tránh là huê hay bông[1].


b. Khiếm tị


Khiếm tị nghĩa là không tránh, khi viết văn những chữ trùng với tên cung điện nhà vua không được viết đến; gặp những chữ khinh húy (tên húy bố mẹ, vợ, tổ tiên vua) cũng phải tránh, dùng chữ thay vào.


Khi đầu bài thi hỏi về nam sĩ, đời nhà Trần phải kiêng tên húy Trần Cảnh; hỏi về nhà Lê, phải kiêng tên húy Lê Lợi. Khi hỏi về Bắc sử (sử Trung Quốc) đời nhà Đường phải kiêng tên Lý Uyên và Lý Thế Dân; đời nhà Tống phải kiêng tên húy Triệu Khuông Dân. Viết văn sơ ý phạm các tên húy nhẹ gọi là khiếm tị.


c. Khiếm đài


Khiếm đài nghĩa là không viết lên cao chữ Nho viết dọc từ trên xuống dưới, từ bên phải sang bên trái. Hàng chữ dọc chia làm bốn tầng: tầng cao nhất gần mép đầu giấy dành riêng để viết những chữ thiên địa giao miếu (thuộc về giời đất); tầng thứ hai thấp hơn một chữ dành để viết những chữ hoàng đế, hoàng thượng (thuộc về vua); tầng thứ ba thấp hơn tầng thứ hai một chữ dành để viết những chữ thuộc về việc làm của ông vua; tầng thứ tư thấp hơn tầng thứ ba một chữ là chỗ viết văn. Những chữ phải viết cao lên các tầng trên gọi là đài; gặp những chữ đáng phải đài mà không đài gọi là khiếm đài.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info








[1] Có một số tư liệu cho rằng chợ Đông Ba ở Huế vốn có tên là chợ Đông Hoa, song cũng vì sự kiêng kỵ này mà phải đổi tên thành chợ Đông Ba (Thái Thành Đức Phổ).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »