tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23018481
Lý luận phê bình văn học
28.10.2015
Phạm Trọng Chánh
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) [Tiếp & hết]

Hồn oan của người nước Sở chôn vùi ở chốn này đây. Vời trông khói sóng mênh mông chẳng biết đâu bờ bến. Ví hiến lệnh được ban hành trong thiên hạ, thì làm gì có được Ly Tao nối tiếp Kinh thi, Quốc Phong.  Ly Tao là tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên, Ban Cố giải thích:  Ly là gặp phải, tao là lo âu. Ly Tao mở đầu cho loại Sở từ.  Nghìn xưa có ai thương một người tỉnh táo. Bốn phương có chốn nào gửi được tấm lòng cô trung ? Gần đây có người thích mặc trang phục lạ. Cũng đeo hoa lan làm dáng nhưng chẳng giống ông chút nào. Trong Ly Tao, Khuất Nguyên nói mình ăn mặc lạ: đeo gươm dài, đội mũ cao khoát vòng hoa lan thơm, ý nói mình trung thực khác người.


ĐẾN TƯƠNG ĐÀM VIẾNG TAM LƯĐẠI PHU


BÀI I


Hai nghìn năm khuất bậc hiền nhân,


Thoang thoảng nơi này hương chỉ,  lan.


Tổ quốc ba năm buồn bị đuổi,


Sở Từ vạn thuở tiếng văn chương.


Cá rồng sông đó xương tàn mất,


Đỗ nhược bên bờ cỏ vẫn thơm.


Hút mắt lòng đau nhà chẳng thấy,


Gió thu lá rụng vượt Nguyên Tương.


BÀI     II


Nước Sở hồn oan táng giữa dòng,


Mắt mòn trông khói sóng mênh mông.


Ví ban được lệnh trong thiên hạ,


Nào có Ly Tao nối Quốc Phong.


Nghìn thuở ai thương người một tỉnh,


Bốn phương ai gửi nỗi lòng trong.


Đời nay trang phục ham điều lạ.


Đeo một cành lan chẳng giống cùng.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU TAM LƯĐẠI PHU


BÀI I


 


Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,


 


Thử địa do văn lan chỉ hương.


 


Tông quốc tam niên bi phóng trục,


 


Sở Từ vạn cổ thiện văn chương.


 


Ngư long giang thượng vô tàn cốt,


 


Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.


 


Cực mục thương tâm hà xứ thị,


 


Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.


 


BÀI     II


 


Sở quốc oan hồn táng thử trung,


 


Yên ba nhất vọng diểu hà cùng.


 


Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,


 


Hà hữu Ly Tao kế Quốc Phong ?


 


Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh,


 


Tứ phương hà xứ thác cô trung ?


 


Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,


 


Sở bội tiêu lan cánh bất đồng.


 


                Bài Phản Chiêu Hồn, Biện Giả, Trường Sa Giả Thái Phó mang cái nhiệt huyết chiến đấu Nguyễn Du thời trai trẻ, tôi cho rằng các bài này Nguyễn Du viết năm 1789:


 


Bài Phản Chiêu Hồn: Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ? Thành quách do thị, nhân dân phi. Còn trở về thành Yên thành sinh mà làm gì ? Thành quách vẫn như cũ, song nhân dân đã khác rồi. Ta nghe như lòng Nguyễn Du đang đi giang hồ nước ngoài, chưa muốn về lại Thăng Long.


 


Bài Biện Giả có câu:  Cổ kim an đắc đồng tâm nhân.. Liệt nữ tòng lai bất nhị phu. Đồng tâm xưa nay được mấy ai ? Liệt nữ không ai lấy hai chồng. Nguyễn Du không muốn làm quan cho nhà Tây Sơn ?


 


 Bài Trường Sa Giả Thái phó có câu Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ. Trời ban có tài lạ mà không có chỗ dùng. Tôi cho rằng Nguyễn Du viết các bài này thời trai trẻ chưa có người dùng mình. Khi được vua Gia Long biết tài dùng tài cửđi làm Chánh Sứ? Nguyễn Du đã mãn nguyện tất không có nỗi lòng u uất này.


 


                Ngày 27-7 năm Quý Dậu (1813)đến địa phận Gia Ngư tỉnh Hà Bắc. Nơi đây có sông Dịch Thủy phát nguyên từ Dịch Huyện, chảy vềĐông Huyện, An Định. Qua sông nhớ nơi này Thái TửĐan đưa tiễn Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng, Cao Tiệm Ly thổi sáo, Kinh Kha hát  hai câu thơ: Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn. Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn. Gió vi vu chừ sông Dịch lạnh hề, Tráng sĩ ra đi chừ không trở về. Kinh Kha là đề tài nhiều bộ phim Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, phim Héros có chiếu tại Pháp gần đây diễn tả khá hay về nhân vật Kinh Kha.


 


                Nơi đây quê hương Kinh Kha Nguyễn Du viết bài Kinh Kha cố lý. Kinh Kha là một tay kiếm khách người nước Vệ. Làng cũ của kinh Kha ở đấy Yên, gần với Yên Kinh, Bắc Kinh ngày nay. Thái tửĐan con của Yên Vương Hỉ, bịđưa sang nước Tần làm con tin, giận Tần Vương Doanh Chính(sau này là Tần Thủy Hoàng) là bạn chơi thuở nhỏ, nay lên ngôi vua đối xử không tốt với mình, bèn trốn về nước. Đến khi Tần thực hiện chính sách bành trướng đem quân đánh Tề , Sở, Triệu, Ngụy, Hàn sắp sửa đánh đến Yên. Thái tửĐan lo sợ bèn tìm người dũng cảm sang Tần, uy hiếp Tần Vương Chính bắt phải bỏý đồđánh Yên hoặc đâm chết. Điền Quang giới thiệu Kinh Kha giúp thái tửĐan làm việc đó, và tựđâm mình để kích lệ Kinh Kha.  Thái tửĐan tiễn Kinh Kha ra đi. Vũ Dương theo phò tá.  Phàn Ô Kỳtướng có lỗi nhà Tần trốn sang Yên tựđâm mình chết để Kinh Kha nộp vua Tần và làm việc thích khách. Kinh Kha đến đến và dâng bản địa đồ nước Yên quy hàng. Kinh Kha cầm chủy thủ (đoản kiếm) dấu trong bản đồ chỉa vào người, vua Tần sợ hải đứng dậy chạy quanh cột, các quan hoảng hốt chỉ lấy tay không màđánh Kinh Kha, vì phép nước khi vào chầu vua không được quyền cầm binh khí. Tần Vũ Dương là một tay dũng sĩ nước Yên, gặp vua Tần lộ vẻ hồi hộp run sợ, nên Kinh Kha phải gấp ra tay nên hỏng việc.


 


                Móng nắng xuyên ngang mặt trời, bầu trời mênh mang. Gió thổi hắt hiu bước sông Dịch lạnh. Tiếng ca khẳng khái, tiếng thép rít. Vào ải Tần cầm dao nhọn, Thù sâu cả sáu nước gửi cả vào một tay. Khắp trên cung điện đột nhiên rung động, Quan tả hữu dùng tay không bắt lại, vua chạy vòng quanh cột. Dưới thềm Vũ Dương đứng đờ ra như người chết rồi, thần dũng hiên ngang chỉ có một mình ông. Dẫu chẳng giết được Hoàng đế nhà Tần, tính lại xưa nay cũng không có người sánh kịp. Lạ thay vốn dấu kỹ hành tung giữa chợ, không từng có duyên nợ từ kiếp trước với Yên Đan. Liều thân chỉ vì được người biết đến mình. Luống được Điền Quang nhẹ nhàng đâm cổ chết. Khá thương Phàn Ô Kỳ chẳng có tội tình gì. Đem đầu cho mượn không hẹn kỳ trả lại ! Một sớm ba liệt sĩ chết oan, mà ngôi thiên tửở Hàm Dương cuối cùng vẫn cao ngất ngưỡng. Đất Yên nhìn khắp toàn đất bụi, nắng thu gió thu đầy trên đường cái quan, Trong chợ không còn nghe thấy tiếng ca nữa. Sông Dịch từ ngàn xưa đến nay vần chảy hoài, Nơi làng cũ của Kinh Kha cây chỉ, cây gai mọc ngang dọc. Chỉ có chiếc bia tàn chưa bị đỗ. Chớ bảo rằng mũi dao nhọn kia chẳng ích gì, nó mở đầu việc chặt cây làm dáo, làm cán cờ khởi nghĩa ( thời Hán Cao Tổ).


 


LÀNG CŨ KINH KHA


 


Cầu vòng ngang trời chừ mênh mang,


 


Sông Dịch điều hiu gió lạnh tràn.


 


Tiếng ca cảm khái kiếm thép réo,


 


Kinh Kha từ đó vào Tần Quan.


 


Vào ải Tần chừ mang dao nhọn,


 


Sáu nước thù sâu một tay nặng.


 


Trên điện thốt nhiên bỗng kinh hoàng,


 


Tả hữu tay không vua chạy quẩn,


 


Dưới thềm Vũ Dương đứng chết trân.


 


Thần dũng hiên ngang một mình ông,


 


Dẫu chẳng giết được Tần Hoàng Đế,


 


Tính lại xưa nay ai sánh bằng,


 


Lạ thay hành tung dấu giữa chợ,


 


Kiếp trước Yên Đan có duyên nợ,


 


Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,


 


Huống được Điền Quang tự đâm cổ,


 


Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi,


 


Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.


 


Một sớm chết oan ba liệt sĩ,


 


Hàm Dương thiên tử vẫn uy nghi.


 


Đất Yên nhìn lại toàn tro bụi,


 


Nắng thu gió thu đường rong ruỗi,


 


Trong chợ chẳng còn nghe tiếng ca,


 


Ngàn năm vẫn xuôi dòng Dịch Thủy.


 


Làng cũ cỏ gai mọc dọc ngang,


 


Chỉ còn chưa đổ chiếc bia tàn,


 


Bảo rằng dao nhọn chẳng có ích.


 


Mở buổi chặt cây cờ vùng lên.


 


Nhất Uyên dịch thơ


 


Nguyên tác phiên âm Hán Việt


 


KINH KHA CỐ LÝ


 


Bạch hồng quán nhật thiên man man,


 


Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn.


 


Ca thanh khẳng khái kim thanh liệt,


 


Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan


 


Nhập Tần quan hề, trì chủy thủ,


 


Lục quốc thâm cừu nhất dẫn thủ.


 


Điện thượng thốt nhiên nhất chấn kinh,


 


Tả hữu thủ bác vương hoàn trụ.


 


Giai hạ Vũ Dương như tử nhân,


 


Thaen dũng nghị nhiên duy độc quân.


 


Túng nhiên bất sát Tần hoàng đế,


 


Dã toán cổ kim vô tỉ luân.


 


Quái để hành tung nguyên thị ẩn,


 


Tằng dữ Yên Đan vô túc phận.


 


Sát thân chỉ vị thụ nhân tri,


 


Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.


 


Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,


 


Dĩ dầu tá nhân vô hoàn thì.


 


Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ.


 


Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.


 


Yên giao nhất vọng giai trần thổ,


 


Thu nhật thu phong mãn quan lộ.


 


Thị thượng ca thanh bất phục văn.


 


Dịch thủy ba lưu tư kim cổ,


 


Cố lý chỉ cức tung phục hoành.


 


Chỉ hữu tàn bi do vị khuynh.


 


Mặc đạo chủy thủ cánh vô tế,


 


Yết cam trảm mộc vị tiên thanh.


 


Trên đoạn đường này Nguyễn Du còn viết các bài thơ: Dự Nhượng Kiều chủy thủ hành, Dự Nhượng Kiều? Đế Nghiêu miếu, Kỳ Lân mộ..


 


9-8 từ Hán Khẩu ra đi. Từ đường này đến Bắc Kinh, Nguyễn Du đi đường bộ, một đoàn xe ngựa chở cống vật và sứđoàn.


 


22-8 ra khỏi địa phận An Dương tỉnh Hà Nam.


 


Nguyễn Du viết bài Hà Nam đạo trung khốc thủ. Nắng dữ trên đường Hà Nam Tiết thu tháng 8 ở Hà Nam, Khí nóng tàn vẫn chưa tan hết. Đường ra ngoài chỗ có gió mát. Người đi trong nắng gắt của mặt trời. Trên đường dài ngựa mệt hí vang. Mỏi mắt trông vắng mất bóng chim hồng. Anh chàng đẩy xe kia quêđâu nhỉ ? Nhìn nhau thấy vất vả như nhau.


 


NẮNG DỮ TRÊN ĐƯỜNG HÀ  NAM


 


Hà Nam thu tháng tám,


 


Khí nóng vẫn chưa tan.


 


Đường ra ngoài gió mát,


 


Người đi nắng chói chan.


 


Đường dài ngựa mệt hí,


 


Mỏi mắt bóng chim hồng.


 


Phu xe quê đâu nhỉ ?


 


Nhìn nhau cùng cảm thông.


 


Nhất Uyên dịch thơ


 


Nguyên tác phiên âm Hán Việt.


 


HÀ NAM ĐẠO TRUNG KHỐC THỬ


 


Hà Nam thu bát nguyệt


 


Tàn thử vị tiêu dung.


 


Lộ xuất lương phong ngoại,


 


Nhân hành liệt nhật trung.


 


Đồ trường tê quyện mã,


 


Mục đoạn diệt qui hồng.


 


Hà xứ thôi xa hán ?


 


Tương khan lục  lục đồng .


 


Ra khỏi tỉnh Hà Nam, phía Đông huyện Hứa Xương là Hứa Đô. Năm Kiến An nguyên niên (196) Tào Tháo dời đô nhà Hán từ Lạc Dương đến đó gọi là Hứa Đô. Nguyễn Du qua đây viết bài Cựu Hứa Đô. Thành Hứa Châu, nơi vua Hán đóng đô. Họ Tào cướp cơ đồ nhà Hán chốn này. Nền đài nhận ngôi vua không còn thấy nữa. Chỉ thấy đêm đêm mưa gió réo gào. Từ cổ được nước đều lấy chính nghĩa. Sao lại lừa vợ góa con côi người ta ?(Vợ của Linh đế và Hiến Đế). Trước sau đều đi theo một con đường ấy.(Tào Phi ép Hiến Đế nhường ngôi năm 220.) Ngụy mất, Tấn nối đổi thay triều đại. Từấy đến nay đã mấy ngàn năm rồi ? Trong khoảng thời gian ấy biết bao kẻ dấy lên rồi sụp đổ. Mà toà thành cao ngất vẫn chưa từng thay đổ. Ngoài thành núi vẫn xanh như thời xưa. Lũ gian hùng cướp ngôi có kẻ nào còn đâu ? Tôn miếu nhà Hán đã không còn dấu vết. Vườn lăng nhà Ngụy cũng đổ nát tan tành. Một miếng đất rộng ở trong thành. Giữa trưa người đến họp chợ chen nhau mua bán.. Duy có việc năm thứ hai mươi lăm đời Kiến An. Thành bia miệng để đời không bao giờ mất. Khiến ta từ xa đến suy nghĩ hoài. Lưu thơm và để thối xưa nay đều có cả. Tòa thành cao ngất nổi tiếng đứng giữa đường cái.  Bọn gian hùng đến đây ắt phải thấy lạnh trong lòng.


 


THÀNH HỨA ĐÔ CŨ


 


Thành Hứa Châu kinh đô nhà Hán,


 


Họ Tào tranh ngôi Hán ở đây.


 


Nền đài nơi nhận trao ngôi,


 


Thấy đêm đêm gió mưa bay réo gào.


 


Từ cổ được nước bằng chính nghĩa,


 


Sao lại lừa vợ góa con côi.


 


Trước sau đều một đường thôi,


 


Ngụy soán ngôi Hán, Tấn ngôi ngụy nhường.


 


Ngụy mất Tấn đổi thay triều đại,


 


Từ đến nay đã trải ngàn năm.


 


Dấy lên sụp đổ  bao lần,


 


Tòa thành cao ngất vẫn còn trơ trơ.


 


Ở ngoài thành núi xanh xanh mãi,


 


Lũ gian hùngngôi cũ có còn ?


 


Miếu đường nhà Hán nát tan,


 


Vườn lăng nhà Ngụy cũng hoang phế rồi.


 


Một miếng đất trong nơi thành rộng,


 


Còn chợ trưa người đến họp chen,


 


Năm hai lăm đời Kiến An,


 


Thành bia miệng tiếng để vang muôn đời.


 


Ta từ xa đến hoài suy nghĩ,


 


Lưu hương thơm tiếng thối xưa nay,


 


Tòa thành cao ngất còn đây,


 


Gian hùng qua đó sởn gai lạnh mình.


 


Ra khỏi Hứa Đô đến Hàm Đan.


 


21-9 Đến trạm Từ Châu tỉnh Trực Lệ sau đó đi qua Bảo Định để lên Bắc Kinh.


 


4-10 tức ngày 27 tháng 10 năm 1813.  Đến Bắc Kinh lễ dâng tờ biểu và nghỉ lại ở công quán.


 


5-10 tới tập lễ ở toà Hồng Lô Tự.


 


6-10 vào cửa Càn Thành theo triều ban làm lễ, rồi lại tới lầu Duyệt thị dự yến và đội ơn vua nhà Thanh ban cho các vật kiện.


 


7-10, các quan Nội phủ tới công quán xem xét và thu nhận các phẩm vật tiến cống.


 


13-10 tới lầu Vĩnh An chờ xe vua Thanh đi qua để làm lễ thỉnh an, và xin về nước.


 


18-10 tới toà Ngọ Môn để nhận các vật thưởng theo thể lệ và các đạo sắc thư, tư văn.


 


19-10 tới công đường bộ Lễ dự yến.


 


22-10 lại nhận được công văn thay đổi đường đi:  Trực Lệ, Sơn Đông, An Huy, Hồ Bắc và về Quảng Tây.


 


24-10 Từ Bắc Kinh khởi hành về nước.


 


2-11 về đến châu thành Cảnh Châu, thuộc tỉnh Trực Lệ sau đó qua Đức Châu, tỉnh Sơn Đông rồi đi qua An Huy mà xuống Hồ Bắc.


 


Đi ngang qua Sơn Đông, Nguyễn Du viết bài Đông A sơn lộ hành: Đường Đông A đi ra từ giữa lòng núi ngổn ngang. Một con đường tắt nhỏ chạy qua muôn gốc tùng sam. Sương móc ở khe bốc lên thích hợp cho báo ẩn nấp. Mây ở khe suối lười bay theo rồng. Gòđống một nơi còn ghi dấu triều đại trước.Nhà nhà trồng dâu trồng mía theo lề lối ngày xưa. Cười cho ta bạc đầu còn bận rộn mãi chưa xong. Giữa trời rét buốt còn lặn lội trên đường Sơn Đông.


 


ĐI ĐƯỜNG NÚI HUYệN ĐÔNG A


 


Đông A đường giữa núi chập chùng,


 


Đường nhỏ chạy quanh muôn gốc tùng.


 


Sương khói suối lên che bóng báo,


 


Mây mù khe tụ chẳng theo rồng.


 


Đống gò lưu dấu triều vua trước.


 


Dâu mía theo xưa nhà vẫn trồng.


 


Cười phận bạc đầu còn bận mãi,


 


Giữa trời rét buốt lội Sơn Đông.


 


Nhất Uyên dịch thơ


 


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


 


ĐÔNG A SƠN Lộ HÀNH


 


Đông A lộ xuất loạn sơn trung,


 


Vạn thụ tùng sam nhất kính thông.


 


Gản vụ tự sinh nghi ẩn báo,


 


Khê vân vô sự lãn tòng long.


 


Khâu lăng xứ xứ lưu tiền đại,


 


Tang chá gia gia cận cổ phong.


 


Tiếu ngã bạch đầu mang bất liễu,


 


Nghiêm hàn nhất lộ quá Sơn Đông.


 


Chú thích:


 


Ẩn báo: con báo ẩn nấp. Theo Liệt nữ truyện, vợĐào Đáp Tử bảo chồng: Thiếp nghe nói trên núi Nam Sơn có con báo đen, trời sương mù bảy ngày mà nó không xuống kiếm ăn là nó muốn giữ gìn bộ lông đẹp của nó. Ý muốn bảo chồng nên đi ởẩn.


 


11-12đến Võ Xương tỉnh Hồ Bắc


 


25-12 từ huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc đi đến huyện Lâm Tương tỉnh Hồ Nam.


 


30-1 Giáp Tuất Đến huyện Kỳ Dương  tỉnh Hà Nam.


 


12’2 Đến Toàn Châu tỉnh Quảng Tây.


 


4-2 nhuần Đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây.


 


29-3 Về qua Nam Quan tức ngày 18 tháng 5 năm 1814.


 


Tổng số thời gian Nguyễn Du ở Trung Quốc là 12 tháng rưỡi.


 


                Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật ký, ghi chép tùy hứng. Nguyễn Du không ghi chép toàn bộ hành trình. So với bản tấu trình và Bắc Hành Tạp Lục còn có nhiều khoảng trống, Nguyễn Du không ghi chép. Khác với Lê QuýĐôn trước cung điện Bắc Kinh, ông đọc sách vở nhà Minh tìm hiểu về Nguyễn An, người Việt Nam tù binh, làm thái giám cho vua Minh Thành Tổ trở thành kiến trúc sưđiều khiển xây dựng cung điện Bắc Kinh, một người thanh liêm, quà tặng nhà vua không giữ riêng mà lại nộp vào công khố. Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh làm thơ kể lại toàn bộ hành trình qua từng nơi và các nhân vật văn hóa lịch sử mỗi địa danh. Nguyễn Huy Oánh còn kể những chi tiết buổi sáng thức dậy tại Bắc Kinh mùa đông hay tay rét buốt, phải lấy tro than đổ vào chiếc bình mang bên hai cổ tay cho đỡ lạnh.


 


Bắc Hành Tạp lục của Nguyễn Du không phải chỉ là thơđi sứ, mà toàn bộ những bài thơđi về phía Bắc thời còn thanh niên đi giang hồ 1787-1790  và thời đi sứ năm 1813. Mỗi bài thơ Nguyễn Du là một tác phẩm hoàn hảo, thi ca Nguyễn Du đa dạng, phong phú. Người đọc thơ Nguyễn Du nếu muốn đi tìm Nguyễn Du cô đơn, trích dẫn năm bảy câu thơ năm bảy bài khác nhau, rồi kết luận Nguyễn Du là nhà thơ cô đơn. Người muốn chứng minh Nguyễn Duảnh hưởng  Đỗ Phủ nói về cảnh cùng khổ của dân chúng: con côi, mẹ goá, kẻ hành khuất.. Người trung quân ái quốc có thể tìm thấy Nguyễn Du qua  hình ảnh Văn Thiên Trường, Nhạc Phi, Cù Các Bộ..  Người hồng nhan đa truân có thể tìm thấy Nguyễn Du qua Cô Cầm, qua nàng Kiều, qua Người hát cũ của em,  Điếu La thành ca giả.. Nguyễn Du là ai ? Với những cách chứng minh trích dẫn câu này ghép câu kia, tôi e rằng chúng ta chỉ là người mù sờ voi, tùy theo chủ quan có sẳn  người nghiên cứu đi tìm một Nguyễn Du theo hướng của mình. Tôi không cho điều đó là sai, mà là chính cái vĩ đại của tài năng Nguyễn Du: Nguyễn Du là một thi hào vĩđại, mỗi người có thể tìm thấy một Nguyễn Du riêng cho mình. Tùy theo hoàn cảnh, thời gian mỗi người có thể bói ra một câu thơ hợp với tâm trạng mình.


Paris, 23-4-2015


PTC.


 


vanhoanghean

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Hoàng Thị Thu Thủy 24.06.2018
Hát nói, thời điểm hình thành và quá trình phát triển - Nguyễn Đức Mậu (Mậu Tuất) 24.06.2018
Thơ văn Lý – Trần – Nghĩ về “tư cách trí thức” (1) của GS. Nguyễn Huệ Chi - Boristo Nguyen 23.06.2018
Một cách nhìn khác về chiến tranh trong trường ca và thơ Việt Nam hiện đại - Lưu Khánh Thơ 18.06.2018
Khi anh nhìn em – Thơ của những tâm hồn lãng mạn, yêu thương mãnh liệt - Triệu Xuân 05.06.2018
“Tụng giá hoàn kinh sư” bài thơ chói ngời khí phách, khát vọng Việt - Trầm Thanh Tuấn 21.05.2018
Võ Phiến: Đọc: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta” (1974 ) - Võ Phiến 17.05.2018
Một giả thiết khác về hành trình đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 - 1814 - Nohira Munehiro 15.05.2018
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) (1) - Phạm Trọng Chánh 15.05.2018
Thi ca Việt Nam qua những miền kinh tuyến - Khuất Bình Nguyên 02.05.2018
xem thêm »