tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950723
12.12.2015
Nhiều tác giả
Vài nét về Hồi giáo và chủ nghĩa khủng bố

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo.


Thế giới Hồi Giáo có xu hướng chấp nhận thánh chiến với Mỹ


Sau biến cố 11/9/2001, Tổng Thống Mỹ và một số chính khách Tây Phương đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố - nhưng đồng thời xác định đây không phải là cuộc chiến chống người Ả Rập hoặc chống những người Hồi Giáo. Đối với Osama Bin Ladin và những người theo ông ta thì đây là cuộc chiến tranh tôn giáo - một cuộc chiến tranh của đạo Hồi chống lại những kẻ ngoại đạo (infidels, unbelievers). Và vì thế đương nhiên Hồi Giáo phải chống Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là nước lớn nhất trong thế giới ngoại đạo.


Trong một cuốn băng video được phổ biến trên đài truyền hình ngày 7/10/2001, Osama Bin Ladin nói đến "những điều sỉ nhục mà Hồi Giáo phải chịu trong hơn 80 năm qua". Đó là vào năm 1918, đế quốc Ottoman là đế quốc lớn nhất của Hồi Giáo đã bị Tây Phương đánh bại. Thủ đô Constantinople bị chiếm đóng. Toàn lãnh thổ của đế quốc Ottoman bị Anh và Pháp chia nhau thống trị. Anh chiếm Iraq và Palestine. Pháp chiếm Syria. Anh chia Palestine thành hai nước là Jordan và Palestine. Pháp cũng chia Syria thành hai nước là Lebanon và Syria.


Trong khi đó tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi xuất phát của đế quốc Ottoman - người hùng Mustapha Kemal lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng của "phong trào quốc gia thế tục" (a secular nationalit movement) giải phóng Thổ Nhĩ Kỳ khỏi ách thống trị của Tây Phương nhưng đồng thời cũng loại bỏ vai trò quốc giáo của Hồi Giáo ra khỏi chính quyền.


Đế quốc Ottoman được thành lập từ thế kỷ 13 và bị suy tàn vào đầu thế kỷ 20. Trong suốt 7 thế kỷ hưng thịnh, vị hoàng đế của đế quốc Ottoman cũng là người đứng đầu giáo phái Sunni của toàn thế giới Hồi Giáo (chiếm 80% tổng số tín đồ Hồi Giáo). Vua Hồi Giáo (Sultan) cũng là người kế vị giáo chủ Mohammad trong vai trò lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo, được gọi là Caliph. Nhưng cuộc cách mạng của Mustapha Kemal đã chính thức hủy bỏ "chế độ Caliph" (caliphage) trong tháng 3-1924.


Nhiều người Hồi Giáo cảm thấy đau đớn về điều này vì "chế độ calyph" tượng trưng cho sự thống nhất của Hồi Giáo từ nay không còn nữa.


Ngày 23/2/1998, tờ nhật báo bằng tiếng Ả Rập xuất bản tại Luân Đôn đã đăng "Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thế Giới Hồi Giáo kêu gọi Thánh Chiến chống Do Thái và Thập Tự Quân" có chữ ký của Osama Bin Ladin và những người lãnh đạo các nhóm Thánh chiến ở Ai Cập, Pakistan và Bangladesh. Bản tuyên ngôn mở đầu bằng các lời trích dẫn từ kinh Koran hoặc lời của tiên tri Muhammad. Bản tuyên ngôn kể ra ba tội chính của Hoa Kỳ:


Thứ nhất: Trong hơn 7 năm qua, Hoa Kỳ đã chiếm đóng đất thánh thiêng liêng nhất của Hồi giáo là Arabia, cướp phá tài nguyên và sỉ nhục nhân dân nước này. Hơn nữa, Hoa Kỳ xử dụng Arabia làm nơi xuất phát các cuộc chiến tranh chống các nước láng giềng Hồi Giáo.


Thứ hai: Hợp tác với đồng minh Do Thái, Hoa Kỳ đã gây chiến với Iraq làm thiệt mạng trên một triệu người. Sau đó Hoa Kỳ còn bao vây kinh tế nước này một thời gian lâu dài.


Thứ ba: Mục tiêu chính của Hoa Kỳ là chiến tranh tôn giáo và kinh tế. Rõ rệt nhất là quyết tâm của Hoa Kỳ hủy diệt Iraq là nước lớn nhất trong các nước Ả Rập. Hoa Kỳ âm mưu gây chia rẽ và làm suy yếu các nước Saudi Arabia, Ai Cập, Sudan để tạo điều kiện sống còn cho Israel và sự tiếp tục chiếm đóng của Thập Tự Quân tại các vùng đất của Hồi Giáo.


Bản tuyên ngôn kết luận: Rõ ràng Hoa Kỳ là kẻ đã chống lại Allah, chống lại tiên tri của Ngài và các tín đồ Hồi Giáo. Do đó, Thánh chiến đã trở thành một bổn phận cá nhân (a personal duty) của mọi người Hồi Giáo.


Phần cuối cùng, cũng là phần quan trọng nhất của bản tuyên ngôn, kêu gọi toàn thể tín đồ Hồi Giáo "hãy giết người Mỹ và đồng minh, kể cả dân sự lẫn quân sự, là nghĩa vụ cá nhân của mọi tín đồ Hồi Giáo tại mọi quốc gia" (to kill Americans and their allies, both civil and military, is an individual duty of every Muslim who is able, in any country where there is possible).


Sau khi nêu lên nhiều câu thơ trong kinh Koran, bản tuyên ngôn kêu gọi tiếp như sau: "Do được Thiên Chúa cho phép, chúng tôi kêu gọi mọi tín đồ Hồi Giáo có lòng tin nơi Thiên Chúa và sẵn sàng tuân lệnh của Ngài hãy giết bọn Mỹ và cướp phá tài sản của chúng ở bất cứ nơi nào họ thấy và bất cứ khi nào có thể làm được. Chúng tôi cũng kêu gọi các học sĩ và các vị lãnh đạo, các thanh niên và các chiến sĩ hãy tấn công quân đội Mỹ và đồng minh của chúng". (By God's leave, we call on every Muslim who believes in God and hopes for reward to obey God's command to kill the Americans and plunder their possessions wherever he finds them and wherever he can. Likewise we call on the Muslim ulema and leaders and youth and soldiers to launch attacks against the armies of the American devils and against those who are allied with them...)


Điều bất lợi cho Hoa Kỳ là dư luận rộng rãi trong thế giới Hồi Giáo chấp nhận quan niệm cho rằng Hoa Kỳ là kẻ chủ mưu xâm lấn Iraq. Trước khi kết thúc, bản tuyên ngôn còn trích dẫn nhiều câu thơ trong kinh Koran và nhiều lời nói của tiên tri Muhammad kêu gọi Thánh chiến bằng những hành vi bạo động hoặc quân sự. Phần đông các tín đồ Hồi Giáo ngày nay có xu hướng tán thành bản tuyên ngôn kêu gọi Thánh chiến chống Hoa Kỳ.


Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ là một siêu cường về nhiều mặt trên thế giới. Các đồng minh của Hoa Kỳ như Anh Quốc và Israel cũng là những cường quốc quân sự. Trong khi đó, tuyệt đại đa số các tín đồ Hồi Giáo đều thuộc thế giới thứ ba gồm các nước nghèo như Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, các nước Ả Rập, Phi Châu và Trung Á. Nạn nghèo đói và thất học là hai căn bệnh trầm kha của thế giới đạo Hồi. Do đó, để thực hiện cuộc thánh chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh, thế giới Hồi Giáo không thể chọn con đường nào khác hơn là chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một hình thức chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.


Chủ nghĩa khủng bố có liên hệ mật thiết với giáo lý đạo Hồi


Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo! Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận. Do đó, vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chủ nghĩa khủng bố có liên hệ với giáo lý đạo Hồi?


Từ các tổ chức khủng bố nhỏ ở Saudi Arabia, Ai Cập, Nam Dương, Philippines, Palestine cho đến tổ chức khủng bố lớn như Al-Qaida có tầm hoạt động quốc tế, tất cả đều tự xưng là những tín đồ của đạo Hồi chính thống (authentic Islam). Tất cả đều "thánh hóa" các hành vi khủng bố của mình bằng cách dẫn chứng những câu thơ trong kinh Koran hoặc những lời nói của giáo chủ Muhammad trong các sách Hadiths.


Ngày 14/2/1989, giáo chủ Khomenei tuyên án tử hình nhà văn Anh Quốc gốc Ấn Độ, tác giả cuốn tiểu thuyết "The Satanic Verses" có nội dung phỉ báng tiên tri Muhammad và treo giải thưởng 3 triệu đô la cho ai giết được nhà văn này.


Cả thế giới Tây Phương đều lên án hành động của giáo chủ Khomenei. Trong khi đó, thế giới Hồi Giáo cho hành động của Khomenei là hợp với tiêu chuẩn của đạo Hồi. (a standard Islamic practice) vì trong sách Hadith có chép lời tiên tri Muhammad như sau: "Nếu có kẻ nào nhục mạ ta mà tín đồ nghe thấy thì hãy giết nó ngay lập tức" (If anyone insults me, then any Muslim who hears this must kill him immediately" (The Crisis of Islamn, by Bernard Lewis - The Modern Library 2003 - page 141)


Các tổ chức khủng bố của đạo Hồi không phải mới xuất hiện trong thời gian gần đây mà thực sự đã xuất hiện từ thế kỷ 11 tại Iran và Syria. Đó là tổ chức Assassins, bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Hashishiyya - có nghĩa là những kẻ hút ma túy (hashish takers). Tổ chức khủng bố Assassins đã gây kinh hoàng khắp Trung Đông trong hai thế kỷ, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, với chủ trương tiêu diệt bất cứ ai muốn cải tổ xã hội Hồi Giáo. Có thể nói tổ chức khủng bố Assassins là tiền thân và là khuôn mẫu cho các tổ chức khủng bố của Hồi Giáo hiện nay.


Tuy nhiên, khác với các tổ chức khủng bố thời xưa, các tổ chức khủng bố ngày nay rất coi thường sự sát hại các thường dân vô tội. Hơn thế nữa, dường như họ coi các thường dân vô tội là mục tiêu chính bởi lẽ càng có nhiều nạn nhân chết trong một vụ khủng bố họ càng đạt được tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng và càng gây được sự sợ hãi cho đối phương. Họ coi đó là một chiến thắng về tâm lý (apsychological victory). Điển hình là vụ tổ chức Al-Qaida cho nổ bom tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Đông Phi năm 1998 nhằm giết hại 12 nhà ngoại giao Mỹ, nhưng vụ khủng bố này đã làm thiệt mạng trên 200 người vô tội gồm hầu hết là người Hồi Giáo Phi Châu. Ngay sau đó, các báo Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập đều gọi các nạn nhân vô tội này là "các thánh tử đạo" và tán tụng rằng: "Allah đã tập họp các thánh tử đạo trên nước thiên đàng!"


Bắt đầu từ thập niên 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức ôm bom tự sát (suicide bombing). Các vụ khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Hizbulla ở Palestine và Li Băng nhằm chống Israel. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Họ được hứa hẹn hai điều: một là được lên thiên đàng hưởng thú nhục dục với 72 cô gái đẹp đến muôn đời. Hai là thân nhân của họ được trợ cấp một số tiền lớn.


Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên được tuyển lựa trong số những người Kurk ở Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1996-1999 và tại Palestine trong năm 2002.


Giáo lý Hồi Giáo từ xa xưa vốn coi hành đông tự sát là một trọng tội và kẻ tự sát sẽ bị phạt bằng lửa hỏa ngục. Nhưng ngày nay, hành vi ôm bom tự sát lại được các giáo sĩ Hồi Giáo giải thích là sự hy sinh trong cuộc Thánh chiến nên người tự sát phải được coi là "thánh tử đạo"! Giáo chủ Hồi Giáo Ai Cập Yousef Quaradawi tuyên bố: Mọi người chết vì tham gia thánh chiến đều là tử đạo vì thánh chiến là một bổn phận và là một điều răn tôn giáo (a religious commandment).


Sau biến cố 9-11, giới trí thức Hoa Kỳ không xét đoán Hồi Giáo qua hành động của các nhóm khủng bố, nhưng xét đoán Hồi Giáo qua những điều được thuyết giảng trong kinh Koran, trong truyền thống Hồi Giáo (Islamic tradition) và trong các học thuyết của các nhóm Hồi Giáo cực đoan:


1. Kinh Koran: Nếu hình ảnh Thiên Chúa trong Cựu Ước của đạo Do Thái là một vị thần Chiến Tranh (God of War) thì hình ảnh Thiên Chúa Allah trong kinh Koran là một vị thần của sự kinh hoàng (God of Terror) vì thiên chúa Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoại đạo:


"Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng". (I will cast terrors into the hearts of those who disbelieve. Therefore, trike of their heads and strike off every fingertips of them - Koran 8:12).


Kinh Koran của đạo Hồi cũng như Cựu Ước của đạo Do Thái và Tân Ước của đạo Ki Tô đều qui các kẻ thù của đạo mình thành kẻ thù của Thiên Chúa (enemies of God). Nói chung, các tôn giáo độc thần đều có ý tưởng cho rằng Thiên Chúa có kẻ thù và Ngài cần có sự giúp đỡ của các tín đồ để chống lại những kẻ thù đó. Do đó, chiến đấu chống kẻ thù của tôn giáo mình là chiến đấu cho Thiên Chúa hoặc chiến đấu theo con đường của Ngài (fighting in the path of God).


Điều nguy hiểm đáng chú ý là kinh Koran xúi giục các tín đồ Hồi Giáo giết người ngoại đạo (kẻ thù của Thiên Chúa) mà không phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này vì đó là việc Thiên Chúa làm. Kinh Koran xác nhận: "Không phải các con đã giết chúng mà Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã dẹp tan chúng" (You did not slay them but it was God who slew them. You did not smite when you smote the enemy but it was God who smote - Koran 8:17).


2. Truyền thống Hồi Giáo (Islamic Tradition). Truyền thống Hồi Giáo được tạo thành do các sách Hadiths và các sách Sunnas. Hadiths ghi chép các lời nói và hành động của Muhammad. Sunna là sách sưu tầm các bài giảng nổi tiếng của các giáo sĩ Hồi Giáo qua nhiều thế kỷ. Truyền thống Hồi Giáo đã hình thành những quan niệm đặc biệt trong đời sống của các tín đồ.


Một trong những quan niệm đặc biệt mang tính chất cực đoan nguy hiểm của đạo Hồi là Đạo Hồi chia thế giới thành hai khu vực:


- Khu vực Hồi Giáo (Dar al-Islam/Land of Islam), còn được gọi là Nền Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Các nước Hồi Giáo đều trở thành anh em nên không được đánh phá lẫn nhau. Khu vực Hồi Giáo phải được sống trong hòa bình.


- Khu vực ngoại đạo (Dar al-Harb/Land of unbelievers) được kinh Koran định nghĩa là khu vực của những kẻ "theo sự sai lầm". Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù! (The unbelievers follow falsehood. When you meet the unbelievers in the battlefield, strike off their heads or make them prisoners - Koran 47: 4).


Nhiệm vụ của thế giới Hồi Giáo là phải truyền bá đạo Hồi đến toàn thể nhân loại bằng mọi phương tiện kể cả chiến tranh. Mục tiêu của đạo Hồi là sự nhận biết về Thiên Chúa Allah bao trùm trái đất như nước bao trùm đại dương (Islam's aime is that the knowledge of God should cover the earth as the waters cover the ocean).


Các nước Hồi Giáo quan niệm tôn giáo và chính trị là một, do đó luật pháp Hồi Giáo (sharia) luôn luôn chi phối mọi khía cạnh của đời sống toàn dân. Các ý niệm về "dân chủ" và "nhân quyền" là những điều xa lạ trong các nước Hồi Giáo. Hầu hết các nước Hồi Giáo đều ngăn cấm dân của họ đổi đạo với những hình phá hết sức nặng nề.


- Tại Maroc: Ai bỏ đạo Hồi để theo đạo khác sẽ bị phạt tử hình. Kẻ dụ dỗ tín đồ Hồi Giáo bỏ đạo bị phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù.


- Luật Pháp của xứ Saudi Arabia khẳng định: Không thể có hai tôn giáo trên bán đảo Ả Rập. Do đó, việc thiết lập bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đều bị cấm chỉ tại Saudi Arabia.


- Tại xứ Hồi Giáo Sudan, trong thập niên 1990, hơn hai triệu người Ki Tô Giáo da đen đã bị sát hại.


- Luật pháp Iran qui định hình phạt tử hình đối với ai bỏ đạo Hồi để theo đạo Ki Tô.


Quả thật thần học Hồi Giáo đã mang lại những hậu quả nguy hiểm chết người (the lethal consequences) cho những người ngoại đạo. Vì thế nhiều người đã coi Hồi Giáo như một tôn giáo của sự khủng bố (a religion of terror) và kinh Koran như một cuốn sách của tử thần (the book of Death). Theo sự ước lượng của các chuyên viên chống khủng bố thì các thành phần cực đoan chỉ chiếm 15% trong tổng số các tín đồ Hồi Giáo mà thôi. Tuy nhiên, tổng số tín đồ 15% có nghĩa là trong thế giới Hồi Giáo hiện có 200 triệu kẻ sát nhân sẵn sàng phạm tội ác chống lại nhân loại!


Charlie Nguyễn/ sachhiem.net/ hoangdungtranFB


Khủng bố IS, họ là ai và muốn gì?


Khủng bố IS - “quái thai” của Hồi giáo đương đại


Nhiều vụ khủng bố trong thời gian gần đây đã gắn với cái tên tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) hoặc những “đàn em” của nó. IS là ai và muốn gì? Sự ra đời của tổ chức khủng bố tàn bạo này diễn ra như thế nào?


Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) cũng như hết thảy các tổ chức Hồi giáo thánh chiến khác (Al-Qaeda, Jihad Islami...) có chung một nền tảng tư tưởng là “Hồi giáo nguyên gốc” (tiếng Ả Rập là “Wusouliya”).


Chủ thuyết “Hồi giáo nguyên gốc” được cho là do Mohammed Ben Abdu al-Wahab khởi xướng vào giữa thế kỷ XVIII, tại vùng lãnh thổ ngày nay là Vương quốc Saudi Arabia. Bởi thế, còn được gọi là “chủ thuyết Wahabiya”.


Tín đồ cực đoan nhất


Nội dung căn bản của chủ thuyết là phải khôi phục đạo Hồi theo đúng nguyên gốc của tôn giáo này khi ra đời từ thế kỷ thứ VII, với vị “giáo chủ” khởi tổ là tiên tri Mohammed - người được ghi nhận trong Quran (kinh thánh của đạo Hồi) là “Sứ thần của Thánh Allah”.


Cốt lõi của việc khôi phục “tính nguyên gốc” của đạo Hồi là phải thực thi nguyên bản mọi “lời của Thánh Allah” đã được ghi lại tại kinh Quran, mà thế giới Hồi giáo ngày nay về nguyên tắc vẫn coi là “bất di bất dịch”!


Với các nhóm thánh chiến thuộc dòng Hồi giáo Suna thì ngoài Quran còn có một trước tác kinh điển nữa là “Al-Hadith”. Al-Hadith ghi lại mọi lời nói và hành động của tiên tri Mohammed trong thời gian trị vì thể chế Hồi giáo đầu tiên hồi thế kỷ thứ VII.


Al-Hadith cũng là “sách thiêng” bất khả xâm phạm. Mọi lời nói và hành động của Mohammed được ghi lại trong trước tác này đều được coi là “tuyệt đối đúng” mà tất cả tín đồ Hồi giáo ngoan đạo đều phải noi theo.


IS bám vào Quran và al-Hadith để diễn giải rằng nghĩa vụ mà “Thánh Allah giao cho” chúng là phải bắt cả thế giới này quay về với Hồi giáo. Rằng Islam là tôn giáo duy nhất mà Allah đã ban xuống cho nhân gian, không có tôn giáo - tín ngưỡng nào khác và cũng không thể là thế tục (vô thần).


Cũng bám vào Quran và al-Hadith, IS vững tin rằng để khôi phục “thế giới Hồi giáo toàn tòng”, chúng có quyền sử dụng mọi biện pháp, từ truyền đạo ôn hòa đến áp đặt đức tin, dùng vũ lực để buộc những người không phải Hồi giáo (mà chúng gọi chung là “ngoại đạo”) phải từ bỏ tôn giáo - tín ngưỡng của họ, cải sang Hồi giáo.


Cũng viện dẫn và lý giải từ Quran và al-Hadith, IS và các tổ chức thánh chiến khác coi tất cả những người “ngoại đạo” là kẻ thù không thể dung hòa.


 Các triết gia của chủ thuyết “thánh chiến” còn xếp các loại kẻ thù này theo thứ bậc từ cao đến thấp như: vô thần (từ được dùng trong Quran là “Mulhed”), rồi đến các loại “dị giáo” (mà các học giả Hồi giáo nguyên gốc xếp cả Phật giáo vào loại này).


“Gần gũi nhất” với Hồi giáo là Do Thái giáo và Ki tô giáo. Nhưng cũng chính vì sự gần cận về địa lý mà lại đối nghịch về Thánh/Chúa nên IS coi hai tôn giáo kia là kẻ thù không đội trời chung.


Sự sắp xếp thứ hạng này được Osama Bin Laden vận dụng cụ thể trong cuộc “thánh chiến” ở Afghanistan hồi thập niên 1980.


Vì “Mulhed” là “ghê tởm nhất”, nên al-Qaeda hợp tác với Mỹ và phương Tây (Thiên Chúa giáo) để đánh Liên Xô. Mỹ khi ấy không nhận thức được tính chất thuần túy tôn giáo trong hành động “hợp tác” của Bin Laden, cứ tưởng al-Qaeda cũng là đồng minh chính trị “chống cộng sản”.


“Thánh chiến” và tử vì đạo


Nếu “nguyên gốc” là nền tảng tư tưởng và mục tiêu lý tưởng của các tổ chức Hồi giáo như IS, al-Qaeda, thì “Jihad” là nguyên tắc hành động của các tổ chức này.


“Jihad” tiếng Ả Rập đã được ghi nhận trong Quran từ thế kỷ thứ VII. Người Ả Rập ngày nay diễn giải “Jihad” theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng nói chung đều được hiểu là sự nỗ lực cống hiến tột cùng của một tín đồ Hồi giáo để phụng sự sự nghiệp của Allah.


Các học giả của Hồi giáo nguyên gốc nâng “Jihad” thành một chủ thuyết gọi là “thánh chiến”, bởi họ coi chiến đấu, hi sinh thân mình vì sự nghiệp của Allah là hành vi cống hiến cao cả nhất. Bởi thế, ngày nay nếu coi “Jihad” đồng nghĩa với “thánh chiến” cũng là phải lẽ.


Để tôn vinh và khích lệ tinh thần “Jihad”, ngay từ thời sơ khai của đạo Hồi đã có những luật lệ ban thưởng cả về vật chất và tâm linh cho những người đã “tử vì đạo” (tiếng Ả Rập là “Shaheed”). Quran quy định ban thưởng cao nhất cho các “Shaheed”.


Họ được “mặc nhiên lên thiên đàng”, không phải trải qua “sự phán xét sau khi chết”.


Đó là một phần thưởng tâm linh siêu phàm mà mọi tín đồ ngoan đạo đều cầu mong, mơ ước suốt cả cuộc đời. Gia tộc của các “Shaheed” đều được cộng đồng tôn trọng, kính nể. Vợ con của “Shaheed” được phụng dưỡng suốt đời.


Ngày nay, IS vẫn thực thi nghiêm túc những “chính sách” như thế với các chiến binh của chúng đã tử trận. Đây là một trong những lý do khiến các tay súng IS, al-Qaeda khi đã “thấm nhuần lý tưởng thánh chiến” thì chết không còn là nỗi sợ với chúng nữa. Ngược lại, đó còn là “một vinh hạnh cao cả nhất” - hi sinh vì “sự nghiệp của Allah”!


IS và các tổ chức theo Hồi giáo nguyên gốc dùng “Jihad” là phương tiện hữu hiệu tạo nên sức mạnh man dã của các chiến binh.


Chúng lại viện dẫn Quran và al-Hadith để biện minh cho những hành động bạo lực cực kỳ man dại đối với bất cứ ai mà chúng coi là “kẻ thù của Hồi giáo”.


Những hành động như thế được IS coi là “trừng phạt kẻ thù của Allah”. Với chúng, không có một giới hạn nào cho các hành động “trừng phạt kẻ thù”. Bởi thế, ngày nay các tổ chức Hồi giáo tự xưng là theo chủ thuyết “Jihad” đều nổi tiếng bởi những hoạt động mà thế giới xếp vào loại “bạo lực khủng bố”.


IS tự nhận, và cũng được nhiều nhóm thánh chiến khác coi là “nghiêm túc nhất” trong thực thi giáo luật (Sharia) và “điển hình nhất” trong thánh chiến.


Đã có quá nhiều thông tin về việc IS áp đặt các quy định khắc nghiệt đối với cư dân trong những khu vực do chúng kiểm soát ở Syria và Iraq.


Các hành vi trừng phạt tội phạm một cách man rợ cũng được chính IS “phô trương” trên Internet cho bàn dân thiên hạ “chiêm ngưỡng”.


Đàn ông không để râu cằm tự nhiên và phụ nữ không mặc Hijab trùm kín toàn bộ thân thể phải bị đánh đòn bằng roi da.


Đàn ông hay đàn bà mắc tội “hủ hóa” (giao cấu không có hôn thú) thì bị ném đá cho đến chết. Kẻ trộm đều bị chặt tay. Kẻ nào bị kết tội “phản thánh” thì bị tử hình bằng các hình thức như treo cổ hoặc cắt tiết.


Những hình thức trừng phạt tội phạm này đều được ghi trong giáo luật Sharia, mà một số hình phạt mang dáng dấp của những điển cố có ghi trong Quran.


Với một nền tảng tư tưởng thuần túy tôn giáo rập khuôn những điều đã có từ cách nay hơn 14 thế kỷ, IS thật sự là một thực thể dị biệt trong nhân loại văn minh và cũng là một quái thai của Hồi giáo đương đại!


Nội dung trên lá cờ đen của IS:


Chữ to màu trắng trên nền đen: “La Ilah Ilallah”, nghĩa là: “Không có thánh nào ngoài Allah!”. Chữ nhỏ hơn trong vòng tròn trắng: “Mohammed Rasoullah”, nghĩa là: “Mohammed là sứ thần của Allah!”.


IS đâu phải bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống


Sự kiện tuyên bố ra đời “Nhà nước Hồi giáo” vào ngày 29-6-2014, tại thành phố Mosul ở miền bắc Iraq, chỉ là tiếng “sấm rền” khiến toàn thế giới bàng hoàng và buộc nước Mỹ của Barack Obama phải quay lại Trung Đông!


Từ con đẻ của al-Qaeda thành “Nhà nước Hồi giáo”


Hồ sơ của Cục Tình báo trung ương Mỹ về thủ lĩnh của IS - Abu Bakr al-Baghdadi - cho thấy al-Baghdadi gia nhập tổ chức al-Qaeda Iraq từ năm 2004, khi Osama Bin Laden mới đưa được “chi nhánh” của tổ chức khủng bố này vào Iraq để trực diện đánh Mỹ.


Thủ lĩnh al-Qaeda Iraq thời ấy là Abu Musab al-Zarqawi (người Jordan). Chỉ một năm sau, al-Baghdadi bị quân đội Mỹ, khi ấy còn chiếm đóng Iraq, bắt giam. Nằm bóc lịch đến năm 2009 thì al-Baghdadi được trả tự do. Khi al-Baghdadi ra tù, tổ chức al-Qaeda Iraq đã hầu như bị Mỹ xóa sổ và bản thân al-Zarqawi bị Mỹ tiêu diệt từ năm 2006.


Năm 2010 bỗng nhiên xuất hiện tại địa bàn tỉnh al-Anbar (miền tây Iraq - lãnh địa của dòng Hồi giáo Sunni) một danh xưng mới - “Nhà nước Hồi giáo tại Iraq” mà thủ lĩnh lúc này chính là Abu Bakr al-Baghdadi.


Tuy nhiên, trong hoàn cảnh quân đội Mỹ khi ấy chưa rút khỏi Iraq, tổ chức này hầu như chưa thể hoạt động gì hơn là duy trì sự tồn tại trong bí mật.


Cuối năm 2011, tận dụng cuộc nổi dậy tại Syria, al-Baghdadi cử một trợ thủ đắc lực là Abu Mohammed al-Golani sang Syria tìm chỗ đứng chân cho “Nhà nước Hồi giáo tại Iraq”. Nhưng al-Golani phản chủ, tự liên lạc với Ayman al-Zawaheri - thủ lĩnh mới của al-Qaeda đang lẩn khuất ở vùng biên giới Afghanistan - Pakistan, để lập ra “Mặt trận Nusra” theo đường lối của al-Qaeda.


Tháng 4-2012, al-Baghdadi trực tiếp nhảy sang Syria với vai trò thủ lĩnh của tổ chức mới có danh xưng là “Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Sham” (Sham là vùng lãnh thổ trong lịch sử Hồi giáo bao gồm Syria, Liban, Jordan và Palestine hiện nay, được phương Tây dịch sang tiếng Anh là Levant).


Tổ chức này được truyền thông phương Tây gọi tắt là ISIL. Khi ấy, ISIL tập trung xây dựng lực lượng và hình thành căn cứ địa tại vùng đông bắc Syria.


ISIL cứ thế phát triển nhanh chóng tại Syria cho đến khi (tháng 4-2013) tổ chức này chiếm được thành phố Raqqa - thủ phủ của tỉnh cùng tên ở đoạn giữa miền bắc Syria (giáp với Thổ Nhĩ Kỳ) để trở thành “thủ đô” của “Nhà nước Hồi giáo” do al-Baghdadi đứng đầu.


Mặt khác, ISIL không ngừng khuấy động ở căn cứ địa truyền thống của họ là khu vực Sunni của Iraq. Thời gian này Mỹ đã rút hết hoàn toàn khỏi Iraq (từ cuối năm 2011).


Chính quyền Iraq do dòng Shiite kiểm soát gây bất bình nghiêm trọng cho lực lượng Sunni, khiến nổ ra không ít cuộc xung đột nóng mang tính tranh chấp giữa hai dòng Hồi giáo này.


ISIL được một số thế lực Sunni lợi dụng như “một lực lượng vũ trang địa phương” bảo vệ cho người Sunni, chống Chính phủ Baghdad. Đó chính là “nền tảng chính trị - xã hội” để ISIL mở chiến dịch đánh chiếm ba tỉnh miền bắc Iraq chỉ trong tháng 6-2014.


Ngày 29-6-2014, “Nhà nước Hồi giáo” - IS tự xưng tuyên bố “thành lập” trên khu vực lãnh thổ rộng lớn, từ vùng nông thôn phía đông của thành phố Aleppo của Syria sang đến vùng phía tây của tỉnh Diyala ở đông bắc Iraq.


Thủ lĩnh của IS, tiến sĩ thần học Hồi giáo Abu Bakr al-Baghdadi - Ảnh: AFP


Abu Bakr al-Baghdadi sinh năm 1971 tại thành phố Samara thuộc tỉnh Diyala ở đông bắc Iraq. Quê hương của al-Baghdadi là một trong bốn tỉnh lãnh địa truyền thống của dòng Hồi giáo Sunni Iraq. Al-Baghdadi vốn thừa hưởng dòng máu ngoan đạo và có chí hướng cực đoan.


Khi hoạt động trở lại vào năm 2010, al-Baghdadi đã bộc lộ rõ tham vọng trở thành một thủ lĩnh thánh chiến.


Việc ra đời danh xưng “Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Sham” (ISIL) hồi đầu năm 2012 thể hiện rõ tham vọng của thủ lĩnh khủng bố trẻ tuổi này. Tham vọng đó là “nâng cấp al-Qaeda” từ một tổ chức, một phong trào thánh chiến lên thành “một nhà nước Hồi giáo” - điều Osama Bin Laden nung nấu cả đời mà chưa đạt được.


Ngay từ khi ấy, al-Baghdadi đã tự coi mình là thủ lĩnh của al-Qaeda, kế tục vai trò thủ lĩnh của Bin Laden.


Tên này công khai cưỡng lại các giáo lệnh của Ayman al-Zawaheri về việc phải sáp nhập với Mặt trận Nusra, hoặc phải rút về hoạt động tại Iraq, để Syria lại cho Nusra. Al-Baghdadi thẳng thừng bác bỏ vai trò thủ lĩnh của al-Zawaheri.


Quá trình tranh chấp đó cho thấy thế vượt trội của al-Baghdadi so với các “đối thủ” cùng là trùm khủng bố. Thế giới chứng kiến sự lan tràn nhanh chóng và rộng rãi đáng ngạc nhiên của IS tại nhiều khu vực khác nhau từ Tây Phi sang tới Nam Á.


Thật ra, dường như IS chỉ tự thiết lập được một căn cứ mới ở Libya, khi hồi tháng 4 năm nay “Nhà nước Hồi giáo” chiếm được thành phố Sert (quê hương của Muamar Gaddafi) ở đoạn giữa miền duyên hải phía bắc nước này.


Còn ở những nơi khác, nhiều nhóm thánh chiến vốn đã hoạt động tại các quốc gia khác nhau trước khi IS ra đời, đã phân hóa và những bộ phận cực đoan nhất tách ra để tuyên bố “suy tôn thủ lĩnh al-Baghdadi”.


Ở Nam Á (gồm cả Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ) có danh xưng “Khorasan” (không phải Khorasan ở Syria - đồng minh của Nusra).


Tại Sinai của Ai Cập, nhóm Ansar Beit al-Moqaddas (tự nhận gây ra vụ máy bay Nga ngày 30-10 khiến 224 người thiệt mạng) cũng đã gia nhập IS. Tổ chức Boko Haram khét tiếng hoạt động ở đông bắc Nigeria cũng suy tôn al-Baghdadi làm thủ lĩnh...


Những người ủng hộ IS coi tổ chức này là “nghiêm túc nhất” trong thực thi giáo luật Sharia, “điển hình nhất” trong thánh chiến và “hiệu quả nhất” trong “tiêu diệt các kẻ thù của Hồi giáo”!


Thậm chí những người ủng hộ al-Baghdadi còn tung tin rằng chính Bin Laden (trước khi bị giết) đã giao trách nhiệm cho nhân vật này xây dựng một nhà nước Hồi giáo.


Ngày 5-7, một video clip tung lên mạng “Akhbar al-Jihadeen” (Thông tin thánh chiến) cho thấy hình ảnh của Abu Bakr al-Baghdadi xuất hiện trong trang phục giáo sĩ màu đen tại đại giáo đường ở Mosul một ngày trước đó.


Tại đây, Al-Baghdadi tự xưng “Khaleefa” (người kế tục sự nghiệp của sứ thần Mohammed) với tước hiệu là Ibraheem. “Khaleefa Ibraheem” dõng dạc kêu gọi “Hỡi tất cả các tín đồ (Hồi giáo), hãy vâng lời ta như ta đã dạy các ngươi vâng lời thánh”!


Video clip cho thấy al-Baghdadi có trình độ thuyết giảng như một Imam thực thụ. Suốt 21 phút thuyết giảng không có giấy tờ, với nhiều câu trích dẫn nguyên văn Quran. Phát âm đúng giọng Ả Rập chính thống mà chỉ những người học vấn cao siêu mới thể hiện thuần thục.


Sự xuất hiện công khai được ghi hình của al-Baghdadi cho thấy nhân vật này không chỉ là một thủ lĩnh chiến binh đơn thuần, mà thật sự là một trí thức Hồi giáo có đẳng cấp cao. Hoàn toàn đúng như vậy, bởi al-Baghdadi có bằng tiến sĩ thần học Hồi giáo của Đại học Baghdad - một đại học danh tiếng hàng đầu của Iraq.


Con đường máu đến “thiên đường” của IS


“Tàn bạo”, “rùng rợn”, “man rợ”, “khủng khiếp”... Ngôn từ dường như không đủ để mô tả những tội ác kinh hoàng mà nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) đã thực hiện trong năm 2014-2015.


“Ai từng tham gia thánh chiến đều biết đó là con đường bạo lực, thô bạo, khủng bố và thảm sát”. Chiến lược gia Hồi giáo cực đoan Abu Bakr Naji đã viết như thế trong cuốn sách The management of savagery (Điều khiển sự man rợ), xuất bản trên Internet năm 2014.


Đó là tác phẩm “gối đầu giường”, là chiến lược hành động của các nhóm khủng bố Hồi giáo, trong đó có Al-Qaeda.


Xuất phát điểm chỉ là một chi nhánh của Al-Qaeda, nhưng IS thấm nhuần “giáo lý” của Abu Bakr Naji và vượt xa Al-Qaeda về mức độ hung bạo và man rợ. Ngay cả các thủ lĩnh Al-Qaeda cũng từng lên tiếng phê phán cơn khát máu vô độ của IS.


Cơn khát máu vô độ của IS


Hồi tháng 6-2015, báo cáo viên Liên Hiệp Quốc Ben Emmerson khẳng định IS vi phạm tội ác chiến tranh, tội diệt chủng và tội ác chống lại loài người “trên quy mô công nghiệp”.


Nhưng theo các chuyên gia chống khủng bố quốc tế, IS không đơn thuần là tổ chức tập hợp những kẻ điên rồ, đam mê cuồng sát. Trên thực tế, sự tàn bạo khủng khiếp giúp IS quảng bá hình ảnh khắp thế giới, từ đó thu hút hàng chục nghìn phần tử cực đoan từ vô số quốc gia.


Điều khiển sự man rợ có nghĩa là tận dụng sự man rợ. Trong cuốn sách The state of terror (Nhà nước khủng bố), giảng viên ĐH Harvard Jessica Stern và học giả Viện Brookings J.M. Berger chỉ rõ rằng IS tắm máu để lôi kéo, dụ dỗ những thanh niên Hồi giáo trẻ tuổi phẫn chí, thất vọng với cuộc sống, dễ sa ngã, muốn tìm đến một “vương quốc thiên đường” của đạo Hồi.


Al-Qaeda đòi hỏi các tín đồ phải hi sinh, trở thành tử sĩ. Vương quốc Hồi giáo của Al-Qaeda chỉ là một tương lai xa xôi đầy ảo vọng. Ngược lại, IS mở đường cho những kẻ cực đoan đến với vương quốc đã hình thành.


Từ giữa năm 2013 đến đầu năm 2014, IS đã chiếm được nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn ở Syria và Iraq, bao gồm “thủ đô” Raqqa (Syria) và thành phố Mosul (Iraq).


Nhưng dư luận phương Tây chỉ thật sự choáng váng với IS khi nhóm khủng bố này công bố đoạn video quay cảnh tên đao phủ “John thánh chiến” chặt đầu nhà báo Mỹ James Foley để trả đũa những đợt không kích của quân đội Mỹ tại Iraq.


Nhà báo Foley trong bộ đồ tù nhân màu cam bị điệu ra trước máy quay, buộc phải đọc nội dung tuyên truyền của IS và bị hành hình.


Đến nay, đao phủ IS đã chặt đầu thêm nhà báo Mỹ Steven Sotloff, nhân viên cứu trợ Anh David Haines, con tin Anh Alan Henning, nhân viên cứu trợ Mỹ Peter Kassig, con tin Nhật Haruna Yukawa, nhà báo Nhật Kenji Goto, con tin Mỹ Kayla Jean Mueller...


Khủng khiếp nhất là đoạn video quay cảnh phi công Jordan Muath al-Kaseasbeh bị thiêu sống trong lồng và gào thét trong đau đớn. Và mới ngày 19-11-2015 vừa qua, IS thông báo đã hành quyết thêm một con tin Trung Quốc và một con tin Na Uy.


Các video chặt đầu và thiêu sống đó khiến cả thế giới chấn động, nhưng thực tế những gì IS làm với các tù binh người Syria và Iraq còn tàn bạo hơn nhiều.


Theo báo cáo của Tổ chức Human Right Watch, hồi tháng 6-2014 các tay súng IS tại Iraq đưa 600 tù binh người Hồi giáo Shiite, Kitô giáo và Yazidi tới sa mạc để hành quyết tập thể. Họ bị ép nằm thành hàng, rồi các tay súng IS xả súng máy vào đầu họ.


Một ngày sau đó, IS thực hiện cuộc thảm sát tương tự ở Tikrit. Chỉ trong tháng 6-2014, IS khoe đã hành quyết 1.700 binh sĩ Hồi giáo Shiite và tung lên mạng Internet video quay cảnh các đao phủ bắn hàng trăm tù nhân.


Và sau khi chiếm thị trấn Al-Baghdadi ở Iraq hồi tháng 2-2015, IS thiêu sống 45 tù binh.


Phụ nữ Yazidi ở Dohuk, bắc Iraq, biểu tình lên án IS xâm chiếm thành phố Sinjar và biến hàng nghìn phụ nữ Yazidi thành nô lệ - Ảnh: AP


Phụ nữ, trẻ em trở thành nô lệ tình dục


Sau khi chiếm được nhiều vùng ở miền bắc và đông Iraq hồi mùa hè 2014, IS hành quyết hàng trăm đàn ông tộc Yazidi và bắt giữ khoảng 3.500 phụ nữ và trẻ em gái Yazidi.


Trên tạp chí tuyên truyền Dabiq số ra tháng 10-2014, IS tuyên bố phụ nữ Yazidi là “chiến lợi phẩm” và họ phải trở thành “nô lệ” vì không phải là người Hồi giáo.


Sau đó IS đăng tài liệu hướng dẫn các quy định về tình dục với “nô lệ”, trong đó có câu: “Câu hỏi: Việc quan hệ tình dục với nữ nô lệ chưa dậy thì có được phép không? Trả lời: Được phép, nếu nữ nô lệ đó có thể quan hệ dù chưa dậy thì”.


Báo cáo của Human Right Watch và đại diện đặc biệt của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc về bạo lực tình dục trong xung đột (UNSRSVC) Zainab Bangura tố cáo các tay súng IS cưỡng hiếp phụ nữ và trẻ em gái Yazidi, biến họ thành nô lệ tình dục, thành gái điếm.


Theo các báo cáo, IS đưa những cô gái đẹp nhất còn trinh tiết đến “thủ đô” Raqqa để bán đấu giá, có những cô bé chỉ mới 11 tuổi.


Tại đây, ở giữa chợ, họ bị lột trần, bị thử trinh tiết trước khi bị bán đấu giá. Các thủ lĩnh IS được quyền mua trước, sau đó mới tới các binh sĩ. Mỗi kẻ mua ba hoặc bốn cô và bán lại sau vài tháng hành hạ chán chê.


“Có trường hợp một cô gái 20 tuổi bị thiêu sống vì không chấp nhận thực hiện một hành vi tình dục quá bạo liệt” - trang Middle East Eye dẫn lời bà Bangura. Một bé gái mới 9 tuổi bị 10 tên phiến quân IS ở miền bắc Iraq cưỡng dâm tập thể.


Báo cáo của Human Right Watch dẫn lời một nữ nạn nhân trốn thoát tên Jalila kể một tên phiến quân IS đấm, tát cô khi cô chống cự, rồi kéo chân cô đi. Cô trở thành nô lệ tình dục của bốn kẻ cực đoan, rồi sau đó bị bán và “bị tặng” nhiều lần.


Hồi tháng 8, báo New York Times phỏng vấn 21 cô gái Yazidi trốn thoát khỏi nhà tù IS ở Iraq sau nhiều tháng bị giam cầm. Một cô bé 12 tuổi kể em thường xuyên bị trói và bị tra tấn. Tên phiến quân IS cưỡng hiếp cô bé luôn cầu nguyện trước khi thực hiện hành vi thú tính.


“Cháu nài xin hắn rằng hãy ngừng lại, cháu quá đau. Hắn trả lời rằng hắn được quyền cưỡng hiếp những cô gái vô đạo”. Các chuyên gia y tế cho biết những nữ nạn nhân trẻ này dù đã thoát nhưng sẽ phải sống cả đời trong cảnh đau đớn và sợ hãi.


Theo báo cáo hồi tháng 2-2015 của Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc (CRC), IS còn dùng trẻ em nam Iraq dưới 18 tuổi làm lá chắn sống để chống lại những đợt tấn công của kẻ thù. Nhiều đứa trẻ khác, có khi mới 8 tuổi, bị tẩy não và đào tạo để trở thành những kẻ đánh bom liều chết.


Hồi tháng 12-2014, IS chặt đầu bốn trẻ em Iraq dưới 15 tuổi vì tội không chịu cải đạo sang Hồi giáo.


Hồi tháng 4-2015, một cựu tù binh của IS ở Syria tên là Omar kể trên báo The Times rằng những kẻ cực đoan từ châu Âu khi gia nhập IS luôn thực hiện những hành vi tàn bạo, man rợ nhất để “chứng tỏ bản thân”.


Thông thường, các công dân châu Âu không có kỹ năng chiến đấu khi gia nhập IS chỉ được giao vị trí binh sĩ hạng bét. Những tay súng giàu kinh nghiệm chiến trường từ Đông Phi và Chechnya luôn giữ chức vụ cao hơn.


Do đó các thành viên IS từ châu Âu luôn đối xử cực kỳ tàn bạo với tù nhân và sẵn sàng thực hiện những cuộc hành quyết đẫm máu để chứng tỏ bản thân và có cơ hội thăng tiến.


 


Nguyễn Ngọc Hùng & Hiếu Trung/tuoitre.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (7) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (6) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (tiếp & hết) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (1) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976 - Lưu Á Châu 18.04.2017
18/04/1989: Sinh viên Trung Quốc biểu tình chống chính phủ - Tư liệu 18.04.2017
Trường phái Chicago với văn hóa của người nhập cư ở đô thị - Nguyễn Huỳnh Mai 18.04.2017
xem thêm »