tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20787113
Những bài báo
17.11.2015
Nhiều tác giả
Kỳ bí Giếng cổ

Giếng cổ Hội An không bao giờ cạn


Nhiều địa phương cả nước có những giếng cổ tồn tại hàng trăm năm giữa muôn vàn đổi thay của cuộc sống và mang trong mình rất nhiều bí ẩn không dễ lý giải.


Giếng nhỏ Bá Lễ nằm sâu trong con hẻm tí xíu, nhưng đã thu hút không ít du khách đến chụp ảnh lưu niệm vì những câu chuyện về giếng đã được lan truyền không chỉ trong dân Hội An mà cả trên mạng.


Giếng của mọi nhà


Thoạt trông, giếng Bá Lễ không khác gì các giếng xưa khác, dù được sử dụng chung nhưng vô cùng sạch sẽ. Giếng sâu hun hút, rêu phong phủ xanh rì trên thành. Hơi nước tỏa lên mát dịu. Nhấp thử một ngụm nước giếng sẽ cảm nhận ngay vị mát lành lan tỏa.


Giếng nhỏ, lại nằm sâu trong hẻm nhưng hằng ngày lượng người đến giếng để lấy nước rất nhiều, hết lượt này đến lượt khác. Họ là những người sống bằng nghề gánh, chở nước thuê. Nước giếng Bá Lễ được cung cấp cho những hộ dân sống trong phố cổ Hội An. Anh Thành, một người chở nước thuê, chia sẻ: “Những người dân sinh sống lâu năm ở phố cổ thích uống nước giếng Bá Lễ, thậm chí nhiều người nhất định chỉ uống nước giếng Bá Lễ dù bây giờ nhà nào cũng có nước máy về đến tận nơi. Nhờ vậy mà những người chở nước thuê như chúng tôi sống được với nghề hàng chục năm nay”.


Nghề gánh nước giếng thuê ở Hội An cũng làm nên “danh tiếng” cho vợ chồng ông Nguyễn Đường và bà Nguyễn Thị Mỹ (nay đã 80 tuổi). Không biết bao nhiêu đoàn làm phim, nhiếp ảnh gia trong và ngoài nước đã chọn ông bà thành nhân vật chính cho phim tư liệu, tấm ảnh nghệ thuật của mình...


Không chỉ là nguồn nước uống quý đối với người dân Hội An, nước giếng Bá Lễ còn được coi là “bí quyết” làm nên những món đặc sản địa phương với hương vị thơm ngon đặc biệt hấp dẫn du khách. Ví như món chí mà phủ (chè mè đen - PV) quá nổi tiếng của cụ ông Ngô Thiểu (97 tuổi, ở Hội An), một trong những bí quyết của ông là nấu bằng nước giếng Bá Lễ. Hay như món cao lầu Hội An vang danh, thì chỉ có thể nấu ngon khi luộc những sợi cao lầu bằng nước giếng Bá Lễ. Ngay cả món phở Hội An ngon đặc biệt, nước dùng cũng được nấu bằng nước giếng Bá Lễ...


Nguồn nước vô tận


Cụ Lê Thị Hiểu (93 tuổi), người sinh ra và lớn lên ở nơi gần với giếng Bá Lễ, cho biết thân sinh cụ nói rằng đã nhìn thấy giếng có từ trước khi họ sinh ra. “Ngày xưa ngày nào giếng cũng đông đặc người đến lấy nước. Cả Hội An lúc trước đều uống nước Bá Lễ. Mà lạ kỳ là mưa hay nắng, nước đều không cạn, cứ dồi dào tuôn chảy thứ nước ngọt hảo hạng nhất cho người dân. Nước giếng ni đặc biệt chỉ dùng để uống, tuyệt nhiên không được tắm giặt. Tại giếng ai mà giặt giũ là lập tức bị phạt”, cụ Hiểu kể.


Có rất nhiều nghiên cứu với những kết quả không giống nhau về sự ra đời và lý do giếng nước Bá Lễ không bao giờ cạn. Những bậc cao niên ở Hội An cho rằng cái tên giếng Bá Lễ ra đời vào khoảng thế kỷ 20 do có người phụ nữ tên Bá Lễ đã bỏ ra hơn 100 đồng bạc Đông Dương để trùng tu giếng cổ đã có từ trước đó, nên mọi người đã lấy tên bà đặt cho giếng cổ. Còn thời điểm ra đời của giếng thì không xác định được.


Theo một nghiên cứu khác do Trung tâm bảo tồn quản lý di sản văn hóa Hội An cung cấp, giếng Bá Lễ có từ khoảng thế kỷ thứ 8 - 9. Sở dĩ giếng cổ không bao giờ cạn vì người xưa đã chọn đúng nơi có mạnh nước ngầm dồi dào tuôn chảy, cộng thêm kết cấu đặc biệt của giếng (xây bằng gạch, nhưng không dùng vôi vữa để kết dính; phía dưới là khung gỗ lim rộng bản cực kỳ vững chắc) nên giếng cổ luôn cung cấp một lượng nước gần như vô tận.


Cách mặt giếng chừng nửa mét có một bàn thờ thần giếng trang trọng. Người dân địa phương cho biết từ xưa đến nay, đã thành nếp, mỗi ngày rằm, mùng 1 âm lịch người dân đều mang hoa quả, hương đèn đến giếng cúng rất trang trọng, để cảm tạ giếng đã mang lại cho Hội An nguồn nước ngọt lành quý giá.


Kỷ lục cho người gánh nước thuê


Cụ Nguyễn Đường (83 tuổi, trú hẻm 30 Phan Chu Trinh, Hội An) đã được Tổ chức Kỷ lục VN trao bằng xác lập kỷ lục “Người gánh nước giếng thuê trong thời gian dài nhất tại VN”.


Gánh nước giếng Bá Lễ cho những người cần nước để uống, nấu ăn, cho nhà hàng, khách sạn, quán cà phê... là cách cụ kiếm tiền nuôi sống cả gia đình suốt hơn 50 năm qua.- Hoàng Sơn


Diệu Hiền


2: Giếng nước ngọt giữa biển khơi


Giếng cổ xóm Cấm giữa biển khơi là nơi du khách rất thích thú tìm đến khi tham quan đảo Cù Lao Chàm - Ảnh: Trịnh Ly


Đặt chân đến Cù Lao Chàm sau hành trình lắc lư trên chiếc thuyền gỗ, vài người trong chúng tôi vẫn còn cảm giác say sóng váng vất trong đầu. Một người dân bản địa thấy vậy liền kéo chúng tôi đi thoăn thoắt về hướng khu dân cư, vừa đi vừa giới thiệu là đang trên đường vào xóm Cấm. Đến đoạn ngã ba đường bê tông của khu dân cư này, người tốt bụng ấy dừng lại ở một cái giếng rộng miệng. Cả nhóm ào đến, người lấy gàu múc nước rửa mặt, người đưa nguyên mặt xuống vòm giếng để hít cái khí mát dịu ngọt tỏa lên từ thành giếng. Cảm giác ngây ngây say sóng dường như biến mất trước vị ngọt lành của nước giếng. Ai cũng đùa “Nước ở giếng này thật thần kỳ!”. Và thật bất ngờ, thì ra giếng nước mà chúng tôi tiếp cận khi ấy lại là một giếng cổ nổi tiếng ở đảo Cù Lao Chàm.


Giếng cổ xóm Cấm khá kỳ lạ, khi tồn tại ở giữa hòn đảo giữa biển khơi nhưng lại có dòng nước ngọt lành. Những bậc cao niên trong làng đều cho rằng giếng này đã có từ rất lâu đời. Đời ông, đời bà của họ cũng đã sử dụng giếng này để làm nguồn nước uống chưa một ngày vơi cạn dù là mùa khô hanh. Giếng cổ có cấu trúc giống giếng Chăm cổ ở Hội An với thân giếng hình ống tròn, nền giếng hình vuông, có độ sâu khoảng 5 m. Anh Võ Hồng Việt, Phó phòng Di tích Trung tâm quản lý và bảo tồn di tích TP.Hội An, Quảng Nam, cho hay kết cấu của giếng cổ xóm Cấm qua nhiều lần người dân trong vùng trùng tu, sửa chữa, đã phần nào thay đổi.


Cũng theo thông tin từ Trung tâm quản lý và bảo tồn di tích Hội An, từ những nguồn tư liệu thư tịch cổ mà trung tâm sưu tầm được, từ thế kỷ thứ 15 - 18, Cù Lao Chàm đóng vai trò quan trọng trên bản đồ hàng hải quốc tế ven Biển Đông và là điểm dừng chân quen thuộc của thương thuyền nhiều nước phương Tây lẫn phương Đông trên hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển... Và không ít thương thuyền chọn Cù Lao Chàm là điểm để tích trữ lương thực, mua bán nước ngọt... dành cho hành trình dài của mình. Chiếc giếng cổ xóm Cấm vì vậy, theo nhiều nghiên cứu đặt ra, chính là nguồn cung cấp nước ngọt không chỉ cho người trong vùng mà cả hằng hà sa số những thương thuyền, mang lại nguồn thu vô cùng lớn cho người dân ở hòn đảo này. Nhờ vậy người dân ở đảo Cù Lao Chàm có cuộc sống no ấm.


Những bí ẩn chưa có lời giải


Võ Hồng Việt vốn là cán bộ chuyên nghiên cứu, khảo sát về giếng cổ tại Hội An. Anh chia sẻ, trong nhiều lần đối chiếu với những nguồn tư liệu cổ, cùng với cấu trúc của giếng, các nhà chuyên môn cho rằng giếng cổ xóm Cấm có tuổi đời trên 200 năm. Trên đảo Cù Lao Chàm còn có 2 giếng cổ khác, nhưng chỉ có giếng xóm Cấm vẫn còn sử dụng. “Tuy nhiên, đến nay chúng tôi vẫn chưa sưu tầm được những tư liệu, văn bản nào đề cập đến việc xây dựng giếng để có thể xác định niên đại cụ thể”, anh cho biết. “Để xác định rõ niên đại giếng cũng cần phải có một nghiên cứu khảo cổ và kiểm nghiệm những vật dụng làm nên giếng cổ”.


Theo các chuyên gia thuộc Trung tâm quản lý và bảo tồn di tích TP.Hội An, làm thế nào cách đây vài thế kỷ người Chăm xác định được nơi đào giếng để có nguồn nước ngọt giữa biển khơi vẫn còn là bí ẩn chưa có lời giải. Chỉ biết rằng người Chăm xưa - vốn hết sức nổi tiếng trong việc phát hiện mạch nước ngầm - cũng là những người hết sức kỹ lưỡng trong việc đào giếng. Bằng kinh nghiệm của mình, họ đã tìm ra mạch nước ngọt giữa biển, đào đúng độ sâu và khơi thông nó. Đáng nói, mạch nước này luôn đầy quanh năm với nguồn nước ngọt dồi dào. Họ làm thế nào để xếp chồng những viên gạch lên nhau mà không có vữa kết dính, tạo ra các kẽ hở để nước từ trong lòng đất chảy vào giếng, tạo cho mực nước luôn duy trì ở mức cao cũng là điều đang cần phải nghiên cứu.


“Dù có sử dụng phương pháp nào đi nữa thì người đào và xây giếng này phải là những nghệ nhân có tay nghề rất cao, sở hữu vốn kinh nghiệm vô cùng phong phú để nước trong và ngọt, đặc biệt không bao giờ khô kiệt”, anh Việt khẳng định.


Di tích quốc gia


Hiện nay, giếng cổ xóm Cấm đã trở thành một trong những điểm thu hút du khách đến đảo Cù Lao Chàm. Rất nhiều câu chuyện “tích xưa” được thêu dệt, như uống nước giếng có thể chữa say sóng biển; hay yêu nhau uống nước giếng sẽ được sống đến răng long đầu bạc cùng nhau... Nhưng đó chỉ là những câu chuyện có thể được dựng lên để cho chiếc giếng thêm ly kỳ, thú vị. Năm 2006, giếng cổ này đã được công nhận là di tích quốc gia.


Diệu Hiền


3: Giếng 'vua' ở Lý Sơn


Dọc vùng biển miền Trung đã và đang tồn tại nhiều giếng nước ngọt hết sức độc đáo, chỉ cách mép biển chừng vài sải tay nhưng chưa bao giờ bị nhiễm mặn.


Giếng “vuông” hay “vương” ?


Có một điều chắc chắn rằng, tất cả các giếng nước được xây bằng đá rất công phu, trông cũ kỹ ấy đều là của người Chăm để lại. Tiến sĩ khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi, Phó giám đốc Bảo tàng Quảng Ngãi, người đã có trên 25 năm lăn lộn với văn hóa Chăm khẳng định điều đó.


Theo tiến sĩ Khôi, đặc điểm dễ nhận dạng các giếng nước ấy của người Chăm là các miệng giếng đều hình vuông; riêng thân giếng có nơi hình tròn, có nơi vuông. Giếng được “kè” bằng đá xếp chồng lên nhau, đều tăm tắp. “Qua công tác điền dã và khảo cứu một số vùng ven biển miền Trung thì tôi thấy có thể do cách phát âm của người miền biển, chữ “vuông” kia được đọc lệch thành “vương”.


Hơn nữa, hễ thấy điều gì bất thường, lại kỳ diệu như các giếng Chăm, dân gian thường ghép cho vua (vương) để tỏ sự tôn kính. Giếng Gia Long ở Lý Sơn là một ví dụ”, tiến sĩ Khôi phân tích.


Ở làng Thanh Thủy thuộc xã Bình Hải (H.Bình Sơn, Quảng Ngãi) cũng có một “giếng vua” nằm giữa làng. Vùng này còn có tên Tổng Binh - địa danh gắn liền với những cuộc duyệt binh và tập trận từ thuở cha ông ta đi mở cõi thế kỷ 15. Mùa xuân năm 1471, vua Lê Thánh Tông trong một lần chinh Nam đã đặt chân lên động Hàng Đô, tức Vạn Tường bây giờ. Dân gian vùng này ghép “giếng vua” ở làng Thanh Thủy cho vua Lê nhưng kỳ thực, đó là giếng nước của người Chăm. Những dấu tích về kiến trúc còn lại của giếng nước này đã xác nhận điều đó. Dù ở gần biển, lại là vùng đất khô hạn quanh năm nhưng chưa bao giờ “giếng vua” làng này cạn nước.


Việc gọi các giếng Chăm cổ này bằng “vuông” hoặc “vương” (tức “vua”) là tùy theo quan niệm của người dân vùng đó. Nhưng có điều này thì ai cũng phải thừa nhận, đó là những giếng nước Chăm cổ đều nằm gần các thương cảng, hoặc ít ra cũng nằm cạnh các bãi biển thoáng đãng, thuận lợi cho những người buôn bán hải sản hoặc trao đổi các loại hàng hóa giữa giới thương hồ với người dân bản địa.


Những thương thuyền vượt đại dương vẫn ghé vào các cảng biển hoặc làng chài để trao đổi hàng hóa, đặc biệt là tiếp thêm nước ngọt cho những chuyến hải hành dài ngày. Nước ngọt từ các giếng Chăm xưa là sự lựa chọn trước tiên của các con tàu xuyên đại dương này. Theo thời gian, các “giếng vương” được đắp bồi thêm sự huyền nhiệm qua những câu chuyện nửa hư nửa thực. Giếng Xó La ở Lý Sơn cũng được người dân ở hòn đảo này thêu dệt quanh nó bao câu chuyện kỳ bí mà người đời sau không thể giải mã được.


“Nước thánh nước thần”


Ông Võ Văn Toại (80 tuổi), một trong hai người chuyên làm “hình nhân thế mạng” để chôn trong các ngôi mộ gió ở Lý Sơn, nói rằng chỉ có thể gọi đó là “nước thánh nước thần” mới có thể lý giải được vì sao cách mép nước biển có vài sải tay mà giếng Xó La chưa bao giờ nhiễm mặn, cũng chưa bao giờ cạn nước, kể cả những năm đỉnh hạn.


Từ Trường THPT Lý Sơn đi về hướng nam chừng 300 m sẽ gặp giếng nước này. Giếng nằm ngay sát mép biển. Theo trí nhớ của ông Toại, cách đây chừng 50 - 60 năm, chỗ mép biển này là một bãi cát rất sạch sẽ. Tàu bè đi biển dài ngày vẫn thường ghé lại lấy nước ngọt từ giếng Xó La. Bãi cát giờ bị xâm thực song giếng nước thì vẫn như xưa. Những năm đỉnh hạn, tất cả các giếng nước trên đảo Lý Sơn bị nhiễm mặn, riêng giếng Xó La thì không. Người dân khắp đảo đến đây lấy nước về dùng. Họ mang can, thùng chen nhau múc nước, không khác nào đi lấy nước thánh.


Quan sát địa thế thì rất khó lý giải vì sao người Chăm lại chọn vị trí này để đào giếng. Đó là một dải đất bình thường như bao chỗ khác ở Lý Sơn nhưng chỉ ở đây mạch nước ngầm mới phong phú đến vậy. Để xây giếng nước này, người Chăm đã xếp các lớp đá chồng lên nhau mà không gắn kết bất cứ một lớp vôi vữa nào. Giữa các lớp đá là những khe nhỏ, nước đã theo khe này để chảy ra giếng. Kỹ thuật xếp đá như thế là một cách “lọc nước” tự nhiên vậy. Nhưng sự bí ẩn nằm ở chỗ, chủ nhân của giếng nước đã nhìn xuyên lớp địa chất để có thể “thấy” được mạch nước ngầm đang vận hành bên dưới.


Sự phong phú của mạch nước ngầm vô tận ấy đã thành đề tài để người dân Lý Sơn thêu dệt quanh giếng nước này nhiều câu chuyện nhuốm màu huyền thoại. Họ bảo đây là giếng Gia Long với sự tích gắn liền cùng vị vua này khi lâm nạn. Lúc đã cạn quân lương, nước cũng không còn giọt nào, đào khắp đảo chẳng có nước thì đêm đó ông nằm mơ thấy có người chỉ chỗ đào giếng. Sáng ra, ông cho quân sĩ đào ngay vị trí này. Thế là thành giếng nước. Thực tế thì chưa bao giờ Nguyễn Ánh đặt chân lên đảo Lý Sơn cả.


Sinh thời, GS Trần Quốc Vượng có lần ghé Lý Sơn và quan sát giếng nước này. Ông nói cái tên Xó La đích thị là tiếng Chăm vì ngoài tên giếng, Xó La không chỉ một địa danh nào khác ở Lý Sơn. Cách giếng Xó La chừng vài cây số là di chỉ khảo cổ học Suối Chình với nhiều hiện vật giá trị có niên đại khoảng 2.000 năm. Các hiện vật ấy đã cho hậu thế biết rằng, từ xa xưa, con người đã có mặt trên đảo Lý Sơn. Các “giếng vương” là một phần di sản độc đáo của tiền nhân trên hòn đảo xinh đẹp này.


Trần Đăng


4: Giếng nước của nhà Tây Sơn


Uống nước giếng chữa bệnh


Không chỉ người dân địa phương, nhiều du khách đến Bảo tàng Quang Trung đều thành kính dâng hương tại Điện thờ Tây Sơn Tam kiệt rồi ra giếng uống nước, rửa mặt với niềm tin tâm linh sẽ trị được bệnh tật. Thậm chí, có người còn mang theo chai lọ “xin” nước đem về cho người thân cùng uống để chữa bệnh. Trong những ngày diễn ra lễ hội mừng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (mùng 4 và 5 Tết Nguyên đán), khách thập phương đến dâng hương, uống nước để chữa bệnh, cầu tài lộc càng đông.


Theo ông Tô Đình Minh (60 tuổi, ở thị trấn Phú Phong), ngày xưa, cả làng Kiên Mỹ chỉ có mỗi giếng nước trong Đền thờ Tây Sơn (nay là Điện thờ Tây Sơn Tam kiệt) nên người dân gọi đó là giếng làng. Nước giếng rất trong và mát. Sau này, làng Kiên Mỹ có thêm nhiều giếng mới nhưng nhiều người vẫn thích dùng nước giếng làng. Có những năm nắng hạn, các giếng trong làng Kiên Mỹ đều khô cạn thì giếng trong đền thờ vẫn còn nước.


Thời còn nhỏ, gia đình ông Minh sống ở gần Đền thờ Tây Sơn. Nơi đây được truyền tụng là rất linh thiêng, những người bất kính đều bị trừng phạt thích đáng. Tuy nhiên, ông Minh và các bạn cùng trang lứa vẫn thường vào đây nghịch ngợm, chơi đùa. Năm học lớp 11, trong một lần vào đền thờ chơi, bị bạn bè thách đố nên ông Minh liều mạng vuốt râu pho tượng bán thân của hoàng đế Quang Trung, đặt thuốc lá vào miệng tượng... Những tưởng trò đùa nghịch trẻ con qua rồi thì thôi nhưng về nhà ông Minh lên cơn sốt, co giật. Gia đình mời thầy thuốc đến chữa trị không khỏi. Khi nghe bạn bè đến thăm kể lại chuyện ông Minh mạo phạm tượng hoàng đế Quang Trung, cả gia đình đều hoảng sợ.


“Mẹ tôi liền mua lễ vật đến đền thờ, lấy 3 ly nước giếng đặt trước tượng hoàng đế Quang Trung khấn vái, xin tạ tội. Để 2 ly nước lại điện thờ, ly còn lại mẹ đem về nhà bảo tôi uống. Bệnh tôi khỏi ngay. Từ đó, gia đình tôi còn tin rằng các vị anh hùng nhà Tây Sơn rất linh thiêng. Những năm chiến tranh, Đền thờ Tây Sơn là nơi mà nhiều người làng đến tránh bom đạn, cầu mong anh linh các vị nhà Tây Sơn che chở. Không một tên lính nào dám chĩa súng bắn vào đền thờ, chỉ có vài viên đạn lạc nhưng cũng chỉ dính ở vách tường mà thôi”, ông Minh kể.


Ơn sâu, nghĩa nặng, dân mình còn ghi


Theo anh Trần Trung Thông, cán bộ Bảo tàng Quang Trung, giếng nước cùng với cây me trong bảo tàng là hai di vật trong vườn nhà của ông Hồ Phi Phúc (cha của ba anh em nhà Tây Sơn) ngày xưa còn lại. Giếng nước ngày xưa được ghép bằng đá ong, không có vữa hồ, không có thành giếng, sâu khoảng 8 m, đường kính gần 1 m. Sau này, để bảo vệ giếng nên Bảo tàng Quang Trung mới xây thêm thành giếng và hàng rào bảo vệ như ngày nay.


Sau khi ông Hồ Phi Phúc từ làng Phú Lạc (nay thuộc xã Bình Thành, H.Tây Sơn) quê vợ sang định cư tại làng Kiên Mỹ gần bến Trường Trầu để thuận lợi cho việc buôn bán, thì có trồng cây me và đào một giếng nước ở hai bên ngôi nhà. Sau khi nhà Tây Sơn mất, vua Gia Long triều Nguyễn lên cầm quyền đã thẳng tay đàn áp, tận diệt tất cả những gì liên quan đến dòng họ và vương triều Tây Sơn. Tuy nhiên, cây me và giếng nước trong vườn nhà ông Hồ Phi Phúc vẫn tồn tại.


Để thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với nhà Tây Sơn, năm Minh Mạng thứ 3 (1823), người dân làng Kiên Mỹ đã góp công, góp của xây dựng ngôi đình làng trên nền nhà cũ của ông Hồ Phi Phúc để bí mật thờ ba anh em nhà Tây Sơn nhưng lấy tên là đình Kiên Mỹ và gọi là thờ thành hoàng nhằm che mắt chính quyền. Năm 1958, người dân địa phương xây dựng lại ngôi đình ngay trên nền cũ, chính thức lấy tên là Đền thờ Tây Sơn. Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Nghĩa Bình (nay tách thành Bình Định và Quảng Ngãi) đã xây dựng Bảo tàng Quang Trung bên cạnh khu di tích đền thờ.


Từ thời Tây Sơn đến nay đã hơn 200 năm trôi qua nhưng người dân làng Kiên Mỹ vẫn gìn giữ những di tích và tôn thờ nhà Tây Sơn trong đời sống tín ngưỡng của mình. Trên mảnh đất xưa, cây me, giếng nước vẫn chan chứa biết bao hoài niệm. Đến nay, người dân vẫn còn lưu truyền các câu ca dao: Cây me, giếng nước, sân đình/Ơn sâu, nghĩa nặng, dân mình còn ghi; hay câu: Cây me cũ, bến Trầu xưa/Dẫu không tình nghĩa cũng đón đưa trọn niềm.


Hoàng Trọng


5: Giếng trong vườn hoa của Huyền Trân công chúa


Ở chùa Thập Tháp (TX.An Nhơn, Bình Định) vẫn còn nguyên 3 cái giếng có từ thời vua Chế Mân (vương quốc Chăm pa), cả ba đều hình vuông, xây bằng đá ong tạo thành hình tam giác đều và mùa nào cũng đầy nước trong vắt.


Giếng quý trong vườn Lãng Uyển


Bình Định - từng là nơi tọa lạc kinh đô Vijaya của vương quốc Chăm pa, hiện vẫn còn giữ lại được khá nhiều di sản vật thể của nền văn hóa này. Tại đây còn lưu giữ dấu vết của các thành cổ của Chăm pa như thành Cha, thành Hoàng Đế; 8 cụm tháp Chàm với 14 tháp, hàng chục phế tích tháp đã bị đổ; các vết tích lò nung gốm cổ Gò Sành của cư dân Chăm pa cổ; các vật điêu khắc bằng đá, đất nung… Ngoài ra, còn một loại hình di tích văn hóa vật thể độc đáo khác là các di tích giếng cổ.


Giếng Chăm pa cổ thường được xây dựng theo bình đồ hình vuông, được ghép gạch đất nung hoặc đá ong cắt gọt khối hình chữ nhật xung quanh bốn mặt của giếng. Một số giếng ở dưới đáy được lót bằng các khúc gỗ lớn. Có một số lý giải đã được đưa ra như: lót như vậy để tăng tính vững chắc của thành giếng hoặc có tác dụng lọc nước…


Về 3 cái giếng trong chùa Thập Tháp, sách Đồ Bàn thành ký của tác giả Nguyễn Văn Hiển cho biết: Xưa kia, khu vực đồi Long Bích này là khu vườn Lãng Uyển của các vua Chàm. Vì vậy mà 3 cái giếng được chùa sử dụng lấy nước từ xưa đến nay là di tích còn lại của vườn Lãng Uyển. Ba giếng được đào theo hình vuông, miệng giếng xây trệt sát đất chứ không có thành cao. Lòng giếng được xây bằng những viên đá ong lớn, giống như những viên đá được đào lên từ nền móng của những ngôi tháp Chàm sụp đổ.


Ngoài ra, hồ sen trước mặt chùa cũng hình vuông và thành hồ được xây bằng những viên đá ong lớn như vậy. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, khảo cổ đến chùa Thập Tháp tìm hiểu, đều nhất trí rằng hồ sen, 3 cái giếng là vết tích của vườn hoa Lãng Uyển là từ thời vua Chế Mân còn sót lại.


Tương truyền, vườn Lãng Uyển là nơi vua Chế Mân cùng hoàng hậu là Huyền Trân công chúa thưởng lãm cây cảnh, chim muông, hoa lá. Ba cái giếng trong vườn dùng để lấy nước tưới cây. Riêng cái giếng phía sau chùa được xây cao hơn hai cái còn lại ở phía trước. Giếng sau chùa nằm trên nền mặt bằng đá ong nên nước lúc nào cũng trong và ngọt hơn hẳn 2 giếng còn lại. Từ trên cao nhìn xuống, vị trí ba cái giếng nằm tạo thành hình tam giác đều.


Cọp trắng bên giếng vua


Theo đại đức Thích Viên Kiên (chùa Thập Tháp), vào nửa sau thế kỷ thứ 17, thiền sư Nguyên Thiều đến Bình Định, chấn tích tại khu đồi Long Bích và lập ngôi chùa đầu tiên để làm cơ sở truyền bá Phật pháp, đặt tên là chùa Thập Tháp Di Đà. Từ đó thiền tông thuộc phái Lâm Tế được tổ sư phát huy mạnh mẽ và truyền bá rộng rãi khắp cả xứ Đàng Trong. Sau lưng chùa, gần giếng của vua Chế Mân có tháp Bạch Hổ.


Tương truyền vào thời hòa thượng Thuật Kiến - Liễu Triệt, có một con cọp trắng ban đêm thường đến chùa nằm cạnh giếng nghe kinh mà không quấy phá gì. Rồi một đêm, hòa thượng nằm mộng thấy một ông già râu tóc trắng phơ xuất hiện thưa với hòa thượng rằng tuổi thọ của con đã mãn và vừa qua đời ở sau lưng chùa, xin nhờ hòa thượng và tăng chúng tụng kinh cầu siêu giúp con. Sáng hôm sau, mọi người thấy xác con cọp trắng nằm chết bên cạnh giếng bèn đem xác chôn ngay trên đồi Long Bích rồi xây một ngôi tháp nhỏ.


Đến nay, những cái giếng của vua Chế Mân để lại tại chùa Thập Tháp vẫn còn nguyên vẹn sau bao binh biến thời cuộc. Giếng được bảo dưỡng và cảo (làm vệ sinh) mỗi năm một lần. Theo các sư ở chùa, nhờ nguồn nước trong và ngọt này mà chùa không lo thiếu nước mỗi mùa hạn hán, dù hạn gay gắt tới đâu giếng vẫn có đủ nước cho nhà chùa dùng.


Nhiều công trình nghiên cứu về giếng Chăm cổ đã khẳng định rằng cư dân  Chăm pa cổ là bậc thầy về chọn mạch nước ngầm để xây dựng giếng. Ngay cả những địa điểm khô cằn rất khó để xác định mạch nước ngầm nhưng họ vẫn xác định đúng địa điểm có mạch nước ngầm tốt nhất để xây dựng giếng.


Theo truyền thuyết người dân trong vùng kể lại, sau vua Chế Mân, vua Chế Bồng Nga (vị vua thứ 3 thuộc vương triều thứ 12 Chiêm Thành) thấy người dân cực khổ khi phải gánh nước ở xa về nhà nên đã cho đào nhiều giếng tương tự như giếng của vua Chế Mân trên đồi Long Bích. Những cái giếng này giờ vẫn còn rải rác và được người dân coi như báu vật cha ông để lại vì nguồn nước trong, ngọt, mát lành.


Tâm Ngọc


Kỳ 6: Giếng đá trong căn cứ địa quân Tây Sơn


Đến thôn Xuân An, xã Cát Minh, H.Phù Cát (Bình Định), hỏi “giếng đá” không ai là không biết.


Với họ, cái giếng vuông từ thời Chăm pa để lại, rồi thời nghĩa quân Tây Sơn sử dụng và đến người dân tiếp nối là một mạch nguồn di sản quý báu.


Dấu tích của đội quân áo vải


Theo tài liệu Giếng vuông ở Bình Định của tác giả Nguyễn Văn Ngọc, giếng vuông còn được gọi là giếng Chàm (Chăm). Bởi nhìn từ miệng xuống dưới đáy là một khối vuông chứ không phải là hình tròn như mọi giếng ở nông thôn hiện đang sử dụng. Từ khi khai sinh lập nghiệp, người Việt đã thấy có giếng này, hơn nữa trước đây vùng đất này một thời trong lịch sử là của cư dân Chăm sinh sống, từ đó dân gian cho rằng giếng loại này là giếng Chàm.


Ở Bình Định, một trong các giếng vuông đặc biệt đã tìm thấy là giếng vuông ở thôn Xuân An, xã Cát Minh, H.Phù Cát. Nói là đặc biệt vì giếng nằm thuộc khu vực di tích Gò Kho - nơi tích trữ lương thực của nghĩa quân Tây Sơn cuối thế kỷ 18. Giếng này đã được nghĩa quân Tây Sơn sử dụng. Giếng vuông ở Xuân An gắn liền với căn cứ địa nghĩa quân Tây Sơn được thành lập ở đây vào năm 1773.


Theo lời kể của những người dân địa phương, dù đây là khu vực ngay sát đầm nước mặn Đạm Thủy, nơi dân cư làm nghề muối, nhưng nước giếng chưa bao giờ bị nhiễm mặn. Ngược lại, khi các giếng khác trong vùng bị khô, nhiễm phèn, mặn thì vị nước giếng đá vẫn ngọt lừ và trong vắt. Bên dưới đáy giếng có đặt một phiến gỗ lớn, dày chừng 10 cm, ngang khoảng 60 cm, dài hơn 100 cm. Theo những người từng cảo (làm vệ sinh) giếng, không rõ miếng gỗ này làm bằng gỗ gì và có tác dụng cụ thể ra sao nhưng trải qua hàng trăm năm, gỗ vẫn không hề bị mục nát, hư hỏng. Khi giở tấm gỗ lên, dưới đáy giếng, những mạch nước phun mạnh lên trên thành vòi.


Chính tại nơi đây, nhờ cái giếng Chăm đặc biệt này, nghĩa quân Tây Sơn đã chọn làm nơi dừng chân lâu dài trong quá trình khởi nghĩa. Gần đó, vẫn còn các di tích như Vườn Cố (là nơi tạm giam lính vi phạm), Bàu Voi (để tắm voi của nghĩa quân Tây Sơn) và Gò Kho (nơi chứa hàng hóa, lương thực của nghĩa quân).


Chuyện tình bên giếng đá


Với hàng ngàn hộ dân quanh vùng Xuân An trước đây, đi gánh nước giếng không chỉ là một công việc thường ngày là lấy nước sinh hoạt. Quanh miệng giếng vuông từng được quân Tây Sơn sử dụng này, còn nảy nở những chuyện tình đẹp.


Bà Trịnh Thị Kim Kha (61 tuổi, ở thôn Xuân An) cười tủm tỉm khi kể lại duyên số của mình với người chồng là ông Đặng Xuân Thanh (62 tuổi): “Nhà tui ở ngay cạnh giếng. Hồi đó, tui thấy ổng đi gánh nước, mà ngày nào cũng gánh, có ngày gánh mấy bận. Sau này, hỏi ra thì ổng nói là để nhìn thấy tui thôi chứ nhà đầy nước rồi”.


Ông Trần Tám (85 tuổi, nhà ở tận thôn Thái Bình, xã Cát Tài, cách Xuân An chừng 10 km) móm mém kể lại câu chuyện của mình: “Hồi xưa, tui làm nghề đánh tranh (cắt cây tranh trên núi về làm lá lợp nhà) cho người dân ở khu này. Có bận đi ngang qua giếng lúc trưa nắng, thấy bả (vợ ông Tám bây giờ) đi gánh nước, tui ghé lại xin nước uống. Từ nhỏ đến lúc đó, tui chưa bao giờ uống được nước giếng nào mà ngọt mát như vậy. Uống mấy dạo như vậy thì thành vợ thành chồng. Có mấy ông bạn làm nghề đánh tranh như tui cũng tìm được vợ nhờ cái giếng này”.


Chị Trần Thị Tịnh (32 tuổi, ở thôn Xuân An, xã Cát Minh, H.Phù Cát) cho biết cái hay của giếng đá là chưa bao giờ bị cạn nước, dù có nắng nóng, hạn hán cỡ nào. “Không chỉ thế, theo người dân ở đây, nước giếng đá còn là nguồn nước quý dành để nấu thứ rượu ngon hảo hạng không thua kém rượu ở làng Bàu Đá (TX.An Nhơn, Bình Định) là bao với hậu vị ngọt rất dễ uống”.


Tuy nhiên, trong 4 năm trở lại đây, khi nhà nhà đã có giếng đóng, giếng khoan thì giếng đá không còn được sử dụng như trước. Giếng đá bây giờ nằm lọt thỏm giữa những mấu đất, cỏ hoang, bên cạnh con đường bê tông mới làm. Mặt giếng phủ một lớp lưới rào chắn B 40 để người đi đường không bị lỡ chân rớt xuống. Bà Trịnh Thị Kim Kha tiếc rẻ: “Giá mà nó được người ta trùng tu, tôn tạo lại cho đẹp đẽ, khang trang chứ nhìn vầy cô quạnh, nghĩ mà thương lắm! Dù gì, nó cũng là di sản quý mà thời cha ông để lại”.


Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định, nhiều giếng vuông hiện còn đang được sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày ở các huyện. Để nỗ lực bảo tồn các giếng Chăm cổ, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đã tiến hành khảo sát, chấm điểm tọa độ các giếng cổ trong tổng thể các di tích khảo cổ học khác trên địa bàn toàn tỉnh, để lập bản đồ số về hệ thống các di tích cần được bảo vệ.


Tâm Ngọc


7: Mắt của rồng thiêng


Giếng cổ Giao San (thôn Thích Chung) được cho là cổ nhất trong số các giếng cổ tại tổng Bá Hạ - Ảnh: Thúy Hằng


13 giếng cổ kể trên nằm rải rác ở 4 thôn Quang Vinh, Thiện Chi, Bá Hương, Thích Chung trong xã (tên cổ trước đây là tổng Bá Hạ). Một người đàn ông tên Nguyễn Văn Chiến, quê ở Thanh Trì, Hà Nội nhưng sống và làm việc ở Bá Hiến gần 10 năm đã thuần thục hết đường lối của vùng đất này nói: “Đang đi đường xa thế này, dù nóng nực thế nào chỉ cần uống một ngụm nước giếng cổ là tỉnh như sáo”.


Cơi nới giếng là nước đục ngầu, chuyển mùi


Anh Chiến đưa chúng tôi tới giếng cổ Giao San ở thôn Thích Chung. Giếng nằm bên một gốc đa cổ thụ, sát đó là cánh đồng lúa và chùa Giao San cổ kính. Bao nhiêu năm qua, các giếng cổ của tổng Bá Hạ xưa vẫn nằm trong tổng thể kiến trúc cây đa - giếng nước - sân đình. Anh Chiến múc nước rồi đổ một chút lên thành giếng, từ đó hiện rõ những chữ Hán được khắc trên đây, được dịch có nghĩa là: Hồng Đức nhị thập thất niên Canh Tuất nguyệt thập ngũ nhật (ngày 15 tháng 10 năm Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27, khoảng năm 1496).


Các cụ cao niên trong xã Bá Hiến kể lại, những năm 1960 có khoảng 7 giếng cổ trong xã bị san lấp, phá bỏ do người dân nghĩ rằng đó là tàn tích phong kiến. 13 giếng còn lại đều có điểm chung trong kiến trúc là lòng giếng hình trụ, xung quanh là đá cuội được xếp tròn trịa, thành giếng hình vuông do 4 tấm đá xanh cao khoảng 1,5 m ghép lại. Các tấm đá xanh này có khắc chữ Hán, mép các phiến đá có hình lượn sóng. Người dân địa phương giải thích có thể từ thời xa xưa, người dân ra giếng để mài dao, liềm và các nông cụ khác, trải qua hàng trăm năm tạo nên những hình lượn sóng độc đáo trên.


Mỗi giếng cổ ở Bá Hiến chỉ sâu tối đa khoảng 4 m, mực nước trong giếng không bao giờ vượt ngưỡng 1 m nhưng chưa bao giờ hết nước. Trong khi đó, những giếng khơi mới được đào trong làng, sâu hơn chục mét, cứ đến mùa khô thì cạn trơ đáy. Điều đặc biệt, nếu chỉ cần cơi nới, mở rộng lòng giếng, ngay lập tức nước trong giếng chuyển màu, có mùi, không thể ăn uống được.


Người dân thôn Thiện Chi đến giờ vẫn còn hú hồn với phen mở rộng giếng làng năm 2008. Giếng cổ đang có nước rất trong, tuy nhiên mực nước hơi nông. Người dân nạo vét giếng, dỡ bỏ những phiến đá ong đá cuội trong lòng giếng ra, nước lập tức đục ngầu, không thể ăn uống được. Người làng hoảng sợ đưa số đá cuội, đá ong xếp trước miếu thờ của làng, ngày rằm mùng 1 thắp hương, khấn vái, mong được điềm lành.


Đá chuyển tới đâu, ở đó cây tươi tốt


Những giếng cổ có hình thù kỳ lạ nhiều thế kỷ qua luôn luôn kích thích sự tò mò của dân làng và khách thập phương. Nhiều người còn đồn đoán trong lòng giếng cất giữ cổ vật, hoặc thậm chí là gỗ quý. Nhiều năm trước, người dân thôn Bá Hương lặn xuống đáy giếng khám phá xem bên trong lòng giếng có gì. Anh Dương Văn Hanh (35 tuổi) nhớ lại, 15 năm trước anh cũng trực tiếp nhìn người làng tham gia tìm “cổ vật” dưới đáy giếng. Tuy nhiên, “cổ vật” đâu chẳng thấy, chỉ mang lên được 2 tảng đá xanh. Kỳ lạ là tảng đá mang đến đâu, ở đó mọc lên những cái cây cao lớn, xanh tốt. Người làng gọi đó là 2 con mắt của rồng thiêng.


Tại thôn Bá Hương còn một chiếc giếng cổ khá đặc biệt khác. Kích thước nhỏ hơn các giếng cổ trong làng, nằm nguyên vẹn trong sân nhà ông Nguyễn Viết Bồng. Ông Bồng ngoài 70 tuổi, không dám xây dựng gì ảnh hưởng đến giếng cổ, sát đó ông còn lập một bàn thờ nhỏ để nhang khói thường xuyên. Người làng kể lại những ngày trăng sáng, đi làm đồng sớm, qua giếng thiêng thấy mặt giếng hắt lên những vệt sáng trắng.


Cho đến nay, hằng năm, cứ vào hội Lệ (ngày 15.3 âm lịch), người dân Bá Hiến lấy nước trong các giếng cổ để tắm tượng trong đình, chùa. Theo đại diện UBND xã Bá Hiến, thời gian qua nhiều đoàn khảo sát di tích đặc biệt ghé vào Bá Hiến, cũng có nhiều người mua cổ vật vào tận làng kỳ kèo, nói với người làng sẽ mua những phiến đá trên thành giếng với giá rất cao nhưng người dân kiên quyết không bán.


Với người dân Bá Hiến, mỗi cái giếng như mắt của làng, phải giữ những con mắt luôn thật trong, thật sáng, không bị vẩn đục, từ đó con cháu trong làng mới học tập, làm việc hanh thông, phát đạt.


Thúy Hằng


8: Giếng 'tắm vua' trên đảo Quan Lạn


Gái Liễu Mai, trai Làng Vân


Đảo Quan Lạn hoang sơ, xinh đẹp với những bãi cát trắng tinh, trải dài cùng những hàng phi lao xanh ngút ngàn. Điện lưới quốc gia, những chuyến tàu cao tốc nối đất liền với đảo chỉ trong 90 phút không làm mất đi vẻ đẹp bình yên vốn có của hòn đảo này. Đặc biệt, nơi đây còn cất giữ bao câu chuyện kỳ bí, liêu trai về những báu vật của làng - trong đó có những giếng cổ hàng trăm năm tuổi.


Giếng làng Liễu Mai (còn gọi là giếng làng Liễu) nằm giữa một khoảnh đất trống của làng, xung quanh dân cư thưa vắng. Trước đây miệng giếng khá lớn, xung quanh là đá tảng, giờ miệng giếng thu hẹp lại, người dân dùng đá xanh xây thành từng bậc quanh miệng giếng để tiện múc nước về dùng.


“Gái Liễu Mai, trai làng Vân”, câu ca xưa ca ngợi con gái làng Liễu dong dỏng cao, tóc dài thướt tha, sắc sảo, đảm đang; trai làng Vân (thôn Thái Hòa) cao lớn, vạm vỡ, buôn bán làm ăn giỏi giang. Hai làng sát nhau. Trai tài, gái sắc, dựng nên Quan Lạn làm ăn thịnh vượng. Người ta bảo được như vậy là nhờ cả vào giếng làng Liễu. Giếng như mắt của làng, phong thủy tốt giúp dân làng làm ăn thuận lợi, còn trai gái làng khỏe mạnh, giỏi giang.


Không được phép lấp giếng


Trong khi làng Liễu chỉ có 1 giếng cổ, thì làng Vân có đến 4 giếng cổ, đến nay còn vẹn nguyên và đã được tôn tạo là: giếng Chổi, giếng Ruộng, giếng Đình, giếng Xóm Bấc. Cả 4 giếng không lúc nào hết nước. Người làng cho hay những cái giếng đều có từ ngày mở làng. Mỗi giếng được dân làng rất coi trọng, dù bao nhiêu năm trôi qua, có thể không còn dùng giếng nước đó đi chăng nữa cũng không bao giờ được phép lấp giếng, đó là việc làm khiến con cháu đời sau lụn bại.


Giếng Chổi nằm ngay trên đường dẫn từ bến tàu Quan Lạn vào sâu trong đảo. Một bên là cánh rừng ngập mặn với bãi sú, cách một con đường đất đỏ là đến giếng. Sân giếng được lát gạch, lòng giếng cũng được làm sạch hằng năm. Người làng kể ngày trước chưa làm đường lớn, nước biển dâng lên sát giếng. Thế mà kỳ lạ, nước giếng vẫn ngọt và tràn trề, đầy ăm ắp. Đi xa về gần, qua giếng Chổi, múc một gàu nước lên uống một hơi, rồi rửa mặt, thấy sảng khoái vô cùng.


Cụ Bùi Văn Vương, 75 tuổi, người dân thôn Thái Hòa, nhà ở gần giếng Chổi, giếng Ruộng từ lúc sinh ra, kể ngày trước không có máy bơm, trai gái trong làng phải tranh thủ sáng sớm hoặc khuya muộn để gánh nước, mang về chứa trong ang sành để dùng dần. Cũng theo lời cụ, vào ngày lễ hội làng Quan Lạn (diễn ra từ ngày 10 đến 20.6 âm lịch), những người có chức sắc trong làng sẽ múc nước từ một trong các giếng cổ trong làng để tắm tượng vua Lý Anh Tông và các vị thần được thờ trong đình làng Quan Lạn. “Nghi thức này được tiến hành cực kỳ trang trọng và được nối tiếp hàng trăm năm qua, không đổi”, cụ Vương nói.


Cách giếng Chổi chừng 500 m là giếng Ruộng, gọi tên như vậy vì nó nằm giữa một cánh đồng bao la. Trước đây bà con Quan Lạn trồng lúa, khoai, sắn nên đây cũng là nguồn cung cấp nước dồi dào cho các mùa trong năm. Bây giờ dân sống ở Quan Lạn đông hơn, nhiều ngôi nhà mọc lên, nhưng giếng Ruộng vẫn được nằm giữa một khoảnh đất rộng, bốn mùa rau xanh, đủ các loại hoa. Mặc dù là đảo nhưng ở Quan Lạn không khó đào được giếng khơi. Cứ đào khoảng 3 m là thấy nước ngọt. Bây giờ hầu như nhà nào cũng đào một giếng trong nhà để lấy nước sinh hoạt, thế nhưng giếng Chổi hay giếng Ruộng đều không ngớt người qua lại để lấy nước về dùng. Người ta còn xây gần giếng Ruộng một cái bể hàng chục mét khối để trữ nước. Máy bơm lắp trực tiếp vào trong giếng, bơm vào bể, từ đây bơm về các hộ gia đình trong làng.


Ông Lưu Thành Viên, Chủ tịch UBND xã Quan Lạn, cho biết việc bảo tồn và tôn tạo giếng cổ như một trọng trách của lãnh đạo xã và người dân trên đảo. Nơi đây ngày càng trở thành một hòn đảo du lịch đông khách, những giếng cổ cũng phải được bảo vệ như những vật báu.


Đảo Quan Lạn rất nổi tiếng với thương cảng Vân Đồn, thương cảng đầu tiên của VN có từ năm 1149. Trên đảo, ngoài quần thể di tích như đình, chùa, miếu tồn tại từ lâu đời còn có đình Quan Lạn, nơi thờ vua Lý Anh Tông (1136 - 1175) , người quyết định thành lập thương cảng Vân Đồn.


Thúy Hằng


 


Thanhnien.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »