tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950684
17.10.2015
Nhiều tác giả
Hai bài nên đọc về Simone de Beauvoir

Simone de Beauvoir, người đau đớn và khổ sở


Nguyễn Huỳnh Mai



Simone De Beauvor và Jean Paul Sartre 


Trước khi vào đề, một tựa bài như trên có thể làm nhiều người bất bình, nhất là những trí thức đã đọc và thích các tác phẩm như Giới tính thứ nhì, Những vị quan lại hay Hồi ký của một thiếu nữ con nhà đàng hoàng: Simone de Beauvoir suốt đời đã xuất hiện trước mắt công chúng như một trí thức đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực, là một bạn đời hạnh phúc của Jean-Paul Sartre, là một nhà văn viết rất giỏi, thần tượng của ít nhất là hai thế hệ phụ nữ (thế hệ sinh trong những năm 1950 và 1980). Bà lại là một phụ nữ đẹp, thanh tú, lúc nào cũng ăn mặc rất trang nhã, hợp thời, hợp hoàn cảnh – một thí dụ: lúc lớn tuổi, khi tóc đã thưa, bà cài một loại khăn vấn trên đầu, hợp màu với trang phục và cái khăn vấn đầu thành «thương hiệu» của bà nếu nói theo kiểu hiện đại, nếu cổ điển hơn, ta nói cái khăn ấy là một biểu tượng của bà, một loại chữ ký riêng.


Không có dấu hiệu nào để nói rằng Simone de Beauvoir là một người đau đớn và khổ sở nếu chỉ phân tích văn phong hay nội dung các tác phẩm của bà.


Thế nhưng, như bất cứ xã hội học gia nào, tác giả bài này ứng dụng phương châm «phá vỡ cái thực trạng để xem cái thực tế thật trốn bên trong» – (casser le réel pour voir le vrai réel qui se cache à l’intérieur) –


Thật vậy, ta có thể hỏi: tại sao bà Simone de Beauvoir suy nghĩ, viết và sống như bà đã làm? Đâu là những động cơ thực sự, những động cơ tiềm ẩn? Nghiên cứu về những liên hệ mà bà kết nối với môi trường chung quanh bà có thể cho nhiều chi tiết mới mà có khi những nhà phê bình văn học không chú ý đến.


Xã hội học là khoa học nghiên cứu những liên hệ giữa người và người trong xã hội hay những liên hệ giữa người và hệ thống xã hội trong đó họ sống.


Giả thuyết về những trăn trở, khổ sở của bà, bàng bạc qua các tác phẫm và cuộc đời của bà đã được đặt ra và cuối cùng được lý giải dưới khía cạnh xã hội học vớiphương pháp phân tích nội dung và phân tích tiểu sử – analyse de contenu et analyse biographique – .


Từ từ, ta sẽ thấy là dưới vẻ ngoài đầy tự tin, dưới hình thức ăn vận thanh cao, đẹp tới lúc cuối đời, với giọng văn đòi nữ quyền, Simone de Beauvoir đã là một phụ nữ khắc khoải, tâm tư với nhiều dằn vặt, đau đớn.


Bà đã là một thiếu nữ gốc trưởng giả nhưng gia đình thành nghèo đi. Để sống, cha của bà đã phải bán dần gia tài hồi môn của vợ, một tình trạng gây giằng co tâm lý cho Simone de Beauvoir, giữa một bên là nề nếp của tầng lớp giàu có và một bên là những khó khăn, dù chỉ là những khó khăn tương đối, của cuộc sống – – Trong Mémoires d’une jeune fille rangée bà viết Thấy cha tôi khuyến khích tôi góp nhặt nhiều bằng cấp tôi nghĩ chắc ông hảnh diện về sự thông thái của đứa con gái. Nhưng tôi lầm, những kết quả xuất sắc của tôi được ông xem như những phương tiện để không có cái túng thiếu mà ông phải đối mặt.


Bà đã không chấp nhận vị thế của người phụ nữ nên đã viết Le deuxième sexe, để tranh đấu cho nữ quyền mà có thể đồng thời để tự «giải tỏa» cho thân phận mình.


Bà khổ sỡ với mối tình tay ba (Sartre, bà và Olga), bà gọi người thứ ba đó là khách – L’invitée được viết sau đó –


Cuối cùng, ở ngưởng tuổi 60, tuổi hồi xuân của phụ nữ, bà cho xuất bản 800 trang La vieillesse, kể chi tiết số phận người già.


Và đấy chỉ là sơ lược vài nét về cuộc đời và các tác phẫm của Simone de Beauvoir.


Bà viết «để hiểu nhân cách của một tác giả qua tác phẫm, phải đổ nhiều công sức» (trong La force de l’âge, 1960). Tác giả bài này xem đó như một lời mời gọi và đi vào nghiên cứu vài tác phẫm của Simone de Beauvoir bằng cách đặt chúng vào trong bối cảnh đời tư của bà.


Sơ lược tiểu sử bà Simone de Beauvoir


Simone de Beauvoir (1908-1986), nữ văn sĩ và nhà triết lý trường phái hiện sinh, bạn đời của Jean-Paul Sartre trong gần nửa thế kỷ từ những năm 1930 đến lúc Sartre qua đời năm 1980 nhưng không có kết hôn.


Cuộc tình của bà với Jean-Paul Sartre không êm thấm như một dòng sông hiền hòa. Sartre có ít nhất là ba bốn tình nhân khác. Riêng bà Simone de Beauvoir cũng có ba người đàn ông nữa trong đời – Jacques-Laurent Bost, Claude Lanzmann và Nelson Algren – và vài cô bạn gái.


Bà có một khả năng viết kỳ diệu, hơn hai mươi tác phẫm lớn. Bà lấy cảm hứng từ cuộc sống, kinh nghiệm và quan sát, lại là một học giả uyên bác: bà tra cứu và khai thác dữ kiện như một nhà khoa học. Khi viết về phụ nữ hay về người già chẳng hạn,  bà phân tích từ góc cạnh nhân chũng, lịch sử, thống kê,....


1945, cùng với một số trí thức tả khuynh, và với Jean-Paul Sartre dĩ nhiên rồi, bà chủ trương Tạp chí Les Temps Modernes – Thời hiện đại – một diễn đàn đề cao dân chủ và tự do.


Giới tính thứ nhì (Le deuxième sexe), 1000 trang, xuất bản năm 1949, không chỉ trình bày hiện trạng của phụ nữ mà lần lượt bà vừa đưa ra những dữ kiện sinh học, y khoa, lịch sử, văn chương, xã hội học, thống kê,... có liên quan đến nữ giới. Tất cả các vấn đề của phụ nữ, từ lúc mới chào đời, tuổi trẻ, lúc dậy thì, có chồng có con, lúc tuổi già, chuyện giới tính, tình dục, kể cả chuyện đồng tính luyến ái hay trường hợp của những gái làng chơi bán dâm,... bà đều đề cập đến. Như một bách khoa tự điển.


Quyển Giới tính thứ nhì của bà được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ thứ XX (hạng thứ 11).


Sau chuyến đi thăm Trung Quốc, bà viết les Mandarins (Những vị quan lại) – miêu tả thế giới của những người trí thức Pháp sau thế chiến thứ nhì. Lần lượt những chủ đề chính trị Đế quốc xã, lý tưởng Cộng sản, xã hội hay đời tư tình yêu. Một pha trộn giữa những sự kiện trong đời bà và hư cấu. Les mandarins được giải Goncourt năm 1954, một giải văn chương danh giá.


Cái chết của mẹ bà, cái chết của Sartre, tuổi 60 của bà... là những đề tài cho bà sáng tác để viết tiểu thuyết hay bình luận.


Cuộc đời là cảm hứng của bà. Hay nói khác hơn, các tác phẫm của bà nhiều hay ít là những tác phẫm «tự truyện». Ít nhất, cuộc đời bà, suy nghĩ của bà là những động cơ cho bà nghiên cứu, tìm tài liệu và sáng tác dù là chúng được xếp vào thể loại bình luận hay tiểu thuyết.


Vài mốc thời gian: đời và các tác phẩm chính của Simone de Beauvoir:


1908 Simone de Beavoir chào đời trong một gia đình trưởng giả


1929 Bà thi bằng sư phạm và đổ hạng nhì, sau Jean-Paul Sartre – họ quen nhau


1943 L’Invitée (Người khách mời)


1949 Le deuxième sexe (Giới tính thứ nhì)


1954 Giải Goncourt cho quyển les Mandarins (Những vị quan lại)


1958 Mémoires d’une jeune fille rangée (Hồi ký của một thiếu nữ con nhà đàng hoàng)


1964 Une mort très douce (Một cái chết thật nhẹ nhàng, kể chuyện mẹ của bà qua đời)


1970 La vieillesse (Tuổi già)


1972 Tout compte fait (Rốt cuộc)


1983 Lettres au Castor et à quelques autres (Thư gửi Castor và gửi vài người khác– Castor là tiếng gọi thân thương mà Sartre dành cho bà).


Sự đau khổ trong tình yêu?


Chính qua tác phẩm cuối cùng (Lettres aux Castor et à quelques autres – Thư gửi Castor và vài người khác, NXB Galimard, 1983), tập trung những bức thư của Sartre và được xuất bản sau khi Sartre qua đời, Simone de Beauvoir cho thấy sự phức tạp của đời sống tình cảm của bà với Sartre. Vì Sartre công khai tình yêu với nhiều phụ nữ. Nói khác đi, Simone de Beauvoir gặp nhiều thăng trầm trong tình yêu.


Vốn là người khai quang cho nữ quyền, cho sự bình đẳng với nam giới và nhất là không lệ thuộc vào nam giới, Simone de Beauvoir từ chối liên hệ hôn nhân, bà từ chối kết hôn với Jean Paul Sartre mặc dù ông đã nhiều lần khẩn khoản và mặc dù trên thực tế, ông là bến tựa cho bà trong hầu như suốt đời bà – hầu như suốt đời, ta sẽ trở lại sau cho vài chi tiết.


Để không lệ thuộc? Thế nhưng Simone de Beauvoir vẫn bị lệ thuộc vào Jean-Paul Sartre và vào tình ái – một sự lệ thuộc nhẹ nhàng và rất «đạo đức» theo định nghĩa của luân lý cổ truyền. Một sự lệ thuộc cho cả hai bình diện, vừa xã hội vừa tri thức. Bà giữ vai trò người vợ của Jean-Paul Sartre và hi sinh cho ông cũng như phần đông phụ nữ ở thế hệ của bà – những người phụ nữ nấp bóng sau chồng.


Phụ nữ mạnh, có cái đầu suy nghĩ nhưng trong đời, bà được đưa đẩy bởi những bức thư tình mà Sartre viết cho bà mỗi tuần, ngay cả trong lúc trong chiến tranh, lúc Sartre bị bắt làm tù binh của Đức quốc xã. Simone de Beauvoir được nuôi dưỡng bởi tiếng «Castor» (“con rái cá”, dịch từ chữ beauvoir tiếng Anh) mà Sartre dùng để gọi bà một cách thân yêu. Bà theo trường phái hiện sinh của Sartre. Bà tháp tùng Sartre đi thăm Liên xô, Tàu cộng, Cuba. Cuộc đời bà cũng có ý nghĩa hơn với những cuốn phim về  Sartre. Về mặt tình cảm tâm lý và xã hội, bà cũng không thoát ảnh hưởng của Sartre ngay cả khi Sartre qua đời (Bà mất sau Sartre 6 năm). Bằng chứng là bà tiếp tục cho xuất bản những tác phẩm của Sartre.


Cả trên phương diện văn chương, mỗi tác phẩm bà viết đều được Sartre đọc lại và góp ý.


Mẹ đẻ của «giới tính thứ nhì», chống đối và đưa đầy yêu sách để giải phóng phụ nữ nhưng trong quan hệ với Sartre, bà vẫn giữ vai trò của... giới tính thứ hai truyền thống. Bà bảo rằng «Sartre là người đầy sáng tạo, tôi chỉ là người đi theo» trong một cuộc phỏng vấn.


Khách quan mà nói, Sartre là một triết gia và nhà văn vĩ đại thật. Bằng cớ, ông được giải Nobel Văn chương năm 1964 và là một trong hai người duy nhất từ chối giải này (người thứ nhì là Lê Đức Thọ – giải Nobel Hòa bình 1973) trong lịch sử giải Nobel .


Simone de Beauvoir nói «chỉ là người đi theo» và trong đời bà đã sống như thế, nép sau bóng Jean-Paul Sartre. Vì một lý do giản dị: bà vốn được giáo dục từ nhỏ bởi xã hội, bởi hoàn cảnh, bởi thời đại. Bà đã «theo đúng chuẩn» dù đã lên tiếng chống một số chuẩn!


Nhưng chính cái áp đặt xã hội này làm bà khổ. Bà muốn tự giải phóng, bình đẳng với nam giới và đưa sự giải phóng bình đẳng này tới cho tất cả phụ nữ, Nhưng bà chưa áp dụng được cho bản thân mình.


Độc lập về kinh tế so với Sartre là thành công thiết thực của bà. Và có thể đó là độc lập lớn nhất mà bà tạo được đối với người bạn đời hay là độc lập duy nhất? Sartre có lần bảo rằng liên hệ giữa ông và Simone de Beauvoir là một liên hệ tự do và bình đẳng tuyệt đối. Tự do, chắc chắn rồi. Bình đẳng về phương diện kinh tế cũng đúng. Nhưng bình đẳng về mặt xã hội thì có lẻ phải còn xem lại.


Con người của lý trí, của cái đầu hay một phụ nữ đầy tình cảm? Simone de Beauvoir thuộc về loại đàn bà thứ nhì. Bà lệ thuộc vào trái tim như rất nhiều phụ nữ khác, bà diễn tả những lời nồng nàn, với người tình Nelson Algren, yêu một cách đam mê (trong Thư cho Nelson Agren, tác phẩm xuất bản bởi con gái nuôi của bà, sau ngày bà qua đời).


Ta biết là bà đã sống gần nửa thế kỷ với Sartre với nhiều mối tình khác bên cạnh.


Trước nhất phải kể Claude Lanzmann, một tác giả, nhà báo và nhà làm phim, vốn là bạn thân của Sartre. Bà đã sống với Lanzmann sáu năm (1952-1959 trong khi vẫn giữ liên hệ với Sartre). Sau đó, chính Lanzmann là điểm tựa tinh thần cho bà khi Sartre qua đời (năm 1980) dù Lanzman vào thời điểm này đã lấy vợ.


Nhưng chưa hết, trước đó, 1947, trong một chuyến đi Mỹ, bà gặp nhà văn Nelson Algren và dù đã từ chối lời cầu hôn của ông này, bà đã sang Mỹ sống một thời gian với Nelson, tiếp tục trao đổi thư từ, những thư tình, với ông trong nhiều năm  (1947-1964). Mười bảy năm. Hơn 300 bức thư bà viết cho ông Nelson, sau này, được con gái nuôi của bà cho xuất bản Lettres à Nelson Algren, NXB Gallimard, 1997.


Trong một thư, đề ngày 19.7.1948 bà giải thích với Nelson rằng Em yêu anh. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu em dành cho anh, em sẽ rất hạnh phúc nếu được sống với anh, cho tới lúc ngày cuối của đời em, ở New York, ở Chicago hay ở Paris nhưng Sartre cần em…


Khi Simone de Beauvoir mất, bà được chôn chung mộ với Jean Paul Sartre nhưng với cái nhẩn của Nelson Algren ở ngón tay. Và người đưa bà đến nơi yên nghỉ cuối cùng là Claude Lanzmann.


Trước Nelson Agren, bà đã yêu Jacques-Laurent Bost (một mối tình ba năm 1937-1940 với các đam mê của tuổi trẻ – bà gần 30 tuổi trong khi Jacques-Laurent Bost, một nhà báo, trước là học trò của Sartre, lúc ấy  mới 21 tuổi).


Năm 2005, Sylvie Le Bon, con nuôi của Beauvoir cho xuất bản Correspondance croisée (NXB Gallimard), gần một ngàn trang thư qua thư lại giữa họ trong những năm căng thẳng trước Thế chiến thứ II, Một mối tình nóng bỏng. Chiến tranh đã ngăn chia họ. Những luật lệ xã hội khiến họ không tiếp tục đi cùng đường với nhau.


Sau này Jacques Laurent Bost cưới Olga Kosackiewcz – Olga đã có lúc là người tình của Sartre –


Cuộc sống tình cảm của Simone de Beauvoir và Jean-Paul Sartre thật rất là phức tạp – với những người trong một vũ trụ gần như khép kín vì họ lần lượt là người tình của nhau .


Như thế, Simone de Beavoir có bốn người đàn ông trong đời bà. Giữa... thanh thiên bạch nhật. Cả bốn người nàyquen biết nhau và các cuộc tình được chấp nhận trong luật «minh bạch» giữa Sartre và Beauvoir. Sartre là người tình cần thiết, Algren người tình sâu đậm, Lanzmann người bạn tri kỷ hay  người tình của cảm thông và Bost một mối tình thời trẻ với bối cảnh chiến tranh.


Chung thủy với Sartre là một chung thủy xã hội và tri thức. Hai người danh chính ngôn thuận xuất hiện trước công chúng, đi du lịch cùng nhau, đi thăm Che Guevara hay Fidel Castro cùng nhau,... vì họ chia sẻ cùng nhau chung một ý thức hệ, chung một triết lý, họ làm việc với nhau cho tờ báo Les temps Modernes và họ đọc bản thảo của nhau trước khi xuất bản.


Tình ái với Simone de Beauvoir còn là tình ái ở số nhiều, nhiều người tình và kể cả đồng tính luyến ái.


Thật vậy, bà có những liên hệ «đặc biệt» với một cô bạn  Elisabeth Zara thời còn đi học và với một số học trò nữ trong đó có Sylvie Le Bon.


Đồng ái luyến tính được bà dùng như một phương thức để tránh hay thoát sự thống trị của nam giới.


Sau này bà đã nhận cô Sylvie Le Bon làm con nuôi và để lại cho cô trọn gia tài văn chương cũng như những của cải của bà.


Lý tưởng suốt đời, bà đã cần nhiều mối tình đẹp, Có người nói “tôi cần tình yêu như cần thở”, Simone de Beauvoir cần trung thành với Sartre như cần một giải pháp giải phóng. Nhưng bà đã sống với Claude Lanzmann trong suốt sáu năm, yêu Nelson Algren với hết cả ruột gan và đồng thời liên hệ luyến ái với Jacques-Laurent Bost và nhiều bạn gái khác.


Sự đi tìm kiếm tình yêu, liên tục suốt cả đời, yêu nhiều người cùng lúc,... có thể hiểu được như một sự đau khổ, chưa thỏa mản,... nên cho tới giờ chót, bà vẫn là người đi tìm tình yêu,…


Về thân phận phụ nữ


Một câu nói nổi tiếng của bà: Ta không sinh ra là phụ nữ. Mà ta trở thành phụ nữ. Câu này nói lên ảnh hưởng, và hơn thế nữa, sự quyết định của xã hội trên thân phận của phụ nữ.


Điều đó có nghĩa là xã hội cho ta cái thân phận phụ nữ, làm ta thành phụ thuộc nam giới, cho ta một địa vị thấp kém hơn nam giới, người đi theo nam giới. Tác phẫm Giới tính thứ nhì cho thấy là trong thực tế, phụ nữ chỉ hiện hữu dưới cái thống trị của của các ông, qua chỗ đứng mà xã hội dành cho các bà. Các bà không có lựa chọn, chỉ phải tuân thủ và thành bất lực trước tình huống.


Không phải vì sinh ra là phụ nữ mà bị thiệt thòi mà tại xã hội cho ta thiệt thòi –


Được dạy dỗ từ bé, con trai và con gái nhận hai cách giáo dục khác nhau,  với những mẫu ứng xữ, những cấu thành cho bản thể,... trong một xã hội theo phụ hệ, trọng đàn ông vì truyền thống, vì nam giới tới giờ vẫn là đa số trong cấu trúc của quyền lực, kể cả quyền lực trong gia đình.


On ne naît pas femme, on le devient – câu này bà ghi đậm trên bìa cuốn Le deuxième sexe. Với quyển sách này, xuất bản năm 1949, bà được xem như một người tiên phong đấu tranh cho giải phóng phụ nữ – xin đừng quên là các phong trào giải phóng phụ nữ chỉ xuất hiện sau 1968, nghĩa là gần hai thập niên sau – Simone de Beauvoir giúp phụ nữ ý thức được số phận bị đàn áp của họ.


Trên bình diện cá nhân, Simone de Beauvoir viết Giới tính thứ nhì vì hơn ai hết bà ý thức rõ «đau đớn thay phận đàn bà». Trong đời riêng tư, bà cũng tốt nghiệp sư phạm như Jean-Paul Sartre, cũng đi dạy triết và văn chương, cũng viết sách,... nhưng Sartre là người đưa đường dẫn lối, bà chỉ là người đi theo. Sau này, Sartre được giải Nobel về Văn chương, ông đã từ chối giải này, nhưng chưa ai đề nghị Nobel cho Simone de Beauvoir!


Khổ vì thân phận đàn bà, Simone de Beauvoir ý thức được sớm lắm – từ lúc còn học trung học.


Trong Hồi ký của một thiếu nữ con nhà tử tế – Mémoires d’une jeune fille bien rangée – bà đã bàng bạc tả cái cô đơn, bà không dùng chữ khổ sở, của một thiếu nữ không hòa mình được với môi trường của giới trưởng giả. Có thể vì gia đình bà thất thế, không còn gia sản, đã phải rời căn hộ sang trọng ở đường Raspail để đến ở một căn hộ khiêm tốn hơn, cha bà đã phải «ăn dần» các món hồi môn của vợ, một loại nhục nhã khó nói ra,...Nhưng cũng có thể vì bà không phiến diện hay hời hợt như các thiếu nữ cùng thời.


Một người không đấu tranh giải phóng phụ nữ, lúc đó chưa có phong trào xuống đường đòi nữ quyền –  nhưng với Le deuxième sexe xuất bản năm 1949, bà giúp phụ nữ ý thức được số phận bị đàn áp của họ và bà đóng vai trò tiên phong trong ý thức hệ giải phóng phụ nữ.


Đó là một quyển sách hơn cả nghìn trang, gần như một bách khoa từ điển, bà đi từ nhân chũng học, xã hội học, nhân quyền học,... rồi từ đó đưa ra luận cứ. Tất cả những khía cạnh của đời sống phụ nữ được bà mỗ xẻ, tyrình bày. Từ lúc ra đời, đến tuổi dậy thì, làm vợ rồi làm mẹ,... Cả đến thân phận của các cô bán hương bán phấn…


Bà có những chữ rất nặng:


«Mặc váy thì làm sao đi xa được?» hay «Nhân tài không phải bẩm sinh mà là được tôi luyện. Nhưng phụ nữ không có cơ hội được tôi luyện vì xã hội không cho phụ nữ phát triển». Sau này, Pierre  Bourdieu nói về sự định đoạt của xã hội – le déterminisme social – hóa ra Bourdieu chỉ  khai triển và minh chứng những gì Simone de Beauvoir viết hai mươi năm trước.


Thế nhưng trong dấu ngoặc, phải nói là Simone de Beauvoir còn dùng chữ thứ nhì trong cái tựa Giới tính thứ nhì – tức là trong tâm khảm bà, các ông vẫn là người đi trước, là giới tính thứ nhất. Hai mươi năm sau, cách gọi phụ nữ là phân nửa bầu trời” ( la moitié du ciel) như N. Kristof, S.Wudunn và Han Suyin,... có vẻ bình đẳng hơn.


Sự đau khổ vì tuổi già và cái chết là một vấn đề bám theo Simone de Beauvoir trong suốt gần hai mươi năm.


Đầu những năm 1960 bà cho xuất bản Một cái chết thật nhẹ nhàng (Une mort très douce), kể tỉ mỉ cái chết của mẹ bà. Nhưng thật sự, qua lời văn, một phần tâm lý bà ẩn ở đó.


Bà viết Chúng ta chứng kiến cuộc tổng dợt của đám tang mình. Cái khổ là cuộc phiêu lưu đó, ai cũng phải trải nghiệm, nhưng chỉ trải nghiệm đơn độc.


Bà cũng viết: «Mẹ bà sợ bị bỏ vào một cái hộp to mà những người lạ mặt tới khiêng đem vất ở một nơi nào đó,...». Bà kể rằng chị của bà cố gắng giải thích để trấn an bà cụ...và qua những lời trấn an đó ta cảm nhận được như những trấn an cho chính bản thân của những người... chưa phải chết tức nhưng dù thế nào đi nữa  thì cũng sẽ phải đối diện với cái chết một ngày nào đó.


Trong Một cái chết thật nhẹ nhàng, Simone de Beauvoir, cũng đề cập tới vấn đề an tử hay trợ tử, sự giằng co giữa quan niệm của nhà thờ Công giáo và của người không theo đạo. Một vấn đề cấm kỵ (tabou) lúc đó.Thế giới của bệnh viện cũng được bà miêu tả- công việc của những y tá, liên hê với người bệnh,... –, từ người trong cuộc, ngay giữa những năm 1960, lúc mà Xã hội học về Y khoa còn rất sơ khai. Những câu chữ viết, cốt ý là khách quan,  nhưng sự dồi dào chi tiết có thể được diễn dịch như cách mà Simone de Beauvoir dùng để giải tỏa cho con tim đau khổ của mình lúc phải chứng kiến cái chết của mẹ bà.


Cái chết và sự già cả là một đề tài làm Simone de Beauvoir suy nghĩ như một thiệt thòi.


Simone de Beauvoir phân tích trong từng chi tiết: già cả vì những yếu tố sinh học, ta sinh hoạt chậm hơn, ta mau mệt hơn,... nhưng nhất là ta mất chổ đứng trong xã hội.


Hết lên tiếng về thân phận phụ nữ, năm hơn 50 tuổi, bà viết 800 trang tranh đấu giành quyền cho người già.


Thấm nhuần triết lý hiện sinh, Simone de Beauvoir, hơn ai hết ý thức rằng mình không tự do, không làm chủ được định mệnh của mình. Mà trường hợp điển hình là thân phận của người già – Càng già càng ít quyền. Trong khi đó những khuôn mẫu, những ràng buộc, những yếu tố xã hội – gia đình, lịch sử, văn hóa,... – định đoạt cho ta.


Văn hóa Á đông bảo «Kính lão đắc thọ» nhưng phần đông các nền văn minh, trong quá khứ, xem người già là một gánh nặng – người già không thể góp phần sản xuất hay xây dựng xã hội. Gánh nặng này là một nguy cơ có thể làm lung lay cho sự sống còn của xã hội .


Nhưng người già là những người đã góp công cho xã hội, bảo vệ tuổi già đúng ra là thể hiện một sự đối đãi công bằng có trước có sau. Thế nhưng xã hội là một tổng thể không cần lý luận, không biết ơn và bỏ xó người già. Hơn ba phần tư, dựa trên các dữ kiện thống kê, ở đây Simone de Beauvoir viết như một nhà xã hội học, người già sống trong nghèo khổ.


Bà viết Ngày xưa kinh nghiệm cần cho xã hội. Bây giờ xã hội xem kinh nghiệm là lổi thời . Thế có nghĩa là văn hóa xã hội không còn kính nễ người già.


Bà bảo vệ thân phận xã hội của người già và xem đó như cuộc chiến của chính bản thân mình. Bà dẫn cả một đoàn truyền hình Thụy Điển đi thăm và quay phim một nhà dưỡng lão ở ngoại ô Paris, nơi các người già mòn mõi ngồi bên cửa sổ nhìn thế giới bên ngoài như từ một nhà tù nhìn ra, họ thèm cuộc sống ở bên ngoài, họ chờ đợi một cuộc viếng thăm nào đó của con cháu,... Vì ở nhà dưỡng lão là sống tâm trạng bị gia đình bỏ rơi, bị bỏ xó, ở ngoài lề của xã hội.


Sự đau khổ vì tuổi tác và cái chết là một vấn đề bám theo Simone de Beavoir trong hai thập niên, nếu ta tính từ khởi điểm lúc bà viết Một cái chết thật nhẹ nhàng tới lúc bà xuất bản quyển Tuổi già.


Trong một năm, chỉ có một mùa xuân và trong cuộc đời chỉ một lần ta trẻ là một câu bà viết trong La vieillesse.


Lời chót


Simone de Beauvoir đã sống một đời đầy sáng tạo. Bà đã đưa đường dẫn lối cho ít nhất là hai thế hệ phụ nữ từ Tây sang Mỹ –  từ thế hệ của thập niên 30 tới  thập niên 80. Bao nhiêu ngàn trang viết?


Thế nhưng kết luận của bà là «tôi đã bị đánh lừa» (j’ai été flouée – trong La force des choses, 1963) bốn chữ như nói lên một sự tiếc nuối cho một đời không thỏa mãn.


Tác giả bài này xin ghi lại đây một câu khác của bà để kết luận: “Trong những giọt nước mắt còn đọng lại một niềm hi vọng (Dans toutes les larmes s’attarde un espoir trong Les mandarins, Những vị quan lại, 1954). Bà gián tiếp thừa nhận là có những giọt nước mắt? Có lẽ phải là người”


Có những giọt nước mắt? Dĩ nhiên rồi. Không đường đời nào được trải toàn hoa hồng. Rất nhiều phụ nữ, nhất là phụ nữ Việt Nam, suốt đời lo cho chồng, cho con… Bổn phận đè nặng trên hai vai, họ thực thi ba đảm đang, giỏi việc nhà, việc sản xuất và cả việc nước. Họ cũng phải đối mặt với tuổi già, với ốm đau… Rốt cuộc, như Simone de Beauvoir, biết bao nhiêu lần, những người phụ nữ ấy  đã... cắn răng – serrer les dents – vượt khó. Chỉ khác với Simone de Beauvoir một điểm: họ  không có khả năng viết như bà. Họ âm thầm hi sinh và nuốt những giọt nước mắt...


Tài liệu tham khảo:


1. Simone de Beauvoir, Lettres à Nelson Algren – Un amour transatlantique 1947-1964, texte établi, traduit de l’anglais et annoté par Sylvie Le Bon de Beauvoir, NXB Gallimard, 1997.


2. Simone de Beauvoir, Jacques-Laurent Bost, Correspondance croisée 1937-1940, édition établie, présentée et annotée par Sylvie Le Bon de Beauvoir, NXB Gallimard, 2004.


3. The Patagonian Hare: A Memoir,  Claude Lanzmann. NXB Atlantic, 2012.


4. Claudine Monteil, Les Amants de la Liberté, Sartre et Beauvoir dans le siècle, NXB Calmann-Lévy, 1999.


5. Pierre Tevanian et Sylvie Tissot, Les mots sont importants. NXB Libertlia, 2010.


 


Simone De Beauvoir – Nữ quyền không chỉ là phong trào mà là một khoa học


Lê Thị Quý


Uy tín của Simone de Beauvoir trong phong trào phụ nữ lớn đến mức chính Tổng thống Pháp François Mitterrand cũng phải ca ngợi bà là “một trong những nhà văn hóa bậc thày, nhà tiên phong mở hướng cho thời đại. Cuộc đời bà, các tác phẩm bà viết và cuộc đấu tranh của bà đã nâng cao giác ngộ của tất cả những người đàn ông và đàn bà nước Pháp cũng như toàn thế giới”. Khi bà mất, trong diễn văn tiễn biệt, ngài bộ trưởng Bộ văn hóa Pháp đã thốt lên: “Thưa các chị em phụ nữ trên toàn thế giới, chúng ta hàm ơn bà ấy biết bao nhiêu”.Người ta vẫn coi bà là nhà hoạt động chính trị xã hội đã làm thay đổi đời sống chính trị và trí tuệ của giới phụ nữ phương Tây thế kỷ XX.


 Bắt đầu từ triết học hiện sinh:


Ở Paris, trên dòng sông Seine thơ mộng có một cây cầu được người Pháp đặt tên và gọi một cách trìu mến là Passerelle Simone de Beauvoir. Cây cầu có hình dạng thật đặc biệt, giống như một con mắt mở ra trước cuộc đời, nhìn đời một cách mạnh mẽ nhưng đầy nhân hậu, ánh mắt đầy vẻ hiện sinh kiểu Simone de Beauvoir. Nó trông thẳng về tòa nhà trụ sở của cơ quan quyền lực tài chính Pháp - Bộ Tài chính như một thách thức, rồi hướng tới một công viên yên tĩnh mỗi mùa xuân lại xanh ngút ngàn cây lá. Sự hiện diện của cuộc sống chúng ta có nghĩa lý gì nhỉ? Simone de Beauvoir bắt đầu sự nghiệp khoa học và đấu tranh vì bình đẳng giới của mình bằng câu hỏi như vậy?


Đầu thế kỷ XX, cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi tận gốc nền sản xuất của xã hội. Tiến bộ này được các nhà tư­ tư­ởng phu­ơng Tây miêu tả như­ là thành quả của chủ nghĩa Duy lý. Đến những năm 50-60 xu h­ướng duy lý được đẩy cao bởi chủ nghĩa Kỹ trị. Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ hoàng kim của nó, nhiều nhà triết học phi duy lý như­ Spengler, Nietzsche đã nói tới sự suy tàn của chủ nghĩa duy lý kỹ thuật và coi việc để cao kỹ thuật là nguyên nhân của bất hạnh, của những thảm hoạ đối với con người và sự phá vỡ các mối quan hệ xã hội. Sự phi lý của chiến tranh đã gây ra những hoang mang cho con ngư­ời làm ng­ười ta cảm nhận sự phi lý của cuộc sống. “Tự do, bình đẳng, bác ái” dường như­ chỉ còn là khẩu hiệu.


Bên cạnh đó,  một số sự kiện lớn xảy ra trên thế giới gắn liền với những hành động u tối của nhân loại cũng làm nhức nhối những trí thức tiến bộ. Sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và thế chiến 2, rồi đến chiến tranh lạnh, nguy cơ đe doạ nhân loại bằng vũ khí tối tân, bom nguyên tử. Và câu hỏi Sự hiện diện của cuộc sống chúng ta có nghĩa lý gì nhỉ? lại hiện lên, đầy những thách thức.


Chủ nghĩa Hịên sinh mà Jean Paul Sartre, nhà triết học Pháp được coi như là người đặt nền móng đã xuất hiện và phát triển mạnh thời kỳ này là một phản ánh hiện thực xã hội. Đây cũng là một thành tố trong các cuộc “nổi loạn” của  sinh viên Pháp vào tháng 5, tháng 6/1968 và trong phong trào “Phản kháng đối với các giá trị văn hoá” của thanh niên Mỹ


Là bạn và người tình trọn đời của Jean Paul Sartre,  Simone De Beauvoir vừa chịu ảnh hưởng quan điểm hiện sinh của ông vừa sáng tạo những tư duy mới. Chính bà đã góp phần đẩy chủ nghĩa hiện sinh sang hướng tích cực hơn. Thay vì mệt mỏi, chán chường vì “sự vô nghĩa” của cuộc sống, hoặc ví von cuộc sống con người chỉ hiện hữu như “con gián, con rệp” như nhiều nhà hiện sinh lúc đó, Simone De Beauvoir đề cao một sự hiện hữu tích cực. Bà vừa chống lại sự hiện diện của chủ nghĩa cường quyền và bạo lực, chống lại việc đề cao sự thống trị của kỹ thuật trong chủ nghĩa Duy lý vừa đấu tranh cho những sự bình quyền, đặc biệt là bình quyền nam nữ, hướng tới một sự  sống tốt đẹp cho con người.


Giới tính thứ hai


Trong khi quan điểm cơ bản của thuyết Hiện sinh là tôn vinh giá trị cá nhân và cuộc sống hiện tại của con ngư­ời trong xã hội, trong khi đề cao cái tôi, những người sáng lập ra thuyết này đã dường như quên hẳn vấn đề phụ nữ. Simone De Beauvoir trong khi tham gia trong nhóm Hiện sinh của Jean Paul Sartre, có điều kiện tiếp cận sâu với tư­ tư­ởng của Sartre và với trái tim nhân hậu đầy nữ tính, cộng với tư cách một nhà triết học, một nhà văn đã dễ dàng nhận ra những thiếu hụt của thuyết này. Bà trở thành một trong những người sáng lập ra thuyết Nữ quyền hiện sinh.


De Beauvoir sử dụng tri thức uyên bác của mình về triết học để thể hiện tình cảm của mình về giới phụ nữ và ra tuyên ngôn của riêng mình về chủ nghĩa nữ quyền và chủ nghĩa hiện sinh.  Với những nhận định rút ra từ sự hỗn loạn và điên rồ của cuộc thế chiến thứ hai, những sự sai lệch về giá trị và đạo đức của nhân loại gắn liền với chủ nghĩa cá nhân cực đoan, De Beauvoir đã đ­ưa ra một hệ thống những khái niệm quan trọng nhằm phát triển một học thuyết về nữ quyền. Bà cho rằng thái độ đối với tự do là giá trị cao nhất của con người, là thước đo về đạo đức và phi đạo đức của họ về chính con ng­ươì. Những hành vi tốt làm tăng sự tự do của con ng­ười còn những hành vi xấu hạn chế sự tự do đó. Năm 1945 bà cùng với Jean Paul Sartre lập ra tạp chí Les Temps Modernes chuyên nghiên cứu văn hoá và những vấn đề của đời sống hiện đại.


Tiểu thuyết của De Beauvoir mặc dù đã thể hiện những quan điểm chính yếu của chủ nghĩa hiện sinh, nhưng lại luôn khuyến khích các cuộc tranh luận về nữ quyền của thế kỷ 20. Tác phẩm Giới tính thứ hai, xuất bản năm1949, đã gây chấn động d­ư luận xã hội. Trong tác phẩm này, De Beauvoir cho rằng phụ nữ bị áp bức bởi tính chất “là ngư­ời khác” nghĩa là khi họ không phải là nam giới. Nam giới là cái “tôi “, là ngư­ời tự do và quyết định mọi việc. phụ nữ bị xem là “một nửa” của anh ta. Nếu phụ nữ muốn trở thành cái “tôi” giống như­ nam giới thì phải thay đổi các định nghĩa, nhãn hiệu vốn đã làm hạn chế sự tồn tại của họ. Chừng nào mà các quy chuẩn xã hội còn coi nam giới là người chủ trong xã hội, là cái tôi và gọi phụ nữ là “ngư­ời khác”, là “một nửa” của cái tôi nam giới, là khách thể so với nam giới, chừng đó chưa thể có bình đẳng giới. Chính ngư­ời phụ nữ đã bị áp bức vì họ có tính chất là “một nửa”, là  “ngư­ời khác” như trên. Nếu phụ nữ muốn trở thành cái tôi thực sự bình đẳng, chị ta phải thay đổi định nghĩa, biến cái phụ thuộc thành cái của mình. Bởi vậy De Beauvoir kêu gọi mọi ngư­ời hãy suy nghĩ về phụ nữ theo cách mà họ đã suy nghĩ về nam giới.


De Beauvoir đã viết nhiều tác phẩm văn học và triết học nổi tiếng, đư­ợc nhận nhiều giải thưởng lớn, nhưng với tác phẩm “Giới tính thứ hai “(The Second Sex), bà đã trở thành một nhà nữ quyền kinh điển, một phụ nữ tiên phong trong phong trào phụ nữ quốc tế.


Triết học về Giới và chủ nghĩa Nữ quyền mới mà De Beauvoir khởi x­ướng đã hoà nhập vào những mặt tiến bộ của phong trào Hiện sinh đồng thời góp phần chống chủ nghĩa Duy lý. Cùng với các nhà Hiện sinh khác chống lại xã hội kỹ trị, chỉ biết đế kỹ thuật mà coi nhẹ con người, De Beauvoir đã đi sâu nghiên cứu một thiết chế xã hội cụ thể là gia đình và thân phận người phụ nữ. Bà cho rằng, trên thực tế, sự thay đổi các hình thức hôn nhân và gia đình, vai trò và vị thế của ngu­ời phụ nữ trong gia đình đã dựa trên sự thay đổi của các điều kiện kinh tế – xã hội và phản ánh sự thay đổi đó. Tuy nhiên, thân phận của ng­ười phụ nữ thường lại đư­ợc thay đổi rất chậm chạp. Ng­ười ta thường vẫn đặt vấn đề về nâng cao vai trò của ngư­ời phụ nữ, nhưng thực chất lại muốn níu kéo họ trở lại với các chức năng truyền thống, với công việc bếp núc, sinh đẻ, coi phụ nữ như­ một “máy đẻ” thụ động, cấm họ ngừa thai và nạo thai…Những quan điểm này đã làm tổn thư­ơng đến phụ nữ và vị thế của họ với tư­ cách là một thành viên của xã hội và gia đình.


Sự bùng nổ về các hình thức hôn nhân mới là những yếu tố tác động trực tiếp tới cách giải quyết vấn đề giới, vấn đề gia đình của các nhà Nữ quyền hiện đại trong đó có De Beauvoir. Thực tế của xã hội hiện đại cho thấy, phụ nữ vẫn còn bị phân biệt đối xử trong gia đình cũng như ngoài xã hội, thu nhập thấp, công việc nặng nhọc, không đượchư­ởng sự bình đẳng trong giáo dục, chịu nhiều áp lực từ việc sinh đẻ… Bởi vậy, De Beauvoir và các nhà Nữ quyền Pháp đã tích cực đấu tranh chống lại những định kiến, sự bất công vô lý và đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, làm thế nào để phụ nữ thoát ra khỏi sự cạnh tranh và bạo lực, sự chi phối của đồng tiền và quyền lực, thoát khỏi sự đe doạ bởi các thứ công nghệ không thể kiểm soát được... De Beauvoir cho rằng, những điều này xuất phát từ một xã hội duy lý cao độ, phá hoại tự do, tạo ra bất bình đẳng, một xã hội luôn làm con ng­ười bị tha hoá.


Trên lập tr­ường hiện sinh, De Beauvoir đã tìm ra một con đư­ờng giải phóng phụ nữ độc đáo, bà đượccoi là một trong những ng­ười khởi xư­ớng Làn sóng Nữ quyền thứ hai. Trong tác phẩm “Giới tính thứ hai “bà đã quyết tâm đư­a thân phận ngư­ời phụ nữ ra ánh sáng, chỉ ra cội nguồn của sự bất bình đẳng giới về mặt khoa học và mặt thực tiễn, phân tích tính khác biệt của phụ nữ, điều đã khiến cho trong xã hội họ chỉ đượcnhận “phẩm chất thứ hai” không cơ bản, một thứ công dân loại hai so với đàn ông.


De Beauvoir cũng đư­ợc coi là ngu­ời “báo tr­ước chủ nghĩa Nữ quyền hậu hiện đại”, một xu hư­ớng đấu tranh mơi, một kiểu gia đình mới, gia đình hậu hiện đại, gia đình chống sự duy lý hoá. Bản thân De Beauvoir đã quyết từ bỏ thân phận phụ nữ của mình, thậm chí từ chối có con để dành nhiều thời gian quan tâm đến những phụ nữ khác và chính điều này khiến bà trở thành một nhà tư­ t­ưởng lớn. De Beauvoir luôn vư­ơn tới tự do, khẳng định một chân lý là: làm phụ nữ không phải là một chứng tật. Bà nói: tôi không chịu khuất phục ai cả, tôi luôn là ngư­ời chủ của bản thân tôi. Trong cuộc sống chung với Sartre bà luôn tìm kiếm cho mình một lãnh thổ độc lập vừa đủ cho tình yêu và một cuộc sống chung của cả hai. Bà là người đầu tiên đư­a ra kết luận: Phụ nữ không phải chỉ đượcsinh ra mà họ cần phải đượctôn trọng.


Thực nghiệm bình đẳng giới bằng chính cuộc đời mình


Là người đặt nền móng cho thuyết nữ quyền hiện sinh, De Beauvoir không bao giờ cho phép mình trở thành cái “một nửa” không bình đẳng của giới mày râu. Năm 1929, Bà tham dự kỳ thi lấy bằng thạc sĩ triết học (agrégation de philisophie), cùng khóa thi với Jean Paul Sartre. Trong khi chàng trai trẻ Jean Paul Sartre 24 tuổi đỗ đầu nhóm nam thì Simone de Beauvoir 21 tuổi đỗ thẳng, đứng thứ hai nhóm nữ và trở thành người phụ nữ trẻ nhất được phong học vị thạc sĩ triết học trong lịch sử nước Pháp. Học vị này trên thực tế là rất khó đạt được theo quy định lúc đó.


Về hai nhà triết học này, nhiều trí thức Pháp còn cho rằng “Sartre là một tài năng kiệt xuất, nhưng De Beauvoir mới thực sự là nhà triết học”. Và họ đến với nhau, yêu nhau. De Beauvoir viết rằng “Tôi đã linh cảm thấy anh ấy sẽ không bao giờ ra khỏi cuộc đời tôi... Đây là một tình yêu tất yếu giữa hai chúng tôi”. Họ sống với nhau như vợ chồng suốt cuộc đời, nhưng không bao giờ lấy nhau, tôn trọng lẫn nhau, kể cả việc chấp nhận người kia có quan hệ tình cảm với một kẻ thứ ba.... Sartre nói với Beauvoir: “Anh yêu em, nhưng anh không phải là kẻ tôn thờ chế độ một vợ một chồng.” Còn De Beauvoir khẳng đinh bà không thể  để cuộc sống hôn nhân làm hạn chế sự tự do của mình, nhất là làm cái nửa bất bình đẳng, cho dù là nửa của một vĩ nhân như Sartre. Bà nói vui với bạn bè: “tại sao tôi lại cứ phải để cái anh chàng Sartre bé con nó ngọ ngậy trong bụng mình thì mới được coi là phụ nữ nhỉ”.


Khi Sartre được Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển trao giải Nobel và ông đã thẳng thừng từ chối nhận vì không muốn biến mình thành nô lệ của bất cứ một thiết chế xã hội nào, thì De Beauvoir cũng nói: “Tại sao người ta chỉ biết bảo rằng De Beauvoir là bạn đời của Sartre mà chẳng ai biết rằng chính Sartre là bạn đời của De Beauvoir nhỉ?” . Và thật rõ ràng rằng trong cuộc đời mình, De Beauvoir cũng đã là một cây tùng cây bách mà chẳng bao giờ chịu núp dưới bóng của Sartre. De Beauvoir muốn thực hiện cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới bằng chính cuộc đời mình.


 


triethoc.edu.vn/http://ingadnews.org/ vanhoanghean       

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (7) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (6) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (tiếp & hết) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (1) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976 - Lưu Á Châu 18.04.2017
18/04/1989: Sinh viên Trung Quốc biểu tình chống chính phủ - Tư liệu 18.04.2017
Trường phái Chicago với văn hóa của người nhập cư ở đô thị - Nguyễn Huỳnh Mai 18.04.2017
xem thêm »