tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23289109
01.10.2015
Nguyễn Mộng Giác
Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung (Tiểu luận 3)

GIẢI PHÁP CHO CUỘC TRANH CHẤP


VÔ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU


Tinh thần ấy hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của Độc cô cửu kiếm: lấy vô chiêu thắng hữu chiêu. Ở Tiếu Ngạo Giang Hồ, Phong Thanh Dương xuất hiện như một bóng ma thoạt đến thoạt đi. Trong võ lâm, người ta đã tưởng vị tiền bối thuộc kiếm tông của Hoa Sơn đã về trời từ lâu. Độc cô cửu kiếm tưởng đã thất truyền, không ngờ vẫn còn đó, ngay trong lòng người.


Xưa nay, các cao thủ chạy đi tìm một định chế cho môn phái, thiết lập hệ thống tinh diệu các kiếm thức, tưởng như vậy là đưa võ học tới mức siêu việt. Nhưng họ đâu có ngờ, càng đặt ra nguyên tác luật lệ, con người càng mất hết sự sáng tạo phóng khoáng, nguồn tự do thiêng liêng và đi gần về những cưỡng chế phi nhân.


Bây giờ chân lý của Phong Thanh Dương đơn giản lắm: Người sử kiếm pháp chứ không phải kiếm pháp sử người.


Những kẻ đầu tiên gầy dựng môn phái, phát minh kiếm thức muốn minh chứng sức mạnh siêu việt của con người, xác định giá trị sáng tạo vốn là niềm hãnh diện của nhân loại giữa vũ trụ chim muông cỏ cây đất đá. Bàn tay này đây biết lấy đá thành vật bén chém đẵn gỗ, bàn chân này đây biết lội qua sông sâu nước lũ và vượt núi hiểm trở chất ngất. Từ rừng hoang con người biến thành đồng xanh. Từ thác ghềnh, con người biết dẫn nước vào ruộng cằn, vào ao nuôi cá, để hơn thế nữa, biết xếp đặt biến chế những cử động vụng về vô nghĩa thành chưởng pháp, kiếm thức. Con đường sáng tác mời gọi những cuộc phiêu lưu không ngừng, chờ đón sự hăm hở, nghĩa là luôn đòi hỏi sự biến hoá. Bản chất đó là cái động, cái tự nhiên. Triết lý gọi nó là dịch. Tôn giáo gọi nó là vô chấp. Mới nghe Phong Thanh Dương nói, ai cũng tưởng đó là những lời phóng nghiệm, phẫn nộ, phủ nhận hết, phủi tay rồi cười ha hả mà đi. Nhưng đọc kỹ hơn, chúng ta mới thấy Kim Dung đã gửi gắm vào đấy tất cả niềm tin, cho đó là lối giải quyết cho mối băn khoăn dày vò tất cả chúng ta. Phong Thanh Dương nói:


 


- Đáng tiếc là bọn họ không hiểu rõ chiêu số là phần tĩnh, người phát chiêu mới là phần động. Chiêu số tĩnh phá giải kỳ tuyệt đến đâu mà khi gặp chiêu số động liền chịu bó tay, thì chỉ còn đường để mặc cho người ta tru lục. Vậy ngươi phải nghĩ luôn luôn đến chữ động. Học và sử đều cần hướng về chiêu số động, nếu cứ ì ra như cục đất thì có thuộc đến hàng ngàn hàng vạn chiêu số tĩnh, mà gặp phải tay cao thủ chân chính là bị họ phá giải sạch sành sanh.


(trang599 Tiếu ngạo giang hồ)


Phong Thanh Dương dặn thêm: "Nhất thiết ngươi nên thuận theo tự nhiên. Chỗ nào không làm được thì đừng làm. Chỗ nào phải thôi thì thôi ngay. Không thể cho dính liền lại thành một xâu thì bỏ quách.


Tóm lại, đừng có chút nào miễn cưỡng".


(trang 601, 602 Tiếu ngạo giang hồ)


Đúng là lời thuyết giáo của môn đồ Lão Đam hay Trang Chu. Cái tinh thần trầm mặc mà rộn rã, siêu thoát mà tích cực tham dự, phóng khoáng và bao la của triết lý Hoa nam lồng trong nguyên tắc luyện kiếm. Thái độ sống hợp lý nhất theo Phong Thanh Dương là hoà đồng trọn vẹn vào cảnh ngộ, thích nghi tự nhiên, đến nỗi không còn có lấy một chút câu thúc cưỡng ép nào từ thiên nhiên, xã hội hay bản thân. Quan niệm ấy giống như lời khuyên của Lão:


Nếu gặp trời nóng hãy đổ mồ hôi


Gặp lạnh thì hãy run lên.


hay thấp thoáng trong hầu hết tư tưởng nho gia và đạo gia xưa nay. Sống trong một môi trường hoàn toàn khác, bị đưa đẩy vào những thế đứng bất trắc không lối thoát, Kim Dung vẫn còn giữ được nguyên vẹn truyền thống tư tưởng đông phương. Cái động trong Độc cô cửu kiếm là cái dịch của triết lý. Tất cả đều chuyển vận. Thuận lẽ chuyển dịch là thuận thiên mệnh. Định chế, khuôn mẫu, luật lệ, tập tục... chỉ là những cố gắng vô vọng của xã hội loài người, muốn ôm lấy vầng trăng sáng hay ngăn dòng nước chảy. Quán thông căn bản của Độc cô cửu kiếm là không để tâm bận rộn về những chiêu thức khô cằn mà giữ cho tâm hư, tâm không, thuận tay đưa kiếm, thuận thời đánh ra, khỏi cần lo âu đến công hay thủ. Chiêu thức tự nhiên mà đến như hoa nở mùa xuân, rồi cũng tự nhiên mà tiêu như hoa tàn mùa hạ. Rồi, Lệnh Hồ Xung chưa kịp nghĩ, không kịp nghĩ, tự nhiên thế kiếm biến chiêu như cây kết trái khi hoa vừa tàn, để rồi lại biến mất như lá thu rơi.


Cứ như vậy, cứ như vậy, hư chiêu tự nhiên biến thành tuyệt chiêu, và cả người sử kiếm linh hoạt hào khởi phát động chiêu thức theo ý mình tung tăng hớn hở.


Chúng ta nghĩ đến cái sảng khoái tuyệt diệu của Đông Pha trên sông Xích Bích:


Gió hiu hiu mặt nước như tờ


Trăng chênh chếch đầu non mới ló


Thuyền một lá xông ngang gành bạch lộ


Buông chèo hoa len lói chốn sơn cương


(Nguyễn Công Trứ)


Thật vậy, Lệnh hồ xung cũng đứng trước những đe doạ sinh mệnh trầm tọng như Tô thức. Thác gành nhiều sóng ngầm đá nhọn, sương lại bao phủ mặt sông. Tô Thức thuận lòng trời, hiểu lẽ dịch nên hớn hở như người quên đời một mình mà bay lên tiên, xông ngang qua gành không sợ thác lũ đá ngầm, và tuy sương trắng bao phủ đây đó vẫn dám một chiếc thuyền nhỏ, một túi trăng gió, len lỏi giữa những sườn núi lạ. Lệnh Hồ Xung cũng đã phải đứng trước cái chết kề cận trong tơ tóc, nhưng chàng mặc tình uyển chuyển thư thái với Độc cô cửu kiếm, không bận tâm các tuyệt học võ lâm. Những địch thủ giao đấu với Lệnh Hồ Xung đều sửng sờ, không biết trả đòn thế nào trước những chiêu thức kỳ dị này. Bị thói quen mài dũa tê liệt cả động năng nên khao khát tìm những định chế câu thúc, người ta không thể hiểu được, không thể tưởng tượng nổi trong võ học lại có những chiêu đơn giản vụng về, sai cả ước lệ, như cục đá chưa mài hay một khóm hoa dại bên bờ suối. Nhưng đối diện với thế kiếm trầm tĩnh mà huyền hoặc, vụng về thô thiển mà tinh diệu, họ không biết phải làm gì bây giờ. Trong Độc cô cửu kiếm, cái tĩnh chứa không biết bao nhiêu cái rắc rối, giống như cảnh vật vũ trụ qua mắt một nhà đạo học:


Hoa nở luống hay tin gió


Đầm thanh còn thấy dáng trăng


(Nguyễn Bỉnh Khiêm)


Thành ra muốn khỏi có ngộ nhận, có lẽ phải đổi yếu quyết của Độc cô cửu kiếm VÔ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU thành ra HƯ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU. Chữ HƯ theo quan niệm TÂM HƯ của Lão Trang. Nếu dùng chữ VÔ, phải hiểu nghĩa chữ VÔ theo câu kinh Phật: ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM. (1)


Chúng ta tin với một tinh thần tích cực sinh động như vậy, sau khi thụ giáo Phong Thanh Dương, Lệnh Hồ Xung phải thắng mọi trở ngại, san bằng mọi giả tạo, lột trần hết nguỵ kế núp bóng sau màn sương đạo đức nhân nghĩa hay công ích.


Lệnh Hồ Xung đã thành công thực.


Dùng Độc Cô cửu kiếm, chàng đã đâm mù mười mấy tên đệ tử Tả Lãnh Thiền hèn nhát bịt mặt để ra tay hạ sát thầy trò Hoa Sơn.


Chàng đã cương quyết ngăn cản không cho hai tên đồ đệ Võ Đang và Thiếu Lâm trên Ngũ Bá Cương vào uy hiếp Doanh Doanh.


Chàng đã khẳng khái dùng Độc cô cửu kiếm viện trợ Hướng Vân Thiên khi hữu sứ bị mấy trăm kiếm khách cả chính lẫn tà bao vây tiêu diệt. Chàng ngang nhiên lên trà đình uống rượu với Hướng Vân Thiên, nổi hào khí tuyên bố:


- Giữa đường thấy chuyện bất bằng rút dao tương trợ là lẽ thường.


Chàng đã dùng vô chiêu đánh bại Nhạc Bất Quần trên núi Thiếu Thất.


Trong những lúc gay cấn, khi những tên nguỵ quân tử mặc áo xanh tú tài nói điều nhân nghĩa mà âm mưu đê hèn, khi chính tà không phân biệt, Lệnh Hồ Xung lại dùng Độc cô cửu kiếm để giải quyết. Thực vậy, bọn Tung Sơn bịt mặt giết hại đồng môn trong Ngũ Nhạc Kiếm phái là bọn chính giả trá. Bọn kiếm khách vì muốn giết Hướng Vân Thiên mà liên lạc hợp tác với đồ đệ Đông Phương Bất Bại là bọn chính giả trá. Nhạc Bất Quần là tên nguỵ quân tử. Những kẻ làm nhơ danh chính phái, làm mờ ranh giới thiện ác, đáng bị trừng trị bằng Độc cô cửu kiếm.


Kim Dung đã cho chàng lãng tử của mình lấy tinh thần vô chấp phóng khoáng, cảm hoá bọn cố chấp bảo thủ.


Nhưng, có thực Lệnh Hồ Xung đã thắng?


Có thực Kim Dung đã tìm ra một phương pháp giải quyết mối băn khoăn nguyên thuỷ?


Những người đọc có ý thức, cùng đứng trong những thế tranh chấp đau lòng, bơ vơ liên tục như người Việt chúng ta với cuộc chiến hiện nay, có thể xem kinh nghiệm của Lệnh Hồ Xung là một giải pháp thoả đáng?


Chúng ta ngần ngừ không dám trả lời. Như vậy là phải!


Vì dù bản tính thế nào chăng nữa, Lệnh Hồ Xung vẫn là một người tầm thường như tất cả chúng ta. Làm sao ƯNG VÔ SỞ TRỤ, tiến đến một trạng thái đạt đạo TÂM HƯ? Làm sao lòng rỗng không, hình lại có thể khiến như tro nguội (2).


Lệnh Hồ Xung không thể quên quá khứ, thoáng trong chớp mắt không nhớ gì đến kiếm pháp Hoa Sơn hay công dưỡng dục của Nhạc Bất Quần, mối tình với Nhạc Linh San, mỗi lần tâm không hư, Lệnh Hồ Xung lại tỏ ra bối rối trước đối phương. Những lúc chàng chiến thắng vẻ vang, sử dụng tuyệt diệu được Độc cô cửu kiếm, là những lúc bất cần đời, đứng gần hố thẳm gai ốc của tuyệt vọng, nghĩa là ở cái thế chẳng đặng đừng.


Lúc phái Hoa Sơn sắp bị đại nạn trước bọn Phong Bất Bình ở miếu Dược vương, Lệnh Hồ Xung thấy rõ cái chết kế cận bên mình. Chỉ cần một loé kiếm nữa là hết còn lo âu về bệnh hoạn, đau xót vì bị ngờ vực.


"Lệnh Hồ Xung buông tiếng thở dài đưa luồng nhãn quan về phía Nhạc Linh San để nhìn lần cuối cùng. Trước khi lâm tử, hắn chỉ mong được nàng lộ vẻ tha thiết tới một chút đặng an ủi nỗi lòng. Quả nhiên, cặp mắt sáng ngời của nàng tỏ ra cực kỳ quyến luyến thiết tha. Lệnh Hồ Xung đang vui mừng thì dưới ánh lửa, hắn thấy bàn tay nhỏ bé mềm mại của Nhạc Linh San buông thõng xuống, nắm lấy bàn tay chàng trai khác, chàng trai đó chính là Lâm Bình Chi. Lòng hắn se lại".


(trang 790 quyển 5)


Sững sờ tuyệt vọng cùng cực, quên cả lòng tham sinh, Lệnh Hồ Xung mới sử được các vô chiêu của Độc cô cửu kiếm, đâm mù mắt mười mấy tên đồ đệ Tung Sơn.


Lúc được Phương Chứng đại sư chùa Thiếu Lâm cho biết mình đã bị sư phụ trục xuất khỏi Hoa Sơn, lại biết bệnh tình hết cơ cứu vãn (đến danh y Bình Nhất Chỉ cũng bó tay) Lệnh Hồ Xung liều thân, không còn tha thiết gì nữa. Không thèm nhận làm đồ đệ Phương Chứng để học Dịch cân kinh chữa bệnh:


"Lệnh Hồ Xung ra khỏi chùa Thiếu Lâm rồi ngửa mặt lên trời cười rộ một hồi. Tiếng cười chất chứa đầy vẻ thất vọng thê lương, chàng lẩm bẩm: Người chính phái coi ta như thù địch. Kẻ phái tà cũng muốn giết được ta mới vừa lòng. Chắc Lệnh Hồ Xung này không sống qua được bữa nay. Thử xem người hạ sát mình là ai?"


(trang 198 quyển 6)


Ở vào thế cùng, Lệnh Hồ Xung tìm một cách tự vẫn và có cách nào ngang tàng hào hùng cho bằng liều thân bênh vực Hướng Vân Thiên. Không ngờ trong lúc tuyệt vọng như vậy, Lệnh Hồ Xung lại sử được vô chiêu.


Thế thì bản chất cao ngạo liều lĩnh, thích hợp với thái độ vô chấp, giải pháp Độc cô cửu kiếm chỉ có thể thực hiện khi con người bị đẩy vào tận cùng của nghịch cảnh. Bị tình phụ, bị sư nương sư phụ nghi ngờ, tin rằng chính mình đã lỡ tay giết Lục Đại Hữu, Lệnh Hồ Xung tự nhận là một thứ "cô hồn vô chủ, miếu lớn không nhận, chùa nhỏ không thu, hoang sơn dã quỷ", hết còn tha thiết gắn bó với bất cứ điều gì của đời. Nhờ vậy mà mới sử dụng được Độc cô cửu kiếm.


Với những điều kiện bi đát như vậy, dễ gì con người tầm thường chúng ta có thể lấy vô chấp để thắng cố chấp.


Người Việt Nam chúng ta đã bị phụ bạc nhiều, không có lấy một niềm tin để mất, và đã giết lầm không biết bao nhiêu anh em bạn bè. Như vậy đã đủ để ở vào cái thế liều lĩnh của Lệnh Hồ Xung mà học Độc cô cửu kiếm chưa?


 


Chúng ta ngần ngừ là phải, vì lấy ngay kinh nghiệm Lệnh Hồ Xung, sự ngộ đạo không phải do trạng thái siêu thoát thăng hoa như ước vọng Lão Trang mà do ở chỗ chịu đựng tận cùng bi đát.


 


Giải pháp vô chiêu thắng hữu chiêu cũng lãng đãng huyền hồ như hình bóng Phong Thanh Dương mà thôi.


 


Điều đó có lẽ cảnh tỉnh được những người Việt không thể chịu đựng mãi thảm kịch phân hoá và tha hoá, đùng đùng nổi giận, đòi san bằng hết để làm lại, đòi đốt cháy hết cho lũ chuột chuyên gặm nhấm đục khoét ra mặt, sau đó dựng xây căn nhà mới.


Cho dù có đến tận cùng vực thẳm, con người vẫn khó quên hết thành kiến khó phá hết định chế để chấp nhận vô chiêu.


___


(1) Kinh Kim Cương


(2) Tề vật luận. Nam hoa kinh của Trang Chu, Nhượng Tống dịch.


GIẢI PHÁP THỨ NHÌ: TỊCH TÀ KIẾM PHỔ


Dù sao, đó vẫn cũng là một vương đạo.


Giải quyết bằng vương đạo, sao mà thiên nan vạn nan, khi những giải quyết bá đạo hấp dẫn quyến rũ nhởn nhơ trước mắt, trong mọi tầm tay. Chỉ cần chộp lấy là có.


Đã đành như lời Lâm Chấn Nam giải thích cho con hiểu danh hiệu cơ sở vận tải của gia đình mình:


"Phước Oai tiêu cục, chữ Phước ở trên, chữ Oai ở dưới là nói Phước nghĩa quan trọng hơn Oai phong. Nếu đem đổi ngược lại OAI PHƯỚC thì nghĩa khác hẳn đi, nó biến đổi ra LÀM OAI LÀM PHƯỚC".


(trang 23 quyển 1)


 


Nhưng OAI TRẤN GIANG HỒ vẫn luôn là một viễn tượng tuyệt vời. Được làm đệ nhất cao thủ để hàng hàng lớp lớp phủ phục tung hô, là một giấc mơ làm say sưa ngây ngất những kẻ có chút tài ba về võ thuật. Không nói ra, trừ những bậc cao nhân đạt đạo như Xung Hư và Phương Chứng, ai nấy đều ao ước quyền uy tuyệt đối và mênh mông như giáo chủ Triêu Dương thần giáo, ngồi đường bệ trên ngai cao, hớn hở nghe những lời tâng bốc xu nịnh:


 


Giáo chủ là bậc anh minh, kế hoạch không còn thiếu sót, khác nào cây đuốc rạng soi bốn bể, tạo phúc muôn dân. Cờ ra đắc thắng, mã đáo thành công. Thuộc hạ nghiêng mình khép nép tuân theo lệnh dụ, cốt sao giữ vẹn lòng trung, sá quản thân này muôn thác.


(trang 1890 quyển 10)


Thuộc hạ rất khao khát được ra mắt giáo chủ. Cứ mỗi lần được nhìn kim diện giáo chủ thì lại cảm thấy tinh thần phấn khởi, làm việc rất hăng say, toàn thân rạo rực tưởng chừng công lực trong người tăng lên bằng mười năm tu luyện.


(trang 1901 quyển 10)


Tiểu tử thuộc hết. Hàng ngày không đọc đến bảo huấn của giáo chủ là ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc. Hễ đọc bảo huấn của giáo chủ là luyện võ tiến bộ rất mau, đấm đá thêm phần khí lực.


(trang 1907 quyển 10)


Bọn thuộc hạ là đường chúa, phó đường chúa ở thuỷ hoả đường cùng năm vị chính phó hương chủ xin tham kiến giáo chủ văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, trung hưng thánh giáo, bái chúc giáo chủ muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ.


(trang 1946 quyển 11)


Muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ! Bấy giờ sự phân hoá chia rẽ không còn, chính tà hết thành vấn đề. Trên ngôi cao rực rỡ hào quang, đệ nhất cao thủ trở thành thần thánh, nắm quyền sinh sát hằng vạn hằng triệu sinh linh, trên đầu, trời ở gần, tiếng phán truyền vang động, thức trăng sao mây nước dậy. Muốn thế, giải pháp gần gũi là chiếm cho được Tịch tà kiếm phổ hay Quỳ hoa bảo điển. Từ tên vô đạo như Mộc Cao Phong cho đến con người cục súc háo thắng như Dư Thương Hải, từ minh chủ Ngũ nhạc kiếm phái là Tả Lãnh Thiền cho đến chưởng môn Hoa Sơn Nhạc Bất Quần. Biết bao nhiêu mưu mô lừa lọc nham hiểm được sử dụng, dù có phạm nặng nề những giới luật chính phái như lừa thầy phản bạn, khi khi đồng đạo, ỷ mạnh hiếp yếu, ăn cắp tài vật... Để TỊCH TÀ (chống lại điều tà) người ta không từ chối sử dụng mọi mánh khoé yêu tà.


 


Cuối cùng, một số người đã thành công, chiếm được bản chính (Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi) hoặc bản sao (Tả Lãnh Thiền, Lao Đức Nặc) của Tịch Tà kiếm pháp. Đem áp dụng vào đời, họ phải giải cho xong vấn đề tiên quyết: muốn luyện Tịch tà, trước hết phải tự thiến.


 


Hoá ra phương pháp Tịch tà là toàn trái ngược với Độc cô cửu kiếm.


 


Một bên chủ trương để thuận theo tự nhiên, phủ nhận mọi cái tĩnh gò bó áp chế, giữ nguyên vẹn nguồn tự do, hướng sáng tạo của con người. Một bên chủ trương cắt đứt tình cảm, hủy diệt nhân tính, biến con người thành một phương tiện thuận lợi tối đa cho kế hoạch chương trình sẵn, sử dụng con người như một máy móc hoàn toàn thụ động vô tri. Luyện Tịch tà kiếm pháp, kiếm khách phải dứt bỏ tình người. Không thể nào vừa muốn thành công vẻ vang về võ học lại vừa muốn giữ nguyên vẹn nụ cười trẻ thơ, tiếng ru à ơi của người mẹ, tình liên đới nhân loại, nghĩa là trọn vẹn tình thương yêu. Người mà không dứt khoát tự thiến trước khi luyện kiếm, hoặc võ công không tiến bộ hoặc bị tẩu hoả nhập ma mà chết.


 


Điều kiện tiên quyết gắt gao như vậy vẫn không làm cho người đời thối chí . Lúc nào cũng vậy, sự quyến rũ của quyền hánh tối thượng tìm đủ mọi cớ để biện minh cho sự xem thường tình người, nên số người tự nguyện luyện Tịch tà kiếm pháp không ít. Họ không thèm sống như một con người đích thực, tuy yếu đuối phù du nhưng sáng ngời tình thương yêu.


 


Lâm Bình Chi hoàn toàn thờ ơ với mối tình nồng nàn của Nhạc Linh San, dứt khoát dứt bỏ tình vợ chồng. Suốt đời căm hận Dư Thương Hải, chàng chỉ nghĩ đến hai chữ báo thù . Tất cả cuộc đời chàng trở thành vô nghĩa, tình quyến luyến vợ con trở nên thừa thãi chỉ thích hợp với hạng lãng tử, tầm thường, nếu Lâm Bình Chi chưa tiêu diệt được bọn Thành Thanh. Để thực hiện mục tiêu, Lâm Bình Chi không ngần ngại bấu vào cửa sổ chênh vênh trên vực sâu nghe lén chuyện phòng the của sư phụ, liều lĩnh đoạt cho được gia bảo là Tịch tà kiếm pháp, để cuối cùng đâm chết vợ tỏ lòng thành với Tả Lãnh Thiền.


 


Nhạc Bất Quần trước hết hi sinh tình thầy trò, trân tráo vu oan cho Lệnh Hồ Xung để thực hiện mưu đồ, sau đó tên ngụy quân tử này xem thường luôn cả tình vợ chồng, thấy Nhạc phu nhân bị trói nằm sóng sượt dưới đất không nhúc nhích, nhưng lão vẫn không lộ vẻ xúc động, chỉ lo sát hại cho được tên đại đệ tử, bảo vệ ngôi minh chủ.


 


Đông Phương Bất Bại tự giam mình trong động tối, mặc áo thêu, chăm chút đường kim mũi chỉ cho Dương Liên Đình, trở thành một loại người không ra người, quỷ không ra quỷ. Tuy đã luyện Quỳ hoa bảo điển đến trình độ tuyệt luân, cắt bỏ hết tình thương đến độ thản nhiên, kể lể ân nghĩa trầm trọng với Đổng Bách Hùng rồi thản nhiên giết chết, điều khiển tình cảm ngăn nắp thứ tự theo kế hoạch, thuận lý trí, Đông Phương Bất Bại vẫn thú nhận lâu nay mình đuổi bắt toàn ảo ảnh :


 


" Khi tại hạ mới làm giáo chủ, ý chí nổi lên bồng bột, những muốn ra tay hành động một phen, thành ra có những câu VĂN THÀNH VÕ ĐỨC TRUNG HƯNG THÁNH GIÁO.


 


Thật là những câu huênh hoang vô sự.


 


Về sau vì luyện được Quì hoa bảo điển, mới dần dần tỉnh ngộ, đến chỗ mầu nhiệm của đời người, nào luyện đan nào phục thuốc. Mấy năm sau, lại hiểu rõ về cuộc sinh hóa của con người cùng những mấu chốt nẩy nở của vạn vật ".


(trang 1930 quyển 11)


Không biết chân lý tìm thấy của Đông Phương Bất Bại là gì, nếu có một nguyên lý mầu nhiệm của đời người, uyên nguyên cuộc sinh hóa trong vũ trụ, ấy chính là lẽ thuận tự nhiên của Độc Cô cầu bại. Trong bóng tối lầm lạc, Đông Phương Bất Bại thú nhận sự huênh hoang vô sự ngày trước, và đã tìm ra chân lý.


 


Tóm lại, trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung đã đưa ra hai giải pháp để giải quyết sự tranh chấp tương tàn thường xuyên trong xã hội loài người.


 


Một giải pháp tôn trọng tuyệt đối quyền sống trọn vẹn, quyền tự do thiên liêng, phủ nhận hết thảy mọi định chế nhân tạo, là phương thức vô chiêu của Độc cô cửu kiếm. Đây là một giải pháp lý tưởng siêu việt, nên dễ trở thành không tưởng viễn vông. Nó chỉ có nghĩa khi con người bị đặt vào trong những nghịch cảnh cấp thiết, bên bờ vực sâu tội lỗi hay kề cận bên cái chết vô nghĩa. Vào những lúc nguy nan của đời người, sự giác ngộ thường đến bất chợt, để thấy tất cả những đam mê tham lam theo đuổi xưa nay chỉ là phù du. Đó là giải pháp vượt quá tầm người. Khốn nổi, thời đại chúng ta chỉ cần một giải pháp cho con người bình thường sống đời bình thường.


 


Một giải pháp cắt bỏ tình người, biến nó thành công cụ trọn vẹn cho một kế hoạch, không cần biết âm thanh Nhạc Bất Quần đã đổi, Nhạc Linh San bị giết, Lệnh Hồ Xung mang oan nghiệt, Lâm Bình Chi mặc áo thêu và thơm phức nước hoa.


 


Tất cả đều tốt, miễn nó phục vụ hữu ích cho cùng đích. Sự lạnh nhạt với tình người đó không có gì vương đạo. Nếu vì muốn tịch tà (chống điều tà) mà phải trở thành gian manh khốn nạn đánh mất nghĩa sống, thì tịch tà mà làm gì?


 


Chính Lệnh Hồ Xung khi nhìn thấy cách sử kiếm của Lâm Bình Chi, phải tự hỏi :


 


- Chẳng lẽ đây là Tịch tà kiếm pháp chăng?


 


... Tịch tà, tịch tà! Sao lại kêu bằng tịch tà? Chính công phu này có vẻ rất bàng môn tả đạo thì còn tịch tà thế nào được.


(trang 2202 quyển 13)


Những gợi ý của Kim Dung trong Tiếu ngạo giang hồ không giúp cho người đọc tìm ra một giải pháp thỏa đáng, mà đặt họ trước một ngã cụt. Kim Dung thấy rõ sự thất bại của mình. Chắc ông băn khoăn lắm, không biết giải quyết làm sao, làm sao dứt một lần cho xong đi nỗi ám ảnh khốn khổ.


 


Sự lúng túng ấy hiện rõ trong phần kết luận của câu chuyện. Ông kết luận vội quá. Sự tranh dành ngôi cao, rình rập chém giết nhau trong hàng ngũ chính phái kết gọn bằng cái chết chung trong động tối trên ngọn Ngọc phong : từ Mạc Đại tiên sinh của Hành sơn, Tả Lãnh Thiền của Tung sơn, cho đến Nhạc Bất Quần của Hoa sơn, Ngọc Khánh Tử và Ngọc Chung Tử của Thái sơn. Cuộc tranh chấp miên viễn giữa chính phái và ma giáo giải quyết bằng những yếu tố bất ngờ thuộc loại nghìn năm một thuở : Nhậm Ngũ Hành chết trong cơn đắc chí, tân giáo chủ là Doanh Doanh sẵn sàng vì tình yêu cải tà quy chánh. Kết quả : cuộc diện võ lâm sẽ như thế này: Hướng Vân Thiên vẫn quản trị giáo chúng trên Hắc mộc nhai để vì nhu cầu điều khiển vẫn duy trì những câu VĂN THÀNH VÕ ĐỨC, TRUNG HƯNG THÁNH GIÁO MUÔN NĂM TRƯỜNG TRỊ, THỐNG NHẤT GIANG HỒ, Nghi Thanh và đám ni cô vẫn biệt lập ở Hằng sơn, Thiếu Lâm trường tồn trên núi Thiếu Thất, và Võ Đang vẫn tiếp tục bảo tồn và phát huy võ học cao thâm của Trương Chân Nhân.


Kiếp nạn tạm thời chấm dứt, nhưng không ai dám quả quyết là sẽ không còn các kiếp nạn khác, nếu có một nhân tài xuất chúng đột nhiên trở lại lòng trần, muốn thống nhất giang hồ muôn năm trường trị.


Vấn nạn ban đầu vẫn còn đấy, băn khoăn ban đầu vẫn còn đấy. Lại sa vào trường hợp Vô Kỵ, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung bỏ cuộc ở lưng chừng con giốc, làm tên đào ngũ.


Phần Hai - Chương 3 - Chặng cuối của một niềm tin


DẤU TÍCH TÂM TRẠNG CỦA BA THẾ HỆ?


    GIẤC MỘNG SĂN HƯƠU


GIẢ VÀ THỰC ?


Sự ái mộ của độc giả Việt nam hiện nay đối với Kim Dung đã giảm sút. Lộc đỉnh Ký không quyến rũ được người đọc như trước nữa. Nhiều người còn thất vọng đến độ nghi ngờ, bảo tác giả Lộc đỉnh Ký không phải Kim Dung.


Trong Tạp chí CHÍNH VĂN, số 1, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, dưới bút hiệu Đằng Vân Hầu viết :


Lộc đỉnh Ký không phải của Kim Dung, nếu của nhà văn nầy không lẽ gì xuống giá quá mức... Vì sao Đằng Vân Hầu dám quả quyết vậy ?


- Vì tác phẩm của Kim Dung luôn luôn có hai đặc điểm. Thứ nhất là trên đường đời của nhân vật chính, hắn thường gặp những nhân vật phụ có khi chỉ xuất hiện trong một đoạn ngắn mà thôi, là những nhân vật rất đặc biệt .


Tất cả sở học mênh mông dù sâu sắc của Kim Dung đã được sử dụng để viết về rượu và cách thức cùng vật dụng để uống rượu, về nghệ thuật đánh cờ, viết chữ, vẽ tranh, đánh đàn, về rắn cũng các thứ chất độc, về kinh Phật và các phương pháp tu hành. Đó là một đặc điểm.


 


- Đặc điểm thứ hai là mỗi tác phẩm đều có những nhân vật hoặc hoàn cảnh mà nghệ thuật diễn tả được Kim Dung đưa lên đến mức độ kù diệu. Ví dụ đoạn Kiều Phong đánh lộn với bạn cũ, đoạn Trương Thúy Sơn tuẫn tiết, đoạn Vô Kỵ cù chân Triệu Minh trong cái trống lớn, đoạn Lệnh Hồ Xung quì lạy thánh cô trước mành và đoạn hai người dưỡng thương dưới ánh sao, thấy ngôi sao nào vắng bóng thì biết là em xuống đó. Về nhân vật thì Nhạc Bất Quần, Tạ Tốn... là những nhân vật mà sự sáng tạo (ra nhân vật ấy) bắt buộc những nghệ sĩ khác phải cúi đầu. Đó là đặc điểm thứ hai.


 


Có người nói tên Vi Tiểu Bảo cũng là một nhân vật lớn mà tác giả đặt vào cái thế càng hành động bỉ ổi càng hạ giá trị triều đình Mãn Thanh chắc hẳn bị Kim Dung (người Hán) thù ghét. Điều đó có phần có lý nhưng không đúng hẳn, vì có nhiều lúc tên tiểu quỷ nầy lại tỏ ra đứng đắn, hào hùng (nhất là trung thành và quí trọng vua Khang Hy). Vả lại sự co kéo Vi Tiểu Bảo lên quá cao quả có làm lộ rõ những đồi bại của xã hội như một đôi khi Kim Dung có làm, nhưng Kim Dung không thể lạm dụng kỷ thuật để hạ giá các nhân vật chân tu của phái Thiếu lâm, hoặc làm cho một đoàn thể yêu nước như Thiên Địa hội lọt vào vòng lố bịch.


Nói tóm lại, cái hay của Kim Dung, ngoài sự bác học, là lúc nào cũng rất người, dù cho sự bịa đặt có vô lý đến đâu. (Ví dụ quơ một nhát kiếm độc nhất mà chọc mù mườỉ lăm cặp mắt).


Lộc Đỉnh Ký đoạn đầu có vẻ do Kim Dung viết thật, cho đến đoạn Vi Tiểu Bảo thú tội với Khang Hy, còn sau đó, chỉ bầy đặt những tình tiết kỳ lạ theo tác phong thông thường của truyện võ hiệp rẻ tiền, như đoạn Tiểu Bảo hài tội Thái hậu, Tiểu Bảo cắt tay tên Lạt ma trêu gái, và giết mấy tên còn lại.


(Chính Văn số 1 trang 9, 10)


Có lẽ đoạn trên đây chỉ là những ý nghĩ bất chợt đến, phù hợp với một mục tạp văn như NGHĨ TRONG THÁNG của tạp chí, nên ông Đằng Văn Hầu không có chủ ý trình bầy lập luận một cách chặt chẽ mạch lạc. Đại ý ông Đằng Vân Hầu nêu ra các lý do sau đây để hồ nghi xuất xứ của Lộc Đỉnh Ký :


 


- Qua các truyện khác, Kim Dung có một lối viết bác học, sâu sắc khi mô tả các nhân vật.


 


- Nghệ thuật của Kim Dung qua nhiều đoạn đã đến mức độ tuyệt diệu, khiến các nghệ sĩ khác phải cúi đầu thán phục.


 


- Dù tiểu thuyết Kim Dung là giả tưởng, đôi khi phi lý, nhưng câu chuyện luôn luôn đầy nét người.


 


Ông Đằng Vân Hầu bảo rằng Lộc Đỉnh Ký không có được hai đặc điểm trên. Còn cái nét người có tìm thấy trong Lộc Đỉnh Ký hay không, chúng ta không thấy ông đề cập đến.


 


Nhưng nếu gác qua một một hữu lý của lập luận, và chỉ xét hiện tượng ái mộ Kim Dung của độc giả Việt nam như một chứng tích xã hội, thì sự ơ thờ của đám đông, và sự hồ nghi của một số trí thức đối với Lộc Đỉnh Ký thật có ý nghĩa.


DẤU TÍCH TÂM TRẠNG CỦA BA THẾ HỆ ?


Thật vậy, cứ đem câu hỏi này:


Trong tiểu thuyết Kim Dung, bạn thích cuốn nào nhất? ra hỏi nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi, chúng ta sẽ tìm thấy những dấu tích tâm trạng của từng thế hệ.


Theo ý kiến của Hoàng hải Thủy, trên một bài báo, thì tác phẩm tuyệt diệu nhất của Kim Dung vẫn là CÔ GÁI ĐỒ LONG (tức Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ). Sau tác phẩm nầy từ nhân vật cho đến câu chuyện, Kim Dung không thể sáng tạo được cái gì mới mẻ hơn. Hoàng Dung, Doanh Doanh chỉ là cái bóng mờ của Triệu Minh, còn những vấn nạn quan trọng, Kim Dung đã nói hết trong Cô gái đồ long rồi. Ý kiến của Hoàng hải Thủy được nhiều người thế hệ bốn mươi tàn đồng (1). Điều ấy dễ hiễu.


 


Trong cuộc thăng trầm của lịch sử từ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, đây là thế hệ độc giả từng cầm cờ đỏ tiến về bắc bộ phủ, gia nhập tự vệ thành, vẫy tay chào người yêu nam tiến rồi dứt khoát bỏ lại đằng sau thành phố quen thân và cuộc sống thư sinh trốn vào bưng biền. Khí thế cách mạng bừng bừng. Có cuộc đời nào đẹp cho bằng cuộc đời dấn thân, sẵn sàng chịu đựng mọị gian khổ và hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Nhưng đất đã dần dần trật lở dưới chân họ, và họ đã lảo đảo ngả nghiêng. Họ băn khoăn, so sánh giữa cái giá độc lập dân tộc và cái giá nhân phẩm của chính mình. Thật là một cuộc lựa chọn so bì đau lòng, nhất là lúc bấy giờ ai cũng thấy rõ sinh hoạt sa đọa và tính chất phi chính nghĩa của những người đứng trong hàng ngũ Pháp. Không nói đến những người tiếp tục đứng trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp, những người về thành trước hay sau hiệp định Genève đều mang một thứ mặc cảm tội lỗi. Họ thấy cần phải làm một cái gì để biện minh cho sự lựa chọn đã rồi. Họ muốn nói với mọi người, nói thật to rằng họ không phải là kẻ hèn nhát, kẻ thua cuộc. Cuộc di cư vĩ đại đưa hàng triệu người vào nam, khiến những kẻ khao khát đi tìm một lời biện minh càng đông. Cố gắng giải thích vì sao phải bỏ kháng chiến, bỏ quê hương, thực sự đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Cùng với tâm lý của thế hệ chủ động trong các sinh hoạt miền nam sau hiệp định Genève, là sự thành hình các liên minh quân sự nhằm vây chận ảnh hưởng cộng sản ở Đông nam á, tạo thành hai yếu tố khích động phong trào tố cộng và xây móng cho nền đệ nhất cộng hòa. Thế hệ bốn mươi tưởng đã tìm thấy nghĩa sống. Nhưng các biến động chính trị từ 1960 trở về sau đánh tan giấc mơ đẹp trong hồn thế hệ này, khiến một lần nữa, họ băn khoăn hoang mang, không hiểu mình đã thực sự tìm thấy một lý tưởng phụng sự hay chưa Những bất mãn trong giới trí thức và văn nghệ sĩ càng nhiều. Những đàn áp thô bạo các quyền tự do của mấy năm cuối chế độ Ngô đình Diệm không khác với sự độc tài họ tìm thấy trong hàng ngũ lãnh đạo kháng chiến về bản chất, mà chỉ khác về cấp độ. Nhiều người ở hàng ngũ lãnh đạo cao cấp còn cố gắng áp dụng những xảo thuật cai trị trước kia cộng sản đã áp dụng: sự chi phối từ trên xuống dưới của tập đoàn chính trị, tận dụng bộ máy cảnh sát mật vụ, đoàn ngũ hóa quần chúng.


 


Thực sự thế hệ bốn mươi đã hết sức băn khoăn không biết phải làm gì đây, khi bước vào thập niên 1960, chế độ càng suy yếu, thì các phản ứng của chính quyền càng thô bạo vụng về, và sự can thiệp của ngoại bang càng lộ liễu. Chính nghĩa ở đâu ? Mình đang ở đâu ? Ở đây là chính hay là tà ? Mình đã chống tà nên mới qui chính, nhưng có thật những thực tại chính trị trước mắt có đầy đủ phong độ, bản sắc của chính không ?


 


Trong tâm trạng hoang mang đó, những mẫu chuyện đăng từng kỳ của Cô gái Đồ long trên nhật báo (Sự băn khoăn của Vô Kỵ, những nhân vật đứng trong cái hỗn mang mờ ảo của chính tà), thực sự đáp đúng khát vọng của thế hệ. Cũng như Vô Kỵ, thế hệ bốn mươi đã từng băn khoăn. Cũng như Vô Kỵ, thế hệ bốn mươi cảm thấy chua xót khi đem chính cuộc đời mình quăng vào giữa cuộc tranh chấp khốc liệt để không biết đi về phương nào. Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, trong hoàn cảnh đó, quả đã gây xúc động tối đa cho thế hệ Hoàng hải Thủy. Và cho một thế hệ, chỉ cần một tác phẩm làm xao động mãnh liệt tâm hồn con người.


 


Hỏi ý kiến của thế hệ ba mươi (2), câu trả lời sẽ khác ý hẳn. Đây là thế hệ độc giả của thời kỳ thơ ấu trong kháng chiến, và vào đời khi hòa hình đã trở về. Kháng chiến, bom đạn, tản cư, chỉ là những kỷ niệm gay cấn ấu thời.


 


Đối với thế hệ nầy, kháng chiến còn đầy đủ vẻ đẹp huyền thoại của một Phong trào quần chúng nô lệ, hào khí bừng bừng, vạc nhọn tầm vông, đứng lên chống áp bức giành độc lập. Hồi tưởng người xưa, cảnh xuống hầm trốn bom có khác nào cảnh Thạch Sanh vào hang sâu chém đầu chằng. Và tản cư là một cuộc cắm trại hứng thú có đầy đủ nào di hành trong đêm, nào cỏ cây rừng núi hay đồng nội bao la.


 


Thế hệ ba mươi lớn lên, hoàn toàn toàn cảm thấy sòng phẳng, không hệ lụy với bất cứ lựa chọn băn khoăn nào. Cuộc ra đi năm 1954, đối với thế hệ trước, quan trọng không kém cảnh Kinh Kha qua sông Dịch, với thế hệ ba mươi, chỉ là một kỷ niệm phiêu lưu dài. Tình thế ổn định những năm đầu của chính thể cộng hòa giữ được cho họ nguyên vẹn niềm tin và sự lạc quan. Những biến động mấy năm trước cuộc đảo chính 1963 hoàn toàn trái ngược với lý tưởng nhân bản họ ấp ủ.


 


Không giống như thế hệ bốn mươi đang ngẩn ngơ băn khoăn, thế hệ ba mươi bạo dạn hành động, tham gia lật đổ bạo quyền. Ngô triều đổ, cả thế hệ ba mươi cảm thấy hãnh diện, và giấc mộng người hùng đội đá vá trời tìm thấy một biểu tượng : Tiêu Phong. Dũng mãnh như con hùng sư, ngang tàng mà nhân hậu, chơn chất mà tế nhị, Tiêu Phong của Kim Dung đã lôi cuốn, quyến rũ thế hệ ba mươi. Cho nên không ai ngạc nhiên thế hệ này cho Lục Mạch Thần Kiếm là tác phẩm hay nhất của Kim Dung.


 


Thế hệ hai mươi (3) không đồng ý như vậy. Chiến tranh là tặng vật chua chát dành sẵn cho họ, trước khi họ đủ sức cầm khẩu Garant M I, trước khi họ qua khỏi những xao động dậy thì, trước khi những kiến thức trường ốc hoa bướm loè loẹt kịp phai nhòa trong tâm trí. Thực tại chiến tranh đến đột ngột quá, họ chưa kịp băn khoăn, họ chưa kịp phác họa một mẫu người hùng đã lững lờ đứng trước một sự đã rồi. Sự đột ngột tạo cho họ hai thứ phản ứng trái ngược :


 


- Hoặc họ hăng hái tố cáo sự thô bạo tàn khốc của chiến tranh bất kể từ đâu tới, bất chấp mọi nhân danh, hay chiêu bài. Từ thái độ ấy, thi ca, tiểu thuyết, âm nhạc phản chiến ra đời, ghi dấu 1 chuyển hướng quan trọng của sinh hoạt nghệ thuật sau năm 1965, tức là năm quân đội Mỹ bắt đầu ồ ạt đổ vào miền nam Việt nam, và là năm thế hệ hai mươi bắt đầu vào quân trường.


 


- Hoặc ngược lại, họ tìm quên trong thái độ lãng tử vô tâm, phất phơ như chiếc lá, lãng đãng như áng mây. Có thể đó là nguyên nhân sự ái mộ trở lại các bản nhạc lãng mạn tiền chiến, và sự say mê tôn thờ chàng đại lãng tử Lệnh hồ Xung của Kim Dung.


 


Có thể đứng trên bình diện nghệ thuật và bác học để suy tôn Kim Dung như ý kiến Đằng Vân Hầu, nhưng với đám đông độc giả Việt Nam, quả tình sự ái mộ là dấu tích của một trạng thái tâm lý. Trạng thái ấy thay đổi theo thời cuộc, theo tuổi tác của độc giả.


____


(1) Chúng tôi muốn nói thế hệ sinh từ 1925 đến khoảng 1936 nghĩa là thế hệ thanh niên lúc cách mạng mùa thu bùng nổ.


(2). Tức là thế hệ sinh khoảng từ 1937 đến 1945, chỉ vào đời sau Genève, khi tình thế đã ổn định, chiến tranh đã chấm dứt.


(3) Tức thế hệ sinh khoảng từ 1946 đến 1952, trực tiếp tham dự chiến tranh Đông dương thứ nhì, bùng nổ mãnh liệt từ 1965 đến nay.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung. Tiểu luận của Nguyễn Mộng Giác. Nhà xuất bản Văn Mới, Sài Gòn 1972.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Joy Pilates – Triệu Thiên Hương, cô gái Sài Gòn viết về Hà Nội - Triệu Thiên Hương 20.07.2018
Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ... - Nam Thái Trần 15.07.2018
Chơi Cao bằng - Triệu Thiên Hương 15.07.2018
Sơ ngộ Thạch Lam - Đinh Hùng 26.06.2018
Ăn canh dấm cá tinh tế, cầu kỳ như thi sĩ Tản Đà - Đinh Hùng 26.06.2018
Hành trình thơ - Đánh thức tiềm lực - Nguyễn Duy 25.06.2018
Hãy nghe sông kể - Hoàng Lộc (Hà Nam) 18.06.2018
Chilê - một khuôn hình trực cảm - Tư liệu 26.05.2018
Nở trong bóng tối - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2018
Viết ngắn: Cuối tuần máu chảy về chân... - Triệu Thiên Hương 15.05.2018
xem thêm »