tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085676
01.11.2015
Triệu Xuân
Chuyện về những người "bình dân" Sài Gòn

Sài Gòn với mùa mưa kéo dài năm, sáu tháng mỗi năm. Nếu bạn muốn, chỉ cần một đôi lần trú mưa, bạn sẽ hiểu thêm được rất nhiều số phận, trong đó nổi bật lên những người mẹ đang tảo tần kiếm sống với nguyện ước duy nhất là cho con mình ăn học nên người!


“Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt...”, lời một bài hát cũ dường như không ăn nhập gì với bài viết này. Bởi vì mùa mưa là mùa buồn nhất trong năm của những người buôn gánh bán bưng, nhất là những người bán hàng ăn mà vốn liếng không quá vài trăm ngàn đồng. Sài Gòn có hàng trăm ngàn người chuyên nghề gánh hàng ăn dạo. Trên đường Nguyễn Du từ Bệnh viện Nhi Đồng 2 đến Nhạc viện thành phố, có hơn hai chục người bán hàng ăn gồm bún thịt nướng, bún bò Huế, xôi, cháo huyết, bún ốc, bún riêu, hột vịt lộn, chè các loại. Họ từ đâu tới? Xin thưa, họ từ những ngõ, hẻm, khu phố nghèo nhất thành phố. Bà Tư Mẫn, bán bún thịt nướng và bún bò Huế, đích thực người xứ Huế phiêu bạt vô đây từ những năm bảy mươi. Bà cùng với bốn con ở trong khu Đồng Tiến - Mả lạng, khu phố nghèo nhất quận Nhất. Một ngày của bà bắt đầu từ ba giờ sáng. Nấu nướng xong, bà đi xích lô mang gánh hàng ăn ra đường Nguyễn Du là vừa đúng năm giờ rưỡi. Bữa gặp may, bà Tư Mẫn bán đến mười giờ là hết hàng. Bữa không gặp may, nhất là những ngày trời mưa phải bán tới chiều, có khi ế ẩm phải gánh nồi nước lèo về. Những ngày đó, lỗ vốn, mấy mẹ con khỏi ăn cơm, ăn bún trừ. Một ngày lao động cực nhọc chỉ kiếm được hai, ba chục ngàn tiền lời. Thực khách của bà là nhân viên văn phòng, tài xế taxi, dân chạy xe ôm, xích lô, học trò nghèo và những bà, những cô bớt chút tiền chợ ăn quà. Chồng chết từ năm 1975, bà Mẫn một mình tần tảo nuôi bốn đứa con ăn học đàng hoàng. Hai đứa lớn học hết trung học đã xin được việc làm. Còn hai đứa nhỏ đang học lớp mười hai và lớp mười. “Nhờ Trời Phật - bà nói - các cháu nhà tôi ngoan và chăm học, cả bốn đứa đều học khá. Tôi sống cực khổ để cho các cháu nên người là thỏa nguyện rồi! Chỉ tiếc rằng tôi không lo nổi cho các cháu vô đại học...”. Đứa con trai út của bà nhanh nhảu khoe với tôi: “Chị Hai của cháu đang thi vô đại học tại chức đó chú. Còn anh Ba thì vừa thi đậu bằng B tiếng Anh”. Tôi nhìn cậu bé mười sáu tuổi, mặt mũi sáng sủa, cặp mắt lanh lợi, cảm nhận được niềm hạnh phúc của bà Tư Mẫn!


Trung tâm quận Nhất là khu vực sầm uất nhất Sài Gòn từ xưa tới nay. Đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tông có rất nhiều khách sạn, cao ốc văn phòng, công ty đầu tư nước ngoài, với hàng ngàn nhân viên văn phòng có nhu cầu rất lớn về ăn sáng, ăn trưa mỗi ngày. Từ năm 2000, vẻ sôi động, sầm uất tăng lên gấp bội. Ngã tư đường Đồng Khởi -Nguyễn Huệ- Mạc Thị Bưởi có gần trăm người  bán hàng ăn, tuần tự thay nhau suốt từ năm giờ sáng đến mười giờ đêm. Sáng sớm có bánh mì, hột gà ốpla, các loại bún, phở, cháo, mười giờ bắt đầu bán cơm trưa. Chiều có hột vịt lộn, chim rôti, khô mực và các món nhậu. Những người bán đồ uống: nước suối, nước ngọt, bia, những người chuyên bán trái cây dạo cũng lên tới cả trăm người. Dưới chân một trụ điện góc phố là hai mẹ con chuyên bán bưởi đã lột vỏ ngoài. Tôi gặp họ từ năm 2000, mỗi ngày họ bán 40 đến 60 trái. Nay, họ bán mỗi ngày bốn đến sáu cần xé, tức hơn 200 trái! Mỗi nhân viên văn phòng đi ăn trưa qua đây đều mua ít nhất nửa trái, phần lớn mua nguyên trái bưởi. Tất cả chủ nhân của các gánh hàng ăn này đều giống nhau về gia cảnh: nghèo, đông con và đều từ các xóm lao động về đây kiếm sống. Mỗi bà mẹ với gánh hàng ăn ở đây phải gánh cả đời sống của gia đình từ bốn đến sáu bảy người, trong đó có nỗi lo toan lớn nhất là chuyện học hành của lũ trẻ. Chỉ cần một ngày mưa là lỗ vốn, mưa tiếp một ngày nữa là có nguy cơ bứt vốn. Mặt khác, muốn tồn tại ở trung tâm thành phố như thế đâu phải dễ! Mỗi khi thấy xe cảnh sát đi tới là tim thót lại. Làm sao có thể tiếp tục bán hàng ăn mãi trên lề đường khi mà việc quản lý đô thị ngày càng đi vào nề nếp? Từ khi đại lộ Nguyện Huệ trở thành “phố đi bộ”, những người bán hàng ăn phải “di tản” sang những con phố khuất nẻo để né tránh các lực lượng an ninh trật tự tại khu trung tâm. Trước đó, họ đã kịp để lại số điện thoại di động cho hàng ngàn thực khách! Lối bán hàng ăn cho nhân viên văn phòng qua mobile xuất hiện từ năm 2010 thì phải. Thật thú vị. Khoảng 10 giờ đến 11 giờ, hàng trăm xe gắn máy chạy vèo vèo mang theo hàng trăm cạp lồng, hộp thức ăn từ các ngõ hẻm về trung tâm, giao tận tay cho thực khách. Nhiều gánh hàng ăn phục vụ tại chỗ, nay “lên đời” bằng cách đóng tủ đồ ăn trên xe gắn máy, vừa có kính che bụi, vừa dễ cơ động...  


Cổng trường Khởi Nghĩa thuộc quận Phú Nhuận, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, có một người bán xôi mà nơi nấu xôi cách nơi bán xôi mười lăm cây số. Chị tên là Thái Thị Co, nhà ở Hóc Môn. Hàng ngày chị phải thức dậy từ hai giờ sáng, nấu ba loại xôi, đưa lên xe buýt về tới trường Khởi Nghĩa, phải ấp ủ sao cho xôi vẫn nóng hổi. Tại đây chị có một chiếc xe ba bánh được chế thành xe bán xôi di động. Trong năm học, chị Co bán xôi tại trường Trần Hữu Trang. Tiền xe đi và tiền xe về mười sáu ngàn một ngày, tiền gửi chiếc xe đẩy năm chục ngàn một tháng. Mỗi ngày nếu bán hết xôi, chị Co thu được ba chục ngàn tiền lời, nuôi chồng, nuôi các con ăn học. Hỏi chị ước mong gì, chị cười: “Tôi chỉ mong trời đừng có mưa ban ngày, để tôi còn bán xôi và tôi chỉ mong kỳ nghỉ hè mau hết. Đến năm học, được bán xôi ở trường cho học sinh, chín giờ là hết xôi rồi, ham lắm!”. Bất cứ ai làm một nghề chân chính đều có niềm tự hào riêng của họ. Chị Co nói: “Học trò ăn xôi của tôi phát mê luôn! Các cháu khen xôi ngon, còn tôi thì cố bán rẻ. Nhìn các cháu, cứ tưởng con mình, mệt cách mấy cũng vui anh ạ. Có mấy phụ huynh nói với tôi: Con nhà tôi to khỏe được là nhờ xôi của chị Co đó!”. Cũng nghề bán xôi, ở ấp Vạn Hạnh, xã Trung Mỹ Tây, huyện Hóc Môn có bà Hai Hiếu năm nay năm mươi lăm tuổi. Nhiều chục năm qua, với một chõ xôi, bà đã nuôi năm đứa con ăn học, có người đã qua đại học. Những ngày mưa, xôi ế, cả nhà ăn xôi, thằng út nhà bà cứ nhìn thấy xôi là nổi da gà!


Trong đội ngũ vô cùng đông đảo của những người bình dân, những người “dưới đáy”, không phải ai cũng có được cơ may kiếm sống như những người mà tôi đã kể. Chị Nguyễn Thị Minh Giang bán vé số dạo ở quảng trường Bưu điện thành phố là một ví dụ. Cách đây hơn tám năm, chị Giang là một phụ nữ mạnh khỏe, trong một chuyện hùn hạp làm ăn, chị đã bị gạt mất số tiền tương đương ba lượng vàng. Khi chị đi đòi thì bị tạt axít mù cả hai mắt. Kẻ tạt axít đã lãnh án tám năm tù giam nhưng chị Giang thì bị hai lần bi kịch! Ngay sau khi bị mù cả hai mắt, chồng chị đã ly dị chị, căn nhà nhỏ bên Thị Nghè được ngăn ra: phần nhỏ nhất chưa đầy chục mét vuông dành cho hai mẹ con chị, phần còn lại người chồng ở với người vợ mới. Hai mẹ con dắt nhau đi bán vé số dạo. Những năm đầu, mẹ mù, con còn nhỏ nên kẻ gian thường giật cả tiền lẫn vé số, giật cả xấp vé số. Lỗ vốn nhhiều quá, chị làm quen với nhân viên bảo vệ Bưu điện thành phố và được anh em ở đây giúp đỡ. Từ đó chị không còn bị giật mất tiền và vé số nữa. Cũng từ đó chị cho con đi học trở lại. Năm nay con chị, cháu Nguyễn Tấn Tài, học lớp sáu. Cháu rất ngoan và thương mẹ. Những ngày mưa, chị Giang được các nhân viên bảo vệ bưu điện dắt vô trong nhà bưu điện trú mưa. Áo quần không ướt nhưng lòng chị lại run lên vì thất vọng: Không bán được vé số nghĩa là không có tiền ăn cho con, không đủ tiền xe xích lô về với con. Những ngày mưa phải nấu cháo cho con ăn, con húp cháo, chị òa khóc. Con trai chị an ủi mẹ: “Con ăn được mà má! Con thương má quá chừng. Má đừng khóc nữa má. Má ăn cho khỏe mai còn đi bán chứ má!”. Được biết bản án của tòa xử phạt kẻ tạt axít tám năm tù giam và phải bồi thường cho chị Giang, nhưng cho đến nay, sau gần chục năm bị hại, chị Giang vẫn chưa nhận được một xu nào. Trong khi đó căn nhà của chị bị ngăn ra khi chồng ly dị, tường có thể sập đổ bất cứ lúc nào. Chị Giang đang khiếu nại để có tiền sửa chữa nhà, nếu không nguy hiểm đến tính mạng hai mẹ con. Chính quyền địa phương đã có kế hoạch hỗ trợ vốn, giúp chị sửa nhà… Tôi hỏi: “Nếu có một điều ước, chị ước mong gì?”. Chị trả lời: “Tôi chỉ mong trời không mưa và cho tôi sức khỏe để tôi bán vé số nuôi con ăn học nên người. Tôi cảm thấy rất thanh thản sống như hôm nay. Tôi được mọi người thương yêu và giúp đỡ, thế là vui rồi!”. Nhìn người đàn bà mù cả hai mắt, reo lên vui sướng khi cơn mưa vừa dứt, dò dẫm ra khỏi nhà bưu điện đi bán vé số trên quảng trường nhà thờ Đức Bà, tôi thấy đáng cảm phục biết bao nghị lực của con người. Số phận không thể vùi dập được con người khi mà ta còn thiết tha với cuộc sống và nhất là biết hy sinh vì con cái. Câu trả lời của chị Giang trên đây đâu phải là sự cam chịu, mà toát lên lòng yêu đời, yêu cuộc sống vô cùng!


Sài Gòn với mùa mưa kéo dài năm, sáu tháng mỗi năm. Nếu bạn muốn, chỉ cần một đôi lần trú mưa, bạn sẽ hiểu thêm được rất nhiều số phận, trong đó nổi bật lên những người mẹ đang tảo tần kiếm sống với nguyện ước duy nhất là cho con mình ăn học nên người!


 


***


Tôi sống ở Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, coi đây là quê hương thứ hai của mình. Khu nhà tôi ở là một đường phố nhỏ, con đường này tỏa ra hàng chục con hẻm nhỏ khác từ sáng sớm đến đêm khuya xôn xao tiếng nói cười, tiếng nhạc, tiếng hót thánh thót của những con chim nuôi trong vườn; chim câu gù nhau trên nóc mái ngói đỏ nhà ai. Hàng loạt căn nhà mới, kiểu dáng đẹp mọc lên. Từ lễ Noel và Tết Dương lịch đến Tết Nguyên đán, những con hẻm nhỏ như bừng sáng lên! Những ánh mắt long lanh của các cô gái, tà áo dài trắng học trò phơi phới trong gió xuân. Thanh niên nam nữ mới hôm nao tôi thấy họ còn nhỏ xíu, như chợt lớn vụt lên, chân dài, cao to hơn hẳn cha mẹ, ăn mặc đúng kiểu mới nhất, khỏe mạnh, hưng phấn. Họ là niềm tự hào của cha mẹ, của khu phố, là gương mặt của cuộc sống hôm nay.


Sài Gòn có bao nhiêu đại lộ và đường phố lớn, điều này chỉ cần nhìn bản đồ là biết. Nhưng hỏi có bao nhiêu con đường nhỏ (rộng 3 mét trở xuống đến 1 - 2 mét đủ cho hai chiếc xe gắn máy tránh nhau) thì đến Sở Giao thông Công chánh cũng khó có số liệu chính xác. Ước có tới cả ngàn đường nhỏ và hẻm nhỏ. Cách nay vài năm, những con hẻm này là một thế giới hoàn toàn khác với những gì trên những đại lộ ở khu trung tâm thành phố. Do nghề nghiệp, tôi thường đi công tác xa nhà, xa thành phố. Nhưng mỗi khi về tới Sài Gòn, bao giờ tôi cũng dành thời gian, nhất là vào giờ tập thể dục buổi sáng hoặc những buổi chiều đi dạo để quan sát cảnh vật, con người trong thế giới ngõ hẻm. Không biết từ bao giờ, thói quen đó là niềm say mê của tôi. Cuộc sống trong các ngõ hẻm dường như còn giữ được cốt cách phong tục của làng quê Việt Nam. Giữa chốn thị thành, thật thú vị khi gặp một khóm trúc, bụi tre ngà, vài cây chuối hay một khoảnh vườn nho nhỏ trồng đủ thứ rau thơm hành ớt; đàn gà con theo mẹ kiếm mồi bên một con gà trống mã thật oai vệ. Sự phồn vinh của một thành phố, suy cho cùng chính là sự phồn vinh của dân chúng, mà Sài Gòn có tới tám chục phần trăm hộ dân sống trong thế giới ngõ hẻm! Cuộc sống trong thế giới ngõ hẻm, vì thế là biểu tượng sinh động nhất cho sự tiến bộ hay là sự suy vong của một thành phố.


Từ những năm 1982-1985, thành phố Hồ Chí Minh đi tiên phong cả nước về xóa bỏ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp trên một số ngành sản xuất công nghiệp, thương mại… Từ thực tế đầy sức thuyết phục của Sài Gòn, Đảng và Nhà nước đã chính thức ban hành những chính sách cụ thể, đưa cả nước vào công cuộc Đổi mới. Tháng 12-1986, Luật đầu tư nước ngoài được ban hành… Thế nhưng, phải đến đầu thập kỷ Chín mươi, sự nghiệp Đổi mới mới được tiến hành, mạnh mẽ nhất, hiệu quả nhất vẫn là Sài Gòn – Tp Hồ Chí Minh. Vấn đề người nghèo tại Sài Gòn vô cùng nhức nhối! Không thể để một thành phố từng là biểu tượng “Hòn ngọc Viễn Đông”, một thành phố được mang tên Bác Hồ mà người nghèo đói lên tới gần triệu người! Đây là thành phố đông dân nhất Việt Nam, cũng là thành phố nhiều người nghèo nhất Việt Nam. Năm 1992, Chương trình Xóa đói Giảm nghèo của thành phố chính thức vận hành. Lúc đó, thành phố lấy lấy tiêu chí hộ được coi là nghèo với mức thu nhập 3 triệu đồng/người/năm ở nội ô, và 2,5 triệu đồng/người/năm ở vùng ven và ngoại thành. Ngay tại quận Nhất, trung tâm thành phố, tôi đã thấy hàng chục con hẻm nhỏ nổi danh từ trước năm 1975 là những tụ điểm xì ke ma túy, tệ nạn xã hội. Đó là khu vực nhà ổ chuột trên rạch Thị Nghè, khu Đồng Tiến - Mả lạng, hay khu phố nghèo ở phường 5 quận Tư - cách những tòa nhà ngân hàng lớn bên quận Nhất chỉ một cây cầu nhỏ - vậy mà đến dưỡng khí và nước sạch cũng không có cho con người. Cái gọi là nhà thực ra chỉ là những tấm các tông và giấy dầu quây lại giống như một cái hộp, mỗi hộp từ sáu đến tám mét vuông, và mỗi hộ gia đình như thế có từ sáu đến mười bốn người! Trẻ em thất học cùng người lớn đi lột vỏ hành mướn, hoặc khuân vác thuê cho các chủ hàng trong chợ, hoặc đá cá lăn dưa tại các bến cảng chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh. Tết năm 1996, chị Trần Thị Nga, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường 5 quận Tư tâm sự: “Đau lòng nhất là cuối năm, khi lĩnh tiền cứu trợ của thành phố và của các nhà hảo tâm, dân trong phường em đa số không biết ký tên. Trên bản danh sách hàng trăm người, đỏ chói như máu những dấu ngón tay lăn trên mực hộp dấu để điểm chỉ”. Hàng ngàn con người chen chúc nhau như cá mòi trong những chiếc hộp dựng trên con rạch cạn mà thực chất như một hố xí công cộng lộ thiên. Đường vào khu phố này cũng chỉ là những tấm đan bê tông ghép với nhau trên hàng cọc cắm xuống con rạch cạn. Chỉ cần đi hết từ đầu hẻm tới cuối hẻm thì một người sức khỏe kém có thể phải cấp cứu vì thiếu dưỡng khí, do ở đây tràn ngập mùi xú khí. Từ nhiều chục năm nay, người dân nơi đây chịu cảnh sống như thế như một định mệnh. Họ không biết thoát khỏi nó bằng cách nào. Khi thành phố có chủ trương xóa đói giảm nghèo, phường 5 quận Tư đã có hàng chục gia đình thoát nghèo, nhưng vẫn còn hơn 140 hộ gia đình sống dưới mức nghèo khổ. Họ không biết dùng tiền vay từ quỹ xóa đói giảm nghèo để làm gì vì một tấc đất không có, nghề nghiệp chỉ là làm mướn, học vấn không, đầu óc kinh doanh buôn bán cũng không nốt. Ước mơ lớn nhất của họ là có người kêu gánh nước mướn, lột vỏ hành thuê, kiếm được đủ tiền mua gạo và nước tương nuôi nhau trong ngày!


Từ dinh Thống Nhất đi vài phút là tới Sở Thú, qua cầu Thị Nghè là tới khu phố 4 của phường 17 quận Bình Thạnh. Cách đây chỉ vài năm thôi, đây là bản doanh của thế giới bụi đời: bài bạc, xì ke ma túy, mại dâm, đá gà cá độ, đâm thuê chém mướn, ăn cướp... Tội phạm từ đây qua thành phố gây án rồi khi bị truy đuổi thì dùng rạch Thị Nghè đen ngòm làm nơi thoát thân an toàn. Từ bao năm nay vẫn thế. Cùng với Chương trình xóa đói giảm nghèo, Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là Phong trào xây dựng khu dân cư toàn diện. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới đã thực sự có hiệu quả bởi nó vì dân, hợp lòng dân.


Khu phố 4 phường 17 Bình Thạnh như lột xác. Dòng “kênh thối”, “kênh đen” xưa, nay biến mất! Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè trở thành dòng sông nước dần dần trong xanh, như giải lụa mềm làm đẹp thêm Sài Gòn. Hai bên bờ kênh hình thành hai con đường rộng 16 mét, ba làn xe, có công viên rộng từ 5 đến 10 mét ra tới bờ kè, trồng cây xanh và hoa, cỏ, mang tên Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là nơi sinh hoạt, thư giãn, vui chơi của người dân sống hai bên dòng kênh thối khủng khiếp khi xưa!


Những con hẻm ở Bình Thạnh được bê tông hóa hoặc tráng xi măng, nhà cửa khang trang hơn. Nhà nghèo nhất cũng không còn dột nát. Tình làng nghĩa xóm thấm vào từng căn hộ, làm dịu bớt nỗi cô đơn hờn oán và nâng con người đứng thẳng dậy để sống cho ra sống. Phường cùng khu phố đã huy động nhiều nguồn vốn cho dân vay để mưu sinh. Nạn cho vay nặng lãi giảm nhiều. Không còn cảnh mạnh ai nấy sống, đèn nhà ai nấy rạng như trước. Tại đây đã có tới tám chục phần trăm số hộ thoát nghèo bền vững. Vào một buổi trưa, tôi dừng lại trước một lớp học tình thương với hơn ba chục cháu tuổi từ sáu đến mười bảy. Các cháu thất học, nay được khu phố tổ chức cho học chữ quốc ngữ và chữ dân tộc Chăm. Học miễn phí, sách vở được cấp. Lớp học còn tuềnh toàng, quần áo các cháu còn luộm thuộm, nhưng nghe tiếng trẻ ê a học bài, học để thoát khỏi kiếp lầm than như cha mẹ thì ai mà không xúc động đến nao lòng.


Tại quận Tân Bình, các doanh nghiệp và tổ chức từ thiện, các khu dân cư đã giúp hàng trăm triệu đồng cho hàng trăm trẻ em nghèo đến trường. Phường 14 quận 8 giúp cho trẻ em nghèo ăn một bữa trong ngày để các cháu không phải bỏ học. Các khu dân cư ở Quận Nhất, Phú Nhuận, Tân Bình… đã giáo dục được hàng trăm trẻ hư hỏng thành người lương thiện. Phường 15 quận 10 với 23 ngàn nhân khẩu nổi tiếng là khu vực kinh doanh cà phê đèn mờ và mại dâm. Nay đã lành mạnh hóa được khu vực nhức nhối này. Điều quan trọng rút ra ở đây là việc thanh toán nạn mại dâm không chỉ bằng biện pháp hành chính đơn thuần để rồi chẳng khác chi bắt cóc bỏ dĩa. Ở đây toàn dân cùng hành động. Chính vì thế mà các chủ chứa mới chịu chuyển nghề.


Toàn dân cùng nhắc nhở nhau không xả rác xuống kênh. Nhờ thế mà Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, sắp tới đây là Kênh Tẻ, mau đổi màu nước! Phong trào thu gom rác ở quận 8 đã thu được hàng ngàn tấn rác trong các ngõ hẻm và kênh rạch. Việc toàn dân xi măng hóa các con hẻm đã thực sự làm đẹp môi trường cảnh quan, xóa đi hình ảnh bùn lầy nước đọng, ổ chuột của thế giới ngõ hẻm Sài Gòn từ nhiều chục năm qua. Nếu không có sức dân và không được lòng dân nhất trí thì mọi chủ trương dù đúng, không thể thành hiện thực. Đó không phải là bài học của một phường, đó là bài học cho cả một chế độ, một Nhà nước.


Tôi chưa nói tới những mặt tồn tại, nhức nhối mà bất cứ đô thị lớn nào trên cõi nhân gian này cũng có. Tôi không nói tới những dự án đầu tư nước ngoài, những căn hộ cao cấp đã và đang mọc lên như nấm tại Sài Gòn. Tôi muốn nói đến nhà ở của lớp “bình dân”. Từ năm 1990 đến nay, thành phố đã xây dựng được hàng trăm ngàn mét vuông nhà cho dự án giải tỏa kênh Nhiêu Lộc, hàng ngàn căn nhà tình nghĩa. Thành phố  chi hàng chục tỷ đồng để hỗ trợ các gia đình chính sách sửa chữa nhà; huy động hàng ngàn tỷ đồng cho quỹ xóa đói giảm nghèo, trợ vốn cho hàng trăm ngàn hộ... Nói tới Chương trình Xóa đói Giảm nghèo phát động từ 1992 là phải nói tới Dự án cải tạo dòng kênh thối. Năm 1993, thành phố HCM lập Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, giải tỏa hàng nghìn căn nhà lụp xụp hai bên bờ cùng với việc xây dựng hai tuyến đường ven kênh. Thời điểm đó, mọi thứ đều khó khăn thiếu thốn, thành phố đã đầu tư 1.600 tỷ đồng để đền bù giải tỏa và tái định cư cho gần 7.000 hộ dân sống ven kênh, nạo vét bùn đất, làm đường, lát vỉa hè, trồng cây xanh... Mười năm sau, năm 2003, Dự án cũ kết nối với dự án vệ sinh môi trường nước Nhiêu Lộc - Thị Nghè từ nguồn vốn tài trợ của ngân hàng quốc tế, hơn 300 triệu USD, với các hạng mục chính như nạo vét bùn dưới dòng kênh; lắp đặt tuyến cống bao chạy dọc ven kênh đến trạm bơm xử lý nước thải. Khi hoàn tất, toàn bộ nước thải sinh hoạt trên lưu vực không đổ xuống kênh mà chảy vào tuyến cống bao, như một tuyến kênh ngầm để chảy về trạm bơm xử lý. Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè chỉ tiếp nhận nước mưa và nước từ sông Sài Gòn chảy vào, nhờ đó nước dần dần trong xanh trở lại. Năm 2011, thành phố đầu tư cải tạo nâng cấp hai tuyến đường Hoàng Sa và Trường Sa từ cuối đường Út Tịch quận Tân Bình đến đường Nguyễn Hữu Cảnh quận 1, tạo thành hai con đường đẹp và thơ mộng của thành phố.


Hai mươi ba năm thực hiện chương trình giảm nghèo, Sài Gòn trải qua nhiều giai đoạn với 8 lần điều chỉnh nâng mức chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo. Giai đoạn 1992-2003 là 3 triệu đồng/năm ở nội ô; 2,5 triệu đồng/năm ở ngoại ô. Giai đoạn 2004-2010, tiêu chuẩn hộ nghèo là dưới 6 triệu đồng/năm (cả nội thành và ngoại thành). Giai đoạn 3 từ 2009-2015, tiêu chí hộ nghèo với mức thu nhập bình quân dưới 12 triệu đồng/người/năm. Cuối năm 2013, tổng số hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập 12 triệu đồng/người/năm giảm từ 152.328 hộ vào đầu năm 2009 xuống còn 14.000 hộ vào cuối năm 2013; tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 8,4% xuống còn 0,71% trên tổng số hộ dân. Như thế, thành phố đã kết thúc trước thời hạn hai năm của giai đoạn 3, và tiếp tục nâng tiêu chí chuẩn nghèo cho giai đoạn 2014-2015 là 16 triệu đồng/người/năm! Theo số liệu chính thức của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 6- 2015, thành phố đã hoàn tất chương trình Giảm nghèo giai đoạn 2014-2015. Đến thới điểm này, chỉ còn 1,03 % hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập dưới 16 triệu đồng/người/năm và 2,64 % hộ cận nghèo theo tiêu chí thu nhập từ 16 triệu đến 21 triệu đồng/người/năm. Đã có 8/24 quận huyện không còn hộ nghèo theo tiêu chí trên. Thành phố Hồ Chí Minh đông dân nhất nước mà chỉ còn 1,03% hộ nghèo theo chuẩn dưới 16 triệu đồng, thật là niềm vui lớn! Thành phố của tôi đã trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ xóa đói giảm nghèo với tiêu chí được coi là nghèo cao gấp 3 lần bình quân cả nước! Ở ngoại thành, xã Thái Mỹ huyện Củ Chi là một điểm sáng Giảm nghèo. Ngay từ năm 2000, Thái Mỹ không còn nhà tranh tre nứa lá, nhà tạm, toàn nhà xây kiên cố. Hệ thống đường giao thông trong xã trải nhựa hoặc bê tông hóa. Tại nội thành, Quận 5 là quận đầu tiên hoàn tất chương trình giảm nghèo tăng hộ khá giai đoạn 2014-2015, về đích trước thời hạn gay từ giữa năm 2014! Ông Lê Thanh Hải, nguyên Bí thư thành ủy TP HCM phát biều: “Từ Chương trình “Xóa đói, giảm nghèo” được khởi xướng và kiên trì thực hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước; đến nay là Chương trình “Giảm nghèo, tăng hộ khá”, cuộc hành trình chống đói nghèo của thành phố đã trải qua 3 giai đoạn, với quyết tâm chính trị cao của Thành ủy các nhiệm kỳ và cả hệ thống chính trị các cấp, được sự đồng thuận, hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân thành phố, sự chung sức của các vị chức sắc tôn giáo, các doanh nghiệp… Đảng bộ, chính quyền thành phố đã tiến hành nhiều giải pháp căn cơ, trở thành chính sách xã hội ổn định và lâu dài; thành phố chúng ta đã đặt vấn đề giảm nghèo của một bộ phận nhân dân trong tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; không dừng lại ở việc trợ vốn, học nghề, giải quyết việc làm mà còn gắn kết với chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật -  xã hội, nhà ở, chính sách học phí, viện phí, v.v… tăng điều kiện tiếp cận cơ hội học tập, chữa bệnh của người nghèo, hộ nghèo nội thành, vùng ven và nông thôn thành phố. Một trong những nguyên nhân thành công là cả hệ thống chính trị thành phố đã khơi dậy ý thức tự lực, ý chí, nghị lực vượt khó vươn lên của người nghèo, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tình tương thân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào rất tốt đẹp, đặc trưng văn hóa, truyền thống nhân văn của dân tộc ta, của thành phố Hồ Chí Minh”.


Những con số khô khan ấy là kết quả của biết bao công sức, mồ hôi, nước mắt của người dân và những người lãnh đạo thành phố. “Họa phúc mối phi nhất nhật”, không phải cứ nằm chiêm bao là có, không tự nhiên mà có những thành tựu đó. Phải tiến hành cuộc kháng chiến ba mươi năm mới có ngày đất nước hòa bình, Thống nhất. Phải mất mười năm ấu trĩ, chủ quan, sai lầm liên tiếp mới có sự nghiệp Đổi Mới. Phải kinh qua hai mươi lăm năm Đổi Mới mới có hôm nay. Những con số giảm nghèo lấp lánh niềm vui, niềm tin vào một tương lai phồn vinh không còn xa nữa!


Trong se lạnh của đất trời Sài Gòn buổi sáng sau cơn mưa rào, thật là tuyệt vời khi tận mắt chứng kiến những niềm vui của người thành phố từ trong ngõ hẻm. Người đẹp ở đâu mà ùa ra phố nhiều đến thế! Cứ như một cuộc thi hoa hậu vòng chung kết không bằng. Ở gần nhà tôi, trong một con hẻm, có một nữ sinh vừa đoạt danh hiệu Á hậu. Từ khi trở thành Á hậu, ngõ nhỏ ấy rộn ràng hẳn lên, suốt ngày ngõ nhỏ đầy dấu chân và vết xe của những người yêu cái đẹp, của các nhà doanh nghiệp, các bạn bè của cô và cả những người nước ngoài cùng những lời mời làm người mẫu, mời đóng phim, mời đi du lịch. Thế nhưng em gái ấy lại trả lời rất hồn nhiên và tự tin rằng: “Em vẫn là một sinh viên!”. Người Sài Gòn rất hiếu học! Cao trào học, tự học, học ngoài trời không chỉ học sinh ngữ hay tin học mà là học văn hóa, học nghề, học vẽ, học âm nhạc, học võ, học làm người... đã và đang thu hút hầu như toàn bộ thời gian của lớp trẻ. Khi mà tuổi trẻ ham học, ấy là dấu hiệu cường thịnh của một dân tộc. Tuổi trẻ Sài Gòn rất thông minh, năng động, ham học… Nhìn bọn trẻ ùa ra từ thế giới ngõ hẻm, làm sáng bừng những đại lộ đường phố, ai cũng thấy trẻ lại như tuổi đôi mươi, tràn đầy nhiệt huyết và lòng yêu đời. Cũng trong khu vực dân cư nơi tôi thường trú, có nhiều giáo sư và tiến sỹ, thạc sỹ, hơn hai chục cán bộ giảng dạy đại học, kỹ sư thì đạt con số trăm, ca sĩ nổi danh cũng năm bảy người, họa sĩ sáu người, giáo viên trung học hơn hai chục, thợ kỹ thuật từ bậc năm đến bậc bảy gần bốn chục, khoảng chục cô người mẫu, số người tinh thông nghề nghiệp đang giữ những trọng trách trong guồng máy Nhà nước và các doanh nghiệp tới con số trăm. Tôi thường trò chuyện, chia sẻ với bạn bè về những rung động đến nao lòng trước đổi thay đáng mừng, đáng trân trọng của cuộc đời hôm nay. Có rất nhiều người tài đã vào đời và còn rất nhiều nhân tài đang được nuôi dưỡng, ấp ủ. Tất cả, họ và gia đình họ đang sống trong những ngõ hẻm đầy ắp tiếng cười, ngập tràn niềm hy vọng và chí tiến thân ngày càng mãnh liệt.


Lại một mùa Xuân nữa sắp về! Mùa Xuân là mùa cưới. Thật là thiêng liêng và gợi cảm khi nhìn chú rể dìu cô dâu lên xe hoa. Tôi vừa dự đám cưới con trai một người bạn. Ngõ nhỏ chỉ vô lọt chiếc xe du lịch, vì thế mà cả đoàn xe du lịch nối đuôi nhau hết chiều dài con hẻm nhỏ, tràn ra đến đại lộ Nguyễn Văn Trỗi. Điều đáng nói về đám cưới này là chú rể trưởng thành trong một gia đình rất nghèo, vừa đi làm, vừa đi học, chú rể đã có hai bằng đại học và thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp. Còn cô dâu, trong diện xuất cảnh qua Mỹ theo gia đình, vẫn kiên quyết ở lại với người yêu, với đất nước quê hương. Cô là một kỹ sư giỏi, vừa được công ty cho đi tu nghiệp sáu tháng tại Hoa Kỳ. Xe hoa của họ hiệu Rolls-Royce. Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có nhiều loại xe hơi đời mới. Thành phố ngày một sang trọng, con người ngày càng quen thụ hưởng những tiện nghi sinh hoạt đắt tiền. Thế nhưng, làm thế nào để lớp trẻ của chúng ta gìn giữ được những tinh tú của dân tộc, giàu có về tâm hồn và lòng nhân ái? Khi mà những lo toan về vật chất vượt qua được giai đoạn ào ạt, xô bồ ban đầu, tin rằng các bậc cha mẹ sẽ lặng lẽ trở về với những giá trị nhân văn chân chính. Và ngay từ hôm nay, chúng ta hãy nuôi dưỡng con em mình theo hướng đó. Điều này tôi cảm nhận được ở khắp nơi tại thành phố Hồ Chí Minh. Và đó có lẽ là một trong những tín hiệu đáng mừng nhất trong mùa Xuân này. Không chỉ mơ mộng hão huyền, không chỉ lãng mạn viển vông, bởi vì nếu chúng ta mộng hão, duy ý chí, chúng ta sẽ phải trả giá đắt như thời kỳ mười năm sai lầm 1975-1985. Phải biết mộng mơ, phải lãng mạn, nhưng chúng ta cũng phải biết làm gì để thành quả của mấy chục năm Đổi Mới được bền vững và ngày càng nở hoa kết trái.


Sài Gòn – Trại sáng tác Vũng Tàu, 10-2015.


Nhà văn Triệu Xuân


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »