tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20808715
Những bài báo
11.10.2015
Nhiều tác giả
Tập Cận Bình và Giấc mộng Trung Hoa: Những bài nên đọc!

Nhà văn Triệu Xuân: Dã tâm nuốt trọng Biển Đông của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh ngày càng lộ rõ hơn, quyết liệt hơn. Cần hiểu rõ chân tướng của ông chủ trong Trung Nam Hải, hiểu rõ bản chất của Tập Cận Bình. Hiểu rõ, để sẵn sàng ứng phó một cách khôn ngoan, hiệu quả nhất!


Giải mã Giấc Mơ Trung Hoa của Tập Cận Bình


Phỏng vấn Roderick MacFarquhar: Bởi Ouyang Bin. Mai Xương Ngọc dịch


Vào ngày 9 tháng 11, Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ tổ chức phiên họp toàn thể thứ ba của Ủy ban Trung Ương lần thứ 18. Hội nghị này sẽ là chìa khóa để giải mã triết lý cầm quyền của giới lãnh đạo mới của Trung Quốc, những người sẽ điều hành đất nước trong chín năm tới.


    Theo Hội nghị Đảng, trong chu kỳ bảy phiên họp toàn thể trong mỗi Đại hội Đảng, các phiên đầu tiên và phiên thứ hai thường tập trung vào các vấn đề nhân sự, phiên thứ ba bàn về chính sách. Điều gì sẽ diễn ra tại Hội nghị lần thứ ba này? Hội nghị sẽ cho chúng ta biết được những gì về nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, người theo đuổi “Giấc mơ Trung Hoa” khác thường, một giấc mơ dường như bao gồm cả một đường lối cứng rắn về kiểm soát chính trị và lời hứa hẹn đối với công cuộc tự do hóa kinh tế?


    Tôi có cuộc trò chuyện với ông Roderick MacFarquhar, Giáo sư danh hiệu Leroy B. Williams ngành Lịch sử và Khoa học Chính trị tại Đại học Harvard. Ấn phẩm của ông bao gồm hai tập cuối về Lịch sử Trung Quốc của Cambridge (đồng chủ biên với John King Fairbank), bộ ba tác phẩm Nguồn gốc của cuộc Cách mạng Văn hóa, và đồng tác giả Cuộc cách mạng cuối cùng của Mao.


Chính phủ Trung Quốc mới dưới thời Tập Cận Bình đàn áp xã hội dân sự và thắt chặt kiểm soát Internet. Nhưng ông Tập cũng trừng phạt các quan chức tham nhũng, trong đó có Bạc Hy Lai, các đồng nghiệp cùng thư ký của Chu Vĩnh Khang, một cựu thành viên của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị của Đảng. Theo ông thì ông Tập có mục đích gì khi làm những việc này?


Từ khi trở thành Tổng Bí thư của Đảng, Tập Cận Bình đã chỉ ra rất rõ rằng ông ta bị ám ảnh bởi hội chứng Gorbachev, và có lẽ các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc cũng bị như vậy. Tập Cận Bình, và cả Lý Khắc Cường, nhận thấy cần phải có những cải cách kinh tế sâu rộng – những cải cách rất quan trọng và rất khó khăn. Nhưng tôi nghĩ họ lo lắng vì không biết cải cách nào sẽ dẫn đến một tình huống dạng Gorbachev, khi sự kiện này nối tiếp sự kiện khác xảy ra, nhưng trước khi nhận biết điều đó thì toàn bộ đất nước và toàn bộ hệ thống Đảng đã sụp đổ. Vì vậy, khi đưa ra những cải cách kinh tế, ông Tập muốn đảm bảo rằng không có điều gì khác sẽ tác động tới nhà nước. Tôi nghĩ rằng ông ta đã quyết định theo kiểu chúng tôi không biết chính xác điều gì có thể xảy ra sẽ làm cho Trung Quốc phát triển một hội chứng Gorbachev, nhưng những gì có thể làm là tránh những điều mà Gorbachev đã cho phép. Gorbachev đã từng cho phép các loại hình thức tự do ngôn luận dưới thời Perestroika (một phong trào Đổi mới chính trị để tạo cải cách trong Đảng Cộng sản Liên Xô trong những năm 80 – ND): còn chúng tôi sẽ không cho phép điều đó. Như anh đã biết, họ cho ban hành các hướng dẫn “Bảy Không” đối với những gì mà anh không thể nói, và tôi nghĩ ông ta sẽ rất mạnh tay bởi vì trước tiên, ông ta cảm nhận được rằng đó là cách để bảo vệ chế độ, và thứ hai, nó có tính chất đặc biệt quan trọng khi những thay đổi kinh tế sâu rộng và có lẽ là đáng lo ngại đã bắt đầu.


Còn lý do tại sao Tập Cận Bình lại tấn công những kẻ tham nhũng? Vì như Hồ Cẩm Đào đã từng nói – tôi nghĩ rằng Giang Trạch Dân cũng đã từng phát biểu – rằng tham nhũng có thể là sự kết thúc chế độ. Theo những gì mà ông Tổng biển tập quá cố của tờ Nhân dân Nhật báo cho tôi biết – tham nhũng hiện nay tồi tệ hơn rất nhiều so với tham nhũng dưới thời Tưởng Giới Thạch – khi chế độ của ông ta bị sụp đổ. Vì vậy, đây là một điều đáng lo ngại. Câu hỏi thực sự là họ có nhắm vào bất kỳ kẻ tham nhũng nào, bao gồm cả các thành viên của ban lãnh đạo hay không, nhưng tôi nghĩ rằng họ sẽ không làm vậy. Họ không thể. Bởi vì điều đó sẽ gây chia rẽ sâu hơn nữa. Gia đình riêng của ông Tập Cận Bình đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc ông ta trở thành một nhà lãnh đạo, vì vậy, ông Tập đang bảo vệ chính cơ ngơi của ông ta. Ông Tập cho biết ông ta sẽ “đả hổ, diệt ruồi”. Cho đến nay, ông ta đã diệt được những con ruồi và những con mèo. Nếu ông ta công khai bắt Chu Vĩnh Khang [cựu trùm an ninh] vì tội tham nhũng, ngay cả khi chúng ta biết rằng sẽ xảy ra chuyện can dự chính trị rất sâu, vì Chu Vĩnh Khang là một đồng minh của Bạc Hy Lai, thì mọi người sẽ bắt đầu nhìn lên. Nhưng nếu ông Tập tấn công Chu Vĩnh Khang, thì sau đó tất cả mọi người sẽ bắt đầu cảm thấy lo lắng.


Nhưng họ đang tìm cách đi về đâu? Kiểm soát chặt chẽ về chính trị cùng với “cải cách thị trường về mặt kinh tế, liệu Trung Quốc sẽ làm được như Singapore?


Nếu họ đạt được như Singapore, đó sẽ là một điều tuyệt vời. Singapore không phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng tự do ngôn luận ở Singapore phổ biến hơn ở Trung Quốc. Và tôi nghĩ rằng những gì ông Tập Cận Bình muốn là Trung Quốc vươn tới một xã hội có kỷ luật chính trị, không có Lưu Hiểu Ba, không có nhóm người Hiến chương 08, tất cả mọi người đều rất kỷ luật, và ai cũng tập trung vào cải cách kinh tế. Tại sao? Bởi vì, tôi được nghe từ nhiều nhà kinh tế, họ sẽ rất ưa chuyển đổi nếu thành công. Và có vẻ như Lý Khắc Cường rất quan tâm đến việc theo đuổi những cải cách này. Vì vậy, những gì Tập Cận Bình đang làm là phải đảm bảo các lĩnh vực chính trị được yên lặng để tất cả mọi thứ diễn ra suôn sẻ cùng với cải cách kinh tế.


Một số nhà quan sát Trung Quốc cho rằng có sự chia rẽ giữa ông Tập và Thủ tướng Lý Khắc Cường, ông Tập là kẻ theo chủ nghĩa Mao, trong khi Lý Khắc Cường ủng hộ tư tưởng thị trường. Nhưng ông có tin rằng, trên thực tế, họ đang hợp tác và đồng thuận?


Anh có thể nhớ đến một câu chuyện trong những năm 90, dưới thời Giang Trạch Dân, đã từng có một cuộc thảo luận và quyết định được đưa ra là sau khi Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào kết thúc nhiệm kỳ, những người kế nhiệm tối cao sẽ là những “thái tử đảng”, bởi vì những thái tử đảng, từ quan điểm gia tộc của họ, đã đầu tư vào chế độ nhiều hơn bất kỳ ai khác.


Bất cứ ai đang ở trong một chế độ như Trung Quốc, bất cứ ai, cho dù là thái tử đảng hay không, đều có thể muốn duy trì chế độ. Họ sẽ làm bất cứ điều gì để nó không biến mất, bởi vì điều đó có lợi cho họ, và trong quan điểm của họ, có lợi cho đất nước. Các thái tử đảng có thể cảm thấy có nghĩa vụ nhiều hơn đối với cha mẹ và ông bà để giữ đức tin của gia đình, nhưng thực sự tôi nghĩ rằng hầu hết các quan chức muốn duy trì hệ thống hiện nay.


Chiến thuật cứng rắn của chính phủ hiện tại đã khiến một số cán bộ, trí thức và nhà báo cảm thấy khó chịu. Còn những người bình thường khác thì sao? Họ có cảm thấy áp lực không? Hoặc họ không nghĩ đó là việc liên quan đến họ?


Tôi nhớ lại những gì đã xảy ra khi họ có những chiến dịch chống ô nhiễm tinh thần trong những năm 80. Theo như tôi hiểu, chiến dịch bị dừng lại vì Đặng Tiểu Bình được thông báo rằng, những người nông dân đã ngừng đầu tư vào đất do hệ quả của chiến dịch chống ô nhiễm tinh thần. Tại sao? Bởi vì người nông dân không phải là kẻ ngu: họ đã học được trong thời kỳ Mao rằng không có ai đơn độc cả. Nếu đường lối của phe tả gây ảnh hưởng đến một phần xã hội, suy cho cùng nó cũng sẽ ảnh hưởng đến bạn. Có bao nhiêu người biết ông Lưu Hiểu Ba là ai trước khi ông ta bị giam giữ? Có lẽ là không nhiều. Nhưng tôi không nghĩ rằng người dân Trung Quốc quá ngu ngốc để không nhận ra, đặc biệt là trong thời đại Internet, khi mọi người [vẫn đang] bị bắt, thậm chí bị loại trừ, điều gì sẽ xảy ra với họ ở các giai đoạn khác?


Sau Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đã từng nói: “Trung Quốc nên duy trì sự cảnh giác với cánh hữu nhưng chủ yếu là với cánh tả”. Trong thực tế, phe cánh tả trong Đảng đã bị siết chặt từ lúc bắt đầu cải cách hơn ba thập kỷ trước đây. Nhưng tại sao các nhà lãnh đạo hàng đầu như Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình, và Bạc Hy Lai lại vẫn tiếp tục vay mượn từ cẩm nang của Mao?


Có một số lý do tại sao những người như Bạc Hy Lai và Tập Cận Bình phải gật đầu, [và] cúi đầu trước sự chỉ đạo của chủ tịch Mao. Đầu tiên và quan trọng nhất là danh tiếng của vị Chủ tịch – chính Chủ tịch và những gì ông ta đã làm cho Trung Quốc – là chất keo thực sự quan trọng gắn kết giữa nhà nước và xã hội với nhau. Nếu muốn có một xã hội hưởng ứng bạn, Chủ tịch Mao Trạch Đông sẽ là một danh tiếng để làm được điều đó. Đảng không còn có được sự tôn trọng của người dân như trước trong những năm 50 và 60. Mao Trạch Đông là biểu tượng của nhà nước. Họ không thể loại bỏ ông ta khỏi Thiên An Môn, và họ không thể dỡ hình ảnh của ông ấy xuống. Điều đó sẽ giống như nói rằng “toàn bộ cuộc cách mạng là vì cái gì?”


Thứ hai, người dân – chủ yếu là dân thường – nhìn lại những ngày tháng dưới thời Mao bằng một chút mê tín dị đoan. Có những ngôi nhà nông dân treo một hình ảnh của Chủ tịch Mao và một hình ảnh của Đức Phật bên cạnh ông ta, còn một số người tin rằng dưới thời Mao xã hội công bằng hơn, nghĩa là ai cũng đều là người nghèo. Trên thực tế, Chủ tịch Mao không nghèo. Trong khi đó, ngày nay, phân bổ thu nhập vô cùng khác biệt, có một khoảng cách rất lớn giữa người giàu và người nghèo đến nỗi người dân khao khát nhìn lại những ngày tháng dưới thời Mao. Vì vậy, các nhà lãnh đạo phải cúi đầu trước Chủ tịch Mao một lần nữa để cho thấy rằng bản thân họ tôn trọng xã hội đó, ngay cả khi họ đã không [được] lãnh đạo một xã hội tương tự như vậy.


Thứ ba, có một nhóm ngày càng lớn các nhà tri thức, những người từng ủng hộ các chính sách Mao-ít trong nhiều năm qua, và vì những gì tôi vừa nói về những người dân phẫn nộ trước sự bất bình đẳng xã hội mới, những trí thức này có sức ảnh hưởng và người ủng hộ. Từ những kinh nghiệm của Bạc Hy Lai cho thấy, chúng ta biết rằng Bạc Hy Lai không chỉ nổi tiếng ở Trùng Khánh mà còn ở các tỉnh lân cận. Bởi vì người dân nghĩ rằng ông ta quay lại với Chủ tịch Mao. Cá nhân tôi không tin ông ấy làm vậy. Mặt khác, Tập Cận Bình không muốn tiếp nhận Cách Mạng Văn Hóa hay Đại Nhảy Vọt hoặc bất cứ điều gì như thế, nhưng ông ta phải cúi đầu dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Mao, bởi vì hãy nhớ rằng, bố của ông Tập Cận Bình là một đồng chí cũ của Chủ tịch Mao. Cho đến khi ông ta bị Chủ tịch Mao thanh trừng, bố của Tập Cận Bình đã nắm một vị trí rất cao trong chính quyền Cộng sản nhờ kết quả chiến thắng của Chủ tịch Mao. Vì vậy, sự chiến thắng đã từng đưa người cộng sản lên nắm quyền vẫn còn quan trọng đối với tính chính danh của giới lãnh đạo hiện hành. Trong tâm trí tôi, Cách Mạng Văn Hóa làm suy yếu tính chính danh của quyền lực. Nhưng ngay cả khi bị cáo buộc gây ra Cách Mạng Văn Hóa, theo nghĩa nào đó, Chủ tịch Mao vẫn tạo ra tính chính danh cho nhà nước hiện tại.


Nhưng hầu hết các chính sách và ý tưởng của Mao Trạch Đông đều đã hoàn toàn bị loại ra khỏi Trung Quốc kể từ khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu thực hiện cải cách Trung Quốc. Đối với rất nhiều người trẻ Trung Quốc, Mao Trạch Đông là một hình tượng khá mơ hồ. Trong hoàn cảnh này, liệu chủ nghĩa Mao và bản thân Mao có thể hàn gắn xã hội và nhà nước lại với nhau được không?


Họ không còn có gì khác. Người dân đi đến nơi nào trong chuyến hành hương của họ đến Bắc Kinh? Hàng chục ngàn người mỗi tháng xếp hàng để vào lăng của Chủ tịch Mao. Trong trường tiểu học và trung học cơ sở, người dân được học về Chủ tịch Mao, như trẻ em nước Anh được học về William “Kẻ chinh phạt”, người chiếm đảo năm 1066. Đó là hàng trăm năm trước đây, nhưng họ vẫn biết về điều đó. Chủ tịch Mao chỉ mới được 60 đến 70 năm trước. Ông ta chinh phục – thống nhất – Trung Quốc. Đó là một việc rất lớn. Ông ta thiết lập một chế độ mới. Ông ta thành lập một Trung Quốc mới. Vì vậy, tất nhiên ông ta vẫn được coi như một nhân vật anh hùng trong giáo dục Trung Quốc.


Vậy mọi người sẽ tiếp tục sử dụng ý tưởng của Mao Trạch Đông? Trung Quốc đã thay đổi rất đáng kể từ khi Mao chinh phục Trung Quốc.


Tôi nghĩ rằng hầu hết mọi người trong hầu hết các quốc gia không nghĩ nhiều về chính trị. Đặc biệt là nếu họ nghèo, họ chỉ nghĩ về thức ăn, chi phí sinh hoạt và giáo dục tốt hơn cho con cái. Trong ba mươi năm qua, vai trò của Đảng trong cuộc sống trung bình của một người bình thường nhỏ bé hơn nhiều so với vai trò của Đảng dưới thời Mao, thậm chí dưới thời Đặng.


Vì vậy, tôi nghĩ rằng hầu hết mọi người đều không lắng nghe Đảng nói về Chủ tịch Mao. Nhưng Chủ tịch Mao lại ở đâu đó phía sau tâm trí họ, vì hình ảnh của ông ta đã có trong giáo dục của họ, bức tượng Chủ tịch đặt ở đây, bức tranh của ông ta đặt ở kia. Giờ đây, liệu họ có tin vào những ý tưởng của ông ta? Vâng, điều này phụ thuộc vào những ý tưởng đó là gì. Một số ý tưởng của Mao đã được Đặng Tiểu Bình áp dụng: “Tìm kiếm sự thật từ thực tế”, đó là ý tưởng của Mao Trạch Đông, theo ý tôi, đó là một ý tưởng Trung Quốc cổ mà Mao đã áp dụng, nhưng nó được cho là của Mao. Hoặc “ông già khờ dại chuyển núi dời non” (nếu chúng ta có sức mạnh của ý chí và quyết tâm, chúng ta có thể làm được bất cứ điều gì). Đây là điều mà một đất nước như Trung Quốc đang cho thấy, đó là sự phát triển to lớn và mạnh lên từng ngày, bạn có thể tin vào điều đó. Vì vậy, tôi nghĩ rằng có một số điều đơn giản mà họ có thể tin tưởng.


Vậy còn về những di sản khác của Mao Trạch Đông, như các phong trào quần chúng mà Bạc Hy Lai đã sử dụng ở Trùng Khánh và Tập Cận Bình đang sử dụng hiện nay?


Phong trào quần chúng là kẻ thù của loại cải cách kinh tế mà Lý Khắc Cường và các cộng sự của ông ta muốn khởi động. Phong trào quần chúng có chỗ đứng trong một xã hội mới phát triển. Nếu anh muốn thuyết phục người nông dân làm một điều gì đó, và anh cần phải huy động họ làm những nhiệm vụ cơ bắp cơ bản, ví dụ như xây đập, thì họ có một vai trò. Nhưng những gì chúng ta thấy trong thời kỳ cải cách là nếu anh đưa ra khuyến khích tài chính, người dân sẽ di chuyển từ miền Bắc tới miền Nam Trung Quốc để xin được một công việc trong nhà máy có mức lương tối thiểu. Họ sẽ ngủ trong ký túc xá cách xa gia đình bởi vì điều này mang lại cho họ cơ hội vươn lên. Vì vậy, tôi nghĩ rằng khả năng của chế độ trong việc khởi động phong trào quần chúng là rất nhỏ.


Vậy, Chủ nghĩa Mao có thể sẽ không chết đi, hoặc không biến mất khỏi Trung Quốc, bởi vì các nhà lãnh đạo khác sẽ áp dụng nó kể cả khi không có Bạc Hy Lai?


Chủ nghĩa Mao sẽ không biến mất khỏi Trung Quốc cho đến khi nào có một sự thay đổi chế độ, điều này sẽ dẫn đến việc tháo gỡ các bức chân dung của Mao, và có lẽ cả việc bỏ đi lăng mộ. Người ta nói rằng ở Nga cuối cùng cũng sẽ đưa Lenin ra khỏi lăng mộ. Tôi không biết họ sẽ làm gì tiếp theo với lăng mộ. Họ đã loại bỏ lăng mộ của Stalin, nhưng nếu họ loại bỏ Lenin, đó thực sự là một bước tiến quan trọng. Nhưng đó là điều sẽ phải xảy ra ở Trung Quốc; ở thời điểm và thời đại này, bạn không thể tôn thờ một người duy nhất như một vị thần.


Tương lai của Triều đại Tập Cận Bình


Rất nhiều người tin rằng cải cách theo hướng thị trường không thể cùng tồn tại với Big Brother (Kẻ giấu mặt). Vậy việc này sẽ diễn ra như thế nào ở Trung Quốc?


Tất nhiên sẽ có những khác biệt về quan điểm: có nhiều khác biệt về quan điểm trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, không nhất thiết trên vấn đề là phải đi về đâu, mà là phải làm thế nào để đến đích. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tất cả các nhà lãnh đạo hiện nay đồng ý rằng cần phải cải cách, nhưng câu hỏi là phải làm như thế nào. Có thể sẽ có một số người nghĩ rằng những cải cách của Lý Khắc Cường là quá cực đoan, còn những người khác ủng hộ cải cách sẽ nói rằng nó vẫn chưa đủ. Do đó, tất nhiên sẽ có những bất đồng và điều này sẽ cho thấy giới hạn của hai điều. Đầu tiên là khả năng Tập Cận Bình duy trì trật tự và kỷ luật trong Bộ Chính trị của Đảng, và thứ hai, bản năng tự bảo toàn để sinh tồn về phía tất cả các lãnh đạo. Họ nên biết rằng nếu họ bắt đầu gây chia rẽ trong Đảng, điều đó có thể sẽ dẫn đến thảm họa. Một số người nói con đường để cải cách chính trị là phải có phe phái trong Đảng được thừa nhận một cách công khai. Vâng, đó là bước đầu tiên hướng tới một hệ thống hai đảng. Nhưng không ai muốn đi con đường đó.


Điều này đã xảy ra với Đảng Liên Xô dưới thời Gorbachev.


Gorbachev đã nghĩ lầm rằng ông ta sẽ củng cố chủ nghĩa cộng sản, đầu tiên ông ta cố gắng làm điều đó bằng Perestroika, nghĩa là qua việc cải cách hệ thống. Nhưng ông ta thấy rằng sau bảy mươi năm chế độ Cộng sản hoặc lâu hơn, các quan chức Liên Xô đã có sức kháng cự loại cải cách này. Vì vậy, ông ta tung ra glasnost (một chính sách kêu gọi tăng sự cởi mở và minh bạch trong tổ chức và hoạt động ở chính phủ Liên Xô – ND), nhưng mọi người lại bắt đầu chỉ trích các quan chức và báo chí trở nên rất quan trọng. Do đó, Gorbachev đã chia rẽ xã hội để chống lại chính nó. Và đó là điều đã giúp dẫn tới sụp đổ. Sau đó, tất nhiên, ông ta nghĩ rằng cuộc bầu cử sẽ củng cố khả năng cai trị của Đảng Cộng sản bằng sự ưng thuận. Nhưng bản thân ông ta không bao giờ đứng ra tham gia bầu cử. Yeltsin đã đánh bạc, và chiến thắng, và chúng ta đều biết những gì đã xảy ra sau đó. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nếu mọi người đều hiểu rõ, tôi nghĩ ông Tập hiểu, rằng có một số điều anh không thể làm bởi vì chúng sẽ làm suy yếu hệ thống, thì họ sẽ không thực hiện chúng. Tôi không nói rằng hệ thống vẫn sẽ tồn tại. Hệ thống này có cơ sở rất yếu, như hiện giờ. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng các nhà lãnh đạo muốn tự tử.


Liệu cuối cùng Tập Cận Bình có đạt được mục tiêu của ông ta hay không?


Mục tiêu của ông Tập Cận Bình là Giấc mơ Trung Hoa. Mục tiêu của ông ta hiển nhiên là làm cho Trung Quốc ngày càng trở nên hùng mạnh hơn trên vũ đài thế giới. Vấn đề là Trung Quốc chưa trải qua kinh nghiệm hành xử trên vũ đài thế giới. Chưa bao giờ cả. Đó là một đất nước to lớn trong nhiều thế kỷ, trong nhiều thiên niên kỷ, nhưng không phải trên vũ đài thế giới. Nó đã từng đứng trên một vũ đài nhỏ ở Đông Á, còn hiện giờ ý tưởng về một thành viên có trách nhiệm từng được đề xuất với Trung Quốc có sức hấp dẫn đối với một số nhà lãnh đạo, nhưng không phải với tất cả. Cho nên, tôi nghĩa rằng Giấc mơ của ông Tập là một Trung Quốc ngày một hùng mạnh hơn nữa, và mọi người ở châu Á, rồi xa hơn nữa, có thể ở châu Phi, sau đó là ở phương Tây, sẽ cúi đầu. Việc này đang diễn ra ngay lúc này: mọi người đổ xô vào Trung Quốc để làm ăn mọi lúc mọi nơi. Vì vậy, tôi nghĩ rằng giấc mơ của ông Tập là Trung Quốc sẽ ngày càng hùng mạnh hơn, và Đảng Cộng sản sẽ thống trị mãi mãi. Tôi không nghi ngờ việc Trung Quốc sẽ ngày càng hùng mạnh hơn; tôi nghi ngờ rằng Đảng Cộng sản sẽ thống trị mãi mãi.


____


[*] Daniel Engel đã góp phần ghi lại cuộc phỏng vấn này.


[**] Ouyang Bin là Thành viên “Arthur Ross” tại Trung tâm quan hệ Mỹ – Trung tại Hội Asia Society ở New York và là Phó Tổng Biên tập của tạp chí ChinaFile; những sự quan tâm của ông chủ yếu tập trung vào sự chuyển đổi chính trị Trung Quốc, quan hệ nhà nước – xã hội, và địa chính trị Đông Bắc Á. Trước khi tham gia Hội Asia Society, ông Ouyang là nhà báo ở Trung Quốc. Ông từng là một phóng viên cao cấp tại Tuần báo Phượng Hoàng (Phoenix Weekly), Biên Tập Viên cao cấp của tờ Newsweek Select (phiên bản tiếng Trung của Newsweek), Biên tập viên quốc tế của tạp chí Caijing, và biên tập viên cao cấp của Caixin Media. Ông đã được nhận giải thưởng của Phoenix Weekly, Ngân hàng Phát triển châu Á và Quỹ Reuters cho các bài viết. Ông Ouyang lấy bằng cử nhân ngành Báo chí từ Đại học Thanh niên Trung Quốc chuyên Khoa học Chính trị tại Bắc Kinh, và bằng thạc sỹ Nghiên cứu khu vực Đông Á của Đại Học Harvard, Mỹ. Ông là một thành viên Viện Harvard-Yenching trong năm 2010-2012.


Nguồn: Dịch từ tiếng Anh. Phỏng vấn Roderick MacFarquhar: Deciphering Xi Jinping’s Dream, ChinaFile, ngày 07 Tháng 11, 2013.


Bản Tiếng Việt © 2013 The Pacific Chronicle


- See more at: http://www.thepach.com/vi/giai-ma-giac-mo-trung-hoa-cua-tap-can-binh/#sthash.Vk9zxM32.dpuf


"Giấc mơ Trung Hoa": Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình


Mặc dù Chủ tịch nước Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo đầu tiên của Trung Quốc sử dụng thuật ngữ “giấc mơ” để nói về những lý tưởng chính trị của mình, các thế hệ lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thực tế đã thiết kế “con đường màu hồng” này từ trước đó 50 năm.


Tập Cận Bình - Chủ tịch nước Trung Quốc, người đang tuyên truyền về "giấc mơ Trung Hoa" và một Trung Quốc hùng cường mới.


Tương lai của bất kỳ đảng phái chính trị nào cũng phải xây dựng một hệ thống lý luận, đạo đức và truyền cảm hứng cho mọi tầng lớp người dân cùng tham gia và ủng hộ cho họ. Tuy nhiên, điều này thường bị gián đoạn bởi quá trình chuyển đổi các thế hệ lãnh đạo.


Các nhà lãnh đạo cần có một câu chuyện của riêng mình để củng cố vị trí lãnh đạo cũng như tìm kiếm sự ủng hộ từ phía quần chúng. Mặc dù Chủ tịch nước Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo đầu tiên của Trung Quốc sử dụng thuật ngữ “giấc mơ” để nói về những lý tưởng chính trị của mình, các thế hệ đứng đầu Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thực tế đã thiết kế “con đường màu hồng” này từ trước đó 70 năm.


Tư tưởng sơ khai của “Giấc mơ Trung Hoa” được bắt đầu dưới thời Mao Trạch Đông. Lúc đó, mong muốn của Mao là đưa Trung Quốc đi lên con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình, lúc đấy là Phó Chủ tịch nước, đã ban hành khẩu hiểu “Trung Quốc hùng cường” nhằm tiến hành cải cách toàn diện và mở cửa đất nước.


Trên thực tế, “Giấc mơ Trung Hoa” hiện nay của ông Tập Cận Bình tương tự như chiến dịch của ông Đặng Tiểu Bình những năm cuối thập niên 70. Cả hai khái niệm nhấn mạnh sự cần thiết của Trung Quốc trong việc phát triển mạnh mẽ và trở nên giàu có, bao gồm việc nâng tầm đất nước thành một cường quốc, đồng thời nâng cao tiêu chuẩn sống cá nhân của người dân.


Sau năm 1989, Giang Trạch Dân đã thúc đẩy sự "trẻ hóa dân tộc Trung Quốc" - khá giống với những gì đã được kể trong câu chuyện “Trung Quốc hùng cường” của Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, không giống như chiến dịch của người tiền nhiệm, câu chuyện của ông Giang tập trung vào các nước phương Tây như là nguồn gốc tình trạng lạc hậu của Trung Quốc. Trong khi đó, chiến dịch “Trung Quốc hùng cường” của Đặng Tiểu Bình đánh giá thấp cuộc xâm lược và sự bóc lột của thực dân, tập trung đổ lỗi cho "Bè lũ bốn tên" và Cách mạng Văn hóa cho lạc hậu của Trung Quốc.


Hồ Cẩm Đào tiếp tục trẻ hóa câu chuyện của Giang Trạch Dân khi “kể” một câu chuyện khác. Câu chuyện được coi là di sản lớn của ông Hồ Cẩm Đào chính là "xã hội hài hòa". Những căng thẳng xã hội mà nguyên nhân là từ những biến đổi kinh tế xã hội sau cải cách và mở cửa của Hồ Cẩm Đào thuyết phục người dân tìm đến các khái niệm Nho giáo dựa trên sự hài hòa để thúc đẩy mối quan hệ bên trong của Trung Quốc cũng như giữa Trung Quốc và thế giới.


Mặc dù có một chiến dịch tuyên truyền về một xã hội hài hòa cực rộng lớn và liên tục, thời kỳ của Hồ Cẩm Đào đã chứng kiến ​​một sự gia tăng đáng chú ý những căng thẳng ở tất cả các cấp, bao gồm căng thẳng sắc tộc giữa người Hán và dân tộc thiểu số ở Tây Tạng và Tân Cương, và mối quan hệ ngày càng xấu đi với các nước láng giềng châu Á về tranh chấp lãnh thổ. Thực tế này đã biến giấc mơ xã hội hài hòa trở thành một trò đùa.


Do đó, có vẻ như “giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình có vẻ như là rượu cũ được đựng trong một chiếc bình mới, với cái tên mới, thay thế cho lý tưởng mà Mao Trạch Đông từng khai sáng cách đây hơn nửa thế kỷ. Qua từng thời kỳ, qua từng lớp lãnh đạo, lý tưởng này về cơ bản vẫn nhất quán với nhau, chỉ khác chăng cách mà các nhà lãnh đạo đã thực thi nó.


Với một xã hội khá bất ổn trong cơ cấu tổ chức cũng như bất bình đẳng xã hội tăng cao, ông Tập Cận Bình đã có những nỗ lực đặc biệt kết nối “giấc mơ Trung Hoa” với người dân của mình. Thay vì chỉ nhấn mạnh Giấc mơ Trung Quốc là mục tiêu cho các quốc gia và chính phủ như các đời lãnh đạo trước, ông Tập cố gắng để thuyết phục công chúng rằng giấc mơ cũng là phục vụ cho mỗi cá nhân họ. Và việc thực hiện giấc mơ này cho đất nước sẽ là chất xúc tác cho việc thực hiện các ước mơ cho các cá nhân, bao gồm nhà ở, việc làm, y tế, giáo dục và môi trường. Do đó, người dân Trung Quốc có thể cảm thấy được kết nối với lý tưởng này.


Có vẻ như “giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình có vẻ như là rượu cũ được đựng trong một chiếc bình mới, với cái tên mới, thay thế cho lý tưởng mà Mao Trạch Đông từng khai sáng cách đây hơn nửa thế kỷ. Qua từng thời kỳ, qua từng lớp lãnh đạo, lý tưởng này về cơ bản vẫn nhất quán với nhau, chỉ khác chăng cách mà các nhà lãnh đạo đã thực thi nó.


Như chúng ta thấy, “giấc mơ Trung Hoa” của Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp tục theo bước các cựu lãnh đạo truyền cảm hứng cho người dân về một giấc mơ tương lai sáng lạng và hấp dẫn. Tên và nội dung câu chuyện của mỗi lãnh đạo có thể khác nhau, nhưng thông điệp quan trọng nhất của tất cả nhưng câu chuyện trong suốt 70 năm qua của Đảng Cộng sản Trung Quốc là gắn kết sự phát triển của người dân nước này với sự phát triển của đảng.


Như Mao Trạch Đông tuyên bố : "Chỉ có ĐCS có thể cứu được Trung Quốc!", Giang Trạch Dân nói: "Chỉ có ĐCS có thể trẻ hóa Trung Quốc!". Giờ đây, ông Tập Cận Bình cho biết: "Chúng ta 1,3 tỷ người Trung Quốc nên nhớ nhiệm vụ, đoàn kết một lòng". Tất cả là để làm cho người dân Trung Quốc tin rằng đây là giấc mơ mà các thế hệ các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã mơ ước.


Phan Sương (Infonet)


Tập Cận Bình viết lại luật chơi quyền lực của Trung Quốc


Posted on 17/10/2014 by The Observer 


Tác giả: Robert Marquand | Biên dịch: Trần Ngọc Cư


Với một tốc độ và sự cứng rắn không ai nghĩ đến vào thời điểm trở thành người đứng đầu Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình không những đã củng cố quyền lực của mình mà còn đang chỉ đạo một cuộc thanh trừng rộng lớn khiến một số người thắc mắc liệu ông có thu tóm quá nhiều quyền lực hay không.


Kể từ thời Mao Trạch Đông đến nay chưa có một cá nhân nào tại Trung Quốc trở thành một nhà lãnh đạo xuất hiện thường xuyên trước công chúng hoặc thu tóm nhiều quyền lực đối với một quốc gia đang trỗi dậy với dân số 1,3 tỉ như ông Tập Cận Bình – người có cha là một đồng chí nổi bật của Chủ tịch Mao.


Từ thời Mao đến nay chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào đẩy mạnh một chương trình trọn vẹn phục hồi các giá trị cũ và sức mạnh thô bạo của Đảng Cộng sản như Tập Cận Bình đang làm. Từ biến cố Thiên An Môn năm 1989 đến nay chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào triệt để chặn đứng thậm chí cả những bước chập chững hướng đến các cởi mở chính trị như Tập Cận Bình đang làm. Dưới bàn tay kìm kẹp của Tập trong những tháng gần đây, thậm chí những những nhà tranh đấu ôn hòa cho một xã hội dân sự cũng bị nghiêm trị khiến phải im tiếng – trong một chiến dịch có vẻ là một chương trình thanh lọc nghiêm khắc áp dụng cho toàn Đảng và toàn xã hội.


Tập đang được gọi bằng mọi thứ tên, từ một “nhà độc tài mới của Đảng” đến một hoàng đế của thời hiện đại. Có người cho rằng ông tự coi mình là một nhân vật do định mệnh lịch sử sắp đặt để giám sát sự thức dậy của nước Trung Hoa.


Một cách lặng lẽ, Tập đã xuất hiện trên sân khấu chính trị thế giới như một nhà lãnh đạo có đường lối độc tài không thua gì Vladimir Putin tại Nga. Chắc chắn là, Tập đã đập tan mọi hi vọng về việc khai sinh một xã hội dân sự đa nguyên tại Trung Quốc trong tương lai trước mắt.


Trong 18 tháng qua, Tập đã tóm cổ các đối thủ chính trị của mình trong một chiến dịch chống tham nhũng rộng lớn từ tầng thấp đến tầng cao, lắm lúc nom như một cuộc thanh trừng không đổ máu. Hơn 2000 cán bộ đảng viên các cấp đã bị thay thế. Những cán bộ đảng viên đang vươn lên như Bí thư Thành ủy Quảng Châu Vạn Khánh Lương đã hết sức ngỡ ngàng vì thấy mình mới được tôn vinh hôm trước lại bị rút thẻ Đảng hôm sau.


Các chiến thuật của Tập đã gieo sợ hãi và bất ổn tâm lý trong các cấp đảng viên từ thấp đến cao, theo một số nguồn tin mà chúng tôi có dịp phỏng vấn tại Trung Quốc, tại Châu Á, và tại Mỹ trong tháng Tám và tháng Chín vừa qua về các động thái của Tập Cận Bình.


Người Châu Á có câu “giết gà nhát khỉ” và coi đó là một hình thức cai trị. Nhưng Tập còn thịt luôn cả khỉ. Một tướng có thế lực, Từ Tài Hậu, không bao lâu nữa cũng sẽ bị lôi ra toà án quân sự. Một lãnh đạo Đảng thậm chí có nhiều quyền lực hơn những nhân vật kể trên, đó là Chu Vĩnh Khang – người nắm trong tay một mạng lưới cảnh sát và công an thường hành xử như một chính phủ trong một chính phủ hay như một tập đoàn mafia – cũng bị hạ bệ vào tháng Bảy vừa qua.


“Thông điệp rõ ràng là, ‘Nếu Tập có thể triệt luôn cả Chu, thì ai là người mà Tập không thể triệt hạ?” David Kelly thuộc nhóm nghiên cứu Chính sách Trung Quốc tại Bắc Kinh đã nói như vậy.


‘Một quan niệm mới về Trung Quốc’


“Quan niệm mới của Tập Cận Bình về Trung Quốc,” như hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa Xã tường thuật vào tháng Tám, “có ý nghĩa sâu rộng hơn thế giới bên ngoài có thể tưởng tượng”. Tập gọi đó là một “nỗ lực trẻ trung hóa” vĩ đại.


Tập không ngớt lời cổ vũ cho một hình ảnh về cái gọi là một “Giấc mơ Trung Hoa” tràn trề của cải, địa vị quốc tế, và niềm tự hào dân tộc, một hình ảnh làm nức lòng giai cấp trung lưu thành thị, nơi ông được rất nhiều người mến mộ. Nó gảy lên cung đàn dân tộc chủ nghĩa trong một đất nước đã lâu ngày cảm thấy bị thế giới coi thường. Nhưng mặt khác, Tập cũng đang thi hành những điều cấm kỵ nghiêm khắc đưa ra trong Văn kiện 9 tháng Tám 2013 luân lưu trong nội bộ Đảng, còn được gọi là văn kiện “Bảy Không”.


Bản tuyên ngôn kêu gọi các đảng viên trung kiên phải xoá bỏ tự do phát biểu ý kiến, các ảnh hưởng từ nước ngoài, hay bất cứ một điều gì phảng phất mùi dân chủ, tính minh bạch, hay quan điểm độc lập.


Trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, Tập đã tỏ ra cứng rắn hơn cả những thành phần cứng rắn nhất trong Đảng: Ông thẳng tay đàn áp những người thiểu số Duy Ngô Nhĩ cứng đầu ở miền viễn tây Tỉnh Tân Cương. Thông điệp ông gửi cho Đài Loan về việc thống nhất với Trung Quốc còn cứng rắn hơn nữa. Ông chôn vùi mọi hi vọng của Hồng Kông về các cuộc tuyển cử tự do và công bằng vào năm 2017 – một ý đồ đã quay đầu lại cắn ông ngay trên đường phố của một thuộc địa Anh trước đây và hiện nay là một trung tâm tài chính Châu Á.


Lần đầu tiên, Trung Quốc, dưới triều đại Tập Cận Bình, đang theo đuổi những lập trường hiếu chiến trong các vùng nước Thái Bình Dương, đối đầu với các cường quốc Đông Á như Nhật Bản, Việt Nam, Phi Luật Tân và Mỹ. Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền trên những vùng biển và vùng trời rộng lớn.


Ngay sau khi Tổng thống Obama đến thăm Châu Á vào mùa Xuân năm nay để trấn an những đồng minh đang bị nao núng, Trung Quốc đưa một giàn khoan vào ngay trong vùng nước tranh chấp gần bờ biển Việt Nam. Vào ngày 22 tháng Chín sau khi đi thăm Ấn Độ về, Tập được Tân Hoa Xã trích dẫn là đã chỉ thị các đơn vị Quân Giải phóng Nhân dân phải sẵn sàng ở trong thế chiến đấu nếu muốn thắng “một chiến tranh khu vực”.


“Chúng tôi đã không tiên liệu việc này sẽ xảy ra,” một nhân viên an ninh quốc gia tại Nhà Trắng nói với các nhà báo sau khi Trung Quốc bác bỏ một báo cáo của Lầu Năm Góc về cuộc đối đầu trên không [mid-air encounter] giữa một máy bay phản lực của Quân đội Trung Quốc và một máy bay trinh sát của Hải quân Mỹ gần bờ đảo Hải Nam vào tháng trước.


Orville Schell thuộc Chương trình Mỹ-Trung của Asia Society đưa ra câu hỏi: “Liệu Trung Quốc thực sự có bạn bè nào không?” Các học giả Mỹ cho rằng Tập Cận Bình và Barack Obama sẽ có nhiều đề tài để thảo luận tại Hội nghị APEC vào tháng Mười Một tại Thượng Hải.


Mô hình lãnh đạo tập thể mất hết công dụng


Sở dĩ sự trỗi dậy của Tập Cận Bình được coi là một bước ngoặt vì ông và một nhóm lãnh đạo cao cấp yêu nước trên cơ bản đã xóa bỏ mô hình “lãnh đạo tập thể” vào năm 2012. Qua nhiều thập niên, quyền lực tối hậu tại Trung Quốc được chia sẻ theo đường lối phân tán. Các quyết sách được thông qua do sự đồng thuận của chín ủy viên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị.


Chính sách chia sẻ quyền lực này được thiết kế bởi Đặng Tiểu Bình, nhà cải cách đã mở cửa Trung Quốc, một phần để tránh giẫm lại “tệ sùng bái cá nhân” theo kiểu Mao – hay một cuộc Cách mạng Văn hóa khác. Do đó, mô hình tập thể đã mang một đặc tính trấn an nội bộ. Sẽ không có một cá nhân lãnh đạo nào trở nên quá mạnh. Vì đã có những cái thắng xe.


Nhưng Tập tỏ ra cứng rắn hơn Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào rất nhiều. Các nhiệm kỳ của hai ông này vẽ ra một nước Trung Hoa “thân thiện” muốn học hỏi từ thế giới bên ngoài và trỗi dậy “một cách hài hòa” tại Châu Á. Nhưng ở Trung Quốc bây giờ, Giang và Hồ chỉ được gọi là những người trông coi lâm thời [caretakers] hay là những nhà quản lý đất nước [stewards]. Điều mà Trung Quốc đang chờ đợi, theo đường lối mới của Đảng, là một thủ lĩnh độc tài như Tập – có thể khống chế các thái ấp đang xung đột nhau [các nhóm lợi ích] và nạn tham nhũng đang đe dọa quyền lãnh đạo của Đảng và tiến bộ kinh tế, hai lợi ích bất khả xâm phạm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.


Tập thuộc “Thế hệ hồng thứ hai” của Trung Quốc – con cái của những khai quốc công thần. Cha ông, Tập Trọng Huân [Xi Zhongxun], là một trong “Tám công thần bất tử” đã giúp mở đường cho cuộc cách mạng của Mao. “Những thành viên của thế hệ hồng thứ hai” coi Đảng và quốc gia là một. Họ căm phẫn những thành phần cơ hội chủ nghĩa đã trở nên giàu có và tham ô trên sự hi sinh của cha ông họ. Họ muốn chặn đứng những người sống xa hoa mà không đếm xỉa đến đất nước Trung Hoa. những người “chỉ biết nhận mà không biết cho,” như một học giả Trung Quốc mô tả.


“Ông ấy có một ‘trái tim hồng,’ như chúng tôi thường nói,” Lí Đại Đồng [Li Datong], một cựu tổng biên tập nhật báo có trí thức và tiếng tăm, bình luận như thế. “Thế hệ ông cảm nhận một ý thức trách nhiệm rất sâu sắc. Trước hết, họ cảm thấy rằng, khi đối diện một cuộc khủng hoảng, họ phải làm một cái gì”.


 


Mặc dù cha của Tập bị Mao cho vào ngục, nhưng người con đang hướng đến Mao để tìm nguồn khích lệ. Trong một tập tiểu luận xuất bản ngày 25 tháng Chín, Tập đòi hỏi các đảng viên không được từ bỏ “tinh thần Mao Trạch Đông” hoặc tư tưởng Mao Trạch Đông về một cuộc cách mạng thường trực. Tập là lãnh đạo đầu tiên của Trung Quốc kể từ thời Mao đã xưng “tôi” trong ngôi thứ nhất, nhà Trung Quốc học [Sinologist] Pháp Francois Godement nhận xét. Tập tin tưởng vào lý thuyết “thủ lĩnh độc tài” về lịch sử, và cũng là nhân vật đầu tiên từ thời Mao đã công khai đăng đàn diễn thuyết về vai trò lãnh đạo. Ông nói rằng “vai trò của Thủ lĩnh số một là then chốt”.


Trung Quốc cần một bàn tay mạnh


Các động lực thúc đẩy Tập trỗi dậy chiếm địa vị số một bắt nguồn từ những năm đầu của thập niên 2000, khi các nhà tư bản Trung Quốc được mời gia nhập Đảng. Lời mời gọi đó ngày nay bị coi là rất phức tạp, phúc họa lẫn lộn. Đấy là một nỗ lực vận dụng tính năng động kinh tế của Trung Quốc vào cơ cấu chính trị của thế kỷ 19 được thai nghén bởi cái đầu của Vladimir Lenin.


Các thái ấp kiểu mới, các đại gia, và nhóm được gọi là thái tử Đảng, gồm con trai cũng như con gái của các gia đình thuộc giới lãnh đạo chóp bu Trung Quốc, tất cả đều tranh nhau các móc nối trong Đảng. Lời mời gọi trở thành trái bom tạo mặt bằng cho các “guanxi” hay quan hệ mà giới tư bản cần đến để tiếp cận các nguồn tiền và tín dụng của nhà nước. Các suối tiền khổng lồ đã ào ạt chảy ra từ các khu vực [do nhà nước quản lý] như viễn thông, khoáng sản, sắt thép, và xây dựng. Khoảng năm 2010 tình trạng bát nháo – những tài khoản ngân hàng ở nước ngoài, những bữa tiệc xúp vi cá mập, việc mua dâm và nhậu nhẹt, những lấn lướt và ám hại lẫn nhau – đã tạo ra nguy cơ làm cho Trung Quốc trở thành “đại loạn,” theo nhận định của một nguồn tin.


Hồ Cẩm Đào tỏ ra bất lực, không kềm hãm nổi cao trào các đảng viên lũ lượt chạy theo tiền tài và danh vọng trước khi nhiệm kỳ của ông chấm dứt vào năm 2012.


Đã có nhiều chẩn đoán khác nhau về cuộc khủng hoảng của Trung Quốc. Một số cho rằng Đảng Cộng sản sắp đi đến chỗ diệt vong. Một số khác cho rằng nền kinh tế hoàn toàn thất bại. Một số bảo rằng cả hai đều gặp bế tắc. Một vài chỉ số cơ bản của nền kinh tế là rất đáng lo ngại: Các chính quyền địa phương đã vay mượn ngoài sức chi trả của mình để xây các chung cư, các nhà chọc trời, các trung tâm mua sắm, và các cầu vượt trên các trục xa lộ.


Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để Trung Quốc có thể biến một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu thành một nền kinh tế tiên tiến công nghệ cao. Liệu Đảng có khả năng tự cải tạo để chấp nhận một đường lối có nhiều sáng kiến hơn – hay Đảng cần tập trung hoá các quyết sách của mình theo đường lối độc tài?


Khi nỗi lo sợ [sụp đổ] trong Đảng trở nên sâu sắc, các lãnh đạo chóp bu đi tìm sự hỗ trợ của Thế hệ đỏ thứ hai. Và họ đã chọn đường lối cứng rắn, hoàn toàn không còn bàn đến một thái độ cởi mở thông thoáng nào nữa.


Thoạt đầu Tập xuất hiện gần như một người xuề xoà trong quần chúng, ăn bánh bao, ở khách sạn rẻ tiền, và có giọng nói ôn tồn trấn an người khác.


Nhưng khi sáu cơ quan cao nhất trong Bộ Chính trị được tái cơ cấu năm 2012, kể cả an ninh quốc gia, tài chính, quân sự, và cải tổ – Tập cầm đầu cả sáu cơ quan. Nhờ đó, ông nhanh chóng có cơ hội đưa kẻ cựu thù không đội trời chung đang bị thất sủng, là Bạc Hi Lai, ra xét xử trong một vụ án công khai cao độ năm 2013.


Khác với Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân, Tập được coi là một người không chỉ nói mà còn hành động nữa. Ông đã quảng diễn Văn kiện số 9 để truy kích cả những nhà cải tổ ôn hòa, đây là điều tương đối mới. Tập đã lo lắng đến mức “ám ảnh” về việc Liên Xô sụp đổ dưới sự lãnh đạo của Mikhail Gorbachev và không muốn chính cái tự do phát biểu có sức xói mòn chế độ hay “glasnost” ấy lật đổ Nhà nước Trung Quốc, học giả thâm niên về Trung Quốc tại Đại học Harvard, ông Roderick MacFarquhar, đã lý luận như thế trong một buổi nói chuyện gần đây về Tập Cận Bình.


Nhắm mũi dùi vào xã hội dân sự


Công an đang gia tăng đàn áp văn nghệ sĩ, các nhà truyền giáo, các luật sư, các blogger, các nhân vật trên diễn đàn xã hội, và các giáo sư tỏ ra chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng xã hội dân sự hoặc bác bỏ quan niệm của Đảng về sự thống nhất Trung Quốc và vai trò tối cao của Đảng.


“Khoảng 300 luật sư nhân quyền đang bị giam giữ, trước đây chưa bao giờ có một con số cao như vậy,” Đằng Bưu [Teng Biao], một luật sư nhân quyền hiện làm nghiên cứu sinh tại Đại học Harvard trong một năm, đã nói như vậy. “Những luật sư này có chủ trương ôn hòa. Họ tránh đả động đến những vấn đề nhạy cảm, hay đứng ra biện hộ cho Lưu Hiểu Ba [người được giải thưởng Nobel Hoà bình đang bị giam giữ], mà chỉ nhúng tay vào các việc như chống phân biệt đối xử và bảo vệ quyền của người tiêu thụ”.


Mục tiêu đánh phá chính của Văn kiện Số 9 là “chủ nghĩa hiến định” [constitutionalism]. Đấy là một nỗ lực thúc đẩy Đảng Cộng sản phải chịu trách nhiệm hơn nữa trước người dân – Đảng phải nằm dưới, chứ không được đứng trên chế độ pháp trị – và phải để cho người dân được tự do bày tỏ hơn nữa. (Hiến chương 08 của Lưu Hiểu Ba, chẳng hạn, kêu gọi việc thử nghiệm các hệ thống quyền lực cạnh tranh nhau và “chấm dứt thủ tục xếp ngôn từ vào tội hình sự”.)


Dưới chế độ Tập Cận Bình, các từ không được ưa chuộng trong từ vựng Leninist – như đối thoại, đàm phán, chia sẻ quyền lực, chế độ pháp trị, NGO [các tổ chức phi chính phủ], nhân quyền, và sự hiểu biết lẫn nhau [mutual understanding] – càng ngày càng bị ngờ vực.


Trong những tháng gần đây, mỗi ngày đều có những tin tức làm cho người dân nghe như đang ở trên con đường trở về ký ức của một nước Trung Hoa Đỏ: Các toán công an và bọn đầu gấu liên tục đóng cửa các thư viện vùng quê chỉ vì một vài cuốn sách trong đó cổ vũ xã hội dân sự và vì các thư viện này cho phép người đọc qui tụ và thảo luận. Các show truyền hình Mỹ không còn được phát sóng. Đảng đã công bố là sẽ cho ra phiên bản thần học Thiên chúa giáo của Đảng. Một đại hội điện ảnh tại Bắc Kinh vốn đã diễn ra trong suốt 10 năm qua không được phép mở ra vào năm thứ 11.


Trong tháng Chín, vào thời điểm có cuộc nổi dậy của người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương, Ilhem Tohti, một học giả Duy Ngô Nhĩ ôn hòa tại Bắc Kinh từng kêu gọi đối thoại và chống cả bạo động lẫn chủ nghĩa li khai, bị kết án tù chung thân.


“Một thư viện ở vùng quê không dính líu đến chính trị,” ông Đằng nói. “Nó hoàn toàn biệt lập. Nhưng Tập Cận Bình đang truy kích xã hội dân sự. Ông đang thực thi Văn kiện 9”.


Putin đến trước, Cận Bình theo sau?


Khác với Mao, người chỉ ra khỏi biên giới Trung Quốc một lần – để viếng thăm Joseph Stalin tại Moskva – Tập được nhìn nhận có một số trải nghiệm quốc tế. Ông đã sống một thời gian ngắn tại Mỹ, từng phục vụ tại tỉnh duyên hải Chiết Giang và tại thành phố Thượng Hải, và từng trông coi việc chuẩn bị Thế vận hội Bắc Kinh 2008. Ông có một người con gái đang học ở Harvard và vợ ông là một ca sĩ nổi tiếng. Nhưng hiển nhiên là, Tập chống lại việc tổ chức chính phủ theo đường lối phương Tây – như ông Putin.


Putin có thể là một mẫu hình lãnh đạo độc tài mới. Ông chiếm Crimea, o bế giới tư bản thân hữu, và bàn chuyện thành lập một liên bang Slavic đặt cơ sở trên điều mà ông gọi là “các giá trị Á Âu”. Tập Cận Bình được coi là đang chia sẻ nhiều quan niệm của Putin, tin rằng Mỹ và Châu Âu là những nền văn minh sa đọa và đang ở trong vòng xoáy đi xuống – và rằng một trục độc tài mới xuyên qua Châu Á là diễn biến tiếp theo.


Nhưng thế giới không coi Tập là một tên bắt nạt theo kiểu Putin. Tập chỉ lấy “một số trang từ cuốn sách của Putin,” ông Kelly của Viện Nghiên cứu Chính sách Trung Quốc phát biểu. “Ngoại trừ một điều là Tập có mọi nguồn lực và khí tài mà Putin chỉ có thể nằm mơ mà thôi”.


Câu hỏi cần được đặt ra là, liệu Tập có tạo nhiều xáo trộn và nhiều kẻ thù đến nỗi phải trở thành một nhà độc tài ngày một nghiêm khắc hơn để duy trì quyền lực hay không. (Giới trí thức Bắc Kinh nghiêm chỉnh tranh luận, không biết Tập là một lãnh đạo độc tài theo đường lối cứng rắn [hardline authoritarian] hay là một loại độc tài toàn trị mới [a new kind of totalitarian], với những hệ lụy thật sự chưa ai biết được.)


Báo chí Trung Quốc nói rằng Tập tự coi mình như một con người do định mệnh lịch sử đặt để. Và điều này có thể đúng. Ông đã từng nếm trải cuộc Cách mạng Văn hóa bạo động hướng nội và bây giờ đang chứng kiến Trung Quốc vươn ra thế giới để sánh vai cùng Nhật Bản, Mỹ, và Châu Âu.


Trong khi Trung Quốc còn đang phục hồi từ những đổ vỡ do Mao gây ra, Đặng Tiểu Bình có lời khuyên cho cả nước là Trung Quốc phải “che giấu ánh sáng của mình và đợi thời cơ”. Nhưng có lẽ Tập tin rằng những năm tháng ẩn mình đã qua rồi. Ông còn mười năm tại chức để chứng minh điều đó.


“Tập tin rằng mình có thể là một lãnh tụ vĩ đại, đưa ra một viễn kiến vĩ đại,” một chuyên gia am tường thời sự tại Bắc Kinh và là người có những đường dây quen biết trong Đảng đã nói như thế. “Tập nghĩ rằng nhân dân sẽ là ngọn cỏ và ông sẽ là cơn gió lùa. Tập sẽ thổi và nhân dân sẽ uốn theo chiều gió”.


“Vấn đề là, những phẩm chất cá nhân đã giúp Tập cầm quyền hữu hiệu hiện nay là không phù hợp với một giai đoạn kế tiếp hướng đến một nền kinh tế và một xã hội cởi mở hơn và có nhiều sáng kiến hơn. Biết đến khi nào tiêu chí ấy mới trở thành hiện thực?”


Nguồn: The Christian Science Monitor 8/10/2014


Bản tiếng Việt © 2014 Trần Ngọc Cư & pro&contra


- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/10/17/tap-can-binh-quyen-luc-trung-quoc/#sthash.MzP339x4.dpuf


 


Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình


Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Chức vụ tối cao của Mao Trạch Đông  được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình, nay vừa tròn 70 năm.


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là con người bí ẩn với hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và “Những Suy tư từ sông Dương Tử“ góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Cách hành xử của vị lãnh tụ này thật cẩn trọng, quyết đoán và khó lường. Các chuyên gia chiến lược thế giới suy đoán về tư tưởng và đường lối chính trị của ông là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” nhưng đó cũng chỉ là sự suy luận thông qua việc làm và dư luận.


Ông chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”. (Một bức tượng của Mao Trạch Đông tại Thẩm Dương, ngày 7 tháng 5 năm 2013. Ảnh Reuters).


BÌNH SINH MAO TRẠCH ĐÔNG


Ngày 19 tháng 6 năm 1945, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông liên tục giữ chức vụ này cho đến khi từ trần. Ngày 19  tháng 6 năm 1944, trước đó một năm so ngày Mao được bầu , cũng là ngày khởi đầu  trận hải chiến bằng hàng không mẫu hạm lớn nhất trong lịch sử thế giới giữa hải quân Đế quốc Nhật Bản và hải quân Mỹ tại quần đảo Mariana, thuộc  chiến tranh thế giới lần thứ hai, kết quả hải quân Mỹ thắng.


Chủ tịch Mao Trạch Đông  sinh ngày 26 tháng 12 năm 1893, mất  ngày 9 tháng 9 năm 1976, ông tên tự Nhuận Chi, bút danh là Tử Nhậm, làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc.


Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông. Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist.


Chủ tịch Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959 – 1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê, Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.


Chủ tịch Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Mao Chủ tịch. Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại.


Chủ tịch Mao Trạch Đông nắm chức vụ tối cao của thế hệ thứ nhất ngày 19 tháng 6 năm 1945 và chức vụ này được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình. Từ đó cho đến ngày 19 tháng 6 năm 2015 là vừa tròn 70 năm. Theo quy định về tuổi tác và nhiệm kỳ thì Tập Cận Bình sẽ phải về hưu sau đại hội năm 2022, và sau đại hội năm 2017 thì 5 trên 7 ủy viên thường vụ hiện nay sẽ phải về hưu nhường chỗ cho các gương mặt mới cũng như đại diện của thế hệ thứ sáu. Đường lối của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiện nay, theo đánh giá của Peter Martin và David Cohen, là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” (Mao and Forever).


Mao Trạch Đông gia đình và dòng họ


Chủ tịch Mao Trạch Đông sinh giờ Thìn ngày 19 tháng 11 năm Quý Tị (năm Quang Tự thứ 19) theo âm lịch, tức 26 tháng 12 năm 1893 tại làng Thiều Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam. Ông là con  út trong một gia đình trung nông.


Mao Trạch Đông có bố là Mao Di Xương, tên tự là Mao Thuận Sinh, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1870, mất ngày  23 tháng 1 năm 1920. Mẹ của Mao Trạch Đông là Văn Thất Muội sinh ngày 12 tháng 2 năm 1867 mất ngày 5 tháng 10 năm 1919, lấy chồng năm 1885. ông nội là Mao Ân Phổ; cố nội là Mao Tổ Nhân. Dòng tộc của ông vào thời nhà Minh đã di cư từ tỉnh Giang Tây đến đây và nhiều đời làm nghề nông.


Mao Trạch Đông có bảy anh chị em gồm 5 trai và 2 gái. Hai anh trai và chị gái Mao Trạch Đông đều chết sớm. Hai em trai Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm cùng Dương Khai Tuệ vợ Mao Trạch Đông và chị họ Mao Trạch Kiến (còn gọi là Mao Trạch Hồng) đều bị Quốc dân Đảng giết trong thời kỳ nội chiến.


Mao Trạch Đông lần lượt kết hôn với bốn người. Khi 14 tuổi, bố ông đã sắp xếp cho ông lấy một cô gái cùng làng là La thị (1889–1910), kết hôn năm 1907, nhưng Mao không công nhận cuộc hôn nhân ép buộc này và hai người chưa hề ăn ở với nhau và không có con. Ông kết hôn năm 1921 với Dương Khai Tuệ (1901–1930) ở Trường Sa, sống với nhau đến năm 1927. Bà bị Quốc dân Đảng hành quyết năm 1930. Bà sinh được 3 người con trai. Ông kết hôn với  Hạ Tử Trân (1910 – 1984) người Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây. Hai người chung sống  từ tháng 5 năm 1928, đến năm 1937 thì bà sang Liên Xô chữa bệnh. Bà sinh nở 6 lần nhưng 5 con chết non hoặc mất tích và chỉ có Lý Mẫn trưởng thành. Ông kết hôn với Giang Thanh từ năm 1938 đến lúc Mao mất và có một con gái là Lý Nạp.


Mao Trạch Đông có bốn người con trưởng thành (chưa tính những người chết lúc còn quá nhỏ): Con cả của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Long (1921- 1931?) mất tích. (*) Có người cho rằng đó là Tô Chú, biệt danh là Hoa Quốc Phong, là người tham gia cuộc kháng chiến chống Nhật, sau khi thực hiện cuộc Vạn lý trường chinh năm 1936, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1938, tham gia chiến đấu trong Bát Lộ Quân 12 năm dưới sự chỉ huy của tướng Chu Đức, phụ trách Uỷ ban tuyên truyền cấp tỉnh của Đảng hồi giữa thập niên 1940, được bầu vào Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản năm 1969, trở thành bộ trưởng Bộ Công an năm 1972, sau khi người tiền nhiệm là Tạ Phú Trị qua đời, vào Bộ Chính trị năm 1973, trở thành Phó Thủ tướng năm 1975, quyền Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi Chu Ân Lai mất tháng 1 năm 1976, trở thành Thủ tướng và phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng tháng 4 năm 1976, và Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khi Mao chết, tháng 9 năm 1976, được chỉ định kế tục Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ tối cao Đảng Cộng sản Trung Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vài năm sau, ông bị Đặng Tiểu Bình lật đổ và buộc phải về hưu sớm); Con trai thứ hai của Mao Trạch Đông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Anh (1922-1950), trước học ở Liên Xô, sau chết trong kháng Mỹ viện Triều, kết hôn với Lưu Tư Tề, tên khai sinh là Lưu Tùng Lâm; Con trai thứ ba của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Thanh (1923-2007), kết hôn với Thiệu Hoa, em gái Lưu Tư Tề, sinh ra con trai là Mao Tân Vũ hiện là tướng lĩnh trong quân đội Trung Quốc;  Con gái của  Mao Trạch Đông với Hạ Tử Trân là Lý Mẫn, sinh năm 1936), kết hôn với Khổng Lệnh Hoa, sinh ra con trai là Khổng Kế Ninh, con gái là Khổng Đông Mai. Mao từng có biệt danh là Lý Đức Thắng, nên có lẽ vì vậy mà Lý Mẫn lấy họ này;  Con gái của Mao Trạch Đông với Giang Thanh là Lý Nạp,  sinh năm 1940, kết hôn với Vương Cảnh Thanh, sinh ra con trai là Vương Hiệu Chi. Lý là họ gốc của Giang Thanh. Lưu ý là tên đệm trong từng thế hệ gia đình Mao là giống nhau, tuần tự các đời là Tổ-Ân-Di-Trạch-Ngạn. Các con của Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm có tên đệm là Viễn. Mao Viễn Tân là một nhận vật quan trọng thời cách mạng văn hóa. Người Trung Nam Hải xì xào, Mao có đại phúc tướng nhưng chỉ có diễm phúc mà thiếu thê phúc. Quan hệ vợ con ngoài hôn thú của Mao Trạch Đông hiện vẫn còn là điều bí ẩn.


Mao Trạch Đông cuộc đời và sự nghiệp


Mao Trạch Đông lúc còn là một học sinh 18 tuổi thì Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, triều nhà Thanh bị lật đổ, những người lãnh đạo Cách mạng Trung Quốc tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa nhưng không thành lập được một chính phủ thống nhất và vững vàng, dẫn đến cuộc nội chiến trong một thời gian dài. Mao Trạch Đông phục vụ trong quân đội tỉnh Hồ Nam, sau đó trở về trường học. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm số 1 tỉnh Hồ Nam vào năm 1918, Mao cùng với giáo sư Dương Xương Tế, người thầy học và là cha vợ tương lai, lên Bắc Kinh. Giáo sư Dương nhận một chân giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh và giới thiệu Mao Trạch Đông làm nhân viên thư viện của trường đại học (thư viện do Lý Đại Chiêu phụ trách). Đồng thời Mao học tại chức tại Đại học Bắc Kinh, nghe nhiều học giả hàng đầu như Trần Độc Tú, Hồ Thích và Tiền Huyền Đồng giảng bài. Sau này Mao kết hôn với Dương Khai Tuệ, con gái giáo sư Dương và cũng là sinh viên Đại học Bắc Kinh. Sau phong trào Ngũ Tứ, ngày 4 tháng 5 năm 1919, Mao về Hồ Nam tổ chức đoàn thanh niên, ra hai tờ báo tuyên truyền cách mạng là Tương Giang bình luận và Tân Hồ Nam. Hai tờ báo này bị đóng cửa và Mao bị trục xuất khỏi Hồ Nam. Năm 1920, Mao đã tham gia tiểu tổ cộng sản ở Hồ Nam.


Mao Trạch Đông đã tham gia Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải ngày 23 tháng 7 năm 1921. Hai năm sau, tại Đại hội lần thứ ba (1923), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm 5 người. Tháng 1 năm 1924, theo chủ trương Quốc – Cộng hợp tác, Mao Trạch Đông tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc dân Đảng họp ở Quảng Châu và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng. Sau đó ông lên đường đi Thượng Hải làm việc tại cơ quan Ban chấp hành Quốc dân Đảng, rồi sang năm sau lại về Quảng Châu làm quyền trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân Đảng, rồi kiêm thêm một chân trong Ủy ban vận động nông dân của đảng này. Lúc này ông đã bị Trần Độc Tú đẩy ra khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản tại Đại hội 4 họp vắng mặt ông vào tháng 1 năm 1925. Tại Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng (tháng 1 năm 1926), ông lại được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng và làm quyền Trưởng ban Tuyên truyền đến tháng 5 năm 1926.


Mao Trạch Đông chủ trương đấu tranh vũ trang với Tưởng Giới Thạch sau khi Tưởng quay sang đàn áp Đảng Cộng sản, nhưng ông không được Trần Độc Tú chấp nhận và Mao Trạch Đông bị thất sủng. Ông bèn lui về quê ở Hồ Nam cho ra đời Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam, tác phẩm quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa Mao.


Mao thoát được bạch sắc khủng bố vào năm 1927 và lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thu ở Trường Sa, Hồ Nam nhưng thất bại. Ông thu thập tàn quân du kích chưa đầy 1.000 người tìm nơi ẩn náu ở vùng núi Tỉnh Cương Sơn, nơi giáp giới giữa hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây. Năm 1928 đội quân này hợp nhất với quân của Chu Đức, lập ra Quân đoàn 4 công nông, do Chu Đức làm Quân đoàn trưởng. Mao đã góp phần xây dựng căn cứ, chính quyền và một quân đội tiến hành chiến tranh du kích có hiệu quả, thực hiện cải cách ruộng đất. Chính tại nơi đây từ 1931 đến 1934, nhà nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa được lập ra và Mao được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời. Vào thời kỳ này, Mao kết hôn với Hạ Tử Trân, sau khi Dương Khai Tuệ bị lực lượng Quốc dân Đảng giết chết.


Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản chạy trốn sự khủng bố bởi các chiến dịch bao vây càn quét của Tưởng Giới Thạch ở các thành phố lớn, chủ yếu là Thượng Hải nên chạy dạt về trú ngụ ở khu Xô-viết. Nội bộ Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản diễn ra cuộc tranh giành quyền lực, đấu tranh về đường lối và chiến thuật. Phe theo đường lối chính thống của Moskva, mà đại diện là nhóm 28 người Bolshevik, đã thắng thế và Mao dần dần bị gạt ra khỏi các chức vụ quan trọng.


Tưởng Giới Thạch với quyết tâm tiêu diệt bằng được những người cộng sản, tháng 10 năm 1934, đã trực tiếp chỉ huy 50 vạn quân bao vây tấn công khu Xô-viết trung ương, buộc Hồng quân phải mở đường máu rời bỏ nơi đây, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh cực kỳ gian khổ, vượt 9.600 km trong suốt một năm trời để đến tỉnh Thiểm Tây xây dựng căn cứ mới.


Mao Trạch Đông trên đường trường chinh đã bước lên nắm quyền lãnh đạo từ Hội nghị Tuân Nghĩa họp vào tháng 1 năm 1935. Tại hội nghị này, Chu Ân Lai ngả về phía Mao, Tổng Bí thư Bác Cổ và cố vấn quân sự Otto Braun (tên Trung Quốc là Lý Đức) bị hạ bệ, Mao vào Ban thường vụ Bộ Chính trị, nắm thực quyền và năm 1943 được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Mao Trạch Đông từ căn cứ mới ở Diên An, đã lãnh đạo những người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật (1937–1945) thông qua hợp tác Quốc–Cộng lần thứ hai. Tại đây, Mao đã củng cố quyền lực trong Đảng Cộng sản bằng cách mở cuộc vận động chỉnh phong. Tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp tại Diên An tháng 6 năm 1945, Mao được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cũng tại Diên An, Mao ly thân với Hạ Tử Trân và lấy Lam Bình, một diễn viên mới tới Diên An mà sau này khuynh đảo chính trường Trung Quốc với tên gọi là Giang Thanh.


Ngay sau khi Chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, nội chiến đã diễn ra giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, kết thúc bằng thắng lợi của Đảng Cộng sản vào năm 1949.


Mao Trạch Đông thuộc phái tả kiên định, năm 1920, Mao trở thành người Mác xít. Năm 1921, là một trong 21 người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mãi đến năm 1935, Mao mới trở thành người lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau hai lần thất bại vào năm 1927 và 1934, nhưng cuối cùng cũng vượt qua được nhờ Mao Trạch Đông lên nắm quyền lãnh đạo Đảng, lực lượng của Đảng dần được củng cố mạnh lên. Đến năm 1947, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc tấn công toàn diện vào Chính phủ Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu. Qua hai năm rưỡi đánh nhau, bằng ba đại chiến dịch “Liêu Thẩm” “Bình Tân” và “Hoài Hải”, Mao Trạch Đông đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền năm 1949 và giải phóng toàn bộ đại lục Trung Quốc; Mao Trạch Đông làm Chủ tịch chính phủ nhân dân trung ương , Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai làm Phó Chủ tịch, trong đó Chu Ân Lai kiêm nhiệm Thủ tướng Quốc vụ viện.


Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến 1976, trong suốt 27 năm, ông luôn là nhân vật quan trọng nhất trong Chính quyền Trung ương Trung Quốc, đã kiên trì thực hiện công cuộc cải cách vĩ đại mang ý nghĩa sâu xa trên toàn đất nước, nhưng ông đồng thời cũng bắt nhân dân phải trả giá đau đớn. Mao phải chịu trách nhiệm chính về phong trào “trăm hoa đua nở” năm 1957 bắt hữu phái, tát cạn trí thức tinh anh;  phong trào “giương cao ba ngọn cờ hồng” năm 1958 “đường lối chung, đại nhảy vọt, công xã nhân dân” điển hình là “Đại nhảy vọt kinh tế”: ” toàn dân xây dựng công xã nhân dân, xây dựng nhà ăn công cộng” “toàn dân luyện gang thép” thiệt hại lớn, đất nước lâm vào đói kém, do “ba phần thiên tai, bảy phần nhân họa” mà không chỉ là “chính sách sai lệch, Liên Xô đòi nợ, thiên tai hoành hành”. Năm 1959, tại Lư Sơn, ông giương cao cờ chống hữu, đấu thắng Bành Đức Hoài, tẩy sạch những ai dám nói. Diệu kế của Mao là khi cảm nhận được ba ngọn cờ hồng sẽ gây ra tai họa, ông nhường bớt quyền bính giao tuyến 1 cho Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đảm nhận với cương vị là Chủ tịch Nước và Tổng Bí thư Đảng xử lý công việc thường nhật. Ông lui về tuyến 2 chuyên công tác nghiên cứu lý luận Mác Lê Nin, thông qua Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch Đảng sau này là Bộ trưởng Quốc phòng (thay thế Bành Đức Hoài) phát động phong trào học tập “Mao tuyển” trên toàn quốc.


Tiếp đó, Mao ủng hộ “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” vào những năm 60 của thế kỷ XX. Mao tự đánh giá “”Đại Cách mạng văn hóa” là một trong hai đại sự lớn nhất đời Mao . Có điều đặc biệt là khi phát động “Đại nhảy vọt”, Mao Trạch Đông đã hơn 60 tuổi; còn “Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra lúc ông gần 70 tuổi; và khi quyết định thiết lập ngoại giao với Hoa Kỳ thì Mao đã gần 80 tuổi.


Mao Trạch Đông qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976, 10 phút sau nửa đêm ở thủ đô Bắc Kinh. Ông chết vì bệnh xơ cứng teo cơ (tên khoa học amyotrophic lateral sclerosis), ở Hoa Kỳ bệnh này thường được gọi là Lou Gehrig’s hoặc Motor Neurone, cùng một căn bệnh với Stephen Hawking. Sức khỏe của Mao Trạch Đông đã rất kém trong nhiều năm và suy giảm rất rõ rệt trong thời gian vài tháng trước khi chết. Thi hài ông được an táng tại Đại lễ đường nhân dân. Lễ tưởng niệm ông cử hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại quảng trường Thiên An Môn. Trong lễ tưởng niệm có 3 phút mặc niệm. Sau đó thi hài ông được đặt trong Lăng Mao Trạch Đông, mặc dù ông muốn được hỏa táng và là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên ký văn bản chính thức vào tháng 11 năm 1956 quy định tất cả những người lãnh đạo cấp trung ương sau khi chết sẽ được an táng theo nghi thức hỏa táng.


Mao Trạch Đông di sản và đánh giá


Sách “Giang Thanh toàn truyện”, nguyên tác Diệp Vĩnh Liệt. Người dịch Vũ Kim Thoa, Chương 21 Màn cuối cùng. Trong bệnh nặng, Mao Trạch Đông dặn dò hậu sự. Khi xẩy ra sự kiện Thiên An Môn,  Mao Trạch Đông ốm nặng… Ông tự biết những ngày còn lại không bao nhiêu, sợ bệnh tim bột phát; vào lúc cảm thấy tinh thần còn sáng suốt, ngày 15 tháng 6 năm 1976, Mao Trạch Đông triệu tập Hoa Quốc Phong, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Vương Hải Dung … để nói chuyện như thể dặn dó lúc lâm chung. Mao Trạch Đông nói rất vất vả, tốn sức lực, tuy nhiên còn chưa đến nổi lắm. Mao Trạch Đông nói:


“Nhân sinh thất thập cổ lai hy” tôi đã ngoài 80, người gia bao giờ cũng nghĩ đến hậu sự. Trung Quốc có câu cổ thoại, ý nói: “đậy nắp quan tài định luận. Tôi tuy chưa đậy nắp quan tài nhưng cũng sắp đến lúc rồi, có thể định luận được rồi.


Trong đời tôi đã làm hai việc, một là đấu tranh với Tưởng Giới Thạch mấy chục năm, đuổi hắn chạy ra ngoài đảo xa. Rồi kháng chiến tám năm, đã mời được người Nhật Bản trở về nhà họ.  Với sự việc này không có mấy ai dị nghị , chỉ có năm ba người xì xào đến tai tôi, đó là muốn tôi sớm thu hồi mấy hòn đảo kia về. Một sự việc khác, các đồng chí đều biết, đó là việc phát động đại Cách mạng Văn hóa. Về việc này người ủng hộ không nhiều, người phản đối không ít.


Hai việc này đều chưa xong. Di sản này phải giao lại cho đời sau. Giao như thế nào? Giao một cách hòa bình không được thì phải giao trong sự lộn xộn . Làm không nên có khi còn đổ máu. Vì thế, các đồng chí làm như thế nào, chỉ có trời biết”.


Trong cuộc đời Mao Trạch Đông, lần nói chuyện này chính là một cuộc tổng kết. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Những câu nói nổi tiếng: “Súng đẻ ra chính quyền” “Nông thôn bao vây thành thị” “trí thức không bằng cục phân” “Dụ địch vào sâu” ” tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”  “Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu” “có lý, có lợi, đúng lúc“,…


Mao Trạch Đông khởi xướng chính sách được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.


Mao Trạch Đông đưa ra phương lược “tam tuyến” hướng xử lý khi có chiến tranh lớn, tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965. Ông nói:


“Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang, dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”… (xem thêm: Trân Vũ Hán bài học lịch sử;  Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong)


Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia nhận xét:


Đánh giá một nhà chính trị thời kỳ cận đại là rất khó khăn; Có thể so sánh Mao Trạch Đông với Tần Thủy Hoàng; vì họ đều là người Trung Quốc, đều là các nhà cải cách. Nếu so sánh Mao Trạch Đông với Lê Nin cũng là xác đáng, họ đều sống ở thế kỷ 20, Mao Trạch Đông là người kiến tạo Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc, cũng như Lê Nin là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Marx ở nước Nga. Mới nhìn ta thấy Mao Trạch Đông gần như nổi bật hơn Lê Nin vì Trung Quốc có số dân gấp ba lần Liên Xô, nhưng Lê Nin có trước và đã là một tấm gương cho Mao Trạch Đông, có ảnh hưởng đối với Mao Trạch Đông.


BÌNH SINH TẬP CẬN BÌNH


Chủ tịch Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo quốc gia tối cao, thuộc thế hệ lãnh đạo thứ 5 của nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy. Trung Quốc sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đến thời Chủ tịch Tập Cận Bình, đã vượt lên nổi nhục bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, sự nội chiến Quốc Cộng hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản, sự xáo động dữ dội của thời kỳ “đại loạn” đại cách mạng văn hóa, sự hiểm họa cực kỳ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo và phát triển nóng. Đến nay, tuy nguy cơ này vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.


Tập Cận Bình tiểu sử tóm tắt


Chủ tịch Tập Cận Bình hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là nhân vật số một trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, cơ quan thực quyền cao nhất Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình  và Thủ tướng Lý Khắc Cường là thế hệ tiếp nối ngay sau thế hệ thứ tư là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo.


Chủ tịch Tập Cận Bình, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1953 tại Bắc Kinh, là con trai cựu Phó Thủ tướng Trung Quốc Tập Trọng Huân, gia đình gốc ở Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Khi ông 10 tuổi, cha ông bị thanh trừng và gởi đi làm việc tại một hãng xưởng ở Lạc Dương, Hà Nam. Vào năm 1968 khi ông được 15 tuổi thì cha ông bị giam tù trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Tháng 1 năm 1969, ông tham gia đại đội Lương Gia Hà, xã Văn An Dịch, huyện Diên Xuyên, tỉnh Thiểm Tây.  Tháng 1 năm 1974, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó làm Bí thư Chi bộ Đảng của nhóm sản xuất (1969-1975).


Từ năm 1975 đến 1979, ông là sinh viên học tập tại Trường Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Từ năm 1979 đến 1982, làm Thư ký Văn phòng Quốc vụ viện và Thư ký Văn phòng Quân ủy Trung ương. Năm 1982-1983, Phó Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc. Từ năm 1983 đến năm 2007, ông đã trải qua các chức vụ như: Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc (1983-1985); Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến (1985-1988); Bí thư Thị ủy Ninh Đức, tỉnh Phúc Kiến (1988-1990); Thường vụ Thành ủy thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến (1990-1993); Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Phúc Châu (1993- 1995); Phó Bí thư Tỉnh ủy Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch HĐND Thành phố Phúc Châu (1995-1996); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến (1996-1999); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Chủ tịch lâm thời tỉnh Phúc Kiến (1999-2000); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Phúc Kiến (2000- 2002); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Triết Giang (2002- 2003); Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Triết Giang (2003-2007); Bí thư Thành phố Thượng Hải (2007). Năm 1998-2002, tiếp tục học tại Đại học Thanh Hoa và lấy bằng Tiến sỹ Luật.


Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương; được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương.


Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông được phân công làm Tổng Chỉ huy công tác tổ chức Olympic Bắc Kinh khai mạc lúc 8 giờ 8 phút tối ngày 8 tháng 8 năm 2008. (Beijing 2008 *)


Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Hội nghị Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5, khóa 17, Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh đã bầu Tập Cận Bình giữ chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương – đây là cơ quan chỉ đạo và quyết định mọi hướng đi của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.


Ngày 15 tháng 11 năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 đã tiến hành phiên họp đầu tiên sau đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 18 và quyết định bầu ông làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.


Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở quốc gia đông dân nhất thế giới.


Tập Cận Bình những chính sách lớn


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt.


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới (xem thêm: Biển Đông vạn dặm, Biển Đông và sông Mekong).


Chủ tịch Tập Cận Bình trước và ngay sau ngày 14 tháng 3 năm 2013 (ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã nhanh chóng ra tay chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi, săn sói, quét muỗi”. Các con hổ lớn Bạc Hi Lai (2012), Từ Tài Hậu (2012), Chu Vĩnh Khang (2013) và mới đây là Quách Bá Hùng (2015) lần lượt bị sa lưới. Chiến dịch này hiện đang ở vào hồi kết thúc của giai đoạn ” đả hổ, diệt ruồi” giành thắng lợi quyết định ở cấp lãnh đạo thượng tầng, quân đội, công an, tài chính kinh tế và truyền thông tại các thành phố lớn, nay đang chuyển sang giai đoạn “săn sói, quét muỗi”  càn quét cường hào tham nhũng ừa và nhỏ ở vùng nông thôn và những nguy cơ tiềm ẩn ở các lĩnh vực khác.


Chủ tịch Tập Cận Bình “chống tham nhũng không màng sống chết cá nhân”. Ông đề ra khẩu hiệu “Tứ Toàn” (Bốn toàn diện):  “Xây dựng kinh tế xã hội thịnh vượng toàn diện; Cải tổ xã hội sâu sắc toàn diện; Thực hiện Nhà nước pháp quyền toàn diện;Thực thi kỷ cương Đảng toàn diện”. Đây là một cuộc chiến sinh tử, một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, rộng lớn và triệt để về kinh tế,  xã hội, nhà nước và đảng cầm quyền. Trong cuộc chiến này, quan điểm của ông Tập là vạch trần mọi tật xấu, sai lầm, khuyết điểm, không được che dấu đảng viên và nhân dân điều gì, không có nhân vật nào bất khả xâm phạm, không một lãnh vực nào bị cấm, dù là lãnh tụ tối cao.


Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia tiếng Việt, Wikipedia tiếng Anh và những bài nghiên cứu quốc tế về Trung Quốc được thu thập và đúc kết thông tin cập nhật liên quan bài viết này.


Thông điệp ngầm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình


Vào thời điểm này, Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế: những biến động mạnh trên thị trường chứng khoán Trung Quốc cùng cách xử lý lúng túng của nước này, việc bất ngờ phá giá đồng nhân dân tệ và vụ nổ kinh hoàng ở Thiên Tân mới đây... Theo truyền thông quốc tế, đây là cơ sở để nhiều giới nội bộ chính trị ở Trung Quốc chỉ trích ông Tập đã tập trung quá nhiều quyền lực trong tay mình và dành sự chú ý quá lớn cho các mục tiêu chính trị và các vấn đề quốc tế, khiến nền kinh tế chịu tổn thất.


Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2012 và vạch ra một “giấc mơ Trung Quốc” nhằm thúc đẩy vị thế của đất nước, ông Tập Cận Bình đã xây dựng hình ảnh của nhà lãnh đạo Trung Quốc quyền lực nhất trong nhiều thập kỷ.


Ở một sự việc khác diễn ra trong tháng 8/2015, tấm bia đá khắc bút tích của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân, vốn được đặt ở lối dẫn vào Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh đã bị di dời. Thay vào đó, tượng của cố lãnh đạo Đặng Tiểu Bình - người đã mở ra những cải cách kinh tế mang tính bước ngoặt của Trung Quốc cuối những năm 1970 - và Mao Trạch Đông - người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc – được đặt trang trọng tại khu vực trung tâm.


Một nguồn tin có quan hệ chặt chẽ với giới lãnh đạo Trung Quốc nói với Reuters rằng việc xuất hiện bức tượng của ông Đặng Tiểu Bình ở ngôi trường quyền lực đó gửi đi thông điệp rằng Trung Quốc cần tập trung vào phát triển kinh tế.


Ở lĩnh vực phòng chống tham nhũng, cơ quan chống tham nhũng Trung Quốc vừa mở cuộc điều tra nhằm vào ông Đặng Khi Lâm, cựu Chủ tịch Tập đoàn thép Vũ Hán, nhà sản xuất thép lớn thứ 4 của Trung Quốc và nằm trong số các công ty đang kêu gọi sự hỗ trợ lớn hơn của chính phủ để mở rộng hoạt động ở nước ngoài trong bối cảnh giá thép sụt giảm và năng lực dư thừa.


Ông Đặng Khi Lâm, vừa thôi chức Chủ tịch Tập đoàn thép Vũ Hán tháng 6/2015. Ông bị cáo buộc “vi phạm kỷ luật” nghiêm trọng.


Ông Đặng Khi Lâm là nhân vật mới nhất bị điều tra trong số các quan chức thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng Trung Quốc. Trước đó, các quan chức Tập đoàn thép Baosteel, Tập đoàn sắt thép Guangxi Liuzhou, Hãng thép Jiuquan đã bị điều tra với cáo buộc vi phạm kỷ luật.


Tháng 4/2015, Phó tổng giám đốc của Tập đoàn sắt thép Vũ Hán Sun Wendong, cũng bị giới chức bắt giữ vì tình nghi liên quan tới nhận hối lộ.


Trung Quốc đang thực hiện chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn do Chủ tịch Tập Cận Bình khởi xướng nhằm vào các quan chức chính trị cấp cao, các quan chức quân đội cũng như những nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình nói rằng tham nhũng là mối đe dọa đối với sự sống còn của Đảng Cộng sản Trung Quốc và cam kết diệt tận gốc “cả hổ lẫn ruồi”.


Trước đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc cho rằng, các biện pháp cải cách trên diện rộng của ông Tập Cận Bình, trong các lĩnh vực từ chính trị cho tới quân sự đã vấp phải sự phản kháng “vượt xa những gì có thể tưởng tượng trước đây” do ảnh hưởng tới lợi ích của các nhóm khác nhau.


“Các biện pháp cải cách sâu đã đụng chạm đến vấn đề căn bản là điều chỉnh lại huyết mạch của nền kinh tế khổng lồ này và nhằm mục đích đưa nền kinh tế trở nên lành mạnh hơn”, bài báo trên tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ỏ Hồng Kông viết.


Thế nhưng, với những động thái nói trên, ông Tập Cận Bình đang phát đi hình ảnh khẳng định sức mạnh của bản thân cũng như sự kiên định trong việc thực hiện các chính sách đã đề ra bất chấp "tổn thất về niềm tin chính trị", cụm từ được một chuyên gia về kinh tế thuộc Đại học California sử dụng.


Vào tháng 9 này, Chủ tịch Trung Quốc sẽ một lần nữa thể hiện hình ảnh sức mạnh khi chủ trì cuộc duyệt binh quy mô lớn tại Bắc Kinh kỷ niệm 70 năm ngày kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đây là cuộc duyệt binh có sự tham gia của 12.000 binh sỹ, nhiều chiến đấu cơ và tên lửa đạn đạo, đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc kỷ niệm kết thúc thế chiến hai ở quy mô lớn như vậy. Và 3 tuần sau sự kiện trên, ông Tập Cận Bình sẽ tới Washington trong chuyến thăm chính thức Mỹ. Chuyến thăm này cũng được cho là nhằm thể hiện sự “ngang tầm” của Trung Quốc với Mỹ.


An Nhiên Tổng hợp


baodatviet.vn/the-gioi/tin-tuc-24h/thong-diep-ngam-cua-chu-tich-trung-quoc-tap-can-binh-3284128/


Tập Cận Bình triệu hơn 200 tướng về Phúc Kiến?


Hội nghị Cổ Điền lần này Tập Cận Bình đang mưu tính điều gì là chuyện rất đáng theo dõi, quan sát.


Đa Chiều ngày 29/10 đưa tin, theo truyền thông Hồng Kông và Đài Loan, trong hai ngày 29 và 30/10, ông Tập Cận Bình triệu tập hơn 200 tướng lĩnh về thị trấn Cổ Điền huyện Thượng Hàng thành phố Long Nham tỉnh Phúc Kiến họp quân chính.


Cuộc họp này đáng chú ý bởi nó diễn ra tại nơi cách đây 85 năm Mao Trạch Đông đã triệu tập “hội nghị Cổ Điền” xác lập vị trí lãnh tụ của mình trong quân đội cũng như nguyên tắc “đảng lãnh đạo quân đội”.


Trước đó, ông Tập Cận Bình cũng dự hội thảo và đưa ra chỉ đạo về lĩnh vực văn nghệ của Trung Quốc cũng khiến người ta nhớ đến hội nghị văn nghệ Diên An 72 năm trước. Trong hội nghị đó Mao Trạch Đông yêu cầu văn nghệ cũng phải vì chính trị, phục vụ cho chính trị và đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc. Một số nhà quan sát cho rằng, hội nghị Cổ Điền lần này Tập Cận Bình đang mưu tính điều gì là chuyện rất đáng theo dõi, quan sát.


Tờ Vượng Báo của Đài Loan tiết lộ, sau khi kết thúc hội nghị trung ương 4 đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình đã tới Cổ Điền họp hội nghị quân chính trong 2 ngày với tư cách Chủ tịch Quân ủy trung ương, hơn 200 tướng lĩnh toàn quân được triệu tập. Ngoài nhắc lại quyết tâm và tinh thần chống tham nhũng của trung ương, nhấn mạnh chính sách pháp trị, Tập Cận Bình còn muốn nhắc nhở quân đội không thể đứng ngoài chính sách pháp trị.


Hội nghị Cổ Điền đã giúp Mao Trạch Đông xác lập vai trò thống lĩnh, sau hội nghị này các tướng trước đó hay bất đồng ý kiến với ông đều phải nghe lệnh. Việc Tập Cận Bình chọn Cổ Điền họp hội nghị quân chính ngay sau hội nghị trung ương 4 có ý nghĩa sâu xa. Mặc dù lịch trình làm việc của các lãnh đạo cao cấp Trung Nam Hải thường là bí mật, nhưng những ngày gần đây đã xuất hiện thông tin Tập Cận Bình về Phúc Kiến.


Tập Cận Bình cũng từng có 17 năm làm việc tại Phúc Kiến, từ cơ sở cho tới Bí thư tỉnh ủy. Nhưng từ khi lên Tổng bí thư, Tập Cận Bình rất ít khi về Phúc Kiến. Trong các chuyến đi công khai được ghi nhận thì chỉ có chuyến thị sát quân khu tỉnh Phúc Kiến hôm 30/7 vừa rồi, 1 ngày trước khi tuyên bố điều tra Chu Vĩnh Khang. Quân khu tỉnh Phúc Kiến cũng là nơi Tập Cận Bình từng làm Chính ủy.


Hội nghị Cổ Điền lần đầu tiên họp trong 2 ngày 28, 29 tháng 12/1929, hơn 120 đại biểu là đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc phụ trách công tác quân sự, chỉ huy các đơn vị về dự họp. Cuộc họp này do Trần Nghị chủ trì, Mao Trạch Đông báo cáo chính trị còn Chu Đức báo cáo công tác quân sự. Hội nghị bầu Mao Trạch Đông làm Bí thư đảng ủy, xác lập nguyên tắc đảng lãnh đạo quân đội.


Hội nghị Cổ Điền lần này diễn ra khiến dư luận có cảm giác dường như Tập Cận Bình muốn lặp lại con đường của Mao Trạch Đông, xác lập vai trò lãnh đạo của mình cũng như nhấn mạnh nguyên tắc mà ông theo đuổi: đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mọi mặt, lãnh đạo toàn cục đối với quân đội. Thứ hai là nhấn mạnh “tính nhân dân”. Trong hội nghị này, nhiều khả năng phát biểu của Tập Cận Bình sẽ thảo luận về tính chính trị, tầm quan trọng của chống tham nhũng trong quân đội cũng như quân đội phải vì dân.


 


nguyentandung.org/tap-can-binh-trieu-hon-200-tuong-ve-phuc-kien.html

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »