tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549149
Tiểu thuyết
04.12.2015
Triệu Xuân
Trả giá

Toàn bộ quá trình xây dựng cơ bản của gia đình đội trưởng Ngôn chỉ mất có sáu tháng trời, tính cả việc trồng một hécta vườn điều và cây bạch đàn bao quanh khu nhà. Thời gian ấy diễn ra sau khi Liên hiệp Dịch vụ Biển đã thực hiện Nghị quyết Đảng bộ, tức là lo xong nhà ở cho cấp trưởng phó phòng trở lên. Bởi thế, không ai có thể xì xào gì về Ngôn được. Thế mới biết, thời cơ là yếu tố quyết định tới một nửa vấn đề. Ngôn cũng tính làm theo lời Khổng Tử dạy: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu. Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”(1). Nhưng theo những nguồn tin đáng tin cậy mà bao giờ Ngôn cũng được thông báo sớm nhất: Nhà nước đang chuẩn bị tăng giá đồng loạt vật tư nguyên liệu. Nếu không làm ngay, e sau này khó làm. Thế là chỉ cần vài cú điện thoại, Ngôn có trong tay những giấy tờ “thiêng” nhất, được đảm bảo bằng “đầu và ghế” để mua với giá cực rẻ xi măng, sắt thép, gạch ngói, đá, cát, sỏi, mặt đá cẩm thạch của Italia, kính năm ly, ba ly, gỗ cẩm lai, dây cáp điện Mỹ, bóng đèn Nhật; thậm chí cả máy điều hòa không khí nữa, nhưng vợ Ngôn bảo: “Bán đi, ở gần biển, với tay ra là thấy biển, dại gì mà xài thứ “không khí dỏm” ấy!”. Thế là Ngôn đổi cái máy điều hòa mới tinh cho một ông giám đốc ở Sài Gòn đang lên hương gắn vào nhà riêng, lấy hai chiếc mô tơ điện để dùng cho giếng khoan nước ngọt. Mọi chuyện tựa như chuyện cổ tích. Sau một giấc mơ, mở mắt ra có cả một tòa lâu đài! Ngôn và vợ tổ chức lễ tân gia thật đạm bạc nhưng có đủ những bạn bè thân thiết. Căn phòng riêng bé nhỏ của vợ chồng Ngôn không còn chỗ để quà mừng.


Chờ cho giám đốc Hòa nói hết, Ngôn mới điềm tĩnh đứng dậy. Anh nhìn bao quát tất cả những gương mặt đang ngồi họp. Cá tính, khuyết tật, sự đam mê của từng người ở đây Ngôn thuộc như lòng bàn tay mình. Ánh mắt bên trái của anh nhìn như xoáy vào từng người, còn ánh mắt bên phải, cái mắt bị lé, thì lại như đang nhìn về phía khác. Anh trả lời những câu hỏi của giám đốc Hòa với thái độ đầy tự tin, với giọng điệu phán xét người nhiều hơn là giọng điệu của một đảng ủy viên nói với phó bí thư kiêm giám đốc Liên hiệp. Anh kết luận:


 - Anh Hòa à! Tôi rất kính trọng anh. Tôi thấy mình có trách nhiệm phải bảo vệ anh! Anh có vẻ mê cung cách làm ăn của đội xây dựng số Một do Trầm phụ trách. Anh còn có ý định đề bạt Trầm lên cương vị cao hơn! Phiêu lưu quá! Mất cảnh giác quá. Anh đã nghe chuyện cả một ban giám đốc công ty nửa nạc nửa mỡ(1) ở Sài Gòn lấy tàu vượt biên chưa? Theo tôi, Trầm là một kiến trúc sư giỏi - nếu quả vậy - thì ta hãy sử dụng anh ta như một nhà chuyên môn thuần túy. Không nên mất ranh giới trong quan điểm giai cấp. Anh ta là con của một tên tư sản mại bản đã vượt biên! Anh biết điều đó chứ?


 - Tôi có nghe nhưng không phải như điều anh biết. Sau khi bị cải tạo, ông Hải đã bỏ đi biệt tích, nhưng đi đâu thì chưa rõ. Có một điều tôi biết chắc chắn rằng, ông ta không phải là “tên tư sản mại bản” như anh nói. Nhưng mà thôi, nói chuyện ấy ở đây không phải lúc. Tôi muốn nói với anh Ngôn rằng: Ở đây, tôi là giám đốc, là người có toàn quyền tuyển lựa và sa thải, có toàn quyền đề bạt hoặc cách chức. Tôi, chứ không phải ai khác. Anh hiểu chứ, anh đội trưởng? - Ông Hòa nhìn chằm chằm vào con mắt lành lặn của Ngôn.


Ngôn cười nhạt, đốp lại:


- Anh nhầm rồi! Đảng cầm quyền chứ không phải ông chủ. Cái thời Ông chủ đã qua rồi. Bây giờ là thời đại quần chúng làm chủ: làm chủ tập thể. Mọi quyết định đều phải thông qua tập thể bộ tứ, trước hết là đảng ủy, sau đó là công đoàn, đoàn thanh niên...


- Thôi, các đồng chí! - Ông bí thư Đảng ủy từ từ đứng dậy, nói chậm rãi, từng âm tiết phát ra từ từ, đều đều - Chúng ta không nên lý luận quá sâu vào những vấn đề chung. Cuộc họp hôm nay nhằm kiểm điểm công tác Đảng ở Công ty sáu tháng vừa qua chứ không nhằm kiểm điểm ai; cũng không nhằm vào việc xây dựng lý luận về cơ chế... Bởi vậy, tôi đề nghị chúng ta dừng ở đây... Cũng hết giờ rồi, chiều ta họp tiếp các đồng chí nhá!


Ông Hòa giật mình: Kéo dài cuộc họp cả ngày sao? Còn làm ăn gì được nữa? Không lẽ bệnh ghiền họp đã trở thành ma túy của đất nước? Ông nhìn ra cửa, Trầm xuất hiện. Trầm chặn Ngôn lại, giọng gay gắt:


- Anh bắt chúng tôi chờ đến bao giờ?


Ngôn sững lại, nhìn Trầm bằng con mắt lành từ đầu đến chân rồi từ chân đến đầu với ánh mắt rất khinh thị:


- Chờ đấy! Chưa có gạch.


- Tại sao? - Trầm nóng mặt.


- Anh lên Nhà máy Gạch Đồng Nai mà hỏi. - Ngôn nhếch mép cười không hở răng.


- Tại sao anh rót gạch cho đội số Ba, số Bốn, trong khi người ta chưa xài hết gạch cũ?


- Đừng lục vấn tôi. Tôi không phải cấp dưới của anh. - Ngôn lại nhếch mép cười.


- Tôi biết, thưa anh đội trưởng. Anh có là cấp gì đi nữa thì tôi cũng không dám nói tới chuyện đó. Tôi cần gạch. Anh là người cung cấp. Công việc phán xét chứ không phải cấp bậc. Anh có thể nào vô trách nhiệm với công việc, với tiến độ xây dựng. Anh có biết, chúng tôi chơi mấy ngày nay rồi?


- Tôi không cần biết!


- Chà! Thì ra giọng điệu “làm chủ tập thể” của anh chỉ là thứ trang sức...


- Im đi! - Con mắt trái của Ngôn long lên, đỏ vằn những tia máu, còn con mắt lé thì láo liên - Im đi! Đồ...


- Cái gì vậy anh Ngôn? - Ông Hòa kịp đến chặn lại câu nói lăng nhục của Ngôn. Ông nhìn Trầm tin cậy:


 - Về đi Trầm. Chiều nay, tôi sẽ điều gạch của các đội chưa xài cho đội của cậu. - Hòa bắt tay Trầm, mắt ông nhìn Trầm như muốn nói: “Không nên cãi vã với một người như Ngôn. Vô ích”.


Trầm đi khỏi. Ngôn hậm hực toan bỏ đi thì Hòa gọi giật lại:


- Tôi không để anh yên đâu! Anh hãy trả lời: Vì sao việc cung ứng xi măng, gạch đá cho đội Một luôn chậm trễ? Đội nào có tiến độ nhanh thì phải cung ứng trước chứ. Anh không thấy vậy là bất công, là cản trở sức sản xuất à?


- Tôi chỉ biết rót theo kế hoạch.


- Không! Phải rót theo yêu cầu thực tế. Dẹp cái kế hoạch chết cứng của cậu đi, Ngôn ạ. Tôi không muốn thấy lặp lại chuyện này nữa!


- Anh muốn làm gì tôi? Xin cứ tự nhiên!


- Hà hà... - Ông Hòa cười, độ lượng - Sao lại thách đố tôi nhỉ! Không hay đâu.


*


Đối với dải đất hình chữ S, từ năm 1975 đến nay, nguồn viện trợ của các nước giảm dần; và trên thực tế, các nước trước đây viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam đánh Mỹ, nay thực hiện việc cho vay lấy lãi sòng phẳng. Hàng năm, Việt Nam cần ba, bốn triệu tấn nhiên liệu, hàng triệu tấn phân urê, sắt thép, xi măng... Tất cả đều phải mua bằng ngoại tệ. Nền công nghiệp trong nước mất cân đối nghiêm trọng về năng lượng, nguyên vật liệu và đặc biệt là phụ tùng thay thế. Mỹ cấm vận đối với Việt Nam. Nhiều loại thiết bị máy móc quan trọng ở miền Nam do Mỹ chế tạo, không thể nào mua được phụ tùng thay thế. Nhiều nước tư bản, nhiều nước đang phát triển ở thế giới thứ ba nhiệt tình cho Việt Nam vay nợ, nhưng nhìn vào, thấy khả năng trả nợ của Việt Nam không có, nên đình lại, không dám cho vay nữa. Một đất nước mà nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nhưng lúa làm ra chưa đủ nuôi ăn năm sáu chục triệu người. Chính sách, chiến lược kinh tế rất chung chung; luật đầu tư chưa có... Đó là những điều mà các công ty tư bản rất ớn. Trong hoàn cảnh này, tìm được dấu hiệu của dầu mỏ, moi được dầu lên có ý nghĩa rất lớn, không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà trước hết là vấn đề chính trị. Xưa nay, người ta phải “chọn mặt để gửi vàng”. Chả ai dại gì đầu tư cho một anh chỉ biết có đồng nào xào hết đồng đó. Có dầu khí tức là có cái để cho người ta tin mình. Vấn đề dầu khí, vì thế, là vấn đề chính trị.


Liên hiệp Dịch vụ Biển có nguy cơ không thể nào cáng đáng được nhiệm vụ của mình nếu như chỉ làm công việc một quán trọ và bán đồ ăn uống. Vũng Tàu lúc này vẻn vẹn có chín vạn dân, đất đai canh tác nông nghiệp không đáng kể. Nguồn thực phẩm, ngoài hải sản ra, không còn gì đủ cung cấp cho chừng đó người. Rau xanh, thịt heo, gà, bò... đều phải nhập từ các tỉnh khác. Hàng tuần, vào những ngày thứ bảy, chủ nhật, thị trường Vũng Tàu náo loạn hẳn lên vì phải cung ứng thực phẩm cho hàng ngàn khách du lịch đổ về.


Giám đốc Hòa hỏi ý kiến Trầm về việc tạo nguồn thực phẩm ổn định, sẵn sàng cung ứng cho khách du lịch. Ông định xây dựng tại chỗ một trại nuôi gà công nghiệp và nuôi heo; đồng thời xây dựng một vùng chuyên canh rau ở một địa điểm thuộc tỉnh Đồng Nai. Trầm không đồng ý việc xây dựng vùng rau chuyên canh và trại nuôi heo. Anh phân tích: Rau ở miền Nam không đâu ngon và phong phú bằng rau Đà Lạt. Nếu xây dựng vùng chuyên canh rau ở Long Thành, thì một là vốn đầu tư rất lớn: đầu tư khai hoang, đầu tư xây dựng nguồn nước, vì sáu tháng mùa khô ở đây là nắng cháy cả đất. Mặt khác, có trồng cũng chỉ trồng được các loại rau phổ thông như rau muống, rau cải, chứ không thể trồng được rau cao cấp. Nếu đầu tư quá lớn mà chỉ thu lại được như vậy thì chi bằng liên kết với Đà lạt để ổn định mặt hàng rau. Về chuyện nuôi heo cũng vậy. Vũng Tàu không có sắn lát, không có bắp; tất cả thức ăn cho heo đều phải chuyên chở từ các tỉnh về. Mà như vậy thì thà chở heo còn hơn, không lo bệnh dịch, lỗ lã. Vấn đề là phải tìm được một địa phương có thế mạnh về gạo, về heo để mà liên doanh. Vũng Tàu là thế. Nó chỉ có cá, tôm, còn lại phải sống nhờ các địa phương khác. Tạo ra được sự luân chuyển, trao đổi như lẽ tự nhiên vẫn diễn ra bao năm qua thì tự khắc giá cả ở chợ Vũng Tàu sẽ ổn định liền. Nhưng điều này hiện tại xem ra không thể thực hiện được vì chuyện ngăn sông cấm chợ. Trạm kiểm soát cầu Cỏ May như là một cửa ải, trấn giữ biên giới vào Vũng Tàu. Ở các địa phương khác cũng thế. “Trạm kiểm soát mọc lên như nấm. Đó là điều - Trầm nói - ta tự giết mình!”.


Trầm tính nói cho ông Hòa nghe rằng, trước đây, khi còn đang học khoa kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn, anh đã viết một luận văn về hướng đầu tư và phát triển nền kinh tế ở Vũng Tàu; song anh lại thôi. Khoe làm gì. Ông Hòa cần mình góp những ý kiến có ích, chứ đâu cần tầm chương trích cú vẽ vời. Riêng chuyện nuôi gà công nghiệp thì Trầm tán thành. Nuôi gà tại chỗ lấy trứng và lấy thịt, hiệu quả kinh tế chắc chắn cao hơn chuyên chở gà từ nơi khác về. Và thế là ông Hòa cho đăng báo tin: Cần một chuyên gia nuôi gà công nghiệp. Một cán bộ về hưu, chuyên gia nuôi gà ở Ba Vì tình nguyện vào Vũng Tàu.


*


Ông Hòa bực bội từ phòng Trầm bước ra thì Thiền Lan tới.


- Chào chú ạ. - Lan đỏ mặt. Đây là lần đầu tiên cô đến phòng riêng của Trầm, mà lại chạm trán ông Hòa.


- Ồ, cô Lan đấy à?


- Dạ cháu tới... anh Trầm mượn cuốn sách.


Lan ấp úng. Ông Hòa lấy lại vẻ hiền từ vốn có, ông cười khi nghe cô gái thanh minh về sự có mặt ở đây.


- Cô Lan này. Tôi nhờ cô việc này nhá. - Ông Hòa nói nhanh, mắt ông trìu mến nhìn gương mặt ánh vẻ thông minh của cô gái - Tôi vừa quyết định thành lập phòng kinh tế đối ngoại, đề bạt cậu Trầm làm phó giám đốc Liên hiệp phụ trách công tác này. Nhưng cả tháng trời thuyết phục, cậu ta vẫn từ chối. Tôi vừa sạc cho cậu ta một trận. Cuối cùng cậu ta chỉ nhận chức phó phòng. Cậu ta nói: “Nếu anh cần tôi phải có một chút quyền hành cho công việc trôi chảy, thì tôi đề nghị: Tôi làm phó phòng. Anh trực tiếp phụ trách phòng đó”. Nghe mà tức anh ách. Tôi tin cậu ấy, biết năng lực của cậu ấy dư sức; vậy mà cậu ta cứ từ chối. Bực quá cô Lan ạ. Cô nói, có thể Trầm nghe đấy.


- Dạ. Cháu biết tính ảnh. Khó lắm chú ơi. Ảnh đã quyết thì không ai xoay chuyển được.


- Cả cô, cô cũng không xoay được hắn à? - Ông Hòa hỏi lại và cười - Thôi, vô đi! Chúc vui vẻ!


Trầm đón Thiền Lan ở cửa. Anh không kịp đóng cửa, ôm chầm lấy cô mà hôn. Lần đầu tiên, kể từ cái đêm khiêu vũ ở Thanh Bình, sau bản “Em đẹp nhất trong đêm khiêu vũ”, hai người đi ra bờ biển nhìn trăng lặn, đến giờ, đây là lần đầu tiên Lan thấy Trầm như vậy. Anh hôn như mưa lên mặt, lên tóc, lên cổ Thiền Lan. Rồi không kìm được cảm xúc đang bừng bừng trỗi dậy, Trầm nhấc bổng Thiền Lan lao tới giường. Anh đặt cô gái lên. Nửa người phía trên của anh chà xát vào thân hình cô gái. Anh lịm đi trong những cái hôn say đắm vào vùng ngực trắng ngần. Thiền Lan rướn người lên, vòng tay ghì chặt đầu Trầm. Cô sung sướng đến nghẹt thở, mắt nhắm nghiền. Trầm chạy ra đóng cửa lại. Nhưng Thiền Lan đã ngồi dậy, cài lại khuy bấm chiếc áo dài. Trầm ôm chặt Lan trong tay, giọng run lên:


- Em yêu! Chiều anh đi! Em cho anh được chiêm ngưỡng thân hình tuyệt vời của em!


- Không! - Thiền Lan khẽ đẩy Trầm ra.


- Anh xin em. Anh hứa là chỉ ngắm em thôi.


Lan nhìn vào mắt Trầm. Cô biết anh không gạt mình. Đôi mắt Trầm đang rực cháy lửa yêu đương. Cô không thể chối từ. Cô nhắc anh:


- Chỉ nhìn em thôi nghe!


Và cô ngả vào lòng Trầm...


- Từ từ nào, nhăn hết áo, làm sao em về?


Trầm không nghe thấy lời Lan. Tai anh ù, mắt anh sáng lên niềm hạnh phúc. Hai bàn tay anh mơn man trên những đường cong mềm mại. Thiền Lan nằm im cho anh đặt những cái hôn lên khắp thân mình. Nhưng... đến lúc cô không kìm nén được nữa thì cô ngồi bật dậy, mặc quần áo vào. Họ lặng đi hồi lâu, nghe rõ hơi thở và tiếng tim đập trong lồng ngực... Đồng hồ chỉ mười một giờ đêm. Cô gái phải về.


Trên đường về nhà, Thiền Lan hỏi Trầm trả lời sao đối với ý định của giám đốc Hòa. Trầm chỉ cười. Thay vì nói rõ ý của mình, Trầm kể cho Thiền Lan nghe chuyện bé Tư. Anh thở dài rồi im lặng cho đến khi về tới chùa Phong Lan Tự. Lan nhìn Trầm và xót xa. Gương mặt anh buồn quá. Chuyện của bé Tư làm anh đau khổ đến mức ấy, mình phải làm gì để anh khuây khỏa? Cô thấy mình nhỏ bé quá trước anh...


*


Đước rời quân đội, chuyển sang làm kinh tế giữa lúc ngành thủy sản đang trên đà suy sụp. Không ai chịu nhìn nhận nguyên do chủ yếu của tình trạng này. Người ta kéo nó vào hoàn cảnh chung của cả nền kinh tế quốc dân. Quả tình đây là giai đoạn bộc lộ những điểm yếu, mất cân đối ghê gớm của tất cả các ngành kinh tế trong nước. Cơ cấu kinh tế rối loạn không theo một trật tự nào. Tình trạng thả nổi lấn dần từ lĩnh vực này đến lĩnh vực khác, từ địa phương đến toàn quốc. Ủy ban Vật giá Nhà nước như chìm trong giấc mơ triền miên. Giá mua nông sản không bao giờ phù hợp với thực tế, không bù đắp nổi chi phí của người lao động; trong khi giá hàng công nghệ, vật tư nguyên liệu ở thị trường thì tăng nhanh như tốc độ vũ trụ. Nhà nước bó tay trong khi tư thương làm giàu nhanh chóng. Họ là sự hóa thân của lớp tư sản cũ đã bị cải tạo, nay là lớp tư sản mới với trăm ngàn phương sách làm giàu mới. Phần không nhỏ số tư thương được khoác áo các công ty Nhà nước để đi vơ vét hàng hóa nông sản. Nạn tranh mua tranh bán diễn ra gay gắt. Tầng lớp trung gian béo bở. Thế giới đang bị ám ảnh bởi cơn sốt chiến tranh hạt nhân. Còn ở đây là cuộc chiến tranh con tôm, chiến tranh hạt đậu, hạt điều, hạt cà phê, hạt tiêu... Các công ty xuất nhập khẩu địa phương mọc nhanh như rừng đước.


Không phải không có những phương kế hợp qui luật nhằm giải tỏa “cuộc chiến tranh” này. Nhưng nó không được thể chế hóa. Rốt cuộc, mạnh ai nấy sống. Ai có tiền mặt, có hàng nhập ngoại thì người đó mua được tôm. Người ta mua tôm với bất kỳ giá nào, và sẵn sàng chấp nhận lưỡi gươm treo trên đầu Đêmôclét, miễn là có tôm. Có nhà máy đông lạnh một ngàn năm trăm công nhân, nhưng dành hẳn năm trăm người đi bắt mối khắp miền Nam để mua tôm và bán hàng. Thực ra, cho dù có mua tôm qua hàng chục nấc trung gian, tăng giá tôm gấp mười lần giá qui định, thì người ta vẫn có lời. Bởi vì khi xuất tôm, người ta nhập về thuốc lá, bột ngọt, tivi, xe Cub... Đó là những món hàng bán chạy nhất, được giá nhất và quay vòng vốn rất nhanh. Chỉ có những cơ quan làm đúng theo qui định của Nhà nước, tức là phải nhập vật tư nguyên liệu máy móc phục vụ sản xuất, thì lỗ chổng cẳng. Sợ lỗ, ắt không dám mua theo giá cao. Không có tôm, ắt nhà máy phải tiêu tùng.


Đây là giai đoạn người làm đúng, người chân chính bị thiệt thòi, kẻ gian dối được phú quí vinh hoa.


Hai Đước bị kỷ luật, tội của anh rất nặng. Về mặt lập trường tư tưởng, anh bị qui là chống lại đường lối chính sách, cố ý làm sai nguyên tắc, tiếp tay cho tiểu chủ nông thôn, đặc biệt là chống lại đường lối cải tạo của Đảng. Về mặt năng lực, anh bị qui vào tội không có năng lực lãnh đạo, không hoàn thành kế hoạch sản lượng thu mua tôm, để tôm rơi vào tay tư thương, làm thiệt hại kinh tế quốc dân. Với hai tội ấy, anh bị cảnh cáo trong Đảng và bị cách chức. Người ta giao cho anh về làm trưởng một trạm thu mua.


Đước hoàn toàn bất ngờ về quyết định này. Anh ngỡ rằng mọi chuyện rồi cũng chỉ ở mức phê bình kiểm điểm. Đâu có dè sau một tháng trời kiểm thảo, người ta dùng cả hai hình thức kỷ luật Đảng và chính quyền một lúc với anh.


Chuyện này xảy ra sau khi toàn Đảng tổ chức học tập chỉ thị về chống tiêu cực trong nội bộ Đảng. Đước không ngờ rằng, chính bản kiến nghị của anh, những ý kiến phát biểu rất tâm huyết của anh đã trở thành nguyên cớ để buộc tội.


Ngay trong đợt tổ chức học tập mô hình Xí nghiệp Quốc doanh Đánh cá Giải Phóng, Đước cũng gây ác cảm với nhiều cán bộ lãnh đạo.


Cho đến năm 1980 thì ngành thủy sản cả nước đã rơi xuống đáy vực thẳm thua lỗ. Hàng trăm triệu đô la và hàng tỷ đồng Việt Nam được Nhà nước đầu tư cho kế hoạch năm năm 1976-1980 hóa thành mây khói. Các địa phương có thế mạnh về hải sản đều trượt dốc theo chiều thẳng đứng. Vậy mà Xí nghiệp Quốc doanh Đánh cá Giải Phóng của một tỉnh rất nhỏ, lại nổi lên như hình mẫu của cơ chế làm ăn mới. Nó có lãi, trong khi toàn ngành thua lỗ. Các phương tiện thông tin đại chúng tập trung tuyên truyền cho Xí nghiệp Giải Phóng. Các đoàn tham quan đến Giải Phóng như con thoi. Người ta còn xây dựng cả một bộ phim dài về đơn vị này. Trong ngành, sau khi đề nghị Nhà nước tặng huân chương cho Xí nghiệp, Bộ Thủy sản đã phát động cao trào học tập làm theo Xí nghiệp Đánh cá Giải Phóng. Đước được triệu tập để dự cuộc hội thảo về việc áp dụng mô hình Giải Phóng do Sở Thủy sản tổ chức. Trong bốn ngày ngồi ở hội trường nghe tham luận, anh cố tìm ra từ trong mớ bòng bong của sự kiện ấy, trong ánh hào quang mà người ta đang ca ngợi, một ý riêng của anh. Anh suy nghĩ rất nhiều về chủ trương có ý nghĩa chiến lược là tập trung vốn đầu tư cho Xí nghiệp Đánh cá Quốc doanh của tỉnh; áp dụng những biện pháp kinh tế mà Giải Phóng đã làm, cụ thể là biện pháp khoán sản phẩm, ăn chia tiền lương, để đẩy năng suất sản lượng lên.


Suy nghĩ, cân nhắc mọi lẽ, Đước giật mình khi thấy những ý kiến của anh ngược lại những ý kiến phát biểu ở hội trường. Một trong những người phát biểu hăng hái nhất là Trọng Phái. Phái có tài hùng biện thật sự. Anh ta trích dẫn những câu rất hay của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tiền lương, về sức sản xuất, về nguyên tố cốt lõi để tăng năng suất lao động. Anh ta ca ngợi hết lời - chữ của anh ta dùng là: Xí nghiệp Giải Phóng là tiếng trống xung trận tấn công vào lề thói làm ăn bao cấp, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền kinh tế; nào là thắng lợi của Xí nghiệp Giải Phóng càng chứng tỏ đường lối cải tạo của Đảng là rất đúng đắn. Chúng ta phải lấy Quốc doanh làm đòn bẩy, làm vai trò chủ lực của nền kinh tế quốc dân v.v...Và anh ta kết luận: Phải dồn mọi nỗ lực của tỉnh, gồm ngoại tệ nhập máy thủy mới, ngư lưới cụ mới và đặc biệt là tập trung cung ứng xăng dầu cho lực lượng đánh cá quốc doanh của tỉnh. Anh ta còn đề nghị chấm dứt việc cung ứng xăng dầu cho ngư dân vì ngư dân không chịu bán sản phẩm cho Nhà nước; phải nhanh chóng quốc hữu hóa tất thảy phương tiện đánh bắt của ngư dân, biến người ngư dân cá lẻ thành công nhân của xí nghiệp đánh cá quốc doanh...


Có nhiều cán bộ lãnh đạo đồng tình, hưởng ứng ý kiến của Phái. Điều đó khiến cho Đước kinh hoàng. Đước biết rằng, Tỉnh ủy đang dự thảo một nghị quyết về nghề cá của tỉnh. Những ý kiến ở cuộc hội thảo này chắc chắn sẽ là cái sườn của bản nghị quyết ấy. Nghĩ vậy, Đước quyết định phát biểu. Anh nói, giọng từ tốn, cố gắng diễn đạt trôi chảy những gì chất chứa trong đầu. Càng nói, anh càng phấn chấn hơn:


-... Việc chúng ta khẳng định và đề cao mô hình Xí nghiệp Giải Phóng là cần thiết. Nhưng theo tôi, mô hình nào cũng ẩn chứa những mâu thuẫn, những mặt hạn chế. Vì thế, không nên áp dụng một cách máy móc, làm theo nguyên mẫu, và càng không nên tuyệt đối hóa vai trò của lực lượng đánh bắt cá quốc doanh...


- Đề nghị đồng chí Đước nói ngắn gọn, chúng ta còn ít thời giờ. Đồng chí có hay không tán thành việc áp dụng hình mẫu Giải Phóng? - Phó chủ tịch tỉnh phụ trách công nghiệp ngắt lời Đước.


Đước biết rằng ý kiến của mình ngược lại ý kiến của phó chủ tịch và những người ủng hộ ông ta. Anh vẫn bình tĩnh nói tiếp ý mình:


- Theo tôi, mô hình Xí nghiệp Giải Phóng đáng được khẳng định. Nhưng phải nhận ra những mặt hạn chế của nó để tránh việc sao chép cả những mặt chưa hay. Công lao lớn nhất của nó chỉ là đơn vị đầu tiên xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, giành quyền chủ động về tay cơ sở. Với mười ba người làm công tác gián tiếp mà quản lý, phục vụ một đội tàu gồm bảy mươi chiếc - đó là cái hay thứ nhất. Bộ máy gián tiếp ở đây không quá cồng kềnh như các nơi khác. Khâu trên bờ và khâu đi biển gắn với nhau, vì nhau mà làm việc. Thứ hai là biện pháp khoán gọn chuyến biển cho từng con tàu. Thuyền trưởng có quyền chủ động, thủy thủ có quyền bầu và loại thuyền trưởng. Anh làm thế nào thì được hưởng y như thế. Ở đây, yếu tố dân chủ được tôn trọng. Nhưng ngay trong ưu điểm này đã ẩn tàng nhược điểm. Về lâu về dài và ở qui mô lớn hơn, không thể áp dụng mãi phương pháp ăn chia như vậy. Nếu vì ngư trường hay vì phương tiện, năng suất tụt, sản lượng tụt thì tinh thần sẽ bị rã hết. Thứ ba, ở qui mô toàn xí nghiệp, giám đốc là người rất năng động, đã tranh thủ mua gom ở chợ trời về lượng phụ tùng lớn đủ xài trong vòng mười năm! Đây là ưu điểm, nhưng về hiệu quả kinh tế, đồng vốn bị ứ đọng trong kho mười năm trời thì thật đáng tiếc. Mặt khác, về cơ cấu phương tiện đánh bắt, hiện nay Xí nghiệp Giải Phóng có bảy chục tàu, sắp tới họ đưa lên gấp đôi, nhưng không hề có tàu cào tôm. Lực lượng thì lớn lại nhiều chủng loại. Máy móc không đồng bộ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về sau này khi đại tu và thay thế. Đó là chưa nói đến chuyện ngành nghề. Ở Xí nghiệp Giải Phóng đa số là tàu đánh cá, không có tàu cào tôm, không có thuyền trưởng giỏi nghề cào. Như thế thì hiệu quả kinh tế rất thấp. Tôi dự đoán, hiện tại thì Xí nghiệp có vẻ có lãi, là đơn vị nộp nhiều tiền mặt nhất cho ngân sách của tỉnh ấy; nhưng vài năm sau, nếu cứ làm ăn theo cơ chế ấy, nó sẽ sập tiệm vô phương cứu chữa.


Trọng Phái ra hiệu đề nghị chủ tọa không cho Đước nói nữa, nhưng cả hội trường đang chăm chú nghe Đước.


- Liên hệ với Xí nghiệp Quốc doanh tỉnh ta, tôi thấy là xí nghiệp nhỏ. Từ khi ra đời đến nay, chưa năm nào sản xuất hòa vốn, toàn thua lỗ, phải bù lỗ. Cứ làm ăn kiểu này thì tốt nhất là nên giải tán nó đi!


Cả hội trường xôn xao khi nghe Đước nói giải tán Xí nghiệp. Mãi sau này, khi Đước bị bắt vô tù lần thứ hai, ý kiến của anh mới được thực hiện.


- Hiện tại, Xí nghiệp của tỉnh ta vỏn vẹn có ba chục tàu quốc hữu hóa của tư nhân - (Đước biết trong đó hai phần ba là tàu của cha anh) - và mấy chiếc tàu của bọn xâm phạm lãnh hải bị ta tịch thu. Từ khi ra đời đến nay, sản lượng chưa bao giờ đạt quá mức bốn ngàn tấn một năm. Giả tỉ như chúng ta tập trung vốn liếng, xăng dầu, ngư lưới cụ đẩy xí nghiệp này lên một trăm tàu, thì mỗi năm giỏi lắm cũng chỉ đạt mười lăm, hai chục tấn là cùng. Nhưng ngay trong việc này, ta phải nhìn thẳng vào thực trạng: Đô la ở đâu để nhập máy tàu mới? Ở biển của ta đã cần loại tàu công suất lớn chưa? Đã cần tàu vỏ sắt chưa? Liên hiệp Hải sản Thăng Long đã chẳng thất bại vì trang bị cơ giới quá hiện đại đó sao? Trong khi đó, nghề cá của ngư dân tỉnh nhà mỗi năm làm ra lối hai trăm ngàn tấn. Như vậy mà nói nghề cá quốc doanh chủ động, làm đòn bẩy được sao? Mười lăm ngàn tấn (nếu có) bẩy được hai trăm ngàn tấn à? Chỉ cần tổ chức dịch vụ phục vụ ngư dân, cung ứng xăng dầu, lo phụ tùng, ngư lưới cụ cho ngư dân thì chúng ta sẽ có hai trăm ngàn tấn sản phẩm. Nếu lấy tỷ lệ thu mua được thấp nhất như hiện nay là năm mươi phần trăm thì chúng ta cũng tự nhiên mà có một trăm ngàn tấn rồi. Nếu có đầu tư cho ngư dân, bán mua sòng phẳng hợp đạo lý thì có thể mua được tám chục phần trăm sản lượng, tức là mỗi năm một trăm sáu chục ngàn tấn, trong đó chí ít có một phần ba là tôm xuất khẩu, tối thiểu một năm thu được vài chục triệu đô la. Nhưng muốn như vậy, phải đối xử hợp đạo lý với ngư dân. Phải vì ngư dân. Dân có giàu thì Nhà nước mới mạnh. Không nên đánh thuế môn bài đối với ngư dân. Ngư dân đi biển đánh bắt cá tôm mà phải chịu thuế môn bài là kỳ cục. Điều cần nhất là Nhà nước phải có chế độ chính sách mua bán thật sòng phẳng với ngư dân. Tôi đề nghị nên giải thể Xí nghiệp Quốc doanh, lấy tàu đầu tư cho ngư dân sẽ có hiệu quả hơn. Lực lượng quốc doanh, theo tôi, rất cần phát triển, nhưng trước hết hãy phát triển theo hướng làm dịch vụ cho ngư dân. Cách đây một năm, tôi đã gửi đến Sở và Ủy ban tỉnh bản kiến nghị về các vấn đề này. Tóm lại, ý kiến của tôi là: Trong hoàn cảnh hiện tại, phát triển nghề cá của dân mới là hướng chiến lược của thủy sản của tỉnh ta. Tôi xin nhấn mạnh: Nghề cá của dân. Phải tập trung khôi phục và phát triển nghề cá của dân mới là hướng đi đúng hiện nay...


Toàn bộ ý kiến phát biểu của Đước được mấy nhà báo ghi âm. Một phóng viên, ngay sau đó đã gặp riêng Đước phỏng vấn. Mãi cho đến sau này, người ta mới công nhận ý kiến của Đước, chứ ngay lúc ấy, ai cũng bảo anh là thằng khùng, dám đi ngược đường, dám chống lại cả một xu thế. Mãi cho đến sau này, khi anh vào tù lần thứ hai rồi được thả tự do, thì tỉnh mới công bố quyết định giải tán Xí nghiệp Quốc doanh. Vào lúc đó, hầu hết các đề xuất của Đước mới được thực hiện. Còn bây giờ, ông phó chủ tịch tỉnh được Phái cho biết lai lịch của “thằng cha nói càn”. Phái nhấn mạnh: “Cha nó bị cải tạo đã vượt biên. Nó thù chế độ lắm đó. Xí nghiệp đánh cá của tỉnh toàn là tàu của cha nó, cái lão tư sản Lê Văn Hải ấy. Bởi thế, nó chống đến cùng việc phát triển Xí nghiệp Quốc doanh...”. Ông phó chủ tịch tỉnh chỉ thị cho chủ tịch huyện Mỏ Tôm: “Phải xử lý ngay tên Đước. Không thể để một phần tử nguy hiểm như vậy ở trong Đảng, và nhất là không thể để hắn lãnh đạo”. Chủ tịch Mỏ Tôm hứa là sẽ làm liền.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info  


 


 








(1) (Người quân tử) lo cái lo trước thiên hạ, hưởng cái sướng sau thiên hạ.




(1) Ý nói công ty hợp doanh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »