tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517779
Những bài báo
25.10.2015
Triệu Xuân
Trà Tân Cương, Thái Nguyên: Ngon nhất quả đất nhưng biết bao giờ cất cánh?!

Khởi thủy, cây chè (trà, tea, tên khoa học: Camellia sinesis) là cây dược liệu, mọc hoang trong rừng. Qua thời tiền sử, dần dần, từ chỗ chỉ là cây thuốc, trà trở thành thức uống gắn liền với con người. Đến thời Đường, năm 780, sau khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì việc uống trà được nâng lên thành một thú tiêu dao quý phái… Cây chè phù hợp đất đai, khí hậu ở vùng Bắc Đông Nam Á (cổ đại, lúc đó chưa có biên giới quốc gia), ngày nay là vùng đất từ bang Assam của Ấn Độ, qua bắc Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam đến Vân Nam Trung Quốc (Vân Nam mãi đến đời Tống mới thuộc về Trung Quốc). Người xưa nói: “Có ba giống: có cánh biết bay, có lông biết chạy, có miệng biết nói, thảy sinh trong vòm trời đất, cậy việc ăn uống mà giữ lấy sinh cơ, mới hay cái nghĩa lý của sự uống đã dài lâu lắm rồi! Đến như loài người, muốn đỡ khát thì uống lấy nước, muốn tiêu sầu thì uống lấy rượu, còn muốn tỉnh mộng mê thì uống lấy trà!”. Cà phê kích thích tim, óc. Ca cao kích thích thận. Trà không kích thích thẳng vào thận, tim, hệ thần kinh, mà làm vượng chức năng của thận, làm mát gan và di dưỡng tinh thần. Ông Kakuzo Okakura, học giả người Nhật, viết tác phẩm “Trà thư” bằng Anh ngữ, xuất bản lần đầu năm 1906 tại Hoa Kỳ, cho rằng: “Trà là vị thuốc có hiệu năng thuyên giảm mệt nhọc, sảng khoái tinh thần, tăng cường thể lực, phục hồi thị lực. Trà không chỉ làm thuốc uống, mà còn dùng để xoa, đặc biệt dưới dạng cao chữa thấp khớp. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một thức trọng yếu để trường sinh bất lão”. Tiến sỹ Kakuzo Okakura, với Trà thư, cắt nghĩa tại sao người Nhật khởi thủy không có cây chè, mà đã nâng tầm thưởng thức nước trà lên thành một đạo! Năm 801, người sáng lập phái Tendai là Saicho (767- 822) được Hoàng gia phái sang Trung Quốc, mang theo những hạt giống chè đầu tiên, trồng quanh vùng chân núi Hiei thuộc tỉnh Shiga. Từ đó, người Nhật quý cây chè, coi việc uống trà là Trà đạo! Kakuzo Okakura viết: “Qua ngụm nước ánh màu hổ phách đựng trong chiếc chén sứ tráng men ngà, người sành điệu có thể thưởng ngoạn đồng thời vị ngọt ung dung của Khổng Tử (Đạo Nho), chất chát thâm trầm của Lão Tử (Đạo Lão), và mùi hương thanh khiết lâng lâng của đức Thích Ca mâu Ni (Đạo Phật)” -Dẫn theo Trà thư, Phan Quang dịch.NXB văn học, 2009, bản nhà văn Phan Quang tặng Triệu Xuân.


Ấy vậy mà, khi uống trà do người Nhật sản xuất, mẫu mã bao bì rất đẹp, nhưng chất lượng thì… tôi chả khoái chút nào. Tương tự, trà do Ấn Độ, Trung Quốc, hay  đảo Đài Loan sản xuất, tôi cũng không thích! Mặc dù, khi đến Vân Nam hay Giang Nam, từ cách quảng bá giới thiệu sản phẩm cho đến hạ tầng cơ sở, dịch vụ du lịch… của vùng chuyên canh chè ở đó thật tuyệt vời. Con đường tới vùng chè Giang Nam xuyên núi, băng rừng đẹp như trong tranh, thơ mộng và bình yên, cảnh và người rất thân thiện, văn minh… đi rồi cứ muốn đi lại lần nữa! Nhưng, lạ thay, uống trà sản xuất ở các nước Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, chỉ thấy trà Thái Nguyên là hợp với tôi hơn cả, là ngon nhất quả đất!


Ở Việt Nam, nhiều người cho rằng trà có chất lượng cao nhất là ở Thái Nguyên. Uống trà sản xuất ở nước ngoài, tôi chỉ biết khen: Bao bì đẹp, riêng trà thì không ngửi được! Chỉ thấy trà Thái Nguyên là “ngon nhất quả đất”. Việt Nam có vùng chuyên canh chè là Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Lâm Đồng; diện tích chè ở Lâm Đồng lớn nhất nước! Tính đến nay, Việt Nam có trên 100.000 ha chè đang khai thác, tổng sản lượng khoảng 100.000 tấn; xuất khẩu hàng năm khoảng 80 ngàn tấn, kim ngạch gần 100 triệu USD. Trà ở ba xã vùng Tân Cương thành phố Thái Nguyên, theo tôi là ngon nhất quả đất! Thế  nhưng vì sao, giá trị xuất khẩu trà Việt Nam chưa cao? Vì sao những địa phương trồng chè vẫn nghèo, chưa thể cất cánh?


Tôi ao ước: con đường hơn chục ki lô mét từ trung tâm thành phố Thái Nguyên tới những vạt chè ở ba xã Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu, với diện tích chè trên 1.300ha, được xây dựng rộng, đẹp như dải lụa mềm, hai bên là những xóm làng sạch sẽ, trong lành, không có rác, không khí không bị ô nhiễm. Nền tảng quan trọng nhất là chất lượng chè và kỹ thuật sao trà móc câu, Tân Cương đã có từ lâu. Nhưng, tại đây, đang thiếu quá nhiều…


Thứ nhất: sản phẩm quá đơn điệu, không đáp ứng thị hiếu, tập quán tiêu dùng của khách hàng. Bao bì không đẹp, không tiện lợi cho người dùng. Trà để quá một tháng là biến sắc, quá hai tháng làm giảm hương! Năm 1935, ông Đội Năm mang trà Tân Cương nhãn hiệu Con hạc trắng đi dự đấu xảo ở Hà Nội, được giải nhất! Từ ấy đến nay, hơn tám chục năm rồi, mà sản phẩm trà Thái vẫn chỉ là trà móc câu!  


Với tôi, lên 5 tuổi, tôi đã thấy Bác và Bố mình uống trà Thái Nguyên, gọi trà mạn, hay trà Chính Thái, tức là loại sản phẩm sao khô rồi đánh hương (mốc) giống cái lưỡi câu, từ nguyên liệu là một tôm (búp) hai lá. Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu được 800 ngàn tấn. Trà ngon là vậy mà khi xuất khẩu, chỉ được các công ty nhập về làm trà nguyên liệu để… tái chế theo gu, theo tập quán của người uống trà ở từng nước. Kim ngạch xuất khẩu thấp là vì thế! Tại sao ta không nghiên cứu để đáp ứng tập quán uống trà, gu thưởng trà của từng thị trường? Những năm qua, mỗi khi ra nước ngoài công tác hoặc du lịch, tôi luôn mang theo trà Thái Nguyên để uống. Những khách sạn sang trọng ở các thành phố lớn nhất tại các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, mà tôi từng ngủ lại, phòng nào cũng có ấm pha trà. Thế nhưng, khi tôi pha trà, rót ra, thì nước và xác trà cùng tuôn một lúc! Thì ra, người ta quen uống trà trong túi lọc. Bởi thế, ấm trà được làm không có màng lọc (tất nhiên cũng bằng sứ) ở đáy, trước vòi. Ngay cả ở Bắc Kinh, Thượng Hải, ở Teheran Thủ đô Cộng hòa Hồi giáo Iran hay ở Myanmar, tôi cũng gặp chuyện đó. Như thế, cách uống trà theo lối truyền thống của Việt Nam và một phần lớn người Trung Hoa không phải là cách uống của phần còn lại trong hoàn cầu này!


Nên chăng, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trà Việt Nam phải đa dạng hóa sản phẩm, nắm cho chắc nhu cầu, thị hiếu, tập quán uống trà của mỗi thị trường trước khi sản xuất, chào hàng, đàm phán, bán hàng cho họ. Ta chỉ nên bán cái khách hàng cần! Thí dụ, thay vì xuất trà móc câu loại 100 gram, 200 gr… như hiện nay, ta nên đóng vào túi lọc. Thay vì chỉ trà móc câu, ta làm bột trà từ móc câu, trà bột, trà kèm theo gừng, hồi, quế… (người Nga thường uống trà với gừng). Tôi từng uống bột trà Matcha làm từ búp trà trồng ở chân núi Phú Sỹ Nhật Bản. Màu nước rất xanh vì không sấy khô, nhưng hương, vị thua xa Tân Cương. Người Nhật tin rằng một chén trà xanh Matcha tương đương 137 chén trà xanh thông thường về khả năng chống lão hóa và tương đương 10 cốc trà thông thường về dinh dưỡng!


Thứ hai, từ chỗ là cây thuốc, trà trở thành thức nước để uống. Nay, ta nên trở lại làm những chế phẩm từ trà giống như… thuốc! Không nên xuất khẩu hết sản lượng trà làm ra nữa! Các nhà hóa sinh học, công nghệ thực phẩm nên cùng các kỹ sư canh nông nghiên cứu để chế biến một phần lớn sản lượng trà khô thành các loại nước uống khác, thực phẩm dinh dưỡng và thuốc như: si rô, nước ngọt có ga và không ga; đặc biệt là các loại bột (cũng như nước) mỹ phẩm, làm đẹp da, tẩy trang (dành cho nghệ sỹ), nước tắm cho bé sơ sinh, nước xông đầu năm mới, nước cho Lễ trưởng thành, dầu gội, kem chống tia cực tím, các loại thuốc kháng viêm, thuốc bổ mắt, trị thấp khớp, trị táo bón, trị ung thư, trị các loại bệnh gan, thận, mật, phổi, trị các chứng suy nhược thần kinh…


Theo tư liệu tôi lưu trong máy: Nước Anh có 70% dân số uống trà hàng ngày. Hai hãng trà đầu bảng châu Âu quốc tịch Anh: Thomas Twining là người đầu tiên bán trà chén ở Anh từ năm 1708, duy trì đến nay. Thomas Lipton là người tạo ra thương hiệu trà Lipton từ cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng toàn cầu. Năm 1851, bí kíp trồng và chế biến trà của Trung Quốc đã bị nhà sinh vật học người Anh: Robert Foturne mang về công ty Đông Ấn. Từ Anh Quốc, trà được truyền sang Ấn Độ là thuộc địa của Anh… Mãi đến năm 828, vua Triều Tiên phái sứ thần Kim Đại Liêm sang Trung Hoa để mang hạt chè về trồng. Năm 801, người lập phái Tendai của Nhật Bản là Saicho (767- 822) được Hoàng gia phái sang Trung Quốc, mang hạt chè về Nhật. Vậy mà ở cả hai nước này, hiện có tới hàng trăm chế phẩm từ trà gồm đồ uống, thực phẩm dinh dưỡng và thuốc. Trông người mà ngẫm đến ta! Tiếc lắm thay!


Người Pháp gọi cây chè là le théier, còn trà thành phẩm là le thé. Người Pháp xâm chiếm, khai thác Việt Nam gần 100 năm. Họ có công mang cây cao su và cây cà phê đến Việt Nam, nhưng với cây chè, họ hầu như không làm gì cả! Họ chỉ chú ý việc nấu rượu, làm cao su và cà phê, chứ rất ít để mắt đến chè. Sau chiến tranh, hàng ngàn lính thợ, trong đó có ông Đội Năm – chuyên làm chi tiết máy bay- giải ngũ. Ông Đội Năm lên vùng Tân Cương lập nhiệp,  được ông Nghè Sổ tức Tuần Phủ Nguyễn Đình Tuân chắp cánh cho việc mang cây chè từ bên kia dãy Tam Đảo (Phú Thọ) về trồng thành công ở bên này dãy Tam Đảo (Tân Cương Thái Nguyên). Trà nhãn hiệu Con hạc trắng (bạch hạc) đoạt Giải Nhất Hội chợ Hà Nội 1935. Thế mà, người Pháp ngó lơ, không có tác động gì về khoa học kỹ thuật với việc trồng và chế biến chè. Người Việt Nam chỉ biết làm chè kiểu thủ công. Nhắc lại một đôi điều như thế để thấy: Việc đa dạng hóa sản phẩm, đưa trà trở lại với thế giới của dược liệu, đồng thời với việc làm ra sản phẩm trà để uống tinh diệu hơn, phù hợp tập quán và gu của từng thị trường… là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay. Các nhà hóa sinh học, các Dược sỹ, các kỹ sư canh nông hãy sát cánh cùng nhà nông ở Tân Cương, ở Thái Nguyên, làm cho cây chè Việt Nam cất cánh!


Trong chuyến du ngoạn Thái Nguyên đầu tháng 10-2015, tôi nghe được chuyện: Ông V. Putin, khi thăm Việt Nam, được Thủ tướng Việt Nam tặng quà là Đinh Đinh Trà, làm tại cơ sở Thái Hường. Về nước, uống hết rồi, ổng điện qua nhờ mua đúng trà đó. Từ năm đó đến nay, ông V. Putin chỉ uống trà Đinh Tân Cương. Nghe chuyện, tôi sướng! Rồi tôi tiếc! Tiếc là là tại sao Thái Nguyên không lấy câu chuyện này để quảng bá, giới thiệu Trà Đinh Tân Cương với toàn thế giới? Việc đề xuất đặt tên một con đường ở thành phố Thái Nguyên là Nguyễn Đình Tuân, tri ân người Tuần Phủ đã chắp cánh cho Đội Năm làm chè Tân Cương, lãnh đạo tỉnh không đồng ý, thật đáng trách, đó là biểu hiện sự non kém về Văn hóa chính trị! Nhưng, cũng chẳng chết ai! Khác hẳn chuyện ấy, việc không nhân câu chuyện ông Putin mê uống trà Đinh Đinh Tân Cương để PR với nhân loại về loại trà “ngon nhất quả đất” thì… dại vô cùng, thiệt đơn thiệt kép!


Việt Nam gia nhập TTP rồi, chúng ta hãy gấp rút trong công cuộc cạnh tranh, kẻo “hết phim”, thua ngay trên sân nhà! Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi bó tay ngồi nhìn các nhà hóa sinh học, các doanh nghiệp trà Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc “múa gậy giữa rừng hoang” mãi sao!


Sài Gòn, 24-10-2015.


Triệu Xuân


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ở Sài Gòn, không nói hủ tíu cơm tấm mà bàn chuyện PHỞ - Lê Văn Nghĩa 18.09.2017
Thanh Tùng - Nhà thơ của Thời hoa đỏ - Vũ Từ Trang 14.09.2017
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4) - Nguyễn Cung Thông 14.09.2017
Đi tìm những tác giả của bộ phim Ngày độc lập - Tư liệu 03.09.2017
Một người già gầy gò mà có nụ cười sao thương thế... - Kiều Mai Sơn 03.09.2017
Góp thêm tư liệu về cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch" & tác giả Trần Dân Tiên - Kiều Mai Sơn 01.09.2017
Trung Quốc ngửa bài với ASEAN và Việt Nam? - Nguyễn Hải Hoành 31.08.2017
Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng - Nhiều tác giả 30.08.2017
Hàng loạt sai phạm tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam - Tư liệu 29.08.2017
Các sai lầm của thuyết ‘Chữ Hán ưu việt’ - Mễ A Luân 28.08.2017
xem thêm »