tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517642
Tiểu thuyết
02.12.2015
Triệu Xuân
Trả giá

Mỗi tàu đi săn cá mập thường có bảy, tám người. Chuyến đi này, tàu ông Ba Tràm chỉ có sáu người: ông Ba Tràm, Đước, Út Thơm, ông Năm Xị và hai tay du kích nữa, trong đó có Quỳnh - con của Tư Minh xã đội trưởng. Họ đã ngủ yên, chỉ có ông Ba Tràm đang cầm lái. Và Út Thơm, Đước thấy cô khép mi mắt lại đã lâu nhưng rõ ràng là cô còn thức. Anh lặng lẽ lấy chiếc áo sĩ quan bốn túi của mình choàng lên người cô. Một thoáng bừng bừng trong người: Dưới ánh đèn vàng cạch của buồng lái, anh nhận ra gương mặt với những đường nét thanh tú và bộ ngực chắc nịch đang phập phồng. Cô đang ở sát liền anh, trên chiếc giường ngay sau ghế lái, cao ngang bằng ghế lái. Suốt thời gian cầm lái, Thơm ngồi trên đó, nhìn vào tấm kiếng chiếu hậu để kín đáo ngắm anh. Anh thấy lòng lâng lâng. Gần Thơm, Đước thấy lui hết bao phiền muộn. Đứng trước Thơm, Đước cảm thấy như mình đứng trước cái gì đó thiêng liêng nhất, trinh nguyên nhất mà anh không dám đụng tay vào... Anh khổ sở bao lần vì cảm giác ấy.


Cho đến lúc này, cả ông Tràm lẫn Thơm đều chưa biết gì về quyết định ngưng công tác, ở nhà viết kiểm điểm của Đước. Đước nhớ đến vẻ đểu giả của Phái khi giả đò đau khổ báo tin đó cho Đước. Đước giận sôi lên không ngủ được, bật dậy, đến gõ cửa nhà chủ tịch. Lúc đó đã mười giờ đêm rồi. Chủ tịch huyện không có nhà. Biết tìm ông ta ở đâu? Quyết định đình chỉ công tác do chính ông ta ký. Vậy là thế nào? Đước hoang mang tột độ. Văn bản có đoạn: “Đồng chí phải kiểm điểm thành tâm theo tinh thần người Đảng viên Cộng sản về tư tưởng dao động, hữu khuynh, nghi ngờ đường lối chính sách của Đảng, cố ý làm sai nguyên tắc, vô tình đi ngược lại đường lối của Đảng...”.


Vào cái giờ mà Đước không tìm thấy chủ tịch huyện, ông ta đang uống rượu ở phòng riêng của Phái. Phái dựng một căn nhà nhỏ, lợp tôn nhưng có trần bằng ván ép hẳn hoi ở cùng dãy với quán nhậu Thanh Tú. Nhà Phái cách quán nhậu tới ba căn hộ, nhưng ở mặt sau, mặt trổ ra sông, lại có lối thông thương kín đáo giữa nhà Phái với phòng ngủ của mẹ con Bảy Tụ. Trong phòng, ngoài Phái và ông chủ tịch, còn có cả Bảy Tụ và con gái mụ. Hai mẹ con thay nhau tiếp đồ ăn cho hai người đàn ông. Đã từ lâu rồi, bằng phương cách này, Phái được lòng tất cả cán bộ chủ chốt trong huyện. Tất nhiên, Phái có thừa khôn ngoan để không quá lộ liễu. Ví dụ, từ ngày Đước về Mỏ Tôm, làm phó phòng cho Phái đến giờ, không khi nào người ta bắt gặp Phái bước qua ngưỡng cửa quán nhậu Thanh Tú nữa. Buổi trưa, Phái tự bắt mình không uống rượu. Chỉ sau giờ làm việc buổi chiều, Phái mới cho phép mình buông thả tại nhà mình. Khác với các ông trưởng phòng ở thị trấn này, việc Phái không la cà nhậu nhẹt ở quán xá, kể cả việc ngồi quán uống cà phê, đã khiến cho mọi nhân viên trong phòng thủy sản kính nể và cán bộ chủ chốt ở huyện phải kiêng dè tin cậy. Quả tình, bề ngoài của Phái là cái bề ngoài rất tư cách, rất trí thức. Còn cái đầu của anh ta có thừa khôn ngoan khi đối đáp, khi họp hành. Phái không ba hoa, chỉ nói khi cần. Trong tất cả các cuộc họp với Huyện ủy hay Ủy ban huyện, bao giờ Phái cũng tạo cho mình dáng bộ một nhân vật rất quan trọng, đến mức bao giờ chủ tịch hay bí thư điều khiển cuộc họp phải đề nghị thì Phái mới đứng dậy từ tốn phát biểu.


Ngay từ ngày đầu khi Đước về Mỏ Tôm, Phái xác định rằng trước sau gì Đước và Phái cũng là kẻ “không đội trời chung”. Mình đã xóa sổ ba hắn! Lẽ nào hắn tha mình? Phải chủ động xóa sổ hắn trước. Khi thấy Đước đối xử rất quân tử với mình, Phái càng nung nấu quyết tâm loại bỏ kẻ thù. Trong một thời gian ngắn, bằng nghệ thuật mà Phái đang áp dụng với chủ tịch huyện đêm nay, Phái đã trang bị cho mình chiếc áo giáp vô địch và nhồi vào đầu các cán bộ chủ chốt hình ảnh về Đước bất mãn với chế độ, chống lại Đảng vì đã cải tạo cha hắn ta.


Bản tính thông minh vặt, tinh khôn như chồn cáo đã giúp Phái thành công. Phái lôi được cả Huyện ủy, chủ tịch huyện và cả tay phó công an huyện vào cuộc. Bẫy đã giăng sẵn, chỉ chờ con mồi sập bẫy. Nhưng chờ mãi không thấy Đước vào tròng, Phái sốt ruột quá. Vụ huy động vốn của tư thương để mua tôm, chỉ có thể qui vào tội cố ý làm sai nguyên tắc, chứ chưa thể qui vào tội thông đồng với tư sản, tiểu chủ để ăn cắp, tham ô... Vì quả thực là Đước rất minh bạch. Anh sống và làm việc mà không nghĩ đến hưởng lạc. Anh được phần lớn nhân viên trong Công ty kính trọng. Duy chỉ có những kẻ bị anh thải ra như Ngô Văn Sài là thâm thù anh. Phái đã cưu mang những kẻ bị Đước loại khỏi Công ty, và dùng đám này để làm vũ khí diệt Đước. Chính đám này đã viết đơn - ký tên hẳn hoi - yêu cầu chủ tịch huyện đình chỉ công tác của Đước.


Mãi về sau này, qua người bạn chiến đấu cũ là Thục, nay là phó chủ tịch huyện, Đước mới rõ sự tình. Còn ngay lúc này, anh chưa biết gì cả. Anh lơ mơ quá. Về chuyện đấu đá, anh chỉ là thằng học trò ngờ nghệch nhất. Bản tính của những người như anh không bao giờ biết tới thủ đoạn hèn hạ.


Chán nản nhưng không tuyệt vọng, Đước về gặp Ba Tràm rủ ông đi biển săn cá mập. Đây là chuyến đi săn mập đầu tiên từ ngày anh về lại quê hương. Chuyến đi đầy thú vị đối với anh, vì có cả Út Thơm đi cùng. Anh hiểu rằng, lúc này Thơm đối với anh như là một đối tượng cần thiết để cân bằng lại thần kinh; mang lại nhịp thở cho cơ thể anh. Nhờ Thơm, tim anh sẽ tiếp tục đập.


Càng về đêm, biển càng đẹp, vẻ huyền bí. Mặt biển đôi lúc sáng rực lên rồi chìm trong âm u. Thơm đã thở đều đều. Mặt cô thanh thản, môi hơi mỉm cười, chân duỗi thẳng, hai bàn tay mở ra như chờ đón bàn tay của Đước. Ông Tràm vẫn dõi mắt về phía trước. Gió vẫn thổi đều qua cửa cabin, se lạnh. Đước không kìm được mãi, anh cúi xuống và hôn nhẹ lên môi Thơm. Cô gái rùng mình giây lát rồi nhận ra... và cô sung sướng đón nhận nụ hôn ấy. Cô đáp lại Đước nồng nàn gấp bội. Anh ôm chặt người con gái vào lòng. Biển làm con tàu dập dềnh, dập dềnh, nâng lên, hạ xuống êm ả. Lần đầu tiên đứng trước vẻ đẹp trinh nguyên, thanh khiết, Đước không còn bị dày vò bởi cảm giác e sợ như trước nữa.


Người đàn ông ấy, bốn chục tuổi mới biết thế nào là hơi ấm nồng nàn của người con gái, thế nào là nụ hôn ngọt ngào kỳ lạ của đôi môi người yêu. Họ yêu nhau... Đước chợt nhớ đến câu chuyện tình của ba và má anh năm xưa. Trên một hòn đảo vắng, giữa đêm trăng trời biển mênh mông, ba và má đã hòa làm một...


*


Tàu săn cá mập chiến đấu suốt năm ngày trên biển. Khi trên tàu không còn nơi phơi vây cá, dưới hầm không còn nơi ướp cá, ông Ba Tràm quyết định quay tàu về. Một trăm bốn chục con mập bị bắt và giết thịt; trong đó có bốn chục con từ một trăm ký lô đến hai trăm ký. Một chuyến đi mỹ mãn. Với Đước và Thơm, chuyến đi này còn có ý nghĩa là sự bắt đầu của cuộc đời mới. Đêm cuối cùng trên biển, sau khi thả xong giàn câu, Đước đã thưa với ông Tràm, xin ông cho phép được lấy Thơm. Phải khó khăn lắm, Đước mới nói suôn sẻ được mấy câu này. Anh đã kể rõ đầu đuôi chuyện anh bị đình chỉ công tác. Ông Ba Tràm nghe xong, chặc luỡi:


- Bỏ! Bỏ phắt cho rồi. Về đây, hai đứa bây đi với tao, đi biển dư sức nuôi nhau.


- Như thế, bà con ngư dân mình sẽ khổ. Họ biết trông vào ai? - Đước nhìn ông Tràm, đặt câu hỏi với ông, cũng là đặt câu hỏi với lòng mình.


- Ờ phải! Ngày trước, mọi người trông vào ông Hai Mắm, ba con. Nay, con phải gánh lấy trách nhiệm này, chớ có nản con ạ. Tụi nó đánh, sẽ có dân đỡ cho. Đừng bỏ cuộc nghe con.


Ông Tràm chỉ nói có thế, rồi im. Ông không thích nói nhiều về bất cứ chuyện gì. Những người dân biển sử dụng việc làm thay cho lời nói. Ngôn ngữ của họ là việc làm. Ngay khi nghe Đước xin cưới Thơm, ông Tràm cũng không nói nhiều. Ông cười một cách sảng khoái rồi buông một câu:


- Phải vậy chớ! Ba nhắm ngay từ ngày con về kia, Đước à.


Rồi ông mở cái can đựng mười lít rượu đế, chiết ra can nhỏ hơn và mời ông Năm Xị với hai cậu du kích lại. Thơm nướng mực, rồi làm một dĩa đồ xào thật lớn. Hôm qua, cô mổ một con cá đường nặng tới hai mươi lăm ký lô, bong bóng của nó nặng bốn trăm gờ ram. Khi đi biển, cô đã chuẩn bị mấy ký lô su su, cà rốt và hành tây. Món xào nóng sốt giữa biển và nồi cháo toàn tim gan cá sẽ mang lại sức lực cho mọi người. Mọi người ăn uống ngon lành. Ông Tràm long trọng tuyên bố:


- Từ hôm nay, tôi nhận Hai Đước làm rể. Chờ ngày lành tháng tốt, tôi sẽ làm tiệc cưới cho sắp nhỏ.


Đước nhìn Thơm, rạng rỡ. Chưa bao giờ anh thấy yêu đời như lúc này. Bao nhiêu phiền muộn, đau buồn tan biến hết. Anh bây giờ không đơn độc nữa. Bên anh có Thơm và có tình nghĩa của những người dân biển. Đêm đó, sau khi Thơm đã ngủ ngon lành, Đước vẫn lâng lâng cảm xúc hạnh phúc. Anh lại nhớ tới câu chuyện của ba má trong đêm trăng ở đảo vắng năm nào.


*


- Anh Hai! - Bé Tư ngước đôi mắt lá răm, ướt nước nhìn Trầm, khẩn khoản - Cả tuần rồi em ngóng anh Hai mà anh không về. Nhà không còn hạt gạo nào, ba ngày nay toàn ăn cháo. Má em bệnh nặng quá, không còn biết làm sao nữa.


Trầm xót xa nhìn cô gái. Mười sáu tuổi, cái tuổi lẽ ra phải được ăn nghỉ, học hành, vui chơi thoải mái. Vậy mà bé Tư đang đói ăn, thất học. Vừa từ Vũng Tàu về, anh ghé Bình Triệu thăm Chuẩn tại trung tâm cai xì ke. Có ít tiền, Trầm vét túi đưa cả cho Chuẩn. Anh không ngờ gia cảnh bé Tư tới mức này.


Trầm nhìn quanh nhà, không còn cái gì đáng giá để bán, ngoài sách. Nhưng sách thì anh không thể bán được. Trên tường có bức tranh sơn mài là quà tặng của ba khi anh nhận hai bằng đại học. Trầm bắc ghế đứng lên gỡ tấm tranh.


- Bán đi em. Bán lấy tiền mua gạo!


- Ôi, anh Hai? Em không dám đâu. Kỷ niệm của ba anh mà.


Bé Tư rụt tay lại, chạy đi. Tấm sơn mài rớt xuống sàn gạch men phát ra tiếng kêu rợn người. Trầm nhìn bức tranh: Dòng kênh thẳng tắp, vài chiếc ghe êm ả lướt, rừng đước cao vút đôi bờ; hoàng hôn, cảnh vật như dát vàng. Trầm chớ cha. Ba anh đã rất vui khi mang bức tranh này về. Hôm ấy, ba đã mở tiệc ăn mừng, có cả ông Ba Tràm ở dưới Mỏ Tôm lên, cả ông Hắc gác dan ở xưởng. Mọi người cụng ly mừng Trầm đỗ đạt.


Trầm ôm bức tranh đi hết chợ trời Nguyễn Công Trứ, đến Huỳnh Thúc Kháng rồi Lê Công Kiều. Năm chục đồng! Không ai trả hơn. Tranh sơn mài Thành Lê, ngày trước mua bức tranh này với giá ba chỉ vàng, vậy mà bây giờ năm chục đồng. Thôi đành vậy! Thời buổi gạo châu củi quế này, nghệ thuật xem ra chẳng ai cần. Năm chục đồng có thể giúp mẹ con bé Tư qua được vài ngày, rồi tính tiếp.


Trầm về tới nhà đã chín giờ đêm. Anh gõ cửa hoài không thấy bé Tư lên tiếng. Hay là cô bé đưa bà mẹ đi nhà thương? Trầm về nhà mình tắm giặt, lòng không yên. Đồng hồ chỉ mười giờ, anh vội vàng qua nhà bé Tư. Một gã đàn ông mập ú, bụng phệ, mặt phèn phẹt mở cửa bước ra, lừ mắt nhìn Trầm. Dưới ánh đèn vàng vọt, bé Tư nằm co quắp trên giường khóc thảm thiết. Trầm choáng váng, kinh hãi khi thấy máu đỏ loang đẫm quần bằng vải katê trắng. Ở mép giường, mấy tờ bạc loại hai chục còn mới nguyên. Trầm đứng chết lặng, máu dâng lên nghẹn cổ. Anh thét lên, giọng khê đặc:


- Trời, bé Tư!


- Đau quá! Em đau quá, anh Trầm!... - Bé Tư rên - Đi đi anh!


Trầm đờ đẫn ngồi xuống mép giường.


- Đi đi! - Cô gái vụt thét lên, người co rúm lại - Đi đi, không em cắn lưỡi chết liền nè.


Tay cô ôm cứng chiếc gối che mặt ràn rụa nước mắt.


Trong góc tối om của căn nhà ổ chuột, sát với cửa thông ra nhà cầu ở phía con lạch đầy nước đen ngòm, bà mẹ đã biết sự gì vừa xảy ra đối với đời con gái mình. Bà cứng lưỡi ngất xỉu vì đau khổ, vì đói.


Trầm lê bước về nhà mình, miệng đắng chát, để nguyên quần áo và giày nằm vật xuống giường.


Không thể nào nhắm mắt được. Đời một người con gái chỉ đáng vậy thôi sao? Mấy tờ giấy bạc loại hai chục đồng! Đã và sẽ còn bao nhiêu cô gái phải làm cái việc như bé Tư vừa làm? Vì sao? Vì sao? Trầm nắm tay đấm thẳng cánh vào ngực. Trầm tự sỉ vả mình tại sao lại để bé Tư chạy đi lúc cô không chịu cầm bức tranh đem bán. “Đó là kỷ niệm của ba anh”. Cô không dám bán món quà nhỏ là kỷ vật của ba mình để lại, cô tin là ba mình không còn nữa. Cô chấp nhận hy sinh tấc lòng trinh bạch, bán thân để nuôi mẹ đang hấp hối... Giá như... giá như ta chịu đem vài cuốn sách kia giao cho bé Tư thì có lẽ cô gái đã giữ được cái quí nhất của đời người. Ôi! Sao mà tệ bạc quá vậy nè... Trầm sỉ vả mình suốt đêm. Anh mệt quá, vừa thiếp đi được mười phút thì có tiếng đập cửa ầm ầm:


- Anh Hai! Má em vừa uống thuốc chuột!


- Trời ơi!


Trầm gầm lên, lao sang nhà bé Tư. Anh chạy như thằng khùng, xốc bà cụ dậy, lao ra đường, chặn một chiếc xe ba bánh gắn máy đang phóng như bay. Bà mẹ đã được cứu sống ở bệnh viện. Khi tỉnh dậy, nghe thấy tiếng của Trầm, bà cụ thều thào:


- Để cho tôi chết. Anh cứu tôi sống lại làm gì? Tôi sống chỉ làm khổ thêm con tôi...


*


Sau sự kiện ông Hải bị cải tạo, bỏ đi biệt tích năm trước; việc bé Tư phải bán trinh thực sự là một cú sốc mới đối với Trầm. Anh bị chấn động quá mạnh. Con mắt nhìn đời - cuộc đời mà anh gửi gắm nhiều kỳ vọng - đã ảm đạm đi rất nhiều. Anh nghi ngờ mọi giá trị hiện có, những điều mà người ta công nhận, suy tôn và bảo vệ. Không còn hứng thú, Trầm trở lại nhiệm sở với tất cả sự trống trải, chua cay. Càng nghĩ, anh càng tự sỉ vả mình đã không tìm được cách cứu bé Tư.


Còn cô bé, đang mơn mởn tuổi dậy thì, đẹp như tranh tố nữ, cô không giữ được mình trong cảnh túng quẫn, trước người mẹ sống chết cấp kỳ. Một giây chắc lưỡi, thế là hết. Số tiền mà cô nhận được, chắc chắn không bằng số tiền mà mụ tú bà - kẻ đã rắp tâm dụ dỗ cô từ mấy tháng nay - thu lời. Đời cô, thế là hết. Nhưng nghĩ đến Trầm, cô ân hận quá. Cô cảm thấy mình có lỗi với anh, cô không xứng đáng nhìn thấy mặt anh nữa. Thật đáng nguyền rủa. Cô biết Trầm rất tốt, đã cưu mang gia đình cô từ mấy năm qua, vậy mà giờ đây, cô đã làm anh đau khổ! Tự hủy hoại đời mình, cô đau xót lắm, nhưng điều làm cô đau đớn hơn là từ nay, cô đã làm mất lòng tin yêu của Trầm. Tuổi mười sáu của cô chưa thể nào giúp cô hiểu được những diễn biến của tâm trạng Trầm. Cô chỉ nghĩ rằng, cô đã làm anh ghê tởm. Suốt hai ngày cô lánh mặt Trầm. Cho đến lúc Trầm trở về Vũng Tàu, cô cũng trốn anh, ôm mặt khóc tức tưởi ở góc bếp. Phải, mình không xứng đáng nhìn mặt anh nữa.


Trầm tính xin cho bé Tư vào làm ở đội xây dựng của anh. Nhưng liệu cô có chịu đi? Còn bà mẹ già mù lòa, ai săn sóc? Có lẽ bà cụ nói đúng: “Tôi sống chỉ làm khổ con tôi...”. Ôi! Nhưng nhất thiết phải đưa bé Tư đi khỏi hang ổ sa đọa ấy. Khu vực Cống Bà Phán mà bấy lâu nay Trầm ghê sợ, bây giờ mới thật sự là nỗi kinh hoàng đối với anh. Ở trong đội xây dựng của anh, có mấy cô gái đã từng sa ngã, bây giờ họ hoàn lương. Họ tìm lại được tư thế của con người. Bé Tư phải được đưa ra khỏi nơi đó.


*


Thiền Lan đến tìm Trầm mấy lần đều không gặp. Chiếc khóa bằng đồng nhỏ như trái chanh ngoắc ở cửa. Anh nói là về Sài Gòn có một ngày, vậy mà hôm nay là ngày thứ ba rồi. Ruột rối như tơ vò, Thiền Lan thẫn thờ về nhà.


Vào lúc đó, Trầm đang ở ngoài bãi tắm, một mình. Sáng nay, Trầm chờ xe của Liên hiệp Dịch vụ Biển đưa khách du lịch về Vũng Tàu để quá giang xe nhưng xe chật chỗ quá, chỗ đứng cũng không còn nữa. Trầm phải đi xe đò. Từ bến xe, anh cuốc bộ lững thững ra bãi biển, gương mặt đờ đẫn. Trầm nằm ngửa trên bãi cát nhìn lên trời cao vời vợi không một gợn mây. Nhiều lần anh muốn nôn ra, dù anh chưa ăn uống gì. Cảm giác nhờn nhợn ở ngực, ở cổ ám ảnh anh suốt buổi chiều và đêm ấy.


*


Quen ông Mật từ ngày đến với Thiền Lan, Trầm rất thích trò chuyện cùng ông. Ông Mật có lối nói chuyện đặc biệt cuốn hút, dù ông đã gần bảy mươi tuổi. Sự cuốn hút không bằng nghệ thuật nói mà bằng bản thân điều ông nói. Ông hết tuổi lao động nhưng lại không đủ tiêu chuẩn hưởng chế độ hưu, nếu về chẳng có nhà ở, không có việc làm, biết ăn bằng gì? Ông chỉ có độc một nghề: quét rác. Quản đốc khách sạn đề nghị với giám đốc Hòa cho ông ở lại, tiếp tục làm việc theo kiểu hợp đồng. Trên thực tế, ông Mật coi Thanh Bình như là ngôi nhà của mình. Ông làm mọi việc tạp dịch không kể giờ giấc. Bất cứ ai nhờ ông việc gì, ông đều làm tròn, không nề hà, không điều kiện. Công việc chính Thanh Thảo giao cho ông là quét dọn lau bàn ghế, lo trà nước tiếp khách ở phòng quản đốc, chăm sóc hồ cá, chăm sóc hơn một trăm chậu cây cảnh trong khu vực tầng trệt và quét dọn tầng trệt. Sức ông Mật vừa đủ làm bấy nhiêu chuyện. Ông thường mặc bộ đồ màu ghi do khách sạn cấp, trong túi quần luôn luôn có chiếc khăn dệt bằng sợi côtông. Nó vốn là khăn mặt, ông dùng để lau mặt bàn, cửa kính. Lên cầu thang, thấy một vết bẩn ở tay vịn, ông rút khăn lau liền. Đang đứng châm thuốc hút, phát hiện ra những vết ngón tay trên cánh cửa kính, ông dùng khăn lau cho bóng như gương.


Ông Mật vô sản. Tài sản của ông cho đến lúc này không có gì ngoài hai bộ đồ. Về sau này, nhằm tạo điều kiện cho ông có chút tiền để dành tiêu xài khi cần thiết, Thanh Thảo cho ông được nhận giữ xe Honda của khách. Tất cả những xe Honda do ông nhận giữ đều được lau chùi bóng lộn như vừa đi rửa xe bằng máy. Mỗi xe, ông được phép thu của khách năm mươi xu, nhưng nhiều khách hảo tâm đưa ông cả đồng bạc, thậm chí năm đồng. Cuối tháng đầu tiên, ông Mật đưa cả gói bạc hơn năm trăm đồng toàn tiền lẻ cho Thiền Lan ở quầy lễ tân, nhờ cô đổi ra tiền chẵn. Ông Mật cầm gói bạc chẵn, gặp Thanh Thảo, rành rọt trình bày:


- Thưa cô quản đốc. - Ông thường kêu Thanh Thảo bằng cụm từ “cô quản đốc” - Đã nhiều lần tôi muốn thưa chuyện riêng với cô quản đốc, nhưng kẹt nỗi cô quản đốc bận công chuyện liên miên, tôi chẳng dám làm cho cô đau đầu thêm. Tôi muốn chân tình mà thưa với cô quản đốc rằng, tôi rất biết ơn cô quản đốc, đã cho tôi ở lại, được làm việc, có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở; với tôi không gì sung sướng bằng hàng ngày được nhìn mọi người ăn mặc sang trọng vô ra khách sạn, đi tắm biển, đi ăn uống trên cái lối đi mà tôi quét dọn lau chùi sạch sẽ... Một tháng nay, cô quản đốc lại có nhã ý cho tôi được thu tiền giữ xe của khách. Tôi hiểu hảo tâm của cô quản đốc. Nhưng... - Ông Mật dùng hai tay đưa gói bạc - Thưa cô quản đốc, bạc này lão chẳng cần đến làm gì! Cho lão gửi lại khách sạn để mọi người cùng xài có vui không.


Thanh Thảo nhìn ông Mật rồi nhìn gói bạc, lòng chị rưng rưng. Ông lão thật thà, cả đời chưa bao giờ nhặt được của rơi mà không trả lại. Nay chị tạo điều kiện cho ông để dành được ít tiền mà ông lại không xài, biết tính sao bây giờ? Có lẽ nhờ công đoàn giữ cho ông lão, để khi ông qua đời...


Quả tình ông lão rất ít nhu cầu: Cơm ăn ngày hai lần, buổi sáng không dùng gì ngoài một ly cà phê đen. Khoản đó, khách sạn lo cho ông rất chu đáo. Còn thuốc lá, khách thường mời ông hút thuốc, mà là thuốc lá thơm cả đấy. Thuốc ngoại thì ông không hút. Nó không hợp gu của ông. Ông gom từng điếu vào hộp rồi mang cho cánh bảo vệ. Mấy tay ở tổ bảo vệ rất thương ông, đưa lại cho ông thuốc Sài Gòn nguyên gói chưa bóc. Họ biết ông rất mê Sài Gòn. Ông già gần bảy mươi tuổi, người nhỏ bé, lủn củn, da đen xỉn nhưng mắt còn tinh, lưng thẳng, nhanh nhẹn, đặc biệt ông rất nhạy cảm với người và vật. Hút thuốc lá Sài Gòn bao xanh, ông nhận ra càng ngày nó càng bị pha tạp. Lúc đầu, nó là sợi vàng Khánh Sơn Vĩnh Hảo nổi tiếng miền Trung. Sợi ấy thuộc giống Virginia Gold có thể so sánh được với thuốc Capstan, chưa pha tẩm hương liệu màu mè. Về sau, theo cảm nhận của ông Mật, thuốc Sài Gòn đã bị pha chế, ít là quá nửa sợi nâu đen rồi. Hút còn được nhưng đã có vị đắng chát ở lưỡi. Ông Mật lấy một điếu thuốc, bảo Trầm xòe bàn tay cho ông bóc lớp giấy vấn điếu thuốc ra. Sợi thuốc vàng và nâu đen lẫn lộn. Trầm gật đầu đáp lại ánh mắt ông Mật đang có ý hỏi: “Đúng vậy không?”. Rồi, không để Trầm chờ lâu, ông Mật trút cả số sợi thuốc ấy vào một mẩu giấy vấn có sẵn trong túi. Ông hút tiếp. Đối với ông, không một thứ gì do con người làm ra mà có thể lãng phí. Người ta là tinh túy của đất trời. Sống ở đời, phải làm việc và phải hưởng thụ kết quả công việc mình làm. Nhưng tuyệt đối không được lãng phí. Theo ông Mật, sự lãng phí bắt nguồn từ quan niệm rất hư hỏng của con người. Ấy là sự khinh miệt: khinh miệt lao động, khinh miệt nghề nghiệp, khinh miệt những vật thấp mọn... Mà như thế là khinh miệt con người, là tự khinh miệt mình. Tội ấy lớn lắm! Ông Mật mở căng mắt, nhìn thẳng vào Trầm mà nhắc lại: “Khinh miệt con người là tội lỗi lớn nhất, trời không dung, đất không tha, trước sau gì cũng phải trả giá!”. Ông nói điều đó từ trong lòng ông. Cả cuộc đời ông làm nghề quét rác - làm thuê, nhưng chưa khi nào ông ghét bỏ, ghê sợ, mắc cỡ vì cái nghề của mình.


- Cậu kỹ sư biết đấy! Còn gì sung sướng hơn được cầm cây chổi quét sạch rác cho mọi người đi lại, ăn ở, sống vui thú trong sự sạch sẽ. Nhà tôi, tính đến tôi là ba đời làm nghề quét sạch cho đời! Ông nội tôi quét rác trong thành nội của triều đình Huế. Cha mẹ tôi được kế tục chức nghiệp của ông nội tôi. Về sau này, khi vua Thành Thái bị Pháp bắt đi giam lỏng ở thành phố này, cha mẹ tôi được vinh dự ở trong đoàn tùy giá, phục vụ nhà vua cho đến ngày cha mẹ tôi mất. Khi đó, tôi mới lên bảy tuổi. Vua Thành Thái bị đày qua đảo Réunion, tôi ở lại, phải đi kiếm sống. Tôi được nhận vào quét rác cho Sở Dây thép thủy. Bị một tay thực dân đá bằng giày Tây vào đít do tôi lỡ làm đổ chậu kiểng của hắn, thế là tôi chửi vào mặt hắn và chuồn. Tôi đi quét rác cho các khách sạn rồi ở lại khách sạn Thanh Bình này. Ôi chao! Tôi đã thấy đủ mọi chuyện: vui sướng, ơn nghĩa, uất ức, bất công, ngang trái... của mấy chế độ rồi! Đêm về, nằm ngủ trong căn phòng nhỏ kề bên gara xe hơi, tôi tự hỏi: Tại sao cũng là giống người mà người ta lại hà hiếp nhau, khinh miệt nhau nhỉ? Và tôi chịu, không trả lời được, cậu kỹ sư à! Lúc đầu, tôi rất buồn; tôi không được đi học như người ta, có lẽ vì thế mà tôi không trả lời được câu hỏi ấy. Nhưng về sau này, tôi mới vỡ nhẽ ra: Chính những kẻ hay xử tệ với đồng loại lại là những kẻ có học! Còn người nghèo, người dân ấy mà, chúng tôi thương nhau, đùm bọc nhau. Có đúng không, cậu kỹ sư?


Trầm sửng sốt trước kết luận bất ngờ mà câu chuyện của ông Mật dẫn tới. Đã bao nhiêu lần trò chuyện với ông Mật, bao giờ Trầm cũng gặp những kết luận bất ngờ lý thú như vậy. Người nói chuyện, phải chăng như con tằm rút ruột nhả tơ, nói cho người nghe những kinh nghiệm, đúc kết của cả một đời mình. Phải chăng, ông muốn nhắn nhủ người nghe, giáo dục người nghe một cách chân tình nhất mà lại là khéo léo nhất? Ông Mật không bao giờ để cho người nghe phải nhàm chán hay mệt mỏi vì tiếp xúc với mình. Ông có óc nhạy cảm. Câu chuyện của ông luôn luôn là vừa đủ để gây hưng phấn cho người đối thoại, còn lại, để cho anh ta tự tư duy lấy. Ông nói với Trầm đến câu “Chính những kẻ hay xử tệ với đồng loại lại là những kẻ có học! Còn người nghèo, người dân ấy mà, chúng tôi thương nhau, đùm bọc nhau. Có đúng không, cậu kỹ sư?”, nói đến đó, ông nhờ Trầm cùng khênh với ông một chậu kiểng ra xa một chậu kiểng khác.


- Cây sứ còn non cần được chút ít ánh mặt trời để tăng trưởng, chứ cứ để nó ở dưới gốc cây trắc bá diệp này mãi, làm sao nó lớn được! - Ông Mật chuyển đề tài sang các loài cây cảnh - Ví như cây cúc vạn thọ. Cậu kỹ sư có biết vì sao ông bà ta thích bông cúc? Vì sao bông cúc vạn thọ lại được chọn làm bông thờ cúng? Ngày xưa tôi còn nhỏ, cha tôi thường đọc thơ, dạy tôi thuộc thơ chữ Hán - dù viết thì tôi không viết được nhiều. Lâu ngày, tôi quên cả mặt chữ nhưng thơ thì tôi nhớ. Ngay cả cha tôi, cũng chỉ là học lóm của ông tôi. Ông tôi cũng nhờ học lóm của các vị quyền quí trong triều đình lúc họ ngâm ngợi tao phùng giữa vườn thượng uyển. Cha tôi nói, vua Thành Thái cũng rất mê bông cúc. Vì bông cúc có cái đức của người quân tử: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”(1). Nhà thơ người Tàu - Đào Uyên Minh đã nói thế!


Trầm nhìn những chậu cúc vạn thọ nở vàng rực rỡ, sum suê. Ở thành phố đầy gió và nắng mùa khô dữ dội như vầy mà trồng được nhiều loại hoa như ông Mật trồng, phải là kỳ công lắm. Khách sạn Thanh Bình, nhờ có ông Mật, tất cả các phòng đều có hoa tươi, tất cả các bậc cửa sổ đều có chậu cảnh. Đặc biệt ở phòng ăn lầu một, thực khách có cảm giác như được ngồi ăn giữa vườn hoa. Hoa nở trên tường dọc theo lối vào phòng ăn. Hoa nở xung quanh quầy bar, hoa nở cạnh các ghế ngồi. Tất cả đều là hoa trồng trong chậu men rất đẹp. Chỉ có trên mặt bàn là hoa cắm. Hoa được cắm rất nghệ thuật trên từng bàn. Hoa do ông Mật trồng, nhưng nghệ thuật cắm hoa là của Thiền Lan. Cô trở thành người hướng dẫn cách cắm hoa cho chị em ở khách sạn. Mỗi ngày, mỗi bàn chưng một loại hoa, cắm theo một kiểu. Không có gì lặp lại, từ hoa trên bàn đến các món ăn, đến bản nhạc phát ra từ quầy bar. Một đoàn khách du lịch lưu lại Thanh Bình hai tuần sẽ không khi nào cảm thấy nhàm chán bởi gặp sự lặp lại. Ấy là chưa kể hoa trên sân thượng lầu năm, lầu sáu. Đó là cả một vườn hoa tươi. Ở lối ra vào thang máy, dọc theo các hành lang, tại phòng Festival ở lầu tám, v.v... tất cả đều có hoa tươi. Có được điều ấy là nhờ công lao chăm sóc của ông Mật. Nhiều khách nước ngoài đã thức thâu đêm để coi ông Mật chăm sóc chậu đại quỳnh nở mười tám bông một lúc. Nhiều người đòi mua bằng được giò phong lan hài vệ nữ treo ở bên hồ cá...


Có bao nhiêu sức lực và trí tuệ, ông Mật dồn cả vào việc làm sạch và làm đẹp khách sạn. Thế mà, chưa bao giờ ông Mật đòi hỏi bất cứ một điều gì cho riêng ông. Cũng chẳng ai biết được rằng, lẽ ra mỗi tháng, khách sạn phải chi tiền mua năm cây chổi tre và mười chổi lúa; nhờ ông Mật gỡ chổi cũ ra bó lại mà ba tháng khách sạn mới phải chi tiền một lần. Mãi về sau này, quản đốc khách sạn mới biết rằng, tiền mua hạt giống hoa mỗi lần tốn hàng trăm đồng. Ông Mật bỏ sức và tay nghề ra làm giúp một trại hoa của tư nhân, đổi lấy giống hoa mới; nhờ thế mà khách sạn không phải mất tiền. Trong phòng khách và phòng làm việc của quản đốc, chưa bao giờ người ta bắt gặp một que diêm hay một mẩu thuốc lá dưới sàn nhà. Một tờ giấy trắng tinh bị quạt làm rớt xuống đất, Thanh Thảo nhặt lên thì cả tay lẫn giấy không dính một hạt bụi. Người khách đến sau không bao giờ phải uống trà bằng ly của người khách vừa đi. Mỗi ngày, quản đốc tiếp hàng trăm lượt khách, có được sự sạch sẽ ấy là nhờ ông Mật.


*


Ở Liên hiệp Dịch vụ Biển, những nhân viên mẫn cán như ông Mật còn được mấy người? Nhiều lần, Trầm phàn nàn với giám đốc Hòa về thái độ làm việc vô trách nhiệm, không cần quan tâm đến hiệu quả kinh tế của cán bộ công nhân trong các đơn vị thuộc Công ty, nhất là ở các đội xây dựng mà công nhân đã vào biên chế. Người ta lý luận rằng: Lương thế nào làm thế ấy! Trầm nói thẳng với ông Hòa rằng, đó là giọng điệu của bọn ăn bám, chứ một người làm thuê trước đây cũng không có giọng điệu ấy! Người làm thuê rất dễ bị chủ đuổi. Vì thế họ phải làm thật tốt. Họ làm tốt thì mới tồn tại. Lý thuyết về quyền làm chủ tập thể đã bị bọn ăn bám xuyên tạc và coi là dù che để đục khoét xã hội, làm tổn hại đến xã hội.


Một lần, Trầm to tiếng với tay đội trưởng đội cung ứng vận chuyển. Đã bốn ngày rồi, kể từ khi báo hết gạch, mà đội vận chuyển không đưa gạch tới. Họ hẹn đến ngày thứ năm. Sáng hôm ấy, anh em trong đội xây dựng trộn hồ sẵn để chờ gạch về là xây liền. Nhưng gạch không về. Chờ cả ngày, cả ngày hôm sau nữa. Hàng tấn hồ trộn rồi bị hóa đá! Trầm phóng sang gặp đội trưởng đội vận chuyển. Anh ta đi họp đảng ủy! Trầm tìm đội phó thì đội phó về nhà ăn giỗ. Cánh lái xe không ai biết có chuyện chở gạch cho đội của Trầm! Trầm không chờ nổi, đến thẳng nơi họp. Người đang nói rất hùng hồn trong hội nghị chính là anh chàng đội trưởng đội cung ứng vận chuyển. Anh ta là đảng ủy viên; anh ta đang nói về việc kiên quyết không đưa vào cơ cấu lãnh đạo những phần tử tiêm nhiễm lối sống tư sản: khiêu vũ, nghe nhạc Tây, ăn mặc sang trọng trong khi mọi người đang đói khổ... Đích thị trong những người anh ta ám chỉ có Trầm.


- Tệ hơn nữa, - vẫn lời anh chàng đội trưởng đội vận chuyển - chúng ta đã hữu khuynh, mất cảnh giác để cho cả một đám ô hợp: trộm cắp, tù tội, bụi đời, sĩ quan ngụy chui vào đội ngũ công nhân xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Đấy là những ổ dịch, những trái bom nổ chậm!


Trầm nghe giám đốc Hòa ngắt lời, không để anh ta thao thao nữa. Ông yêu cầu Ngôn - tên của người đội trưởng đội vận chuyển vật tư - nói thẳng ý của anh ta ra, không nên “vòng vo tam quốc”. Ai hữu khuynh? Ai mất cảnh giác? Ai là phần tử tiêm nhiễm lối sống tư sản? Những ai là đám ô hợp chui vào đội ngũ? Những ai là ổ dịch? Tên tuổi, tội trạng của họ ra sao? Họ đang làm gì phá hoại Xã hội Chủ nghĩa? Hay là họ đang lao động? Lao động ra trò chứ không phải làm giả mà đòi ăn thiệt!


Ngôn là tay đâu có vừa. Ngôn trạc tuổi với Trầm. Anh là một kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Bố Ngôn là thứ trưởng thường trực. Trên thực tế, ông gần như làm hết công việc của bộ trưởng. Đó là một thứ trưởng “đầy triển vọng”, như cách nói thông thường bây giờ. Nhờ bố can thiệp, Ngôn được đi nước ngoài một năm. Về nước, anh xung phong đi phục vụ chiến trường. Sáu tháng sau khi đi , tại một công xưởng ở Trường Sơn, ngã ba Đường Chín - Nam Lào, Ngôn được kết nạp Đảng.


Ba năm sau khi Ngôn phục vụ ở công xưởng ấy, hòa bình trở về với đất nước. Ngôn được bố đưa về Bộ, rồi khi Liên hiệp Dịch vụ Biển ra đời, Ngôn được điều thẳng về đây, phụ trách một đội cung ứng vận chuyển vật tư. Tại đơn vị này, Ngôn tỏ ra là người có năng lực nhất so với ba phó giám đốc xí nghiệp. Không có anh, thì không thể nào nhận được vật tư dù thủ tục giấy tờ đã hoàn tất. Anh có biệt tài chạy lo vật tư, kể cả thứ hiếm và quí nhất. Ngôn tin chắc rằng, chẳng mấy đỗi, Ngôn sẽ vượt qua ba vị phó kia, từ chân đội trưởng lên thẳng ghế giám đốc Xí nghiệp Cung ứng Vật tư. Ấy là Ngôn nghĩ trong bụng như vậy. Trong quan hệ, anh tỏ ra là người rất quan tâm đến mọi người. Anh dành thời giờ nghỉ để đến từng nhà thăm hỏi công nhân, cán bộ. Anh có tài bắt thân rất nhanh. Chả thế mà chỉ trong vòng hai năm, kể từ ngày về đây, anh đã quen thân với hầu hết các cán bộ lãnh đạo, các trưởng phòng, và đặc biệt là anh được lòng các vị lãnh đạo địa phương. Người ta chú ý đến anh trước hết vì anh là con trai của một thứ trưởng “đầy triển vọng”. Còn anh, anh tự cho mình là tài giỏi, có tài thu phục nhân tâm.


Ở Đại hội Đảng bộ vừa rồi, Ngôn là người có ý kiến mạnh mẽ nhất đấu tranh thực hiện quyền làm chủ tập thể cho công nhân. Có thể nói, câu cửa miệng của Ngôn là câu “làm chủ tập thể”. Một trong những biện pháp mà Ngôn đã đưa ra và nhấn mạnh bằng cả nghệ thuật hùng biện của anh là Liên hiệp phải tập trung sức lo chỗ ở ổn định cho công nhân. Điều ấy, về sau đã được đưa vào nghị quyết. Và Ngôn, anh được bầu vào đảng ủy với số phiếu cao nhất. Ban chấp hành bầu Ngôn làm bí thư, nhưng Ngôn từ chối. Anh chỉ nhận vị trí khiêm tốn: đảng ủy viên! Ngôn đã suy nghĩ chuyện này từ lâu rồi. Anh chỉ hành động khi nào thời cơ đã chín muồi. Giống như ngày xưa anh xung phong đi , anh được bố anh đảm bảo chắc chắn rằng xưởng ô tô hậu cần mà anh sắp vào làm việc, ở vùng đã giải phóng, lại giáp miền Bắc, giáp vùng giải phóng Lào. Đi như thế cũng như đi công tác ở Vinh hay Đồng Hới là cùng! Và thế là Ngôn đã đi và anh đã tới đích. Sáu tháng sau, anh được kết nạp Đảng. Ở Hà Nội - Ngôn nghĩ - cỡ kỹ sư ô tô như anh đếm không xuể, sức mấy mà ngoi lên được!


Về khoản vợ con, Ngôn càng chứng tỏ mình là người biết cách lập thân. Có một dạo, Ngôn tập trung tấn công Thiền Lan, nhưng coi bộ không xong, Ngôn chủ động rút luôn. Rồi anh lựa được người như ý. Thế gian này, người ta thường chê những anh mắt lé. “Nhất lé, nhì lùn” là không “xài” được. Ngôn bị lé mắt bên phải, vẫn lấy được vợ đẹp như thường. Vợ Ngôn, trước khi về với Ngôn là một cô gái đẹp, rất tháo vát và đôi mắt luôn luôn ánh lên một cái gì đó như là sự cân đo đong đếm chính xác đến từng miligram. Cô là con gái cưng của ông cán bộ cao cấp đã về hưu, vốn là bạn chiến đấu của ông thứ trưởng - bố Ngôn. Cuộc hôn nhân rất là môn đăng hộ đối ấy chỉ bảy tháng sau ngày cưới đã cho kết quả một cặp trai sinh đôi rất kháu khỉnh, giống bố y đúc ở cái mắt lé. Bằng ảnh hưởng của những ông bố, vợ chồng Ngôn được cấp một căn nhà ở mặt tiền một con đường đẹp ở quận Một Sài Gòn. Căn nhà ấy đủ chỗ ở đến cả đời cháu của Ngôn.


Ở Vũng Tàu, Ngôn xin được một khoảnh đất trũng sình lầy, gần bãi Sau. Mỗi ngày, một vài chuyến xe vận tải - Ngôn huy động được ở chiều không tải - chở cát về đổ đầy khoảnh trũng ấy. Rồi anh xây. Anh nói là anh bỏ tiền túi ra; mua được vật liệu giá chính thức, tất nhiên anh không dại gì mua của Liên hiệp, e bị mang tiếng. Căn nhà của anh na ná như một biệt thự. Vợ Ngôn “hạch toán” tổng thể chỉ hết có năm chỉ vàng (kể cả hệ thống giếng khoan cấp nước ngọt). Trong khi đó, mua một căn nhà tương đương như vậy ở ngoài bây giờ mất ba cây vàng. Hai tháng sau khi ăn tân gia, Ngôn lại cho xây phía sau biệt thự, hơi chếch về phía biển một chút, một dãy nhà ngang, khiến cho ai cũng chê óc thẩm mỹ của chủ nhà hơi kém. Mãi đến khi Ngôn cho xe ô tô vận tải chở năm chục chiếc giường cá nhân về kê vào dãy nhà ngang ấy, thì mọi người mới vỡ nhẽ ra: Vợ chồng Ngôn tính toán giỏi thật. Từ ngày ấy, vợ Ngôn được bác sĩ cấp giấy chứng nhận mất sức, xin nghỉ việc. Chị ở nhà trông nhà, trông con và thu... tiền trọ của khách tắm biển. “Biệt thự Thùy Vân” - vợ Ngôn thích kêu như thế - rất đông khách trọ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info  


 


 








(1) Khi hoa cúc tàn: Lá không rời cành, hoa không rụng xuống đất.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
xem thêm »