tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085609
07.11.2015
Triệu Xuân
Minh Long tỏa sáng

Có những người suốt đời mê say sáng tạo, lẳng lặng làm việc và không thích người ta viết về mình. Một trong những người ấy là Lý Ngọc Minh. Ông sinh năm 1950 (Canh Dần) tại ấp Lợi Lộc, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; Giám đốc Công ty TNHH Sứ Minh Long 1.


Năm 1999, tôi đi trong đoàn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về làm việc với lãnh đạo tỉnh Bình Dương. Tôi được giới thiệu những doanh nghiệp nổi bật trong tỉnh, đầu bảng là Sứ Minh Long. “Cái tên Minh Long thành danh không phải là cố ý dùng từ Hán Việt - ông Lý Ngọc Minh nói với tôi - mà đơn giản là sự ghép tên của hai người bạn thân sát cánh cùng nhau lập nên cơ sở này. Minh là tên tôi. Long là người bạn thân của tôi, tuổi Nhâm Thìn. Cách nay vài năm, khi công ty của chúng tôi phát triển mạnh, chúng tôi bàn với nhau: Anh Long tách ra lập một công ty riêng, chuyên sản xuất các loại sứ dùng trong công nghiệp, đặc biệt là trụ sứ dùng cho lưới điện cao thế. Công ty mới không đặt tên mới mà vẫn lấy tên Minh Long: Minh Long 1 là công ty sứ dân dụng. Minh Long 2 là công ty sứ công nghiệp”.


Trong chuyến đi công tác nước ngoài năm 2000, tôi giữ trên tay suốt mười tám giờ trên máy bay, chiếc hộp đựng bộ đồ uống trà bằng sứ Minh Long, làm quà tặng một người bạn sống cách trung tâm thành phố New York một giờ xe hơi. Bộ đồ trà có dáng thật đẹp, thanh nhã mà chắc chắn, men nền màu trắng sữa, với hình vẽ Vinh quy bái tổ, có viền chỉ vàng, rót nước trà móc câu Đại Từ Thái Nguyên vào, gợi cảm dễ sợ, người thích làm thơ có thể xuất khẩu thành thi! Lấy móng tay gõ nhẹ vào chiếc ấm, cái tách, phát ra âm thanh trong như ngọc, ngân nga. Bạn tôi mê quá, hỏi: Hãng nào sản xuất vậy? Noritake phải không? (Noritake là hãng sản xuất sứ nổi tiếng thế giới của Nhật). Khi biết là sản phẩm của Việt Nam! bạn tôi tròn mắt ngạc nhiên, úp cái ấm trà xuống, chăm chú nhìn logo (biểu tượng) hình tam giác cân với hai chữ ML tạo hình chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, phía trên có vương miện. Phía dưới logo là hàng chữ Fine Porcelain Vietnam (Sứ cao cấp Việt Nam). Bạn tôi khen rối rít rồi hỏi: Minh Long, nghĩa là gì? Đáp: Theo nghĩa Hán Việt thì Minh Long là con rồng sáng! Người bạn Mỹ trân trọng đặt bộ đồ trà Minh Long trên bàn giữa phòng khách sang trọng, tôi vui lắm. Vui, nhưng sau đó lại buồn vì thấy trong các siêu thị khắp Hoa Kỳ, toàn hàng Trung Quốc, rất ít thấy hàng Việt Nam. Không biết đến bao giờ đồ sứ Việt Nam, các loại sản phẩm của Việt Nam được bày bán khắp Hoa Kỳ - có thương hiệu hẳn hoi - Đến bao giờ?


Hẹn hò gặp nhau từ lâu, hễ ông rảnh thì tôi mắc bận và ngược lại; mãi đến tháng 7 năm 2002, tôi mới gặp được ông Lý Ngọc Minh. Cả một lô đất rộng sát Quốc lộ 13, cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một khoảng mười phút xe hơi, là ba công ty sứ. Ngay từ quốc lộ vào là Minh Long 2. Kế đó là Minh Long 1. Bên trái Minh Long 1 là Công ty Sứ Cường Phát, do ông Lý Ngọc Bạch là em ruột Lý Ngọc Minh làm chủ. Lúc chúng tôi thăm Cường Phát thì Lý Ngọc Bạch đang tiếp một đoàn khách từ Pháp sang đặt hàng. Ông Bạch nói: Khách nước ngoài đến quá nhiều, tiếp khách mệt nghỉ anh ạ! Hai anh em ông Minh, ông Bạch giống nhau ở nhiều điểm, trong đó có điểm là nhà máy và văn phòng công ty được thiết kế đẹp, thiết bị, công nghệ hiện đại, khu văn phòng có sân rất rộng trồng nhiều hoa và cây xanh, văn hóa giao tiếp công ty, văn minh công nghiệp không thua gì các công ty lớn ở nước ngoài.


Nhìn gương mặt ông Minh khi chưa nói chuyện, người ta có thể đoán ông ngoài năm mươi tuổi. Thế nhưng khi tiếp xúc, phong thái nói chuyện, tiếp khách, phương pháp tư duy khi diễn đạt, đối đáp, nhìn vầng trán cao và đôi mắt ông, ta thấy ông còn rất trẻ, chỉ ngoài bốn chục là cùng! Ông giới thiệu một số sản phẩm mới rồi nói: “Bên cạnh các mặt hàng sứ gia dụng cao cấp, Minh Long đang đi vào lãnh vực sứ mỹ thuật, như tượng tố nữ Việt Nam, tượng danh nhân, các loại hoa, thú quý, tranh ảnh, đồ chơi trẻ em… Thông qua những mặt hàng này, tôi mong giới thiệu được một phần truyền thống lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam…”.


Càng nói Ngọc Minh càng say sưa. Ông đã cuốn hút tôi bằng câu chuyện về cuộc đời thăng trầm của mình. Ông sôi nổi nhưng chân thật, không bốc. Tôi đã gặp nhiều người thành đạt. Không ít người trong số họ thường khoa trương, quan trọng hóa, hơi nổ. Ông Ngọc Minh thì khác. Từ cách ăn mặc, giọng nói, nụ cười, cái nhìn… tất cả đều chân thật, bình dị, khiêm nhường. Ông lặp lại nhiều lần: “Tôi gặp may, tôi nhờ may mắn mà nên!”.


Ông kể rằng từ khi biết nhận thức cuộc sống thì đã thấy ông nội làm nghề gốm rồi. Tân Phước Khánh, nơi ông được sanh ra là một miền quê yên ả, người người chăm làm, lương thiện. Cha truyền con nối, nghề dạy nghề, Ngọc Minh mười hai tuổi đã biết nghề gốm sứ! Đam mê thì đúng hơn. Mới mười ba tuổi, Ngọc Minh đã bị ba má rầy la vì dám đập bể nhiều chén đĩa kiểng do nước ngoài sản xuất, để coi trong nó có cái gì mà nó đẹp hơn tốt hơn mình! Những năm 1962-1963, kinh tế miền Nam khá phát triển, viện trợ Mỹ ồ ạt tuôn vô, người ta đua nhau dùng hàng ngoại nhập. Những cái chén (bát) ăn cơm có vẽ hình con cua, con rồng, khiến Ngọc Minh suy nghĩ rất nhiều: Làm sao để cái chén do mình làm ngang ngửa hoặc hơn hẳn chén do Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản làm? Câu hỏi này cứ ám ảnh miết. Muốn biết thì phải học. Người xưa từng dạy: Nhân bất học bất tri lý. Thế nhưng, do hoàn cảnh gia đình, ba mất sớm, Ngọc Minh chỉ học đến hết lớp ba trường làng, về Hoa văn thì học hết lớp năm. Mười sáu tuổi đầu, tuổi ăn tuổi học mà phải nghỉ học, buồn lắm! Ngọc Minh lao vào nghề. “Tôi phụ giúp má làm chén - Ông Ngọc Minh nói - nhưng mỗi mẻ sản phẩm ra lò, tôi nhìn chúng mà lòng buồn rười rượi, dù sản phẩm của gia đình tôi bán chạy nhất vùng. Thấy tôi rầu rĩ đến biếng ăn, mất ngủ, cứ nhìn đống chén như kẻ mất hồn, mẹ tôi hỏi vì sao, tôi trả lời: Má à, con không chịu nổi tình trạng chén đĩa đơn điệu, màu men không sáng không bóng như vầy mãi đâu! Má tôi hiểu được tâm nguyện của con trai, bằng lòng cho tôi lập xưởng thí nghiệm. Đó là năm tôi mười bảy tuổi. Tôi và Long, người bạn thân, với sự giúp việc của các em các cháu trong nhà trong họ, lao vào nghiên cứu, thí nghiệm, làm men, tìm nguồn đất, tạo dáng kiểu, mẫu mã. Hai năm ròng, từ năm 1967 đến năm 1969, tôi miệt mài nghiên cứu, làm thử, mong tìm ra “chân kinh” của nghề gốm sứ. Miệt mài trong nhà suốt, tôi không biết đến mưa nắng là gì! Năm tôi hai mươi tuổi, đang say sưa thí nghiệm và bước đầu có tín hiệu vui thì anh Long mười tám tuổi, bị bắt lính. Vô lính đúng một năm thì chúng tôi chạy được cho anh xuất ngũ. Chúng tôi đã tìm ra bí quyết của men, của màu. Người ta bảo phải nghe được tiếng nói của đất, cảm được hơi thở của lò nung, dáng đi của lửa trong lò thì sẽ có sản phẩm đẹp! Bắt đầu từ năm 1970, 1971 chúng tôi đầu tư sản xuất lớn. Năm 1972, hàng của chúng tôi đã xuất khẩu qua Hồng Kông, từ đây xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, tuy còn khiêm tốn. Năm 1975, Giải phóng về, chúng tôi chấp hành chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh… Khó khăn dễ sợ, không thể ngờ! Gia đình tôi gần như ngưng sản xuất. Rừng cấm khai thác, không có củi đốt lò. Một trăm bảy chục thợ, tôi cho nghỉ chỉ giữ lại hai chục người. Xưởng vẫn sản xuất, nhưng tôi nản quá, bỏ ra đây, nơi chúng ta đang ngồi đây, làm rẫy trồng rau, đu đủ. Ba năm làm rẫy, tôi đã trồng và bán hàng vạn trái đu đủ, hàng vạn củ cà rốt, hàng vạn cây bắp cải, đến nỗi bắp cải Đà Lạt không về nổi thị trường Bình Dương! Thế nhưng trong lòng tôi luôn luôn cháy bỏng thèm khát làm đồ sứ. Những khi nắng sớm mưa chiều, những đêm nằm nghe mưa rơi, tôi khắc khoải đau đớn vì sản xuất ngưng trệ, ước mơ làm sứ cao cấp không thành. Quanh tôi biết bao người đã vượt biên…”.


Lý Ngọc Minh ngưng nói, ánh mắt thoáng buồn, nhìn tôi. Uống nước xong, ông nói tiếp: “Đó là giai đoạn đáng buồn của đất nước, may mà tôi đã trụ vững! Cuối năm 1980, một cán bộ lãnh đạo tỉnh đến gặp, động viên tôi trở lại làm nghề. Năm 1981, cơ sở của tôi thực sự lấy lại sinh khí. Sản phẩm Minh Long xuất qua Liên Xô. Tiếng là làm hàng xuất khẩu chứ thực ra tôi giao hàng cho Ngoại thương họ xuất, mình có được trực tiếp bán hàng bao giờ! Có đầu ra, bán được hàng là ngon rồi. Thế nhưng bi kịch là ở chỗ người làm ra hàng xuất khẩu lại mù tịt về thị hiếu, nhu cầu của người mua! Họ cần loại sản phẩm nào, thị hiếu thẩm mỹ, cái gu của họ, chúng tôi không hề biết. Xuất như thế là lợi bất cập hại. Rồi Liên Xô không còn nữa, thị trường Đông Âu bị đóng băng… May mắn làm sao, công cuộc Đổi Mới được Đảng và Nhà nước tiến hành rốt ráo hơn. Lần đầu tiên Nhà nước cho công ty tư nhân xuất khẩu trực tiếp. Doanh nghiệp của tôi là một trong bốn doanh nghiệp tư nhân đầu tiên được cấp Giấy phép xuất nhập khẩu. Giấy phép của tôi mang số 001. Nó không chỉ đơn thuần là tờ giấy cho phép. Nó chính là sự tin cậy doanh nhân, tôn vinh doanh nhân, kỳ vọng vào doanh nhân…. ”.


Năm đầu tiên được cấp Giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp, Minh Long xuất khẩu được 120 ngàn đôla Mỹ. Những năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu tăng vọt. Sau năm năm, Minh Long có tích lũy kha khá. Và hai người bạn thân nghĩ đến dự định, ước mơ từ thuở thiếu thời về sản xuất chén, tô (bát lớn), đĩa… bằng sứ cao cấp, chí ít cũng phải ngang tầm thế giới. Trong câu chuyện mà ông Ngọc Minh kể về giai đoạn này, toát lên ý chí mãnh liệt của một người không chịu thua kém đồng nghiệp nước ngoài. Ông tự nhủ lòng, rồi truyền cho bà Dung vợ mình quyết tâm: trở thành nhà sản xuất sứ cao cấp hàng đầu thế giới! Không chỉ sản xuất chén, tô, đĩa, Minh Long lao vào sản xuất bộ đồ uống trà. Việc làm ấm chén trà cũng là một duyên may. Ông Ngọc Minh kể: “Một lần Tổng Bí thư Đỗ Mười về thăm tỉnh Sông Bé (tháng 1 năm 1997 tỉnh Sông Bé mới tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước), ăn trưa xong, cầm tách trà bằng sứ Nhật Bản trên tay, Tổng Bí thư trầm ngâm, rồi nói: “Quê hương gốm sứ mà không làm nổi bộ ấm trà cho đẹp, cao cấp hay sao, cứ phải dùng đồ nhập cảng mãi sao?”. Ông Bí thư Tỉnh ủy, ông Chủ tịch tỉnh đưa mắt nhìn nhau, rồi hứa với Tổng Bí thư là sẽ cố gắng! Chiều hôm đó, tôi được mời đến, nghe lại câu nói của Tổng Bí thư. Không có Tổng Bí thư trước mặt nhưng tôi vẫn thấy mắc cỡ ghê gớm, cảm nhận hết nỗi đau nghề nghiệp. Thế là tôi xúc tiến thiết kế tạo mẫu, tìm đất, làm men, chọn màu để làm ấm chén trà. Sau năm 1985, Bình Dương có hơn chục doanh nghiệp làm gốm sứ (không kể những lò nhỏ), thì tới bảy chục phần trăm cơ sở sản xuất sành sứ, còn lại ba chục phần trăm làm gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Ngành sản xuất chén tô đĩa, ấm trà chết từ lâu, gần như bỏ trống, bởi sự tràn ngập của hàng Trung Quốc. Đến cái chén sành hứng mủ cao su còn không có người làm nữa là chén, tô ăn cơm. Khi quyết định tạo ra bước đột phá trong việc sản xuất chén, tô, đĩa và bộ đồ trà, tôi đã lường hết mọi khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt của hàng sứ cao cấp thế giới. Còn sứ Trung Quốc tràn qua biên giới, giá rất rẻ nhưng đó chỉ là sứ bình dân, tôi không có gì phải lo! Tôi chỉ làm sứ cao cấp xuất khẩu. Tôi chấp nhận sự cạnh tranh với các hãng làm đồ sứ nước ngoài có lịch sử từ hàng trăm năm đến hàng ngàn năm! Chỉ có một con đường: làm sứ cao cấp. Đây chính là ước mơ của tôi từ năm mười ba tuổi!”.


“Học hành dang dở nên tôi vừa làm nghề vừa tự học văn hóa và ngoại ngữ. Cả tôi và vợ tôi cùng theo học chương trình hàm thụ đại học, đào tạo từ xa của Đài Loan. Chỉ có chịu khó tự học thì mới thành công. Tự học qua sách vở, tự học qua chiêm nghiệm thực tế ở nước ngoài. Năm 1989, hai vợ chồng tôi sang Pháp. Việc tỉnh Sông Bé tin cậy cho cả hai vợ chồng cùng đi Cộng hòa Pháp là chuyện động trời lúc ấy! Anh còn nhớ những năm ấy vẫn còn không ít người tìm mọi cách vượt biên kia mà. Nếu tỉnh không tin doanh nghiệp thì làm sao doanh nhân mở mày mở mặt với thiên hạ. Vợ chồng tôi gặp may mắn lớn, đã đi khắp những nước và vùng lãnh thổ có lịch sử nghề gốm sứ lâu đời như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Italia, Hoa Kỳ… Ở nước Pháp, tại một tỉnh chuyên làm sứ, tôi được người ta mời làm một chất trong men. Tôi đã làm ngon lành. Tôi đến Nhật, hãng Noritake nhiệt tình giúp đỡ tôi. Vui nhất là chuyến đi Đức, được thăm hầu hết những hãng làm sứ lớn nhất nước Đức. Không biết họ quá thật thà, quá nhiệt tình hay là họ… coi thường người Việt Nam mà họ cho tôi vào thăm cả vùng cấm địa, nơi ẩn chứa những bí quyết nghề nghiệp. Trong nghề, chỉ cần nhìn đường mương nước thải đang chảy là tôi biết men của họ gồm những chất gì. Thế mà họ cho tôi đi thăm búa xua, không giấu diếm gì cả. May mắn làm sao! Tôi ham đi vì ham học hỏi, anh ạ. Suốt đời tôi không thể nào quên chuyến đi Hội chợ Laixích Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1987. Tôi muốn đi thăm một cơ sở làm sứ ở cách Berlin hơn năm trăm cây số. Tàu hỏa chạy lúc ba giờ sáng. Đêm đông lạnh cắt da, nhiệt độ xuống âm 10 độ C. Vậy mà anh Hà, cán bộ của Đại sứ quán ta vẫn nhiệt tình thức dậy dẫn tôi ra ga xe lửa mua vé! Thật may, tôi thành công là nhờ có tới một nửa nhờ may mắn! Nếu không chịu tự học, không đi học hỏi thiên hạ thì tôi chỉ là ếch ngồi đáy giếng, biết gì để mà ngoi lên với đời?”.


“Tôi quyết định đầu tư gần ba triệu đôla nhập những thiết bị hiện đại. Nhưng mua máy nào, lò nào cho đúng? Không phải cứ có tiền đi mua máy về là có hiệu quả đâu. Thiếu gì doanh nghiệp lớn nhập máy về không sử dụng được. Tôi rất may là mua máy đúng, mua lò đúng, không hề lãng phí một đồng ngoại tệ. Tôi còn gặp may ở những chuyện không ngờ, có lẽ Trời thương mình ăn ở hiền lành, có lẽ nhờ phước đức ông bà để lại. Một lần, khá lâu rồi, tôi thuê người ta xây một cái hồ (bể) chứa nước lớn. Khi bơm nước vào đầy, tôi ra coi, vừa rời khỏi hồ được năm sáu bước chân thì hồ bể tung, nước phóng ra mạnh như lũ quét. Chỉ ra chậm một phút là tôi chết rồi! Tôi nhận được đơn đặt hàng của nước ngoài sản xuất con ếch bằng sứ. Màu nhập rất đắt và thời đó, muốn mua đâu phải có liền; có biết người ta đặt làm con ếch màu này đâu mà nhập để trữ! Đúng lúc bí nhất thì một cán bộ Công ty xuất nhập khẩu tỉnh mang đến cho tôi một trăm gam màu mà tôi đang cần, bảo tôi: Màu mới mua, nhờ ông làm thử! Tôi mừng run lên. Với một trăm gam màu làm thử đó, tôi làm xong lô hàng con ếch theo đúng hợp đồng. Một chuyện khác: Người ta nhập một lô hàng màu xanh về để làm gạch bông, nhưng họ nhập lộn, không xài được. Thế là họ bán cho tôi với giá rẻ như cho. Không may là gì? May quá trời!”.


“Tôi muốn có lò nung đốt bằng gas, bằng điện từ lâu rồi, nhưng mua lò ở đâu? Xưa nay Việt Nam ta chỉ đốt lò bằng than, bằng củi. Nhưng lò loại đó thì chỉ có thể làm đồ sành chứ không thể làm sứ cao cấp với hiệu quả cao. Tôi qua Đài Loan, mình còn nghèo mà phải cắn răng trọ ở khách sạn năm sao. Ở khách sạn năm sao thì người ta mới tìm đến mình! Tôi tranh thủ vào thư viện tìm đọc các loại sách viết về lò nung đồ sứ. Một rừng sách, biết sách nào mà đọc! May mắn làm sao, một nhân viên thư viện nhiệt tình giúp tôi. Tôi tìm được loại lò cần mua, từ khách sạn năm sao tôi gửi một bản yêu cầu qua máy fax. Thế là ông chủ bán lò đích thân tìm gặp tôi, đáp ứng mọi nhu cầu của tôi. Mua lò về lắp đặt rồi chạy thử ngon lành thì đến chuyện không có gas. Lấy gì đốt lò? Những năm ấy người ta mới nhập gas về để bơm hộp quẹt (bật lửa), chưa có gas nấu bếp, gas công nghiệp như hiện nay. Tôi phải mua vét từng chai gas bơm hộp quẹt về đốt lò nung sứ! Thành công mỹ mãn. Chén, tô, đĩa và bộ đồ trà bằng sứ cao cấp do Minh Long sản xuất, xuất khẩu gây tiếng vang lớn. Kim ngạch xuất khẩu của Minh Long thuộc loại hàng đầu trong các doanh nghiệp làm đồ sứ gia dụng của Việt Nam. Năm 2001, tôi xuất được hơn tám triệu đôla Mỹ. Năm 2002 vượt trên con số đó. Chín mươi tám phần trăm sản phẩm Minh Long bán ở nước ngoài. Nhiều năm liền tôi được thưởng về xuất khẩu. Nhưng tôi không thể bỏ trống mãi thị trường trong nước. Ước mơ từ năm mười ba tuổi của tôi: Người Việt mình phải có chén ăn cơm đẹp hơn chén nhập của nước ngoài luôn luôn ám ảnh tôi. Từ năm 1997, tôi tăng dần tỷ trọng hàng hóa bán trong nước, từ hai phần trăm đến nay gần mười lăm phần trăm. Sứ cao cấp, nhưng tôi bán với giá nội địa, vì thế mà làm không kịp bán! Sau khi nhập lò nung số 1, đến lò số 2 thì tôi không nhập nữa. Tôi tự chế tạo lò. Sản xuất càng phát triển, tôi càng tìm cách nâng cao chất lượng. Đồ sứ Minh Long 1 bán trên thị trường Bắc Âu được đánh giá rất cao…”.


Ông chủ Minh Long 1 giới thiệu với tôi lô sản phẩm đang xuất sang Bắc Âu. Những món đồ sứ tuyệt đẹp, kiểu dáng, màu sắc mang đậm bản sắc đặc trưng của các nước Bắc Âu; gõ vào nó, cái thì ngân nga như chuông, cái thì như pha lê. Tôi hỏi ông về việc đưa sản phẩm vô thị trường Hoa Kỳ. Ông đáp: “Tôi không nghĩ Minh Long 1 khó vào thị trường Hoa Kỳ. Tôi vững tin về chất lượng, mẫu mã. Vấn đề là thương hiệu. Nếu tôi vô thị trường Mỹ, tôi phải có thương hiệu đàng hoàng chứ không phải xuất qua trung gian, không phải no name!”.


Chiếc thuyền buồm ở trên đỉnh buồm có vương miện đang vượt đại dương là logo của Minh Long, đã và đang tỏa sáng trên khắp thế giới.


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2003.


Bài đã in trên: Báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 8 tháng 2 năm 2003; Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, tháng 3-2003.


 


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »