tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21593647
Lý luận phê bình văn học
12.01.2009
Trần Đức Thảo
Lịch sử Tư tưởng trước Marx (4)

 


Phần bốn : Ý nghĩa của hái niệm Thần trong xã hội chiếm hữu nô lệ


Những sự kiện trong lịch sử về những đạo thần thánh vô cùng phức tạp về chất lượng và vô hạn về số lượng, nhưng điều cần thiết là nắm được ý nghĩa và cơ cấu của khái niệm đó trong quá trình biện chứng lịch sử. Do đó, chúng ta có thể lấy một ví dụ điển hình là tôn giáo Ai Cập. Ai Cập cổ đại phát triển theo một quá trình tương đối đơn giản vì trong 2.000 năm lịch sử đầu tiên ấy, nó tương đối ở rìa đường giao thông chính (Ai Cập - Lưỡng Hà - Ấn Độ), do đó những ý nghĩa rất phức tạp trong khái niệm thần thánh được xây dựng ở đây một cách tương đối đơn giản, mà chúng ta có thể phân tích từng bước được.


 


Tôn giáo Ai Cập nói chung là một tôn giáo mang nhiều di tích vật tổ: thần chim diều hâu, chim cò, bò, chó sói, v. v... Ngoài ra, có hai thần chính là Thần Mặt trời và Thần Osiris (thần vua). Thần Mặt trời ở đây cũng có ý nghĩa như ở các nước khác: nó tiêu biểu cho uy quyền, lực lượng tuyệt đối của nhà vua, tiêu biểu cho công lý, tức là tiêu biểu cho lý tưởng về [quyền?][2] của nhà vua. Nhưng thần Osiris thì có một tiểu sử đặc biệt: ông này trước kia làm vua rồi bị giết, sau sống lại và thân phận ông tiêu biểu cho thân phận linh hồn sau khi chết được sống lại, và Osiris được xem như Thần cứu hồn (người đã chết được sống lại nhờ đồng nhất với Osiris). Đạo cứu hồn là rất quan trọng. Nó thu hút nhân tâm không những ở Ai Cập mà sau này thành cả một truyền thống ở Địa Trung Hải; hình thức cuối cùng của nó là đạo Gia Tô (vua tượng trưng của Do Thái chết đi và sống lại và do đó cứu vớt nhân loại). Đạo này còn đặc biệt ở chỗ nó là đạo của nhân dân (đạo Mặt trời là đạo của uy quyền tượng trưng quyền lực tuyệt đối và công lý hình thức của nhà vua mà chế độ quân chủ nói là đặt ra, dưới hình thức pháp lý). Rõ ràng đạo Mặt trời là từ trên xuống dưới, còn đạo cứu hồn hình như là từ dưới lên trên : quần chúng nhân dân đòi hỏi được cứu hồn, cứu hồn là cứu hồn cá nhân, và đạt tới hình thức cao nhất là đạo Gia Tô (tự mình hiến tế để cứu hồn nhân loại). Nó sẽ là cái nguồn của cả truyền thống duy tâm Âu châu sau này, nhưng đồng thời trong khuôn khổ duy tâm đó, nó có tập trung một số giá trị nhân đạo được đề cao trong xã hội Âu Tây (giá trị linh hồn, con người, công lý, bác ái, v.v...)


I- TRUYỀN THUYẾT OSIRIS


Osiris là một ông vua của đồng bằng Ai Cập, sinh trưởng ở một tỉnh miền Đông đồng bằng, một hôm bị một người anh em là Seth là vua trung châu giết. Trong truyền thuyết, Osiris là thần của nông nghiệp, của cái gì tốt đẹp trong đời sống (giàu có, công lý, bác ái), và Seth là thần ác, thần của sa mạc, sấm sét, bão táp, giông tố. Seth vờ đùa, đưa một cái hòm mời Osiris vào ngồi, rồi đóng lại thả xuống sông. Hòm theo sông trôi ra bể, tới tỉnh Byblos ở Syrie, và nhập vào một cây thuộc loài thông. Ông vua xứ này mang cây này về làm cột. Vợ chàng đến Byblos mang quan tài về, nhưng lại bị Seth và phe của nó bắt và chặt xác làm 14 mảnh vứt rải rác trong cả nước. Bà Isis nhặt nhạnh những mảnh ấy, xếp lại, dùng phép phù thủy làm sống lại và nhờ đấy đẻ ra con là Horus. Horus lớn lên đi đánh cậu là Seth, chiếm được đất trung châu Ai Cập, rồi trước tòa án thần thánh, Horus được công nhận chính thức là con của Osiris, do đó có quyền hưởng gia tài của Osiris.


 


Chuyện này quan trọng vì sau này ở Ai Cập, nhân dân có lệ diễn lại thành kịch thánh (mystère), và họ cho là ai được xem kịch này sẽ được đồng nhất hóa với Osiris, và linh hồn sẽ được cứu vớt và sung sướng sau khi chết. Kịch thánh cuối cùng trong lịch sử là kịch về Gia-tô mà người ta diễn ở các nhà thờ, nhất là vào lễ Pâques («mystère de la passion» trong đó Gia-tô hiến tế và sống lại). Suốt thời Trung Cổ, kịch thánh này rất phổ biến và diễn trước công chúng rất đông đảo.


 


Tại sao quần chúng lại tha thiết với kịch thánh này đến thế, và nó có thể kéo dài (về thực chất) từ mấy nghìn năm trước CN cho đến giờ? Đạo Mặt trời tượng trưng quyền vua trong ánh sáng (theo lệ thời bộ lạc), mặt trời thì dễ hiểu nhưng ở đây là một đạo cứu vớt nhân loại nên nó có một ý nghĩa lớn hơn nhưng cũng khó hiểu hơn. Có thể nói nó là một gia tài của thời chiếm hữu nô lệ. Nhưng tại sao một chế độ tàn khốc như thế lại có thể để lại một lý tưởng cao siêu như vậy, dù là dưới một hình thức siêu hình.


II - NỘI DUNG ĐẠO OSIRIS


Trước hết, phải nhắc lại vài nét lịch sử Ai Cập. Theo truyền thống lịch sử, đất Ai Cập chia làm nhiều tỉnh. Những tỉnh ấy là những khu mương đào từ sông Nil hay một nhánh của nó để tưới đất ruộng (chữ tỉnh trong chữ Ai Cập tượng trưng bằng một hình vuông kẻ ô tức là khu mương, và đô thị tượng trưng bằng hình tròn gạch chéo tức là ngã tư). Ta có thể ức đoán là vào khoảng trung gian giữa tiền sử và lịch sử chính thức (thiên niên kỷ V trước CN hay IV trước CN), những tỉnh này là những quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên, xây dựng nhờ sự phát triển của sức sản xuất. Đặc tính của sức sản xuất ở đây là mặc dầu công cụ còn thô sơ là cái cày gỗ, nhưng nhờ đất đai phì nhiêu và được tưới đều nên năng suất rất cao, và trên cơ sở tổ chức khu mương này mà lớp thống trị dễ đạt được uy quyền trong nhân dân. Ta có thể ức đoán là đến một lúc nào đấy, các quốc gia nhỏ tập trung lại thành hai nước lớn là Bắc Ai Cập (ở đồng bằng) và Nam Ai Cập (ở trung châu). Bắc Ai Cập văn minh hơn nhờ đất đai phì nhiêu, nhờ liên lạc với vùng bán đảo Sinai có mỏ đồng và đá quí, với Byblos bằng cách xuất cảng lúa mì và nhập cảng gỗ thông của Syrie (ngày nay Syrie vẫn còn nổi tiếng về gỗ thông này).


 


Ta có thể ức đoán Osiris là một vua của Bắc Ai Cập, tượng trưng cho nông nghiệp và tất cả cái gì tốt trong đời sống văn minh; Seth là vua Nam Ai Cập nơi còn nửa dã man nên tượng trưng cho mưa gió, bão táp, v.v..., cho tất cả cái gì ác liệt. Quan hệ anh em giữa hai thần này có lẽ do quan hệ liên minh bằng cách kết nghĩa xem nhau như anh em. Hiện nay còn thấy quan hệ liên minh này ở nhiều chủng tộc ở giai đoạn bộ lạc, vì họ chỉ mới quan niệm được liên minh trên cơ sở quan hệ pháp lý. Tuy liên minh như thế nhưng sau vẫn có thế đánh nhau. Đến một lúc nào đấy, Seth đánh Bắc Ai Cập, và có thể là việc bỏ xác vào hòm tượng trưng cho việc phe Osiris phải bỏ chạy sang Byblos (vì bấy giờ đã có quan hệ thương mại đường biển). Hòm nhập vào cây thông có thể có nghĩa là phe này nhập vào tổ chức của người kiều dân Ai Cập buôn bán gỗ thông ở đấy, đặt dưới sự bảo hộ của Thần Thông. Sự việc bà Isis đi tìm chồng có thể là việc phe Osiris phát triển lại ở đồng bằng Ai Cập, đi gọi gia quyến Osiris về nhưng bị đánh tan (cắt xác làm 14 mảnh). Những phe sau này lại họp lại, và ở đây có vai trò của tăng lữ (nhặt mảnh xác, xếp lại và dùng phép phù thủy làm sống lại). Sau đó phe này mạnh lên, và dưới sự lãnh đạo của Horus đánh thắng Seth, chiếm trung châu sông Nil và bước đầu thống nhất Ai Cập. Sở dĩ nói bước đầu vì chính triều này sau này cũng chia đôi; một ở Nam và một ở Bắc. Cuối cùng triều phía Nam lại đánh triều miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Namer (theo tài liệu Ai Cập) hay Ménès (theo sử Hy Lạp), nhưng có thể cũng là một ông. Sở dĩ bấy giờ trung châu thắng đồng bằng có thể là vì kỹ thuật đồng bằng chuyển lên trung châu đã phát triển nhanh, và thêm vào đấy trung châu còn dã man hơn nên tổ chức chiến tranh chặt chẽ hơn và đánh khỏe hơn. Tính chất dã man này được phản ánh trong tài liệu Ai Cập, như nói là vua thắng trận thống nhất đất đai đã «ăn kẻ thù, nuốt thần thánh vào bụng nên được bất diệt». Vua thống nhất Ai Cập bấy giờ lấy tên là Horus (khoảng 3.200 năm trước CN), lấy danh nghĩa là con Osiris nên có quyền thống trị; hơn nữa, vì là con Osiris nên sau khi chết linh hồn được cứu vớt, được sống lại và sung sướng như Osiris. Nhưng đó là buổi đầu, vì mấy đời sau cũng ông Osiris ấy lại được quan niệm là con của Thần Mặt trời (thần Hah)[3]. Ông này không phải là thần nguyên thủy. Thời nguyên thủy cũng có Thần Mặt trời, nhưng chỉ là vật tổ hay yêu tinh thôi chứ chưa phải là thần toàn quyền toàn lực biểu hiện bằng ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Thần loại này chỉ là sản phẩm của uy quyền Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Theo tài liệu Ai Cập, ta có thể thấy bấy giờ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã phát triển nhiều dưới hình thức quân chủ độc đoán tuyệt đối, gần như toàn thể nhân dân lao động biến thành nô lệ: nông dân làm việc theo kiểu nô lệ (2 tốp 5 người họp thành tốp 10 người, 10 tốp 10 người họp thành đoàn 100 người cùng làm việc), tất cả đất đai đều của nhà vua, công nhân cũng làm việc như nô lệ trong xưởng nhà vua. Trên giai cấp nô lệ thì có giai cấp quan liêu và giai cấp tăng lữ, cũng là một thứ quan liêu. Như thế thì dễ hiểu tại sao chế độ lại được tượng trưng trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời, và tại sao quyền đồng nhất với Osiris sau khi chết và được sung sướng cũng tập trung vào linh hồn và sống sung sướng (những văn kiện thời ấy nói rất chân thực: vua là người ăn uống thừa thãi, sung sướng, v.v...).


 


Phần thứ nhất thiên niên kỷ 30 trước CN, uy quyền nhà vua sau khi được tập trung đến mức quản trị toàn bộ đất nước vào bộ máy quan liêu, lại dần dần phân tán trên cơ sở bộ máy quan liêu đã được tổ chức (những chức lớn giao cho con cái, gia tộc và thân thuộc chừng độ 500 người). Dần dần bọn quan liêu này làm giầu, được phong thái ấp và trên cơ sở ấy phát triển quyền hành địa phương, thoát ly quyền triều đình. Chính quyền trung ương ngày càng tan rã từ trên xuống dưới. Giai cấp quý tộc ngày càng phát triển, càng được nhiều quyền chính trị và do đó quyền tôn giáo, nên cũng được quyền đồng nhất với Osiris nghĩa là sau khi chết được sống lại và ăn uống thừa thãi.


 


Vào khoảng thế kỷ 23 trước CN, tổ chức quan liêu tan rã, nhân dân nổi dậy làm cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử, cướp phá những cơ quan hành chính của chủ nô, đốt sách, đòi cho dân thường được quyền nắm các chức vụ Nhà nước trước kia dành cho quý tộc, và cuối cùng được truyền những thần bí của đạo Osiris, nghĩa là được quyền làm lễ để cứu vớt linh hồn và sống sung sướng sau khi chết như Osiris, nghĩa là như vua. Cố nhiên sau cuộc cách mạng này tổ chức quân chủ quan liêu lại được xây dựng lại với triều Thèhes - trung triều Ai Cập - nhưng trên một cơ sở tương đối rộng rãi hơn, không tập trung vào tay một số quý tộc, mà với một số điều kiện nào đấy người dân thường cũng có thể lên làm quan, nghề nghiệp tự do được phát triển ở thành thị, tư hữu tài sản phát triển ở thôn quê. Trên cơ sở dân chủ hóa kinh tế và chính trị như thế cũng có một quá trình dân chủ hóa tinh thần: dân tự do có thể đồng nhất với Osiris và được cứu vớt linh hồn. Do đó đạo này phát triển nhiều và trở thành yếu tố quần chúng nhân dân trong tôn giáo. Bên cạnh đạo Osiris, tư tưởng thần cứu hồn phát triển với nhiều hình thức khác ở Lưỡng Hà, Tiểu Á, Địa Trung Hải, và cuối cùng được phổ biến ở Âu châu với đạo Gia-tô.


III – NỘI DUNG KHÁI NIỆM CỨU HỒN


Ở thị tộc không có khái niệm Cứu hồn: sau khi chết nói chung Linh hồn vẫn sống, và nếu được làm ma đầy đủ thì hồn sẽ không quay về quấy rầy thị tộc. Mọi người tin tưởng là sau khi chết linh hồn vẫn sống. Ở đây, tính chất bất diệt tương đối của linh hồn (vẫn còn khi thể xác chết đi) tiêu biểu cho quyền kinh tế và chính trị của công dân trong thị tộc. Sở dĩ lên đến bước đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ thì lại có vấn đề cứu hồn, là vì trong các cuộc chiến tranh cướp nô lệ quyền công dân thị tộc bị thủ tiêu (văn kiện Ai Cập ghi: vua chiến thắng nuốt hồn kẻ thù, tức là người công dân thị tộc mất quyền kinh tế chính trị thì cũng mất cả linh hồn). Đến khi chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến trình độ tổ chức toàn bộ sản xuất theo kiểu quan liêu dưới uy quyền nhà vua, vua là người tập trung quyền sở hữu, thì do đó quyền sống lại sau khi chết cũng tập trung vào nhà vua. Nhưng nhà vua phải dựa vào bộ máy quan liêu, phải cho họ quyền lợi, phong đất đai, nên dần dần bọn này cũng được quyền linh hồn bất diệt theo kiểu nhà vua, nghĩa là đồng nhất với vua lập quốc Osiris. Sau này, quần chúng nhân dân tự do đấu tranh trên cơ sở đấu tranh của nô lệ và chiếm lại một số quyền lợi, thì mọi cá nhân trong quần chúng tự do cũng được quyền linh hồn bất diệt, đồng nhất với Osiris, nghĩa là chính mình cũng thành vua sau khi chết. Đây là nội dung thực tế và chân chính của khái niệm linh hồn: linh hồn là quyền được công nhận trong xã hội (thị tộc binh đẳng, ai cũng có linh hồn - đến xã hội có giai cấp, chỉ một số người có - ở giai đoạn quân chủ độc đoán tuyệt đối, chỉ một người có - đến lúc dân chủ hóa thì quyền linh hồn bất diệt cũng được dân chủ hóa).


 


Khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã và chuyển sang phong kiến thì với những hạn chế rất hẹp hòi nhất định, cả những người nô lệ cũ cũng được công nhận trong xã hội (nông nô có ít ruộng, nhà cửa) thì quyền linh hồn bất diệt được phổ biến cho toàn thể nhân dân: nô lệ lên nông nô với điều kiện là quyền sở hữu của họ thực tế và căn bản vẫn chỉ là hình thức, nên quyền linh hồn bất diệt cũng phải theo những điều kiện của chế độ xã hội mới. Điều kiện sở hữu được phổ biến một phần nào cho cả nô lệ cũ, vậy những quyền này chỉ được phản ánh trong linh hồn với tất cả điều kiện thực tế bấy giờ, nghĩa là trong khuôn khổ hệ thống phong kiến, với hình thức một ông vua ở trên và một hệ thống thần thánh ở dưới cứu vớt nhân loại.


 


Nhưng tại sao quyền cứu hồn lại phải tượng trưng trong một ông vua đã hiến tế (chết đi sống lại)? Cố nhiên, nó nhắc lại một chuyện có thật (vua chết nhưng phe ông ấy lại lên, và trưởng phe lấy danh nghĩa là con vua trước), nhưng cái chết phải có một ý nghĩa gì mới được duy trì và thông cảm sâu sắc và lâu dài đến thế. Cái chết này là nhắc lại sự chiến đấu nói chung (không phân biệt triều đại) đã xây dựng quyền tư hữu, nhờ chiến đấu này mà giai cấp chủ nô củng cố được quyền sở hữu tư nhân, chuyện của cải cha cho con trong gia đình. Chính trong buổi xử án thần thánh, việc công nhận quyền lên ngôi của Horus là dựa vào cơ sở quyền chuyển của trong gia tộc (công nhận Horus chính thức là con của Osiris). Rõ ràng là quyền sở hữu tài sản thời chiếm hữu nô lệ dựa trên truyền thống thị tộc tan rã (mẫu quyền mất và chuyển sang phụ quyền: cha để của cho con chứ không phải cho cháu). Nhưng trong những xã hội đầu tiên phát triển nhanh thì mẫu quyền vẫn còn mạnh và phụ quyền kết hợp với mẫu quyền: gia trưởng lấy em gái, lên cha để của cho con đồng thời là cậu để của cho cháu. Tất cả truyền thống còn giữ lại để củng cố quyền tư hữu ở thời chiếm hữu nô lệ đều được tượng trưng trong chuyện Osiris: Osiris lấy chị (hay em gái) và để của cho con là Horus, nên câu chuyện không chỉ là chuyện của một ông vua, của một triều đình mà tiêu biểu cho cả xã hội trong quá trình chuyển biến từ trạng thái gia tộc lên chiếm hữu nô lệ. Do đó bọn chủ nô phải nhắc lại quá trình ấy, để củng cố trong tinh thần quyền tư hữu của mình. Đến lúc quyền tư hữu này được phổ biến tương đối rộng rãi (dân tự do có hình thức tương đối bình đẳng), thì toàn thể dân tự do ấy thống nhất trong một đạo cứu hồn và cứu dân mà nội dung nhắc lại quá trình xây dựng quyền tư hữu ấy.


 


Ở đây, ta cũng thấy quá trình biện chứng của khái niệm linh hồn, tức là khái niệm thần bí hóa của con người được công nhận quyền tham gia tổ chức xã hội với tính cách tự do, bình đẳng. Quyền này đã thực hiện ở xã hội thị tộc nhưng một cách hẹp hòi: dân thị tộc một mặt tự do bình đẳng trong thị tộc, nhưng một mặt phải phục tùng một tổ chức rất hẹp hòi (lúc đầu là lão quyền, sau là quyền tộc trưởng). Do tính chất hẹp hòi ấy, quyền tự do bình đẳng trong xã hội được tượng trưng một cách duy tâm, quay ngược thành ý tưởng linh hồn, nghĩa là người được tự do bình đẳng không phải là người thực, mà là một người khác có đặc tính có quyền ra lệnh và đồng thời phục tùng mệnh lệnh (con người linh hồn là đơn vị trong hệ thống mệnh lệnh của thị tộc: có linh hồn là có sức biến ý tưởng thành thực tế, mà hoạt động mệnh lệnh trong phạm vi ấy thì có thế thật). Tư tưởng duy tâm ở đây xuất phát từ tính chất hẹp hòi của sức sản xuất, và từ phần mệnh lệnh (hẹp hòi) trong tổ chức sản xuất. Nhưng đây chưa có áp bức bóc


lột giai cấp, do đó mọi người đều được công nhận nên đều có hồn; ở đây chưa có vấn đề cứu hồn mà chỉ có cấm hồn về quấy rầy. Khi quyền sở hữu, quyền ra lệnh bị tập trung vào một giai cấp, thì có vấn đề cứu hồn vì nếu sa vào giai cấp kia thì mất linh hồn, tức là bị kẻ thắng «nuốt mất linh hồn» theo văn kiện Ai Cập. Hồn được cứu vớt là đồng nhất với Osiris, tức là được nhận là con cháu vua lập quốc.


 


Sau này chế độ chiếm hữu nô lệ thủ tiêu và bước sang các chế độ áp bức bóc lột khác - phong kiến và tư sản -, nhưng vấn đề cứu hồn vẫn còn vì quyền sở hữu đối với đại đa số nhân dân vẫn còn là hình thức, chứ trong nội dung thì tính chất nô dịch vẫn còn. Khái niệm hồn là khái niệm của quyền ra mệnh lệnh, mà sau này nói tới quyền ra mệnh lệnh là nói tới giai cấp thống trị. Do đó, vấn đề cứu hồn chỉ được quan niệm trong chế độ có áp bức bóc lột và tàn tích của nó mà thôi. Giải pháp cứu hồn trong phạm vi chế độ ấy là nhắc lại quá trình xây dựng tổ chức áp bức bóc lột ấy, cho phép một số người được quyền ra mệnh lệnh. Nhưng các giải pháp ấy, xét tới cùng, cũng chỉ là một cách củng cố áp bức bóc lột, mở đường mơ mộng giải phóng cho toàn dân trong đời sống linh hồn. Giải pháp thực tế là thủ tiêu chế độ áp bức bóc lột, do dấy thủ tiêu cơ sở của vấn đề mất hồn và cứu hồn.


IV – PHÁT TRIỂN VÀ XÂY DỰNG Ý THỨC THẦN QUYỀN [1]


Con người sản xuất trước hết là sản xuất công cụ. Buổi đầu công cụ có tính chất mộc mạc tự phát, nhưng dần dần đạt tới công cụ điển hình. Về sản xuất đã có công cụ điển hình, thì trong tư tưởng cũng có ý tưởng điển hình, và như vậy ta suy ra là lúc bấy giờ đã có ngôn ngữ. Loài vật có tiếng kêu và có thể có khả năng nói (như con vẹt), nhưng thế không thể gọi là ngôn ngữ, vì căn bản là nội dung. Nội dung là nguyên nhân chính phát sinh ngôn ngữ. Ngôn ngữ mang tính chất đại thể là buổi đầu xuất hiện trong kinh nghiệm sản xuất điển hình. Lời nói được thực hiện trước nhất dưới hình thức mệnh lệnh. Đây là cơ sở của phương thuật.


 


Phương thuật có giá trị phản ánh tổ chức xã hội, nhưng cũng có tính chất mơ mộng, tiêu cực, phản ánh tính chất hạn chế của sức sản xuất. Sản xuất buổi đầu là sản xuất công cụ, chưa phải là sản xuất sản phẩm hưởng thụ, vì thức ăn có sẵn trong thiên nhiên. (Đặc tính của thời đại văn minh là sản xuất sản phẩm hưởng thụ dựa vào thiên nhiên. Trong giai đoạn mông muội thì hạn chế trong việc sản xuất công cụ thu lượm). Vì vậy người nguyên thủy không nắm được quy luật biến chuyển của thực tế, chỉ nắm được phần hoạt động bản thân, và nắm một cách mệnh lệnh: phải làm thế này, làm thế kia! Trong tổ chức sản xuất chỉ nắm được như vậy, nên trong tư tưởng cũng thế. Do đó, chưa phân biệt tư tưởng với thực tế, lẫn lộn lời nói và việc làm.


 


Công cụ sản xuất được cải tiến và phát triển từ công cụ cộng đồng đến công cụ cá thể. Khả năng sinh hoạt phát triển, dân số đông lên, các tập đoàn không còn có thể sống riêng lẻ được. Quan hệ giữa các tập đoàn cũng phát triển. Cụ thể như đi săn mà súc vật ít thì có thể tranh nhau, vì vậy phải chia đất để săn. Trước khi chia đất thì có chiến tranh, và sau đó là những hình thức trao đổi hòa bình đầu tiên. Từ giai đoạn này, người ta đã có kinh nghiệm thực tế, dựa vào sự khảo sát các chủng tộc ở trình độ này hiện sống ở châu Úc hay châu Mỹ. Lúc có quan hệ hòa bình giữa tập đoàn này với tập đoàn nọ là lúc xuất hiện tổ chức thị tộc. Mỗi người sử dụng công cụ của mình, vậy có quyền lợi và nhiệm vụ nhất định trong tập thể. Thị tộc có nhiệm vụ tổ chức nội bộ, bảo đảm quyền lợi và quy định nhiệm vụ của thị tộc. Quan hệ quy định trong mỗi thị tộc và giữa các thị tộc được tượng trưng trong đạo vật tổ. Đạo vật tổ là xây dựng trên cơ sở phương thuật, vật tổ là tượng trưng cho uy quyền của lớp trên đối với lớp dưới, như một yếu tố mới quy định thực chất mỗi cá nhân trong thị tộc: người là người của thị tộc ấy, vừa là chim, rắn, v. v... Tại sao lại có điểm mới ấy? Nó là phản ánh cái gì trong thực tại? Ta thấy ở đây có mâu thuẫn giữa tư tưởng và thực tế (người đồng thời lại là chim hoặc rắn, v. v...). Mâu thuẫn ấy phản ánh một mâu thuẫn thực tế tức là quan hệ giữa các thị tộc (quan hệ trao đổi, chiến tranh, công nhận) được phản ánh trong tư tưởng. Người trong mỗi thị tộc được quy định là có một chất khác hẳn người của thị tộc khác. Đối với thị tộc khác, quan hệ là quan hệ chiến tranh: hai thị tộc như hai giống loài. Sự phân biệt ở đây được phản ánh trong những loài mà người ta đã biết. Sở dĩ mỗi thị tộc tự cho mình là chim hay là sâu, là trong thực tế đã có sự phân biệt giữa các giống loài, và do đó những thị tộc mới được tượng trưng bằng những loài khác nhau.


 


Mặt khác, bấy giờ lại chưa có khái niệm trừu tượng, mới có những điển hình cụ thể. Vì vậy chưa có thể dùng một con số hay là một tên riêng để chỉ thị tộc, vì chưa nắm được khái niệm trừu tượng.


 


Trong khuôn khổ xã hội ấy, mỗi cá nhân có công cụ riêng của mình. (Trước kia thì còn sử dụng chung, vậy chưa phân chia quyền lợi). Đến giai đoạn cao hơn, công cụ phát triển, của cải có thừa để tích lũy, có nhà để định cư, và xuất hiện quan hệ trao đổi. Nếu không có của thừa thì cũng không có quan hệ trao đối được. Trên cơ sở trao đổi vật chất cũng xuất hiện trao đổi trên tư tưởng, tức là tư tưởng cá nhân có của thừa (cá nhân phú quý) xuất hiện dưới hình thức yêu tinh. Yêu tinh là con vật có sức lực dồi dào, nếu nó nhập vào ai thì kẻ ấy giàu có. Trong tư tưởng chủ quan, người ta kể rằng giàu và mạnh vì có con yêu nhập vào người, nhưng thực tế là anh tộc trưởng có của cải, có uy quyền, thì được tượng trưng trong con yêu. Bởi vì uy quyền ấy là uy quyền cá nhân chứ không phải là sức mạnh chung chung của tập thể như trong giai đoạn trước. Tộc trưởng trước kia giai đoạn sơ kỳ chưa có uy quyền cá nhân rõ rệt, nhưng với sự phát triển của sức sản xuất lên đến trình độ có của thừa, tộc trưởng đã có một số quyền lợi có tính chất cá thể. Uy quyền mới chớm nở của tộc trưởng được tượng trưng trong con yêu. Lúc anh tộc trưởng lên, được đổi mới, nó thành quan hệ xâm nhập. Lúc anh tộc trưởng lên đồng, nhảy múa thì anh ta diễn tả cuộc chiến thắng, và qua chiến thắng ấy là củng cố uy quyền. Nhưng tại sao quan hệ lại là quan hệ xâm nhập? Trước kia, người ta sinh ra căn bản đã là đồng nhất với vật tổ rồi, là chim chẳng hạn. Truyền thuyết còn kể người sinh ra là do vật tổ nhập vào bụng mẹ. Nhưng ở đây, khi anh tộc trưởng lên đồng thì anh ta phải được con yêu nhập vào. Vì của cải là của chung, mà muốn cho nó là của mình thì phải cho nó nhập vào mình, tức là con vật thiêng chỉ nhập vào một số người thôi, chứ không phải là chung cho tất cả thị tộc. Đó là bản chất của đạo yêu tinh. Trên cơ sở đạo ấy, bắt đầu được tổ chức những hội kín (gọi là kín vì có những điều kín giữa những người trong hội như những bài hát, điệu múa...). Những người trong hội có khả năng làm cho con yêu nhập vào mình, tức là mình cũng thành yêu. Đó là những tổ chức chính trị đầu tiên của một số người đã có hướng thống trị. Trong những buổi lễ, thường có những điệu múa dữ dội, biểu hiện một cuộc chiến đấu và chiến thắng, có lúc dã man như: cắn người xung quanh, ăn người nô lệ, ăn các xác chết. Uy quyền của tộc trưởng xây dựng trên cơ sở chiến tranh và những lễ tượng trưng chiến tranh để củng cố uy quyền ấy.


 


Trong khuôn khổ xã hội ấy, sức sản xuất ngày càng phát triển, tạo điều kiện lợi dụng công trình lao động của người khác, tức là bắt đầu có quan hệ chủ nô. Đây mới là quan hệ bước đầu, chưa phải là xã hội nô lệ, hình thái xã hội nói chung còn tính chất thị tộc. Đó là giai đoạn thị tộc tan rã. Ta thấy những bước tiến rõ rệt: công cụ mộc mạc tự phát (tập đoàn hỗn loạn), công cụ điển hình dùng chung trong tập đoàn (gia đình đồng huyết), công cụ cá thể (thị tộc sơ kỳ), tích lũy của cải (thị tộc trung kỳ) và sử dụng nô lệ (thị tộc tan rã). Quan hệ chiếm hữu nô lệ thay đổi cả quan hệ giữa chủ nô với chủ nô, quan hệ giữa chủ nô với người tự do thường. Giữa các tộc trưởng có quan hệ ngôi thứ, dưới quyền của vua bộ lạc. Quan hệ ngôi thứ là quan hệ cống nạp. Hình thức cống nạp phát sinh buổi đầu trên cơ sở trao đổi, người dưới cống nạp cho người trên, và người trên phải săn sóc cho người dưới. Nhưng dần dần sức sản xuất phát triển và đẩy mạnh phương thức bóc lột, thì quan hệ cống nạp cũng phát triển tính chất bóc lột. Quan hệ cống nạp được phản ánh trong tư tưởng với đạo Quỷ thần. Quan hệ giữa thần và người là quan hệ cống nạp bằng hiến tế. Trước khi có tổ chức ấy đã có hình thức hiến tế, như trong những buổi đồng bóng có lúc giết nô lệ và ăn nô lệ để cho con yêu nhập vào mình. Nhưng chưa có tư tưởng hiến tế cho một ông thần trên mình, để ông ấy phù hộ cho mình. Phải có quan hệ cống nạp trong xã hội mới có quan hệ cống hiến trong tôn giáo.


 


Tóm lại, chúng ta thấy rằng: mỗi bước chuyển lên một giai đoạn mới, có biến chất nhưng cũng có liên tục. Đến giai đoạn vật tổ vẫn còn tính chất phương thuật. Ví dụ thị tộc sâu làm lễ, anh tộc trưởng lấy một cành cây quét hòn đá (tượng trưng sâu) và bụi bay lên, người ta cho bụi ấy là linh hồn vật tổ. Đến đạo Yêu tinh thì căn bản vẫn là động tác phương thuật, nhưng tính chất của đạo Vật tổ cũng không bị thủ tiêu. Vì con yêu nhận vào mình thì trở thành như vật tổ của mình, duy có quan hệ với vật tổ ấy là do lên đồng, chứ không phải là do huyết thống. Đến giai đoạn quỷ thần, một yếu tố mới xuất hiện: quan hệ cống hiến cho thần. Hình thái mới này xuất hiện trên cơ sở cũ, về căn bản vẫn có phương thuật: cống hiến để được sức khỏe, sống lâu ... Đọc bài chú là muốn được thế này thế nọ. Ông thần vẫn liên hệ với người, thần được coi như cha, như tổ của người, nhập vào người làm cho người như thần, tức là được phú quý. Những yếu tố của thượng tầng kiến trúc cũ vẫn được duy trì, và làm cơ sở cho nghĩa chân chính của những hình thái cũ. Do đó có biện chứng pháp duy tâm, nhưng nó không giải thích dược yếu tố mới xuất hiện ở mỗi giai đoạn biến chuyển.


 


Lý luận của biện chứng pháp duy tâm, và những lý luận chống duy vật nói chung, đều nói: tư tưởng mới không xuất hiện trên cơ sở vật chất mà trên tinh thần. Nghĩa là tư tưởng sau phát sinh từ tư tưởng trước. Trong phạm vi tư tưởng, nói như vậy là đúng. Nhưng như thế lại không giải thích được vì sao có những yếu tố mới. Yếu tố mới mà biện chứng pháp duy tâm không giải thích được, chính là xuất phát từ sức sản xuất. Đó là ưu điểm của biện chứng pháp duy vật. Sức sản xuất trên đây không định nghĩa máy móc theo công cụ sàn xuất, vì cùng một công cụ sản xuất, trong hoàn cảnh khác nhau, có tác dụng khác nhau. Ví dụ: nghề đánh cá, nếu gặp điều kiện đặc biệt thuận tiện (bờ biển nhiều cá) thì cũng có thể đưa lên giai đoạn trung kỳ thị tộc. Đến giai đoạn thị tộc tan rã và chiếm hữu nô lệ cũng vậy. Cái cày bằng gỗ làm cho xã hội chuyển lên thị tộc tan rã. Nhưng trong những đồng bằng phì nhiêu Ai Cập, Lưỡng Hà, đã xuất hiện bước đầu của nền văn minh chiếm hữu nô lệ, tuy bấy giờ còn rất ít đồ đồng (mà cũng là đồng đỏ, chủ yếu dùng để trang hoàng). Người ta còn dùng cày bằng gỗ, cuốc bằng đá, búa rìu cũng bằng đá. Trong trường hợp đặc biệt ấy, xã hội vẫn chuyển lên văn minh. Văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập, cuối thiên niên kỷ thứ IV, còn dùng cày gỗ, đồ đá. Nhưng ở Hy Lạp, thời thị tộc tan rã thì lại có đồng đen, công cụ bằng sắt. Mãi đến thế kỷ thứ VIII trước CN thì Hy Lạp mới chuyển lên văn minh.


 


Tóm lại, không thể quy định trình độ lịch sử một cách máy móc theo công cụ sản xuất, và phải định nghĩa sức sản xuất theo hoàn cảnh cụ thể.


 


Văn minh chiếm hữu nô lệ xuất hiện khi mà trên cơ sở bóc lột đã có buôn bán đại quy mô; trao đổi hàng hóa do đó phân biệt thành thị và nông thôn (bộ phận công nghiệp và nông nghiệp). Trao đổi hàng hóa phát triển với những đất ở xa. Trên cơ sở ấy, xuất hiện công nghiệp đại quy mô, sản xuất hàng hóa là một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại. Trước kia, việc sản xuất chỉ được phát triền trong bộ lạc, kỹ thuật sản xuất chỉ ... theo điển hình, cho nên tư tưởng chưa thoát khỏi trực quan, chưa đạt tiêu chuẩn hợp lý phổ cập. Bắt đầu từ lúc phát triển hàng hóa bán ra ngoài, lúc bấy giờ phải quy định tiêu chuẩn hợp lý, tức là tư tưởng đã chuyển lên trình độ khoa học, trình độ khái niệm, chứ không hạn chế trong những điển hình cảm tính. Sản xuất phải có kích thước, có tính toán. Như vậy, phải có kinh tế hàng hóa xuất hiện, tư tưởng mới chuyển lên lý tính. Lý tính xuất hiện trong khái niệm về xã hội cũng như trong khái niệm về tự nhiên. Kỹ thuật sản xuất đòi hỏi một tổ chức hợp lý và rộng rãi không đóng khung trong bộ lạc, bảo đảm quan hệ trao đổi rộng rãi theo tiêu chuẩn phổ cập chứ không phải trao đổi theo lễ nghi tôn giáo. Ví dụ: một anh tộc trưởng trước kia mời anh khác đến ăn uống thì không quan niệm được như thế là buôn bán, nhưng mà là cho theo kiểu vứt đi, cho không. Trao đổi lúc bấy giờ chỉ thể hiện trong khuôn khổ cũ, với hình thức cho không, tượng trưng cho chiến thắng, cho sự giàu mạnh. Thành ra nội dung mới không được nổi bật, sự trao đổi như vậy không được hợp lý và gây rối loạn. Sự trao đổi về sau được tổ chức rộng rãi thì phải có kỷ luật hợp lý trên cơ sở hai bên đồng ý, tức là kỷ luật giao ước. Đó là cơ sở pháp lý trao đổi hàng hóa sau này phát triển thành pháp lý tư sản. Tư tưởng pháp lý ấy là một khái niệm mới, một tư tưởng mới, nhờ đấy trình độ tư tưởng chuyển từ trực quan cảm tính lên lý tính. Với xã hội nô lệ, bắt đầu đã phát triển khái niệm lý tính về tự nhiên và xã hội. Nhưng có phải vì thế mà tư tưởng cũ bị thủ tiêu không? Nhất định là không. Chính lý tính mới lại xuất hiện với tính chất tôn giáo. Quy luật khoa học tìm ra đầu tiên cũng bị quan niệm như bị quyết của một ông thần, thực tế của một nhóm tăng lữ nay là của tập đoàn thủ công thờ ông thần. Pháp lý đầu tiên cũng là lời dạy của ông thần. Bộ luật đầu tiên là bộ Hammourabi (triều thứ nhất Babylone thế kỷ XIX trước CN) cũng coi là thần Shamash (Mặt Trời) dạy cho. Quan hệ sản xuất tiến lên trình độ trao đổi hàng hóa thì quan hệ nô lệ đã phát triển. Trong phạm vi nô lệ gia đình thì chưa cần phải có nhà nước. Chế độ nô lệ gia đình có thể được xây dựng trong xã hội bộ lạc. Vua bộ lạc có thể bảo đảm phương thức bóc lột nô lệ trong gia đình. Chế độ vua bộ lạc về căn bản chưa thoát khỏi quan hệ thị tộc, quan hệ trao đổi trong cùng một thị tộc. Quan hệ giữa quý tộc trong bộ lạc căn bản cũng là quan hệ thị tộc, tuy chung quanh vua bộ lạc đã bắt đầu có manh nha Nhà nước, gồm một tay sai bảo vệ uy quyền của nhà vua. Đấy là manh nha nhà nước nhưng chưa phải là Nhà nước. Phải có sản xuất hàng hóa mới cần có bộ máy Nhà nước. Lúc đầu bộ máy Nhà nước còn phụ thuộc vào tôn giáo vì còn ít nô lệ công thương. Nhà vua nắm tổ chức công thương, nhưng sức mạnh của Nhà nước mới còn dựa trên cơ sở thị tộc tan rã. Nhưng căn bản đã có một yếu tố mới, ông thần bảo đảm quyền quân chủ không còn là ông thần cũ. Thần cũng phải thu nhập những yếu tố mới xuất hiện, những khái niệm khoa học và khái niệm pháp lý là thần sáng suốt, bảo đảm giao ước, bảo đảm pháp lý, đồng thời vẫn là thần vì yếu tố thị tộc chẳng những còn kéo dài mà thực tế còn chiếm địa vị chủ yếu.


 


Chúng ta thấy sự biến chuyển ở thượng tầng không phải đơn giản. Từ chế độ nọ qua chế độ kia có những yếu tố mới. Yếu tố mới xuất hiện buổi đầu chủ yếu không phải là ở số lượng mà ở chất lượng. Ở những nước văn minh cổ đại Đông phương, những di tích thị tộc còn là chủ yếu. Bộ phận thống trị không phải lớn nhất, nhưng là lãnh đạo. Bộ phận ấy đòi hỏi một tổ chức mới trên cơ sở hình thái xã hội cũ. Pháp lý cổ đại Đông phương, khoa học, nghệ thuật xuất hiện dưới sự che chở của tôn giáo, nhưng căn bản vẫn đối lập với tôn giáo. Mâu thuẫn ấy cũng xuất hiện trong tư tưởng. Lúc bấy giờ khoa học chưa được giải phóng, nhưng tư tưởng bắt đầu đấu tranh chống tôn giáo, đặc biệt là trong nghệ thuật. Mẫu thuẫn ấy biểu hiện trong tính chất tượng trưng: tác phẩm nghệ thuật cổ đại Đông phương muốn nói ra cái gì lớn lao mà không thực hiện được. Trông những tượng khổng lồ như tượng Sphinx, chúng ta thấy có các ý nghĩ sâu xa lớn lao nhưng không nắm được cái gì. Nó không nói được cái mà nó muốn nói, nghĩa là cái mà nó nói là một bí quyết, cái bí quyết ấy biểu hiện mâu thuẫn giữa tư tưởng cũ và tư tưởng mới, giữa tổ chức thị tộc hẹp hòi và những quan hệ nhân đạo mới chớm nở với kinh tế hàng hóa, tuy còn xây dựng trên cơ sở bóc lột nô lệ.


V – QUÁ TRÌNH NHÂN CÁCH HÓA QUAN NIỆM THẦN THÁNH TRONG VĂN MINH CỔ ĐẠI [1]


Qua những giai đoạn của xã hội cộng đồng nguyên thủy, tư tưởng Thần thánh được xây dựng dần, Thần ngày càng có sức mạnh siêu nhiên và trấn áp con người. Sức trấn áp ấy biểu hiện rõ trong những tượng yêu tinh (thời thị tộc trung kỳ) và những tượng quỷ thần (thời thị tộc tan rã), với những nét méo mó, nhăn nhó, dữ dội đe dọa người ta (nhờ điêu khắc ở Phi Châu). Một nghệ thuật tiêu biểu đặc biệt cho sự đe dọa thời cuối tân thạch là nghệ thuật nước Incas ở Mỹ châu (xứ Mexique bây giờ), đó là một trong những nguồn của nghệ thuật tư sản cận đại (Picasso trước đây). Nó bóp méo tự nhiên, nhưng nắm được hiện thực xã hội trong cái méo mó ấy, vì hiện thực bấy giờ thực tế cũng bị méo mó (hình thức cộng đồng nhưng trong ấy lại trấn áp dã man, hiến tế vĩ đại, giết hàng trăm người). Qua xã hội văn minh chiếm hữu nô lệ, Thần cũng được văn minh hóa, dần mất tính chất dữ dội, tiếp thu những nhân đức mới và những nhân đức ấy được thể hiện trong những di tích nghệ thuật hiện nay còn giữ lại. Thần đã trở thành người, và ngày càng giống người cho tới lúc hoàn toàn được công nhận là người trong đạo Gia tô, kết quả cao nhất của tư tưởng cổ đại (Thượng đế thành người, chịu khổ để cứu người). Có thể nói: quá trình diễn biến của tư tưởng nguyên thủy là người biến thành Thần, và trong Cổ đại là Thần trở lại thành người và hy sinh cho người. Những điểm này chỉ ở trong phạm vi tư tưởng duy tâm thôi, vì Thần vẫn là Thần: Gia tô sau lúc chết, sống lại, lên trời ngồi cạnh Thượng đế và cũng là Thượng đế. Sau lúc xã hội chiếm hữu nô lệ tan rã, vì nhân dân đánh đổ, thì với hoàn cảnh và điều kiện bấy giờ chỉ có thể chuyển lên một chế độ vẫn bóc lột nhưng tương đối rộng rãi hơn là chế độ phong kiến. Nô lệ được giải phóng phần nào (nông nô), tiếp thu một số quyền lợi nào với điều kiện nào đấy, là một sự ban ơn của bọn thống trị, nhân loại được cứu vớt cũng là nhờ Thượng đế và sau đó lại phải hiến của cải mình cho Thượng đế.


 


Đó là quá trình nhân cách hóa của tư tưởng Thần thánh, đi từ những Thần tàn ác dã man thời thị tộc tan rã (như Thần Jéhovah của Do Thái bắt Abraham hiến con; đấy là một tục lệ thường xuyên của Do Thái thời thị tộc tan rã, bắt nhân dân phải hiến mọi của thu hoạch đầu tiên cho Thần, như bò con, dê con, lúa mới gặt, v. v... và cả con đầu lòng nữa) tới Gia-tô. Từ những Thần dã man ấy tới Gia-tô tự hiến cho người, thì có sự thay đổi lớn về tính chất, dù Gia-tô vẫn là do Thượng đế. Quá trình này có hai giai đoạn chủ yếu:


 


 - Giai đoạn Cổ đại Đông phương.


 


 - Giai đoạn Hy Lạp - La Mã.


 


Trong giai đoạn cổ đại Đông phương, Thần tiếp thụ dần những đức tính của xã hội văn minh nhưng vẫn siêu việt đối với người. Tới giai đoạn Hy Lạp - La Mã, tư tưởng Thần thánh bớt tính chất tôn giáo, hình như là trong lúc quan niệm thần, người ta tự nhận thấy mình, trong ý thức thần có ý thức tiềm tàng đấy là mình. Tôn giáo ở đây có tính chất nghệ thuật, người hưởng thụ đời sống của mình trong tôn giáo. Điều này thể hiện rõ trong nghệ thuật. Thần Đông phương là một ông khổng lồ đe dọa trấn áp người không những ở khổ người vĩ đại mà bằng những nét nghiêm khắc. Trái lại, những tượng thần Hy Lạp là Người đẹp lý tưởng. Con người tự thưởng thức mình trong cái đẹp của thần. Tôn giáo ở đây có tính chất thưởng ngoạn. Cố nhiên vẫn có hiến tế, nhưng bớt dã man, có khi chỉ là tượng trưng (dâng một bát nước trong, hay một bát rượu), mà cái chính là thưởng ngoạn.


 


Tại sao có quá trình như thế ?


 


Đó là do bước tiến bộ của xã hội Hy Lạp đối với xã hội Đông phương phát triển một cách vĩ đại nhưng trên một cơ sở sức sản xuất tương đối đơn giản (lúc đầu thực tế chỉ là một trình độ còn gần như thời Tân thạch: cày gỗ, cuốc đá, có ít đồ đồng mà còn là đồng đỏ, ít tác dụng). Dần dần tới Thiên niên kỷ II trước CN, phát triển đồ đồng đen, nhưng là một kim khí khó đúc vì phải có thiếc bấy giờ rất khó kiếm. Mãi cuối Thiên niên kỷ II trước CN mới bắt đầu phát triển đồ sắt, nhưng chưa biết luyện mà mới rèn sắt xấu, chưa làm được võ khí (chưa cứng bằng đồng đen) mà chỉ mới làm những công cụ thường. Dần dần nghề rèn sắt được cải tiến, đến cuối Cổ đại mới phổ cập dùng làm võ khí và công cụ. Về sức sản xuất thì có thể nói căn bản nghề rèn sắt phổ biến và cải tiến đã đưa xã hội lên chế độ phong kiến.


 


Trên cơ sở sức sản xuất như thế, quan hệ sản xuất phát triển thế nào?


 


Căn bản vẫn là chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng có nhiều thời kỳ. Ở Đông phương, căn bản là chiếm hữu nô lệ gia đình, tuy quan hệ chiếm hữu nô lệ công thương đã bắt đầu phát triển (mà như thế mới xây dựng được văn minh thể hiện trong những thành thị). Tới Hy Lạp - La Mã, thành thị phát triển quan hệ công thương thành chủ yếu (chứ không phải chỉ là thống trị). Ở Đông phương, nó đã là thống trị dù tương đối nhỏ so với nông thôn, và trên cơ sở ấy mới phát triển những cơ cấu văn minh đầu tiên: Nhà nước, pháp lý, mầm mống khoa học, triết học. Do đó, ở Hy Lạp, Nhà nước, pháp lý, khoa học, triết học phát triển vĩ đại (giai đoạn mà sử học truyền thống gọi là Thần tích Hy Lạp). Thực ra thì cái «thần tích» này có cơ sở thực tế là quan hệ chiếm hữu nô lệ công thương phát triển mạnh nhờ sức sản xuất tiến bộ, và nhất là thừa hưởng cả một di sản văn minh của Đông phương (nghề rèn sắt, kinh tế hàng hóa) đồng thời nhờ một số thuận tiện của địa lý Hy Lạp (cù lao, bán đảo hẹp, ít diện tích trồng trọt nhưng thuận tiện cho thương mại, nên chủ nô công thương mạnh và thắng chủ nô địa chủ tương đối dễ dàng).


 


Vì sao trên cơ sở chiếm hữu nô lệ công thương có thể xuất hiện những đức tính mới, cái gọi là văn minh? Vì kinh tế hàng hóa đòi hỏi trình độ tổ chức đại quy mô tức hợp lý, do đó phát triển những khái niệm khoa học về kỹ thuật sản xuất, những khái niệm công lý phản ánh quan hệ trao đổi hàng hóa, trao đổi có hình thức hợp lý. Trên cơ sở trao đổi hình thức tự do và hình thức bình đẳng đó, được xây dựng ở Hy Lạp một Nhà nước tương đối dân chủ giữa những người trao đổi (dân tự do). Cho nên nghệ thuật, triết học phát triển phản ánh và biện chính chế độ dân chủ ấy (dân làm chủ mà dân là người, khác với quý tộc vì quý tộc là «khác người», mà vì khác người nên được hưởng phú quý). Ở Hy Lạp, con người được nêu làm lý do tồn tại của đời sống, lý tính đạo đức của con người được đề cao chứ không phải một cái gì siêu nhiên. Người ta diễn tả con người với những đức tính lý tưởng của nó, nhưng những con người ấy còn được quan niệm như là thần thánh vì xây dựng trên cơ sở dĩ vãng, mà dĩ vãng ấy còn có chỗ dựa trong thực tế bấy giờ là quan hệ chủ nô - nô lệ, chính do đấy mà những đức tính ấy chỉ được quan niệm một cách lý tưởng. Con người lý tưởng không phải là con người vật chất, nếu chỉ là vật chất thì nô lệ cũng có thể có đức tính, mà trong xã hội ấy thì nô lệ không thể được công nhận là có đức tính, nên con người mới vẫn là lý tưởng duy tâm, vẫn là con người Thần thánh, không thể là con người nói chung được. Nhưng hướng chuyển biến là đi từ Thần đến người, cho đến lúc Thần thành người hẳn thì hình như mất hết cơ sở, không dựa vào đâu được nữa để thi hành quyền thống trị trước. Ở cơ sở sản xuất, kinh tế hàng hóa ngày càng phá vỡ những giới hạn hẹp hòi của thành thị cũ, phá vỡ di tích thị tộc tức là phá vỡ cái cộng đồng cửu truyền của bọn chủ nô. Đến một lúc nào đấy (đặc biệt cuối Hy Lạp và trong La Mã) thì con người lý tưởng chỉ còn là cá nhân có quyền tư hữu, trao đổi; mỗi cá nhân chỉ là đơn vị cá thể có một số quyền lợi pháp lý nhất định, nhưng pháp lý chỉ dựa bộ máy quan liêu, nó đã mất cơ sở sinh động trong xã hội. Trước kia nó dựa vào di tích cộng đồng, vào sự liên đới của những người dân tự do trong thành thị để thống trị nô lệ (đây là nguồn gốc của chủ nghĩa ái quốc cổ đại: công dân sẵn sàng hy sinh cho thành thị mới bảo vệ được quyền chiếm hữu nô lệ của dân tự do). Đến lúc này, dân tự do không còn là công dân nữa vì không còn bầu không khí liên đới tự phát của chế độ trước, mà chỉ còn là những người có một số quyền lợi pháp lý nhất định, chỉ sống cho mình, không còn hy sinh (cơ sở kinh tế hàng hóa biến mỗi người thành một cá nhân riêng biệt, bảo vệ cá nhân, không còn lý do hy sinh nữa). Lúc ấy, một mặt người dân tự do hoàn toàn được công nhận quyền cá nhân, nhưng lại mất cơ sở xã hội của quyền áp bức bóc lột, do đó cuối thời cổ đại phát triển tư tưởng bi quan (không biết dựa vào đâu), cảm tưởng thế giới đã hết (sách Thánh: «La fin des temps, la fin du monde») và chờ đợi một vị cứu thế.


 


Trên kia có nói đến ý nghĩa thần thánh trong những tác phẩm điêu khắc, nhưng ở đây, ý nghĩa được biểu hiện cô đặc quá. Muốn đi sâu vào các bộ phận chi tiết, chúng ta phải đi vào các tác phẩm văn học mới thấy được toàn bộ mâu thuẫn trong quá trình diễn biến của nó (trong điêu khắc chỉ thể hiện mâu thuẫn đã được thống nhất, cô đặc trong một hình thái tĩnh, vậy diễn biến qua đường nào thì ta không thấy). Tiêu biểu nhất cho các tác phẩm văn học ở giai đoạn đầu là những anh hùng ca. Thời Hy Lạp thì song song với quá trình nhân cách hóa thần thánh, vai trò anh hùng cũng ngày càng nhân cách hóa, tiếp thu nhân dân tính với hình thức mâu thuẫn, đối kháng trong những bi kịch: người anh hùng đã có nhân dân tính nhưng không chịu đựng được, và cuối cùng số phận bắt chịu đựng. Cuối cùng, anh hùng tiếp thu hoàn toàn nhân dân tính và bộc lộ rằng mình chỉ là người thôi, trong hài kịch (cười vì thấy anh hùng mà mình tưởng tượng là ghê gớm xa xôi cũng chỉ là người thôi). Bi kịch và hài kịch phát triển nhiều ở giai đoạn Hy Lạp phát đạt (thế kỷ V), còn anh hùng ca thì phát triển nhiều ở giai đoạn Đông phương, và nhất là đầu Hy Lạp. Anh hùng ca đề cao anh hùng như thần thánh, nhưng cũng đã bộc lộ có mâu thuẫn trong linh giới. Đó chính là mâu thuẫn giữa Thần với người, phản ánh mâu thuẫn thực tế của xã hội, bộc lộ mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, chủ yếu giữa chủ công thương và chủ nô địa chủ, trong đó công thương tương đối tiến bộ hơn, và đại diện phần nào cho quyền lợi nhân dân. Một tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn Đông phương là anh hùng ca Gilgamesh được phổ biến nhiều trong khu vực văn minh Tây Á (từ Lưỡng Hà đến Tiểu Á, Syrie).


 


Anh hùng ca này kể lại câu chuyện của Gilgamesch (vua thành Ourouk ở đất Sumer miền Đông Nam Lưỡng Hà, là một ông vua đàn áp nhân dân ghê gớm) và bạn là Enkidou (chăn bò, ở trình độ dã man: lông lá, ăn sống, uống nước ao). Dân Ourouk gửi một cô nàng hầu qua Nữ thần, có nhiệm vụ giao cấu với khách đến thờ [4], tới quyến rũ và giao cấu với Enkidou trong 7 ngày 6 đêm, rồi đưa Enkidou về đời sống văn minh phục vụ nhân dân Ourouk. Thấy Gilgamesch đàn áp nhân dân, Enkidou nghe dân đánh lại, nhưng sau hòa với ông này và cùng nhau đi đánh quỷ ác giữ rừng thông (có thể là đất Liban). Sau khi đánh chết quỷ, hai người trở về. Gilgamesch bị bà Ishtar (nữ thần Lưỡng Hà) quyến rũ, nhưng ông này không bằng lòng, Ishtar giận, làm Enkidou chết. Gilgamesch thương bạn và lo cho mình nên xuất dương tìm thuốc trường sinh. Sau nhiều sự việc, cuối cùng Gilgamesch cầu hồn Enkiđou lên, và được nghe kể lại chuyện các linh hồn bị khổ sở ở dưới đất.


 


Chuyện này là anh hùng ca được phổ biến nhất ở Tây Á, đã để lại nhiều di tích trong mỹ thuật (điêu khắc và hội họa). Sở dĩ nó được phát triển như thế vì nó phản ánh một thực tế lịch sử, có đáp lại một đòi hỏi nào đó của nhân dân. Ta thấy rõ nội dung xã hội của nó:


 


Chuyện dân Ourouk lợi dụng anh dã man về làm việc, trong thực tế có thể là việc dùng dân thị tộc một cách khéo léo. Ta có thể suy diễn rằng Enkidou có lẽ là một thứ tộc trưởng bị quyến rũ về làm đầy tớ. Anh ta đi với nhân dân, chống lại vua, nhưng rồi lại bị mua chuộc và liên minh với nhà vua, và đi chiếm căn cứ địa để tiện việc buôn bán, có thể là đất Liban (gỗ thông là một sản phẩm đặc biệt của Liban, rất quí hồi bấy giờ và đến bây giờ vẫn có tiếng). Lúc trở về, Gilgamesch chống lại Ishtar là một sự kiện rất có ý nghĩa. Đạo nữ thần có nguồn gốc thời thị tộc, và tiêu biểu cho di tích thị tộc trong chế độ chiếm hữu nô lệ: đó là sự thống trị của quý tộc. Cho nên mâu thuẫn giữa Gilgamesch - Ishtar có thể phản ánh mâu thuẫn giữa bọn chủ nô công thương và bọn quý tộc. Nội dung xã hội của câu chuyện như thế có mấy điểm chính: nhà vua liên minh với tộc trưởng ngoại quốc phát triển công thương, nhất là ngoại thương, nhờ đó chống lại quý tộc. Chính điểm này giải thích tại sao câu chuyện được phổ biến đến thế. Nó có sự thích ứng với quyền lợi chung của nhân dân, vì chính bộ phận công thương, nhất là ngoại thương, đã đóng vai trò tiến bộ, xây dựng văn minh mới, phát triển nó ra ngoài. Gilgamesch và Enkidou đánh ma thiêng quỷ ác bảo vệ, làm giàu cho tổ quốc, một phần nào nhân dân cũng được gián tiếp tham gia, do đấy mà đối lập với thống trị cũ (đạo Nữ thần). Ở đây có một nội dung mới xuất hiện, và chính nội dung này là cơ sở của giá trị nghệ thuật của những anh hùng ca. Nói đến anh hùng là nói đến vua chúa, nhưng xét nội dung thực tế thì anh hùng được đề cao không phải là vì vua chúa mà vì tiêu biểu cho một tầng lớp tiến bộ có làm lợi một phần nào đấy cho nhân dân. Anh đó vẫn là anh hùng cá nhân, và căn bản vẫn là thần bí hóa, nhưng thần thánh ở đây có một nội dung mới chống nội dung cũ (chẳng hạn Gilgamesch không chịu Ishtar). Cố nhiên, ta vẫn ở trong phạm vi thần bí (vì chế độ quân chủ độc đoán chủ nô), nhưng trong phạm vi đó đã có mâu thuẫn, đấu tranh, có tiến bộ phản ánh đấu tranh của nhân dân. Đấu tranh đó được diễn tả trong anh hùng ca, cũng phản ánh trong điêu khắc: tượng thần thể hiện những nét méo mó trở dần thành người, tuy chưa phải là người thường hay người đẹp mà là người cao siêu. Chính nhờ trải qua mâu thuẫn và đấu tranh của nhân dân, Thần đã là người vẫn cao siêu. Tại sao tượng thần vẫn to lớn? Vì nó muốn biểu hiện một ý nghĩa to lớn, nhưng không thể thể hiện được trong chất lượng nên phải thể hiện bằng số lượng, vì căn bản trong nội dung của nó, nó không làm nổi bật được ý nghĩa đó. Ý nghĩa ấy là đức tính mới đã được xây dựng trong đấu tranh của nhân dân, nhưng đấu tranh còn bị kìm hãm trong phạm vi quân chủ độc đoán chủ nô, nên không biểu hiện một cách rõ ràng mà chỉ biểu hiện như một bí quyết. Vì thế nghệ thuật Đông phương là nghệ thuật bí quyết. Nghệ thuật Đông phương mới chỉ nói nửa chừng, cái nó muốn nói thì nghệ thuật Hy Lạp sẽ nói một cách tương đối rõ ràng hơn: Thần chính là người. Trong Đông phương Thần không nói ra được, trong Hy Lạp Thần không muốn nói nhưng thực tế bắt Thần phải nói ra điều ấy. Chính dân Hy Lạp cũng có ý thức phần nào về điểm ấy, thể hiện trong câu chuyện của Oedipe và con Sphinx: con Sphinx là quái vật khổng lồ thân sư tử, đầu người, nó có một tượng to lớn ở gần các kim tự tháp Guizèh; nó tiêu biểu cho bí quyết của thần thánh: truyền thuyết kể rằng nó đặt câu đố cho dân thành Thèbes, và ai không trả lời được thì bị nó giết: «Con vật nào sáng đi 4 chân, trưa 2 chân và chiều 3 chân?». Oedipe trả lời đấy chính là người giết con Sphinx. Bí quyết của thần là người. Số phận con Sphinx cũng là số phận chung của Thần thánh, vì khi người ta biết rõ bí quyết ấy thì Thần không còn được nữa.


(còn tiếp)


Nguồn : Lịch sử tư tưởng trước Marx. Trần Đức Thảo. NXB Khoa học xã hội, 1995.


 


PHỤ LỤC


A - VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG MÔNG MUỘI


a- Tại sao chúng ta nghiên cứu?


 


Sở dĩ ta nghiên cứu tư tưởng mông muội vì nó là nguồn gốc mọi thứ mê tín khác. Ngoài ra nó có giá trị vì là bước đầu phân biệt giữa người với vật, nó đánh dấu quan niệm về giá trị đầu tiên của loài người. Dù mọi người đều quan niệm mình là một con vật, nhưng sự thành lập quan hệ truyền thống - giúp đỡ, kết hôn, chôn người, trả thù - quyền lợi, bổn phận giống nhau – đã chứng tỏ những người trong thị tộc đã quan niệm quan hệ với nhau ở một mức cao hơn quan hệ tự nhiên. Từ đó những kỷ luật thị tộc ngày càng được xác định. Vì các triết gia duy tâm và tôn giáo căn cứ vào đó quyết đoán rằng loài người là sản phẩm của một đấng siêu nhiên: phần giá trị của con người có một nguồn gốc thần bí, con người là con người nhưng xem mình là con vật chứng tỏ một hiện tượng duy tâm.


 


Do đó giải quyết vấn đề này có liên quan tới vấn đề duy vật, duy tâm, và liên quan tới những vấn đề tư tưởng hiện đại (dẫn tới dân tộc, quốc gia hẹp hòi...). Trong vấn đề dân tộc thuần túy hẹp hòi có phần dân tộc chân chính xuất phát từ yếu tố tổ tiên, nghiên cứu vấn đề tư tưởng mông muội sẽ giúp ta xác định tư tưởng đó.


b- Cơ sở của tư tưởng mông muội


Đặc điểm của vật tổ là nó một quan niệm chung cho cả giống, nhưng mỗi cá thể có thể đại diện cho cả giống ấy. Trong lễ đồng hóa để củng cố con người chân chính, củng cố bản chất của mình, thị tộc họp nhau ăn một con thuộc giống vật tổ (khác với sau này, không đồng hóa mà sùng bái thần thánh). Trong những lễ đôi khi cũng có đổ máu (đến tuổi trưởng thành làm lễ, bị xẻo thịt) nhưng không phải là hiến tế của sùng bái.


 


Các nhà duy tâm có thể cho rằng nguyên thủy con người là duy tâm: quan niệm cuộc đời chân chính của con người không là cuộc sống thực trong thiên nhiên mà ở trong quan niệm vật tổ, một yếu tố có vẻ siêu hình, thần thoại. Nhưng thực ra, quan niệm vật tổ có vẻ duy tâm ấy chỉ là phản ánh đời sống thực tế. Những đặc điểm của vật tổ chứng minh điều đó: đời sống cộng đồng cùng làm cùng ăn, không phân tách thành cá thể, phản ánh vào tính chất giống và cá thể lẫn lộn của vật tổ. Tính chất đồng hóa không sùng bái phản ánh đời sống bình đẳng. Không có người bóc lột của sinh hoạt. Có người hỏi tại sao sự phản ánh của quan hệ liên đới cộng đồng rất thiết thực lại thiêng liêng hóa đi như vậy? Cái này do sự sản xuất còn thô sơ nên con người có một trình độ hiểu biết về sự sản xuất còn kém cỏi, do đó đều mơ hồ hóa những kinh nghiệm thiết thực của mình.


 


Những lễ lạc chẳng những phản ánh sự kém cỏi trong trình độ sản xuất mà còn phản ánh mâu thuẫn trong quan hệ xã hội: quan hệ thù hằn chém giết giữa các tập đoàn sản xuất, sự phân chia khu vực săn bắn tức là quan hệ tranh giành giữa các thị tộc, tập quán đổ máu trong các buổi lễ có thể là sự phản ánh của hiện tượng đổ máu trong xã hội. Những buổi lễ trưởng thành, sự đổ máu biểu hiện sự thiêng liêng hóa người thanh niên, từ người, anh đó đã biến thành vật tổ.


 


Tóm lại, tính chất mê tín chẳng những phản ánh trình độ thấp kém của sự sản xuất mà còn phản ánh cả quan hệ cộng đồng hẹp hòi bấy giờ (vì giới hạn hẹp hòi của tính chất cộng đồng nên yếu tố vật tổ được tuyệt đối hóa, để tuyệt đối hóa quan hệ và quyền lợi thị tộc).


 


 [- Yếu tố chân chính trong tôn giáo vật tổ là ở chỗ nó bao gồm ý thức tập thể.


 


- Vì căn cứ vào kinh nghiệm ít ỏi và thấp kém của sản xuất để giải thích những hiện tượng phong phú của thiên nhiên nên nó mang tính chất huyền hoặc thần bí.


 


- Trong xã hội mông muội, sự lãnh đạo sản xuất còn thô sơ, có thể giải quyết trong tập thể, chưa để thành nhu cầu một cá nhân ra gánh vác.


 


- Tác phong bóc lột xuất hiện trước, đến một trình độ, nó tổng kết thành chế độ. Sự sùng bái xuất hiện với tác phong bóc lột. Sở dĩ loài người sùng bái quan hệ bóc lột vì nó có kết quả thiết thực.


 


-Hiện nay, những tư tưởng hẹp hòi bảo vệ những quyền lợi hẹp hòi của mình đi vào đường phản động cũng đi vào con đường mê tín, thần thánh hóa để tuyệt đối hóa.]


B - VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI DÃ MAN


Trong xã hội mông muội, ta thấy tôn giáo có phần tử chân chính là ý thức tập thể sản xuất. Qua dã man, quan hệ sản xuất vẫn là cộng đồng, nhưng bắt đầu xuất hiện những hiện tượng tập trung của cải làm mầm mống cho chế độ tư hữu và xã hội văn minh sau này - xuất hiện những hiện tượng tôn giáo mới, đặc biệt là đạo Linh tinh hay đúng hơn là đạo Tinh linh, cuối cùng là đạo Quỷ thần. Trong quá trình ấy, cũng xuất hiện một giá trị mới: tư tưởng anh hùng và giá trị vinh dự.


 


[- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội dã man


 


- Sự phát triển của những tập quán đồng cốt, những lễ vứt của, và những hội kín:


 


- Tư tưởng anh hùng và ý thức vinh dự.]


 


Mục đích bài này là phân tích, tìm lấy phần tử chân chính trong tư tưởng anh hùng khỏi những ảnh hưởng mê hoặc trong các đạo Tinh Linh và Quỷ thần hiện nay còn nhiều rơi rớt.


 


a) Lực lượng và quan hệ sản xuất


 


Cuối mông muội đã có cung tên, bẫy săn, dao cạo lông và kim khâu quần áo, xã hội đã sản xuất được một số của cải thừa, dự trữ.


 


Qua dã man, xuất hiện nghề trồng trọt: đồ đan, đồ gốm; đã xuất hiện nghề chăn nuôi, người ta đã định cư, làm nhà và sống thành làng mạc. Với sự phát triển của sức sản xuất và của dự trữ, quan hệ xã hội vẫn trong khuôn khổ cộng đồng nói chung, nhưng xuất hiện nhiều mâu thuẫn: chiến tranh cướp bóc giữa các thị tộc, mâu thuẫn trong nội bộ thị tộc vì bọn tù trưởng có xu hướng tập trung của dự trữ đó. Do đó trong quan hệ cộng đồng đã có mầm mống của quan hệ tư hữu. Trong các gia đình, tộc trưởng đã bắt đầu có nô lệ, và tác phong ấy cứ phát triển song song với thời kỳ dã man để bước sang chế độ chiếm hữu nô lệ.


 


[Từ quan hệ cộng sản sang quan hệ tư hữu là một quá trình «chiếm công vi tư », trong quá trình đó mỗi tư tưởng xây dựng một tư tưởng riêng để phục vụ cho việc chiếm đoạt đó, phương thuật là khí cụ chiếm đoạt. Những Hội kín là những hội phương thuật. Phương thuật cũng dùng những cái thông thường: dao, lao, lời


nói... Phương thuật là một công cụ biện chính cho việc chiếm đoạt - không phải vì người ác, nhưng vì trong xã hội có điều kiện khách quan của sự chiếm đoạt.]


 


Do hiện tượng chênh lệch tài sản, đã xuất hiện những tổ chức bảo vệ sự chênh lệch ấy, chưa có một nhà nước nhưng có những Hội kín của các chiến sĩ để cùng nhau đi cướp các thị tộc khác, và đe dọa nhân dân trong thị tộc (để cướp các thị tộc khác và để tập trung tài sản trong thị tộc mình, người nào có tài cướp bóc nhất sẽ là chúa của Hội kín) - chiến tranh trở thành một phương thức sản xuất. Đó là mầm mống của Nhà nước chiếm hữu sau này. Những Hội kín đó tổ chức dưới hình thức tôn giáo.


 


b) Những đạo Tinh Linh và Quỷ thần


 


Đạo Tinh Linh là bước thứ hai của vật tổ; nó mang một tính chất mới: cá tính phản ánh tính chất cá thể hóa của tài sản xã hội. Quan hệ giữa người và con tinh phản ánh quan hệ xã hội không còn là quan hệ vật tổ bình đẳng đồng hóa mà quan hệ giữa một nhóm người hay một người đồng nhất với con tinh, có uy quyền đối với thị tộc. Sự «sùng bái một bên xin, một bên ban» đồng nhất ấy thể hiện bằng đồng cốt, một «lễ nhảy thiêng» trong đó các chiến sĩ hay gia trưởng tiếp thu được những uy quyền của con tinh. Tôn giáo phản ánh quan hệ sản xuất và trở lại củng cố quan hệ sản xuất. Lễ tục đồng bóng có thể là lễ cá nhân để thăng cấp bậc trong hội chẳng hạn, tục vứt của để gây uy tín (cho của cải hay phá của cải, lên mặt «ta đây không cần»), do đó người làm lễ thu được một tính chất mới, có uy quyền thống trị, nhất là có uy quyền tập trung của cải. Do đó sinh ra sự cạnh tranh giữa các hội, các nhóm trong thị tộc, hay các thị tộc với nhau hoặc các tướng trong thị tộc với nhau, do đó nảy sinh ra quan hệ ngôi thứ (người nào vứt của nhiều, nhóm hay thị tộc nào vứt của nhiều nhất sẽ làm chúa, và có quyền chiếm hữu của cải; người, nhóm hay thị tộc nào không đáp lại được sẽ bị mất mặt, nhiều khi mất của cải và bị làm nô lệ nữa). Tôn giáo này xây dựng, bảo đảm và củng cố quyền tập trung của cải.


 


[Trong đạo yêu tinh chưa có sùng bái, chỉ có lợi dụng sợ sệt, đồng hóa trong lễ dâng.


 


- Tinh khác vật tổ ở: trừu tượng hơn, có cá tính, có ngôi thứ phản ánh thực tế xã hội, nó củng cố uy tín và cá nhân tù trưởng. Có sự tranh giành ngôi thứ.


 


- Những hình thức này hiện nay còn vết tích trong xã hội Việt Nam: mổ bò, mổ trâu thết làng của bọn phong kiến, thi nhau mở đám, mở hội to.


 


- Trong thực tế, bọn tù trưởng lợi dụng uy tín của Tinh để chiếm đoạt của cải - do đó có sức mạnh. Nhưng trong tư tưởng, người ta quan niệm ngược lại: nhờ đồng hóa với Tinh nên hắn có sức mạnh và khả năng tập trung của cải.


 


c) Tư tưởng anh hùng và ý thức vinh dự


 


Do đó, ý thức tập thể tập trung vào một số cá nhân. Nó có phần nào chân chính vì cá nhân đó có nhiệm vụ tổ chức sản xuất, xây dựng sinh hoạt tập thể - cá nhân đó tượng trưng cho cả tập thể. Những tư tưởng anh hùng tập thể ấy bị xuyên tạc đi, những anh hùng ấy đã dùng đặc quyền để chiếm hữu của cải, biến thành anh hùng cá nhân, như vinh dự chân chính biến thành anh hùng mơ hồ. Trong suốt những giai đoạn sau của lịch sử, tư tưởng anh hùng luôn phát triển cùng với những hình ảnh tượng trưng cho anh hùng đó (từ gia trưởng, tộc trưởng tiến lên chúa, vua, hoàng đế). Đồng thời con tinh ấy càng ngày càng được đề cao, song song [với] anh hùng (tinh của đơn vị nhỏ càng ngày càng phi thường, đặc biệt, tuyệt đối).


 


[- Tù trưởng đại diện cho sức mạnh của tập thể mang một mặt nạ để cướp của dự trữ của thị tộc thành của riêng. Khả năng đó ở cái mặt nạ, mất đi, tù trưởng không có quyền đó nữa.]


 


[- Vai trò anh hùng chân chính khi cá nhân đó dùng danh nghĩa ấy để làm việc cho tập thể mình đại diện, những khi cá nhân đó làm việc cho cá nhân mình trong phạm vi danh nghĩa ấy thì vai trò anh hùng đã bị xuyên tạc.]


C - PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO QUỶ THẦN


a) Xây dựng thần quyền trong xã hội thị tộc tan rã.


 


b) Xây dựng đức (công lý, bác ái) trong chiếm hữu nô lệ sơ kỳ.


 


c) Xây dựng tôn giáo lý tưởng duy tâm trong công cuộc xây dựng quan hệ của sự chiếm hữu nô lệ sơ khai.


 


Quan niệm ông Thần: có quyền - tốt - số người trên một linh giới lý tưởng ngoài thực tế và quan hệ giữa người và thần cũng đi từ thực tế (xin của, xin được mùa...) tiến lên quan hệ lý tưởng (tôn sùng, kính mến), góp phần tích cực trong tiến hóa lịch sử, đồng thời phản ánh thực tế là quan hệ áp bức bóc lột trong xã hội, và còn rơi rớt trong tư tưởng chúng ta.


 


a) Xây dựng thần quyền trong xã hội thị tộc tan rã


 


Bấy giờ sản xuất đã lên tới việc dùng trâu bò kéo cày, dùng ngựa lừa, trâu bò để thồ (thế kỷ IV trước CN) ở Lưỡng Hà và Ai Cập, đã xuất hiện bánh xe, thuyền buồm, đúc đồng (đồng đỏ trước rồi sau là đồng xanh), lò gốm phát triển và Lưỡng Hà có nghề đun gạch.


 


Nền kinh tế tự túc tự cấp thời Đá mới không tồn tại mãi được. Sự trao đổi phát triển, sức sản xuất phát triển, chiến tranh cũng phát triển và có nhiều khả năng dùng nô lệ, đặc biệt trong công nghiệp và thương mại.


 


Đầu tiên những đất công của công xã biến thành điền trang, tù trưởng thành quý tộc đại trang chủ. Tù trưởng sử dụng quyền lực của con tinh nhập vào mình để biến thành quí tộc. Nhưng tinh nhập vào một cách nhanh nên tinh phải hóa thành thần: ở Lưỡng Hà, nó thể hiện dưới một hình thức nhà tu trong đó thần làm bá chủ cả vùng. Tinh đã biến thành thần có một quyền hành rộng lớn khắp cả vùng, có đủ khả năng tổ chức một vùng rộng lớn có qui mô. Đại trang biến thành nhà tu, và chủ nhà tu quản trị tất cả - theo nhu cầu của sự phát triển của thị tộc đòi hỏi một qui mô rộng lớn và có tổ chức. Đây là một hình thức quan lại đầu tiên, nhưng là một tổ chức thuộc tăng lữ. Tổ chức này phục vụ cho đòi hỏi của sức sản xuất, và bảo đảm sự áp bức của thống trị đối với nô lệ và thị dân - ông Thần có một uy quyền tuyệt đối. Ở Lưỡng Hà còn những di tích về thế kỷ IV trước CN: những trung tâm công nghiệp cung cấp nông cụ cho các địa phương có những nhà tu, đồng thời cũng bóc lột và nộp tô.


 


Ta thấy thần quyền chỉ là phản ánh thực tại xã hội. Phần chân chính của nó phản ánh sức mạnh của tổ chức đại qui mô, nhưng sức mạnh ấy lại bị chiếm đoạt. Ở Lưỡng Hà, quan niệm đó chưa qui về một ông thần nhưng là cả một tập đoàn tăng lữ (đó là sự biến hình và phát triển của hội kín), lợi dụng danh nghĩa ông Thần (tuyệt đối) đó để quản trị cả khu vực rộng lớn của phạm vi ông Thần


 


 









































Đất công xã



Tù trưởng



Tinh



|



|



|



Đại trang



Quí tộc



Thần



|



|



|



Vùng rộng lớn của thần



Tập đoàn tăng lữ có chủ



Quản trị nhà tu



|



|



|



Thương mại



Tăng lữ đại diện


thương nhân



 



 


 


           


[- Sự áp bức không phải do chủ quan mà do phát triển tất yếu của sức sản xuất. Gian ác không phải tự chủ quan mà do điều kiện kinh tế qui định.


 


- Tập đoàn tăng lữ có một người chỉ huy. Bọn này luôn phải thỉnh thị ông Thần, chứ không như ông vua sau này chỉ làm lễ 1 lần, và dựa theo ý mình không phải bói toán thịnh trị.]


 


b) Thần đức trong chiếm hữu nô lệ sơ kỳ


 


Nhưng hình thức này đến lúc cũng kết thúc. Trong xã hội ấy xuất hiện những thương gia (tiểu, trung, phú) do sự phát triển của sản xuất, họ chống đối với thần quyền của tăng lữ. Ở Lưỡng Hà, vào thế kỷ III trước CN, có một cuộc đấu tranh của thứ dân (người dân tự canh, tiểu chủ tiểu thương, đại thương) chống quyền thống trị của tập đoàn tăng lữ quí tộc, để xây dựng một hình thức khác vẫn trên cơ sở chiếm hữu nô lệ nhưng rộng rãi hơn về quyền hành cũng như chiếm hữu đối với thứ dân - không kể nô lệ. Họ tách rời với bộ phận quản trị (an ninh trật tự và sở hữu), để bảo vệ quyền của thứ dân, dùng một người trong bọn tăng lữ đưa lên làm vua chống lại với tập đoàn tăng lữ. Nó có ý nghĩa là một hành động đem lại pháp lý cho quyền sở hữu của tư nhân (chủ nợ) - trước kia lợi dụng uy thế bá chủ ông thần và có quyền cướp bất cứ của ai. Bây giờ đây, với tính chất của thứ công lý bảo vệ quyền lợi thứ dân ấy, ông Thần cũng tiếp thu được những tính mới: ông Thần toàn quyền trở lên ông Thần công lý (cố nhiên chưa công lý đối với nô lệ mà chỉ giữa quí tộc và thứ dân thôi). (Nhưng trong quan niệm bấy giờ người ta lật ngược lại, và cho rằng sự đảm bảo công lý của trật tự là do ông Thần bày vẽ cho. Sở dĩ có sự lật ngược ấy vì thứ dân vẫn là người có, hoặc có quyền có nô lệ, nên đối với nô lệ nó thuộc thống trị, cùng đi với quí tộc, tăng lữ, nên những đặc tính mà nhân dân xây dựng bị sáp nhập vào Thần quyền đại diện cho quyền thống trị). Đồng thời ông thần cũng tiếp thu được tính chất bác ái (tính chất này ở Lưỡng Hà ít, vì quan hệ căn bản là cống nạp và mua chuộc, có nhiều tính chất thiết thực - chứ không như ở Ai Cập). Ta thấy nhân đức đã bị lật ngược thành Thần đức. Thần quyền được củng cố và phát triển vì các vua mở những cuộc xâm lăng (Sargon ở trung tâm Lưỡng Hà đã chiếm cả Lưỡng Hà lập đế quốc đầu tiên thời Cổ đại). Thần quyền của ông được phát triển và các thần khác bị sáp nhập vào đó. Phản ảnh thực tế xã hội nên Thần quyền phát triển và thống nhất. Đó là xu thế để phát triển tới một ông Thần thống nhất cho toàn thể nhân loại, xóa bỏ mọi mâu thuẫn giữa các thị tộc, duy trì công lý và ban ơn cho một loại. Ý nghĩa đó rất chân chính và đẹp đẽ, nhưng đã biến thành những quyền hành mơ hồ có cơ sở trong thực tại áp bức bóc lột của xã hội. Một lần nữa, tính chất của nhân dân bị áp bức và lao động đã bị đảo ngược và sáp nhập vì bọn thống trị áp bức, thành những cái mơ hồ, huyền bí.


 


c) Xây dựng tôn giáo lý tưởng duy tâm


 


Trước Gia-tô giáo, điển hình của tôn giáo lý tưởng Tây phương tiêu biểu là tư tưởng Ai Cập. Bắt đầu phát triển khoảng năm 3300 trước CN, triều vua Menès. Ở Ai Cập, khoảng tháng 5 - 9 có lụt lớn - nhiều phù sa. Để phân phối đều phù sa, người ta đã xây dựng những công trình thủy lợi. Họ đào thành những khu vuông có các vương quốc làm bá chủ, sau chia thành hình thức các quận (nomes). Mỗi quận có thần riêng, và ở Ai Cập thường là những Thần giống vật. Đó có thể là di tích của vật tổ.


 


Đến sông Nil, đã có một chính quyền tập trung xây dựng trên chiếm hữu nô lệ. Để biện chính cho triều đình ấy, đã có một hệ thống tư tưởng được xây dựng, và nó cũng biến chuyển qua các thời đại. Nó có 3 giai đoạn chính:


 


- Dựa vào truyền thuyết Osiris - lúc chính quyền mới xây dựng và kinh đô ở Mamphis. Nhưng dần dần phức tạp hơn. Pharaon chẳng những là cháu Osiris, còn là con Atumkâ. Hai đạo này kết hợp với nhau (năm 2500 - 2300 trước CN).


 


- Sau các cuộc tranh giành, thủ đô dời xuống Thebea. Thần Râ đồng hóa với hai ông Thần Stah (thần Mamphis) Và Amon (thần Thèbes), đồng thời đồng nhất với Osiris. Stah Amon Ra là vào khoảng Trung ương triều và Tân vương triều (năm 2000 – 1400 trước CN).


 


- Dưới triều Aménophis IV, có cuộc cải cách quan trọng: đánh đổ các đạo, nhà tu, và phá tượng cũ, sáng tạo một đạo mới: Thần Mặt Trời Aton - trong khoảng 20 năm, sáng tạo được một đạo độc thần -, đó là trường hợp đặc biệt nhất thời cổ đại dù nó chỉ tồn tại trong 20 năm (thế kỷ 14 trước CN).


 * Theo truyền thuyết, Osiris là vua Hạ Ai, đồng thời là Thần lúa mìThần Thiện (dạy văn minh, đạo đức), một hôm bị thần Thượng Ai là Seth âm mưu phá hại (Thần ác, thần của Sa mạc, đêm tối, gió bão). Seth và 72 đồng phạm giết Osiris, bỏ vào hòm vứt xuống sông Nil, nó trôi ra Địa Trung Hải cho tới hải cảng Biblos ở Syrie. Đến đấy gặp một cây thông bao trùm lại, và giấu kín trong mình. Vua Biblos thấy cây to đẹp mới cắt lấy về nhà. Hoàng hậu là Isis đi tìm chồng cùng với quần thần (có Thần chó Anubis và thần chim Thot), tới Biblos tìm được hòm và chồng. Đưa về dùng phép phù thủy làm sống lại, sinh được một con là Horus, cùng với quần thần đánh bại Seth thống nhất Ai Cập.


 


Các vua Ai Cập sau đều tự xưng là con Horus để biện chính cho việc làm bá chủ Ai Cập. Đồng thời nó còn có ý nghĩa bảo đảm sự bất diệt của các vua Ai Cập, vì được Osiris - đã chết lên làm vua âm phủ - cứu thế. Các Pharaon muốn biểu dương tâm hồn mình bất diệt, đã xây những tháp bất diệt (Pyramides). Lúc đầu chỉ vua - cháu Osiris - có quyền ấy, nhưng về sau những người lân cận học tập câu chuyện, làm lễ đồng nhất với Osiris và cũng bất diệt, đó là bọn cận thần nhà vua (năm 3000 - 2400 trước CN). Nhưng cho tới năm 2000 trước CN, dân chúng cũng được học tập bí quyết Osiris, và tâm hồn cũng bất diệt.


 


[Ai Cập là một đinh cao nhất trong tư tưởng nhân loại đời Cổ đại, và đã xây dựng nhiều giá trị tư tưởng tốt đẹp]


 


Đạo Osiris rất quan trọng. Nó là một trong 2 đạo chủ yếu của Ai Cập, nó có tác dụng cứu thế, làm tâm hồn bất diệt bằng cách đồng nhất với Thần Thiện.


 


Căn nguyên của đạo: miền Bắc Ai Cập nhiều tài nguyên hơn miền Nam, nên kinh tế phát triển và có sự thông thương với Biblos ở Syrie. Khoảng thiên niên kỷ IV, người Ai Cập có một nền công thương phát triển - đem lúa mì đổi lấy gỗ thông của Syrie -, tỉnh thành phát triển. Thượng Ai Cập mới có nông nghiệp, chưa có công thương. Do đó, Hạ Ai Cập chuyển sang nô lệ và thống nhất đất đai nhanh hơn. Osiris là người đã thống nhất Ai Cập, đánh đổ các tư tưởng khác dựa vào lực lượng tỉnh thành. Thường cạnh tên Osiris còn có chữ Zed biểu hiện bằng hình cây thông - Thần của dân các thành phố buôn bán lúa mì và gỗ thông (Thần Lúa mì và Zed). Thần Đạo đức, vì trong một xã hội công thương cần bảo vệ trật tự an ninh, bảo vệ của cải. Trái lại thần Seth ở Thượng Ai Cập có lẽ đang ở thời kỳ bộ lạc, có liên minh phần nào, nhưng nói chung vẫn còn tập quán đi đánh giết cướp của - đại diện thần Ác và Sa mạc, Bão táp (Thượng Ai Cập). Cuộc chiến tranh giữa Seth và Osiris phản ánh chiến tranh Thượng và Hạ Ai Cập. Seth giết được Osiris với 72 đồng mưu, có thể là những tù trưởng Hạ Ai Cập đang chiến đấu nội bộ với Osiris. Phe Osiris thua, xuôi Nil sang Biblos - thành phố đã quen thuộc vì buôn bán -, và được vua Biblos tiếp đón (đưa về nhà). Isis cùng quần thần (cai trị các nomes) sang phối hợp với phe đã chạy sang Biblos về thống nhất quốc gia. Dưới thời Osiris có 2 thành phần tù trưởng: một bọn tiến bộ đã mua bán lúa mì, sinh hoạt công thương nghiệp với dân thị thành) và một bọn tự cấp tự túc. Sự kiện Isis dùng phép thuật sinh ra Horus chứng tỏ bấy giờ đã có sự tham gia của bọn tăng lữ - đó là một yếu tố rất quan trọng.


 


Ménès tự xưng là con Horus, vì triều đại của ông xây dựng trong sự đấu tranh thắng lợi giữa bọn quân chủ chiếm hữu nô lệ với bọn quân chủ bộ lạc.


 


Thời mông muội và dã man, người ta quan niệm người chết rồi tâm hồn còn sống, nhưng không rõ như thế nào và bao lâu. Nhưng từ Ai Cập, đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tâm hồn bất diệt có thể tiêu biểu cho một thay đổi lớn trong lịch sử sản xuất và quan hệ sản xuất. Trước kia sức sản xuất tự nhiên còn ấu trĩ, chưa hệ thống, chưa chắc chắn. Nhưng tới nô lệ với công thương, nông nghiệp hợp lý hóa - có tính toán xây dựng nên những nguyên tắc, lý luận mà họ tin rằng có thể áp dụng mãi mãi (vì đã hợp lý hóa và hệ thống hóa) - quyền sở hữu trở nên vững chắc và họ quan niệm có thể phát triển mãi mãi. Nhà vua là người tập trung quyền chiếm hữu trong tay, nên theo quan niệm bấy giờ, tâm hồn nhà vua tức là quyền chiếm hữu có khả năng vô hạn tất phải bất diệt. Nhưng quyền chiếm hữu nô lệ - khả năng sáng tạo của cải một cách vô tận - lúc đầu chỉ trong tay vua, rồi tăng lữ quí tộc, dần dần phổ biến xuống nhân dân, nên họ cũng được tham gia những buổi diễn kịch Osiris xây dựng tâm hồn bất diệt, nên họ cũng đồng hóa với Osiris và tâm hồn cũng trở nên bất diệt.


 


Như thế, một lý tưởng duy tâm cũng xây dựng trên quá trình phát triển của chiếm hữu nô lệ; nó có một ý nghĩa chân chính trong thực tế, nhưng cũng có phần tiêu cực duy tâm (đặt sự phát triển tâm hồn ở một linh giới ngoài xã hội loài người) là do quyền chiếm hữu có tính chất thống trị đối với nô lệ.


 


Người ta gọi đạo Osiris là đạo bí quyết (vì nó có một bí quyết: có thể được cứu thế và tâm hồn bất diệt). Ở Tây phương cổ đại và Cận đông, đạo này được phổ biến nhất cho đến thời La Mã.


 


[- Lúc đầu quan niệm chết rồi là ma và không đề cập tới vấn đề bất diệt, sau này biến thành linh hồn mới có tính chất bất diệt, bắt đầu cho Pharaon sau phổ biến cho triều đình và toàn dân. Nhưng chỉ trong phạm vi chủ nô. Cho tới Gia-tô, linh hồn bất diệt mới phổ biến tới mọi người.


 


- Linh hồn biểu hiện quyền tự do và chiếm hữu nô lệ, mất quyền đó là mất linh hồn.


 


- Giới hạn của thị tộc không có khả năng phát triển mãi. Trái lại quyền chiếm hữu nô lệ có phương pháp có triển vọng phát triển mãi - quan niệm bất diệt:]


 


* Trong lúc chính quyền Pharaon được xây dựng, một tôn giáo mới nảy nở, tượng trưng quyền tuyệt đối và phổ biến của nhà vua. Sau một quá trình khó khăn để xây dựng, nên bấy giờ nó tự cho một quyền tuyệt đối tượng trưng ở đạo Mặt trời, nó do tăng lữ và chính quyền xây dựng. Họ hệ thống hóa bằng cách dùng mặt trời là Thượng đế. Osiris và Isis đều là con cháu mặt trời. Đây gặp mâu thuẫn: nếu xây dựng như thế, phải làm nhà vua là con mặt trời, nhưng trong 2 tôn giáo, Osiris là cháu mặt trời và vua là cháu Osiris. Giải quyết bằng cách cho Osiris, sau khi chết tâm hồn lên trời. Nó chứng tỏ chính quyền ngày càng đi vào đường độc đoán chuyên chính, càng gắn liền với tăng lữ quan lại, và bỏ xa hạng thứ dân, lúc trước đã xây dựng lên chính quyền mình tan rã dần cho tới thế kỷ XIX trước CN mới xây dựng lại trên cơ sở gần thứ dân hơn. Do đó đi dần đến chỗ thống nhất các vị thần. Những thần nhỏ bị quên đi, nhưng 2 thần lớn vẫn còn lại: Phtah thần Mamphis bị chinh phục, uy tín có phần kém hơn nhưng vẫn được xem như một bộ phận của toàn quốc nên được hợp nhất trong hệ thống Phtah - Amon - Ra. Hệ thống này mang nhiều tính chất tốt đẹp, chứng tỏ chính quyền nhà vua thống nhất ban ơn cho dân, cụ thể là bảo vệ quyền tư hữu tài sản và quyền chiếm hữu nô lệ.


 


Đạo Osiris ngày càng được nhân dân (chủ nô) tham gia, trở thành một đạo bình dân ngày càng đồng nhất với đạo Phtah - Amon – Ra, chứng tỏ ngày càng có sự thống nhất giữa quyền lợi nhà vua với nhân dân (chủ nô).


 


* Với sự phát triển ấy, công thương nghiệp phát triển - chiếm Syrie, tới thế kỷ XVI trước CN xưng bá ở Cận Đông. Ngoại thương phát triển, quan hệ kinh tế, văn hóa phát triển, pháp lý quốc tế (công và tư pháp) phát triển. Vua Ai Cập xưng bá chủ thế giới - xây dựng một tôn giáo biện chính cho quyền bá chủ đó. Trong quá trình xây dựng chính quyền thế giới đó, chủ yếu là loại bình dân đại thương với sự giúp đỡ của bọn thương nhân quốc tế, dựa vào bình dân chống bọn quí tộc tăng lữ có xu hướng quốc gia hẹp hòi (đại điền trang tự túc tự cấp) (quyền lợi công thương).


 


* Tới thế kỷ XIV trước CN, quyền lợi vua - tăng lữ quí tộc đánh đổ tôn giáo cũ, phá nhà tu, đánh đổ tượng thần thánh nhất là phá tượng Amon (thần Thèbes, tổ tiên của triều đình) – [là?] đuổi bọn tăng lữ, tự tạo ra 1 tôn giáo mới. Aton được công nhận là Thượng đế độc nhất đã tạo ra tất cả thiên hạ, không phải của một quốc gia, địa phương mà cho cả thế giới. Aton, tượng trưng cho mặt trời chung cho thiên hạ biện chính quyền bá chủ thế giới của vua Ai Cập, đồng thời duy tâm hóa quan hệ giữa người và thần và đạt sự sùng bái là quan hệ tin tưởng thân mến thay cho quan hệ mua chuộc cũ. Nó tồn tại được hơn 10 năm, rồi vì cơ sở không vững nên sụp đổ và các đạo cũ trở lại. Nó là đỉnh cao nhất trong Cổ đại đã thống nhất nhân loại trong công lý và bác ái - giá trị chân chính. Lịch sử tư tưởng của Ai Cập có tính chất sáng tạo chỉ đến đó là hết, sau này nó trở lại những điều trên.


 


[Chế độ chiếm hữu nô lệ có 3 giai đoạn lớn:


 


+ Sơ khai chủ yếu ở Tây Á, phương thức sản xuất chủ yếu còn bị ràng buộc trong tự túc, tự cấp, kinh tế hàng hóa chưa chủ yếu.


 


+ Giai đoạn 2: Hy La (năm 1000 trước CN), quyền chiếm hữu nô lệ chủ yếu phát triển trong phạm vi kinh tế hăng hóa.


 


+ Giai đoạn 3: tan rã (năm 500 - 300 trước CN)


 


- Sự kiện Aton là một đặc biệt của giai đoạn chiếm hữu nô lệ sơ kỳ. Phương thức sản xuất còn trong phạm vi đại điền trang, thành phần thống trị vẫn là quí tộc tăng lữ - cơ sở phân quyền vẫn còn -, cơ sở đa thần.


 


Trong sơ khai người ta tin tưởng ở công lý, vì đó là do ông thần dạy.


 


- Phần tiêu cực của tư tưởng này căn bản ở chỗ đề cao cá nhân một cách tuyệt đối, vì nó phản ánh quyền tư hữu cá nhân]. 


 


 


Nguồn: Lịch sử Tư tưởng trước Marx. Trần Đức Thảo. NXB Khoa học xã hội, 1995.






[1] Tài liệu [B]


[2] Có lẽ là từ thiếu trong sách. PTL


[3] Đúng ra là Ra hay . PTL


[4] Đạo Nữ thần là một tôn giáo phát triển nhiều ở vùng Lưỡng Hà, Tiểu Á, Syrie, v.v..., hàng năm có những lễ rất long trọng để di tích đến bây giờ. Đó là lễ Bí quyết (mystère) trong đó diễn lại người Thần trai (chồng nữ thần) bị chết, người làm lễ khóc lóc; sau ông này sống lại, người làm lễ vui mừng. Ở Syrie, nữ thần là Astarte, Thần trai là Adonis; ở Lưỡng Hà, nữ thần là Ishtar và Thần trai Dummuzl; ở Tiểu Á nữ thần là Cybele và Thần trai là Attis; Ai Cập có Isis và chồng là Osiris. Nội dung các tôn giáo này căn bản giống đạo Osiris và còn để di tích trong đạo Gia tô: lễ phục sinh và ngày hội Carnaval (chính là Charnaval tượng trưng cái thuyền của Isis chở xác chồng về nước).


 







 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hoàng Cầm: Một đời “Nhớ tiếc”, một đời “Níu Xuân xanh” - Hoàng Hưng 18.01.2018
Lối đi tâm linh trong thơ Hoàng Cầm - Lê Thị Thanh Tâm 18.01.2018
"Bắt đầu và kết thúc” trên báo Văn nghệ: Hư cấu hay xuyên tạc lịch sử? - Trần Bảo Hưng 13.01.2018
Viết gì về truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc”? - Chu Mộng Long 12.01.2018
Nghi lễ của ánh sáng hay Nghi lễ của Thi ca? - Trần Mạnh Hảo 11.01.2018
Đêm giao thừa xưa của Ức Trai Nguyễn Trãi - Nguyễn Hùng Vỹ 11.01.2018
Nguyễn Bính – “Thi sỹ của thương yêu" - Phạm Trọng Thanh 09.01.2018
“Thơ trắng” - tình trong như đã… - Bùi Nguyễn Trường Kiên 07.01.2018
Biển đảo trong trường ca Biển của Hữu Thỉnh - Lê Quang Sinh 07.01.2018
Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay - Phan Huy Dũng 30.12.2017
xem thêm »