tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22967585
Lý luận phê bình văn học
27.09.2015
Nguyễn Hùng Vỹ
Minh quyên và ...(với bài báo của ông Nguyễn Khắc Bảo)

Lời dẫn: Những gì muốn trao đổi trực tiếp và chi tiết với ông Nguyễn Khắc Bảo về bài báo ông trao đổi lại với tôi trên Văn hóa Nghệ An số 84 (10/9/2006) tôi sẽ dành ở phần cuối bài viết này của tôi. Tôi quan niệm rằng viết báo là để phục vụ bạn đọc bởi vậy tôi sẽ trình bày từng vấn đề một đặng giới thiệu trước công chúng một số vấn đề về trước tác của Nguyễn Hành, một trong An Nam ngũ tuyệt cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Còn ông Nguyễn Khắc Bảo là người thế nào về trình độ, tư cách, nhân cách thì bạn đọc sẽ hiểu qua sự so sánh các bài viết trong cuộc trao đổi này. Trong quá trình viết, tiện đâu tôi sẽ nhắc lại ý kiến ở bài báo trước để độc giả tiện theo dõi. Chỉ biết rằng mọi trích dẫn của tôi trong bài báo này hoàn toàn chính xác và có phương pháp khoa học. Những gì tôi nói đến nhưng chưa trích dẫn trực tiếp những tác giả trước là hoàn toàn có sở cứ. Mời bạn đọc phán quyết. Bài viết của tôi có thể sẽ in liên tiếp các kỳ khác nhau.


1.     Người thơ phong vận như thơ vậy.


Chúng ta hãy bắt đầu từ câu chuyện văn bản. Đối với thơ ca trung đại, mọi chuyện đều bắt đầu từ văn bản Hán-Nôm, không thể khác đi được. Thấy việc ông Nguyễn Khắc Bảo trao đổi rất oai với nhà thơ Vương Trọng mà xem ra cái bắt đầu đó ông chưa từng mó được tới nên tôi cần phải tìm đến văn bản xem sao. Chúng ta biết rằng, với mọi ý kiến trao đổi về Nguyễn Hành của mình từ trước đến nay ông Nguyễn Khắc Bảo chứng tỏ chưa quan tâm đến một văn bản chữ Hán nào khác, điều này ông thú nhận trong bài báo trao đổi với nhà thơ Vương Trọng và cả trong bài báo trao đổi lại với tôi. Còn đối với chúng tôi, với tư cách là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, câu chuyện văn bản phải là hàng đầu. Sau khi đã lượng định các khả năng tồn tại của Minh quyên thi tập trên địa bàn Hà Nội, phân tích so sánh sự khó dễ của việc tìm kiếm cũng như tính khả tín của tư liệu Hán-Nôm, tôi đã quyết định con đường ngắn nhất, nhanh nhất và tin cậy nhất là tìm đến Viện nghiên cứu Hán-Nôm theo chỉ dẫn của các loại sách thư mục. Đây là con đường nhà nghiên cứu nào cũng sẽ đi qua nếu muốn tìm đến cội nguồn của vấn đề. Đối với nhà nghiên cứu, họ không bao giờ yên tâm với các bản phiên âm dịch nghĩa của bất cứ một người nào dẫu đó là nhà nghiên cứu có uy tín trong giới Hán học. (Ông Nguyễn Khắc Bảo không có được tư cách này). Tôi thừa biết rằng, trước năm 1945 trong kho tư liệu Viễn Đông bác cổ chưa từng tồn tại sưu tập thơ văn Nguyễn Hành. Tên tuổi Nguyễn Hành đã từng được nhắc đến khi người ta nói đến gia phả họ Nguyễn Tiên Điền nhưng thơ văn của ông thì tuyệt đối không được trích dẫn. Các tạp chí có uy tín thời đó như Đông dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Tri tân tạp chí cũng như các chuyên luận của các nhà khảo chứng có uy tín như cụ Nguyễn Văn Tố, GS Đào Duy Anh, GS Hoàng Xuân Hãn, cụ Bùi Kỷ, cụ Lê Thước,… tuyệt không trích câu nào thơ văn Nguyễn Hành. Tại sao vậy?. Chỉ có thể giải thích là thơ văn của cụ chưa sưu tầm được. Nếu ai tìm được một bài báo nào có dịch thơ Nguyễn Hành thì đó là tư liệu cực quý cho giới nghiên cứu trường quy chúng tôi để chúng tôi khỏi sai lầm khi trình bày lịch sử văn bản Nguyễn Hành trước sinh viên. Trước năm 1958, một sự kiện hi hữu xảy ra: Tủ sách nhà họ Cao Xuân (Diễn Châu, Nghệ An) được nhập kho và trở thành tài sản quốc gia. Tủ sách này theo đánh giá của GS Trương Chính là một bộ sách quý. Không quý sao được khi số thơ chữ Hán Nguyễn Du có được như ngày nay chúng ta còn chiêm ngưỡng chủ yếu xuất tự tủ sách này. Và cũng từ đây, theo chúng tôi được biết, Minh quyên thi tập của Nguyễn Hành lần đầu tiên được sưu tầm và lưu trữ. Cũng trong năm 1958, Minh quyên thi tập được cụ Hồ Trai Phạm Khắc Khoan, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh sao chép. Cuốn sao chép này có kí hiệu VHv 109 chính là cuốn chúng tôi đã lựa chọn để giới thiệu và khảo sát. Lí do chọn giới thiệu là, trước hết, trình độ của cụ Phạm Khắc Khoan thì giới nghiên cứu văn học trung đại đều biết qua hàng loạt bài dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du đã in và được nhiều giáo trình sử dụng. Các bản dịch của cụ đều đạt chất lượng cao và đúng đẹp. Ở đó, nếu dịch chung, tên cụ thường đứng trước cả tên cụ Lê Thước, cụ Ngô Văn Can. Được xem bút tích cụ thì cũng đã đáng giá ngàn vàng. Chụp và giữ lại bút tích đó cũng bằng trong nhà có vật quý. Tôi đến Viện Nghiên cứu Hán Nôm chụp để giữ và nghiên cứu chứ tôi không sưu tầm. (Ông Nguyễn Khắc Bảo mấy lần nói rằng tôi sưu tầm được, tôi có trong tay một văn bản, có được một văn bản, văn bản của mình … là nói sai, nhằm mục đích đơn lẻ hóa, cá thể hóa văn bản đó, đánh lừa người đọc nhằm hạ bệ giá trị văn bản. Đây là một mẹo vặt trong tranh luận, tìm cách đánh lộn sòng khái niệm văn bản như ông đã từng gọi tên vài quyển Kiều vô giá trị của ông theo kiểu bản này bản nọ như các nhà nghiên cứu định danh các văn bản có giá trị).


Đến bây giờ, có thể nói tài liệu đầu tiên giới thiệu Nguyễn Hành với thơ của ông là cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam quyển III (thế kỉ thứ XVIII) do Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi làm, in lần I, nộp lưu chiểu tháng 2 năm 1959 (từ đây có thể gọi tắt là Sơ thảo). Trong cuốn này các tác giả dành cho Nguyễn Hành một mục riêng hai trang, giới thiệu vắn tắt tiểu sử ông cũng như tên các tác phẩm gồm có: Quan hải thi tập, Minh quyên thi phả (hoặc thi tập), Thiên địa nhân vật sự thi. Sách cũng trích 5 đoạn thơ của Nguyễn Hành để bình luận (trang 291-292). Cũng trong năm 1959 khi làm Hợp tuyển Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX (từ đây có thể gọi tắt là Hợp tuyển)các cụ Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Văn Phú, Lê Thước, Hoàng Hữu Yên với sự cộng tác của các cụ Phạm Hữu Chính, Nguyễn Khắc Hanh, Lê Tư Thực, Phan Võ đã giới thiệu Nguyễn Hành thành một tác giả riêng, trích dịch 12 bài thơ kèm theo phần đầu giới thiệu ngắn gọn thân thế sự nghiệp. Trong đó viết rõ: Ông có để lại hai tập thơ là Quan hải thi tập hay Quan Đông hải và Minh quyên phả với một quyển sách nhan đề là Thiên địa nhân vật (quyển này hiện chưa tìm thấy). Quyển Hợp tuyển này nộp lưu chiểu tháng 3 năm 1959. Vậy có thể cho rằng hai quyển trên các cụ tiến hành cùng một lúc, thời gian so le tính bằng một tháng. Cũng trong năm 1959 nhóm các cụ Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh giới thiệu và dịch tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành. Tài liệu các cụ sử dụng là bộ sách của tủ sách họ Cao Xuân. Có nghĩa là các cụ có trong tay văn bản được gọi là Minh quyên thi tập của Nguyễn Hành. Vấn đề tại sao các cụ gọi Minh quyên thi tập là “tập thơ” Minh quyên phả ta sẽ bàn sau. Cũng trong lời giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du này, các cụ lần đầu tiên trích ý bốn câu thơ đầu trong bài Văn thúc phụ lễ bộ hữu tham tri phó âm cảm tác (tên này tôi dùng theo bản chép Phạm Khắc Khoan mà tôi cho là đúng). Tuy nhiên các cụ đã hiểu sai hoàn toàn ý thơ bốn câu này, thành thử đến năm 1962, cụ Trương Chính, lúc đó mới 44 tuổi, thua tuổi các cụ nhiều đã phải đính chính một cách thẳng thắn. Cũng lạ là, nhóm làm Thơ chữ Hán Nguyễn Du nằm lọt thỏm trong nhóm làm Hợp tuyển thế mà dịch một đằng, chuyển ý một nẻo. Chuyện tranh luận về bài thơ này bắt đầu từ đó vậy. Năm 1978, khi in lại lần thứ II cuốn Hợp tuyển (có thêm tác giả Đặng Thanh Lê), thơ Nguyễn Hành được giới thiệu thêm hai bài mới và bỏ đi một bài cũ, nên tổng số là 13 bài. Năm 2000, Tổng tập văn học Việt Nam tập XIV (từ đây có thể gọi tắt là Tổng tập) do GS Đặng Đức Siêu sưu tầm và biên soạn ta thấy thơ cụ được phiên dịch nhiều hơn với 73 bài kèm theo việc dịch một lời dẫn xuất tự Minh quyên phả dẫn trong bản chép VHv 109 mà tôi đã giới thiệu.  Rõ ràng, như lời giới thiệu, GS Đặng Đức Siêu có tham khảo những bản của Hợp tuyển, đồng thời đọc các văn bản cụ phiên dịch ta thấy rõ là tài liệu chính cụ sử dụng chính là văn bản VHv 109 đó.


Một điều cũng nói ở đây là, khi chép văn bản thơ Nguyễn Hành (1958), khi làm Sơ thảo và Hợp tuyển (1959) các cụ không mô tả văn bản cũng như địa chỉ văn bản các cụ sử dụng. Thành thử chúng ta hiện nay lại bỏ công lặn lội tìm tòi. Cái sự này thì các cụ trước năm 1945 cẩn trọng hơn nhiều. Tại sao vậy nhỉ, theo tôi có hai lí do: thứ nhất, tư tưởng tập thể hóa lúc đó thấm sâu vào cung cách làm việc, tài sản của nhân dân nghĩa là không của riêng ai. Cứ xem như việc tái bản Hợp tuyển vào năm 1978 mới có lời xin lỗi và đưa thêm được một số tên tác giả dịch thơ vào thì biết. Cái thời mà Ngày mai tất cả sẽ là chung. Tất cả sẽ là vui.Và ánh sáng (Tố Hữu) ấy thật là đẹp, các cụ trong giới Hán học còn lại sống với nhau còn đẹp hơn (như các thầy tôi dạy). Tuy nhiên, cái đẹp của lý tưởng chung đôi lúc đã làm mờ đi cái cụ thể của khoa học mà giờ đây khiến ta phải lặn lội kiếm tìm để sửa chữa bổ khuyết. Đó mới là điều đáng mừng và là điều chính thế hệ đó mong đợi, các thế hệ sau cũng mong đợi. Thứ hai, có thể lúc các cụ làm và chép, số thơ văn Nguyễn Du, Nguyễn Hành trên chưa lên xong kí hiệu lưu trữ vì mới được nhập. Sự lên kí hiệu này thường kéo dài. Tỉ như Viện nghiên cứu Hán-Nôm hiện nay có nhiều ngàn cuốn sách vẫn chưa có kí hiệu. Còn phải sửa sang, tu bồi, vệ sinh lâu lắm mới vào mã được. Cuốn sách chưa có mã số cũng như trẻ vị thành niên chưa có chứng minh thư nhân dân, biết giới thiệu ra sao cho lọn.


Những văn bản sau này nếu có về thơ Nguyễn Hành chủ yếu trích từ hai lần Hợp tuyển và một lần Tổng tập. Tôi chưa thấy ai tự giới thiệu là mình làm việc trên văn bản chữ Hán. (Ông Nguyễn Khắc Bảo lại càng như vậy khi ông hoàn toàn không biết gì về nghiên cứu văn học trung đại cũng như khả năng xử lí văn bản Hán-Nôm. Điều này sẽ lộ ra trên từng trang viết của ông trong bài ông trao đổi với tôi và tôi sẽ có dịp nhắc đến trong phần sau của bài viết này).


Người thơ phong vận như thơ vậy. Cụ Nguyễn Hành khi xưa trung với nhà Lê đến “gàn rỡ”, sống lang bạt và túng kiết. Thơ cụ cũng long đong lận đận, còn sót được lại là thật may mắn, chưa phải chịu cái cảnh lụy phần dư như bao nhà thơ khác kể cả sau này. Sự tồn tại thật là hi hữu. Thơ cụ riêng tư và cô độc, biết được có mấy người cảm thông mà ghi chép lại ngoài con cháu trong nhà cũng đang rất túng bấn. Chưa kể với tinh thần phê phán và phủ định thực tại Triều Nguyễn mà ta gặp thấp thoáng trong tập thơ thì việc lưu trữ thơ cụ trong nhà cầm bằng giữ một mầm họa văn tự. Cụ không giàu có, không làm quan thì lấy đâu tiền mà in. Trong khi truyện Kiều với bao nhiêu lần in, có hàng vạn bản lưu hành tại thế mà việc sưu tầm còn khó khăn nhường vậy. Với những người tàng trữ cổ thư, ai cũng biết rằng cái sự quý bao giờ cũng đi kèm cái sự hiếm. Liệu có quá vài ba bản chăng còn chép thơ văn Nguyễn Hành! Lấy cái chuyện văn bản truyện Kiều ra mà so sánh với văn bản chép văn thơ chữ Hán Nguyễn Hành (như ông Nguyễn Khắc Bảo nói bừa trong bài viết) thì so sao được mà so. Ta cứ nghĩ tủ sách họ Cao Xuân nếu một lần mất đi trong binh lửa thì liệu ta biết thơ chữ Hán Nguyễn Du được bao nhiêu. Chỉ riêng điều này thôi thì nhà thờ dòng họ này đã đáng được vinh danh vì họ giữ lại và hiến cho Nhà nước những viên ngọc đáng giá hơn nhiều lần ngọc để có một diện mạo thơ chữ Hán Nguyễn Du tạm đầy đủ như hôm nay ta thấy. Tôi lựa chọn văn bản Nguyễn Hành (bản VHv 109) để giới thiệu và phân tích ở bài báo trước là nằm trong phạm vi hiểu biết và đánh giá văn bản như đã trình bày ở trên. Quá trình theo dõi văn bản học mách cho tôi rằng không ai có thể cả quyết rằng một văn bản là đủ đại diện cho các văn bản khác dưới gầm trời này. Trong bài báo trên của mình, tôi dùng một văn bản khả tin, có sớm, được chép bởi một bậc lão nho, được lưu trữ tại một cơ quan hàng đầu có trách nhiệm về văn bản Hán-Nôm để phản bác ý kiến của ông Nguyễn Khắc Bảo mà rõ ràng là ông đạo thính đồ thuyết (nghe trộm nói leo) người khác mà chưa hẳn đã đúng đắn. Điều đáng lẽ ra là ông sử dụng văn bản chữ Hán khác để phản bác lại tôi thì ông lại mượn chính uy tín của những người mà tôi muốn sửa chữa cho họ để vu vạ tôi thì làm sao mà đi đến chân lí được. Tôi mong ý kiến của các bậc thức giả. Còn ý kiến của ông Nguyễn Khắc Bảo tôi không thèm chấp vì ông chả biết gì về chuyện này.


Tóm lại qua những điều trình bày như trên, có thể rút ra những ghi nhận ban đầu như sau:


- Có sự trùng hợp về mặt thời gian giữa việc Minh quyên thi tập của Nguyễn Hành từ tủ sách họ Cao Xuân hiến cho Nhà nước với việc cụ Phạm Khắc Khoan chép văn bản VHv 109 và với việc nhóm các cụ viết Sơ thảo, làm Hợp tuyển và Thơ chữ Hán Nguyễn Du.


- Rõ ràng là nhóm các cụ làm Hợp tuyển và Thơ chữ Hán Nguyễn Du sử dụng nguồn tài liệu từ tập sách họ Cao Xuân để lại. Trong lúc đó cụ Phạm Khắc Khoan không cho ta biết cụ sao chép từ nguồn nào.


- Công việc sẽ đơn giản nếu tài liệu họ Cao Xuân hãy còn, ta có thể đem so sánh với bản VHv 109. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay chúng tôi biết, nếu còn, cũng phải hơn sáu tháng nữa mới có thể mượn sách khỏi kho để nghiên cứu.


- Tuy nhiên tất cả những điều đó đều nói lên rằng, nếu có hai đến ba tư liệu thơ Nguyễn Hành chép tay đi nữa thì tất cả tư liệu đó đều cực kì quý hiếm, không thể có một thái độ bất kính trước nó.


2.     Minh Quyên phả và Minh quyên thi tập: chính danh định phận.


Về tập thơ này của Nguyễn Hành, có nhiều người chủ trương những tên gọi khác nhau. Tôi gọi một cách nhất quán là Minh quyên thi tập. Ông Nguyễn Khắc Bảo đưa dẫn chứng từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (bản in lần hai có bổ sung và sửa chữa-1978) của “10 giáo sư biên soạn” có tên là Minh quyên phả để cho rằng bản chép của cụ Hồ Trai Phạm Khắc Khoan chép lại “có nhiều sai lệch với văn bản mà các vị tiền bối đã dùng” dù ông không chứng minh được các cụ đã dùng bản nào. Công việc của ông giống như người thợ vụng đo bóng để may áo vậy: dựa vào bản phiên để ức đoán bản chữ Hán trong khi các cụ chẳng hề mô tả cũng như nêu xuất xứ. Đó là chuyện  ngược đời, bất đắc dĩ mới phải làm, mà người làm phải là một người lão luyện may ra mới đưa ra giả thuyết công tác được. Tôi hiểu chuyện này như sau:


Kể bắt đầu từ 1958, tập thơ này được gọi bằng các tên:


- 1958: bản chữ Hán do cụ Phạm Khắc Khoan chép (VHv 109, bản mà tôi dùng và giới thiệu) tên là Minh quyên thi tập. Ba chữ Minh quyên phả xuất hiện trong bài dẫn không chỉ là trỏ tên tập thơ (ta sẽ bàn sau đây).


- 1959: Các giáo sư Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam gọi là Minh quyên thi phả (hoặc thi tập): các cụ nếu chủ trương có chữ phả thì phải có chữ thi, đồng thời còn có tên Minh quyên thi tập.


- 1959: Các tác giả Hợp tuyển ngay từ bản in lần 1 đã gọi nó là tập thơ Minh quyên phả.


- 1962: Giáo sư Trương Chính trong Nghiên cứu văn học dứt khoát gọi tên nó là Minh quyên thi tập.


- 1962: Giáo sư Hoàng Hữu Yên và giáo sư Nguyễn Lộc trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII gọi đó là Minh quyên thi tập.


- 1969, thư mục Viện Hán Nôm (bản in ronéo) dứt khoát gọi tên tra cứu là Minh quyên thi tập.


- 2000: Giáo sư Đặng Đức Siêu trong Tổng tập gọi tên tập thơ là Minh quyên phả.


- Các từ điển văn học có nhắc đến Nguyễn Hành nhất quán gọi tên nó là Minh quyên thi tập.


 Đối với người làm khoa học, số nhiều cũng chỉ là một tham số thôi. Tôi trích dẫn những tài liệu cơ bản nhất nhưng sẽ không dùng nó cho nhận định của mình, ở đây, tôi chưa cần đến tiếng nói của định lượng. Nhiều khi số nhiều chưa chắc đã là chân lí. Tuy nhiên nó sẽ gợi ý cho ta những lối suy nghĩ.


Tôi cho rằng tên gọi tập thơ là Minh quyên phả là chưa chính xác. Chữ phả không thường dùng để tác giả đặt tên tập thơ, mà thường dùng để đặt tên các tập ghi chép tự sự hoặc đó chỉ ra là tập sách ghi chép nhiều loại  khác nhau theo một trật tự nào đó. Có một sự nhầm lẫn quan trọng ở đây bắt đầu từ Hợp tuyển 1959 của các tác giả và theo đó Tổng tập văn học Việt Nam  cụ Đặng Đức Siêu gọi theo. Sự nhầm lẫn này chắc chắn là bắt đầu từ bài dẫn sách do Nguyễn Hành viết mà bản VHv 109 chép lại ngay đầu tập. Bài dẫn có tên là Minh quyên phả dẫn ( Nghĩa là: Lời dẫn cho tập sách có tên gọi là Minh quyên). Đây là một bài dẫn có giá trị về văn chương cả nội dung cũng như nghệ  thuật, ít người được chiêm ngưỡng nó để hiểu thêm tâm sự của Nguyễn Hành, vả lại, nó liên quan đến tên sách nên tôi phiên âm đầy đủ và dịch nó để phục vụ bạn đọc. Bài này cũng đã từng được giáo sư Đặng Đức Siêu dịch trong Tổng tập nhưng do tiên thiên đã quan niệm tên tập thơ là Minh quyên phả nên ông dịch vu khoát, nhiều chỗ dịch chưa sát đúng.


Minh quyên phả dẫn


Điểu chi khổ minh giả, mạc đỗ quyên nhược dã. Đỗ quyên nam phương chi điểu dã, dĩ hạ nguyệt minh, trú dạ bất chỉ. Kì minh tất hướng bắc, kì cảm nhược viết: “Bất như qui khứ”. Thị phả ngẫu nhiên loại chi, cố dĩ vi danh.


Tích giả, Trang Chu mộng vi hồ điệp, vô quái hồ dư chi minh vi đỗ quyên dã. Phù minh điểu khả dĩ dã. Hữu đạo chi triều, quần hiền hòa tập, kì phụng hoàng minh chi ung ung giả hồ! Ai loạn chi thế, hạ dân li oán, kì hồng nhạn minh chi ngao ngao hồ. Cố sở cảm chi cơ bất đồng, tắc sở minh chi cảm diệc dị, nhi chí ư đỗ quyên chi minh, minh hà khổ hĩ! Dư hựu hà khổ, nhi vi đỗ quyên minh? Bỉ hạc minh vu Cửu Cao, tác cảm văn vu thiên hĩ. Hạc minh tại âm, tắc kì tử họa chi hĩ. Nhược minh chi vi đỗ quyên dã, kì thục văn chi, nhi thục họa chi da! Ức đỗ quyên chi minh dã, tiên văn kì cảm giả, chủ li biệt; học kì cảm giả, chủ ẩu huyết. Y nhược thị kì thậm dã. Dư chi minh ninh hữu thị da! Đỗ quyên chi khổ minh dã, cực tắc đảo huyền vu thụ nhi dĩ hĩ. Dư chi dĩ văn tự minh dã. Chí thị phả nãi khổ cực hĩ. Thứ cơ hồ khả dĩ dĩ hồ. Kì tương hữu biệt cảm, khả văn nhi khả họa giả, dĩ kế phả minh nhi nhi minh dã, dư tắc dĩ kì minh, thính chư thiên.


Long tập Kỉ Mão Thanh minh hậu nhị nhật Nhật Nam Nguyễn Hành Nam Phủ Bắc thành Đồng Xuân chi ngụ.


Lời dẫn cho Minh quyên phả


Loài chim kêu nghe đến đắng ruột thắt lòng, không gì bằng đỗ quyên. Đỗ quyên là loài chim phương Nam, vào hè thì kêu, đêm ngày không nghỉ. Khi kêu tất hướng về Bắc, bằng quá như nói “Bất như qui khứ” (chẳng bằng về đi). Sách này (thị phả) ngẫu nhiên mà giống thế, do đó mà đặt thành tên.


Ngày xưa Trang Chu còn mơ thành bướm, thì tôi kêu như đỗ quyên chắc cũng chả lạ gì. Đến như tiếng chim kêu cũng có nguyên do của nó. Triều chính có đạo, quần hiền quy tụ hòa hợp, thì chim phượng hoàng kêu thánh thót. Thời buổi loạn li, hạ dân li oán thì chim hồng chim nhạn kêu ngao ngao. Do đó, cảm cái thời thế không giống nhau, tiếng kêu của loài chim tất cũng khác. Mà đến như đỗ quyên kêu, kêu sao thắt lòng đắng ruột vậy? Ta cay đắng lắm sao mà làm con đỗ quyên kêu?


Chim hạc kêu nơi đầm vắng, tiếng kêu nghe thấu trời. Chim hạc kêu trong bóng mát, có con nó hòa theo. Bằng như tiếng kêu của đỗ quyên, thì có ai dám nghe vậy?, ai dám hòa theo vậy? Phải chăng là vì tiếng kêu của đỗ quyên , khi mới nghe thì thấy biệt lìa, học theo nó thì thấy như khạc ra máu. Thật là qúa lắm vậy. Tôi kêu lên cũng như vậy chăng?! Cái đắng ruột của đỗ quyên là ở tiếng kêu của nó, kêu đến cùng thì treo ngược trên cành cây mà chết. Tôi dùng chữ nghĩa mà kêu đấy. Đến sách này cũng là cực cùng khổ đau như thế. Theo đó vậy rồi thành đó vậy. Rồi đây liệu có cố làm cho khác đi nữa, có thể nghe thấu, có thể hòa theo, rồi nối tiếp sách này mà kêu, tôi tất vẫn kêu tiếng kêu ấy, cho thấu đến trời (thính chư thiên)


Năm Kỷ Mão (1819), sau tiết thanh minh hai ngày, Nhật Nam Nguyễn Hành tự Nam Phủ ngụ ở Đồng Xuân thuộc Bắc thành.


Thời điểm mà Nguyễn Hành viết lời dẫn và làm sách (tập hợp những gì mình đã viết, ghi chép lại và sẽ viết tiếp đến trọn đời) là một thời điểm đặc biệt của đời ông: tuổi 49. Đó là thời điểm mà mọi nhà Nho đều muốn duyệt lại cuộc đời mình, đề phòng những bất trắc xảy ra trong năm đại hạn. Sau tiết thanh minh hai ngày khi người ta hiểu là tiết tảo mộ, đối diện với cõi người thiên cổ, không ai không nghĩ lại đời mình. Đó là thời điểm mới trong năm thôi, người bạn thân một thời trai trẻ, người cháu họ hơn ông một tuổi, người đã từng thư đi từ lại với ông nhiều, từng cùng ông tiếp đãi và thù tạc thơ ca ở Đông Thành, người mà ông đã từng mượn sách vở khi ông ẩn cư năm 1789 ở Đan Nhai, người ông từng đàm đạo về Truyện tiên sinh Ao thôn, người từng viết lời tựa cho Quan hải thi tập mà ông sáng tác những ngày ở vùng cửa Hội, đối diện trực tiếp với biển cả bao la, người cùng chí hướng với ông, cư sĩ Nguyễn Huy Vinh (1770- 1818) vừa mất (xem Chung sơn di thảo của Nguyễn Huy Vinh, bản mới phát hiện năm 1995 của tiến sĩ Lại Văn Hùng, Viện Văn học). Đó là thời điểm Nguyễn Hành rơi vào cơn bĩ cực, nhà tám chín miệng ăn, bạn bè hàng xóm phải cho gạo, cho quần áo bút mực, có lúc ông bệnh tật đến khạc ra máu (ẩu huyết) như chim đỗ quyên. Không chỉ là tiếng kêu đắng lòng, trong bài dẫn ông còn nghĩ đến cái chết treo cành của đỗ quyên. Truyền ngôn vùng xứ Nghệ kể rằng, con quốc kêu sầu đến đứt ruột, nó chết bám cành treo ngược trên cây. Ngày tết Đoan ngọ, ai tìm chặt được cành cây ấy đem về nhà làm bùa, trỏ vào người nào thì người ấy sẽ theo mình, tương tư đến cùng. Đảo huyền vu thụ là vậy. Trong chữ Hán, đảo huyền là một ẩn tự chỉ cái chết lộn cổ treo ngược (GS Đặng Đức Siêu khi dịch không chú ý ẩn ngữ này. Tôi mong ông cho ý kiến phản biện). Bài dẫn cuốn sách ngoài việc nêu lí do đặt tên còn là tiếng kêu thương của một thân phận, là ý thức về tiếng nói văn chương trước số phận đau khổ của con người.


Điều đáng chú ý là, trong bài dẫn này, Nguyễn Hành hoàn toàn không gọi Minh quyên phả là thi tập, ông chỉ dùng chữ phả mà thôi. Dịch và hiểu nó là tập thơ chắc vì sơ ý, chắc vì đã định kiến về tên sách. Ngay trang sau bài dẫn, ta thấy tên tập thơ được ghi rất rõ ràng: Minh quyên thi tập- Nhật Nam Nguyễn Hành Nam Phủ trứ. Đây mới là tên tập thơ cũng như tác giả của nó. Điều này giải thích lí do tại sao đa số ý kiến không bị và không chịu nhầm lẫn theo Hợp tuyển. Ta thấy Minh quyên phả ngoài việc chép thơ Minh quyên thi tập (242 bài), còn chép 40 bài văn, một số bài tụng và một số bài ký. Cái sự Phả nó là như vậy mới đúng. Cũng như trong Ức Trai di tập do Dương Bá Cung làm có Ức Trai thi tập vậy. Có ai gọi Ức Trai di tập là tập thơ đâu. Tôi vẫn viết “người trước sai rồi ông Nguyễn Khắc Bảo sai theo mà thôi” là vì như vậy. Nói ông có tư cách nghe trộm nói leo trong học thuật là vì như vậy. Mà còn lắm chứng nữa, chưa hết đâu!


Cũng phải nói cho kín nhẽ, nếu quan niệm trên đây của tôi là đúng, nếu lấy chữ phả đặt tên cho tập thơ là điều kỳ dị, thì từ việc khác tên gọi mà nói rằng bản VHv 109 và bản mà các cụ làm Hợp tuyển sử dụng xuất tự hai bản có trước khác nhau là chưa đủ sở cứ. Ngay chỗ này, ý kiến của ông Nguyễn Khắc Bảo là vứt đi. Rồi tôi sẽ nói tiếp các chứng khác nữa.


3. Nói lại chuyện là hai bài hay một bài.


a. Trong bài ông Nguyễn Khắc Bảo trao đổi lại với tôi về vấn đề này, đọc ra tôi mới hiểu rằng ông hoàn toàn  không biết gì về thể thơ trung đại, không biết cách tra cứu từ điển, không biết đọc các giáo trình hướng dẫn về luật thơ, đồng thời, khi trích dẫn sách vở, ông cố tình cắt cụt ý, giấu thông tin, cố tình ngụy tạo tài liệu và câu văn của các tác giả đi trước để làm rối vấn đề và để qui kết một cách ác ý.


Để xác định thể của bài thơ Văn thúc phụ lễ bộ hữu tham tri phó âm cảm tác, tôi phiên lại toàn bài thơ này theo bản sao chép của cụ Hồ Trai Phạm Khắc Khoan để mọi người dễ có ngay để so sánh, theo dõi.Đây là văn bản chữ Hán mang ký hiệu VHv 109 tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (mà tôi đã từng sử dụng ở những bài trước).


Văn thúc phụ lễ bộ hữu tham tri phó âm cảm tác.


Công tự Tố Như, tính hiếu lạp, tự hiệu Hồng Sơn lạp hộ. Nhâm Tuất tuế phệ sĩ. Kim triều lũy quan chí hữu tham tri. Canh Thìn bát nguyệt tốt.


Thập cửu niên tiền Tố Như tử


Nhất thế tài hoa kim dĩ hĩ


Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn


Dịch lệ hà năng tốc công tử


Tam thu luân lạc thử thành trung


Nam vọng phù vân mỗi ức công


Quy khứ gia sơn văn dạ lạp


Tinh linh hoảng dữ cựu thời đồng.


Qua cách chép của văn bản, tôi đã xác định được đây là một bài thơ thất ngôn bát cú cổ thể luân chuyển bốn câu vần trắc tiếp bốn câu vần bằng. Còn ông Nguyễn Khắc Bảo vì lệ thuộc vào văn bản chữ quốc ngữ trên Hợp tuyển (in lần 2-1978) và dựa vào ý kiến của giáo sư Bùi Văn Nguyên mà viết: (trích) “Do vậy ý kiến của giáo sư Bùi Văn Nguyên “Nguyễn Hành làm chùm thơ 2 bài tuyệt cú (chúng tôi thêm “thuộc loại cổ phong”) nhan đề “Văn thúc phụ lễ tham tri phó âm cảm tác” vẫn là hoàn toàn chính xác”.(hết trích). Tôi sẽ bình về câu viết đáng tức cười thể hiện đầu óc mù mờ lẫn lộn  này của ông Nguyễn Khắc Bảo sau, còn bây giờ tôi sẽ đi theo cách khác. Thầy tôi, GS Nguyễn Tài Cẩn có lần dạy rằng, khi trình bày một vấn đề cho dễ hiểu, tốt nhất là thay lý luận bằng các thí dụ. Cả hai cách, lý luận và thí dụ, đều dẫn đến kết quả truyền thụ.


Ông Nguyễn Khắc Bảo lại còn viết như sau: (trích): “Xin các độc giả yêu thơ Đường trong cả nước cùng thẩm định hộ xem bài thơ 8 câu 7 chữ trên có thể xếp vào loại thất ngôn bát cú dược không? (lưu ý xem xét kỹ: vần (bài này 8 câu, 6 vần, 3 vần bằng, 3 vần trắc) luật bằng trắc có đạt nhị tứ lục phân minh, niêm đối có chuẩn không” (hết trích). Tôi lấy ví dụ luôn một bài thất ngôn bát cú cổ thể (cũng gọi là cổ phong) trong thơ Trung Quốc để chúng ta xem. Bài này rút trong Đường thi tam bách thủ (300 bài thơ Đường). Sách này do Hành Đường Thoái Sĩ tuyển chọn, Trần Uyển Tuấn bổ chú (hai ông này người Trung Quốc), Ngô Văn Phú dịch và giới thiệu, nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2000. Bài trích nằm ở trang 151.


Mạnh Hạo Nhiên


46. Dạ qui Lộc Môn ca


Sơn tự minh chung trú dĩ hôn


Ngư lương độ đầu tranh độ huyên


Nhân tùy sa ngạn hướng giang thôn


Dư diệc thừa chu quy Lộc Môn


Lộc Môn nguyệt chiếu khai yên thụ


Hốt đáo Bàng công thê ẩn xứ


Nham nhi tùng kính trường tịch liêu


Duy hữu u nhân tự lai khứ.


(Chùa núi thỉnh chuông ngày đã tối,


Bến đò Ngư Lương, người tranh nhau xuống đò.


Người đi theo bờ cát về thôn bên sông,


Ta cũng cưỡi thuyền về Lộc môn


Trăng soi ở Lộc Môn, mờ mờ như khói cây.


Chợt đến chỗ khe ngòi ở ẩn của Bàng Công.


Cửa đá, đường thông đầy vẻ hiu quạnh.


Chỉ có mấy người ở núi lui tới)


Bài thơ này được chính các tác giả Trung Quốc xếp vào phần Cổ thi, mục thất ngôn cổ thi, nằm ngoài và trước phần luật thi. Ta biết, cổ thi, cổ thể, cổ phong là một. Luật thi, Đường luật, hay cận thể là một. Hai thể đó khác nhau.


Bài thơ trên là 7 chữ (thất ngôn), 8 câu (bát cú) chuyển vận từ bằng sang trắc (cổ thể) có 6 chữ mang vần, 3 vần bằng (hôn - thôn - môn), 3 vần trắc (thụ - xứ - khứ), không theo niêm luật như thất ngôn bát cú Đường luật. Thế sao không gọi nó là hai bài tuyệt cú cổ phong như ông Nguyễn Khắc Bảo đi. Mạnh Hạo Nhiên (689-740) là nhà thơ Trung Quốc thời Đường đấy. Xin các độc giả yêu thơ  thẩm định xem: Tôi đã gọi là thất ngôn bát cú cổ thể sao ông Nguyễn Khắc Bảo còn đòi xem luật bằng trắc có đạt nhị tứ lục phân minh, niêm đối có chuẩn không? Trong khi đó các tài liệu nói về cổ phong cả ta và tàu đều nói nó không cần theo luật bằng trắc như thơ Đường luật, có đối hay không đối đều được (tôi sẽ trích dẫn sách sau).


Lại ví dụ nữa chăng? Đây là bài của Cao Bá Quát (1808-1855) sống sau Nguyễn Hành:


Dương phụ hành


Tây dương thiếu phụ y như tuyết


Độc bằng lang kiên tọa minh nguyệt


Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh


Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết


Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì


    Dạ hàn vô ná hải phong xuy


Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi


Khỉ thức Nam nhân hữu biệt ly.


(Người thiếu phụ tây dương áo trắng như tuyết,


Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.


Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,


Kéo áo nói rì rầm với chồng.


Một cốc sữa hững hờ trên tay,


Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.


Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,


Há biết người Nam có cảnh biệt ly)


(Trang 535 - Hợp tuyển in lần I – 1959).


Đây là một bài được tác giả đặt tên là thể loại hành, được viết theo thể thất ngôn bát cú cổ thi (cần phân biệt thể loại với thể trong trường hợp đang nói đây). Bài thơ này thể 7 chữ (thất ngôn) 8 câu (bát cú) luân chuyển vần trắc sang vần bằng (cổ thể), 3 vần trắc (tuyết - nguyệt - thuyết), 3 vần bằng (trì - xuy - ly) giống như bài thơ đang bàn tới của Nguyễn Hành. Tại sao không vì việc đổi vần mà “cưa đôi” bài này ra. Thể loại hành có thể viết trên nhiều thể thơ khác nhau.


     Đó là thất ngôn bát cú cổ thể, còn ngũ ngôn bát cú cổ thể thì có thể trích ra những 50 bài một lúc cả Tàu lẫn ta. Ta sẽ có dịp nhắc đến sau.


b, Vậy thất ngôn bát cú cổ thể là gì? Và bài thơ Văn thúc phụ… của Nguyễn Hành theo bản chữ Hán do cụ Phạm Khắc Khoan chép có đúng với nó không? Ta sẽ trích sau đây những gì viết về thơ cổ phong (cũng là cổ thể) của GS Dương Quảng Hàm là đủ. Trong bài viết trước, tôi đã viết: “Để hiểu điều này chỉ cần đọc Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm từ trang 110 đến trang 119 (bản in lần thứ nhất Hà Nội 1943) là quá đủ”. Tại sao tôi lại giới thiệu những ngần ấy trang? Là vì, từ đó đến đó, GS Dương Quảng Hàm trình bày liên tục 2 mục: Thơ Đường luật và Thơ cổ phong, đọc cả để so sánh, phân định. Là vì, tôi lượng định sẽ có sự trao đổi, và người giảo hoạt trao đổi lại sẽ trích cắt xén ý kiến nhằm cãi bừa, đánh lừa người đọc. Quả đúng là ông Nguyễn Khắc Bảo đã làm vậy. Nay tôi trích những gì liên quan đến cổ phong của cả đoạn này. Sách trên viết như sau: (Trích) Trang 110: “Thơ cổ-phong và Thơ Đường-luật – Theo cách làm, chia làm hai thể: 1, Cổ-phong hoặc cổ-thể là thể thơ có trước thời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định; 2, Đường-luật hoặc cận-thể là thể thơ đặt ra tự đời nhà Đường (618-907) phải theo niêm luật nhất định”. Trích tiếp từ trang 116; “3, Thơ cổ-phong: Số chữ và số câu trong lối thơ cổ-phong - Lối này chỉ có số chữ trong câu là nhất định (hoặc ngũ ngôn, hoặc thất ngôn); ngoài ra, không phải theo thể lệ chặt chẽ như lối Đường luật, nghĩa là không có niêm, luật, không phải đối (một đôi khi có đối là tùy nhà làm thơ, chứ không bắt buộc). Lối này cũng không hạn số câu: cứ tự 4 câu giở lên muốn dài ngắn bao nhiêu cũng được. Các thi – gia thường cũng hay làm mỗi bài 4 câu (tứ tuyệt) hoặc 8 câu (bát cú). Nhưng cũng có bài làm 6 câu hoặc 12 câu. Những bài thất ngôn dài quá 8 câu và ngũ ngôn dài quá 16 câu gọi là tràng thiên (thiên dài).


Cách gieo vần trong lối cổ-phong - lối thơ cổ-phong có thể cả bài dùng nguyên một vần (độc vận), hoặc dùng nhiều vần (liên vận). Khi dùng liên vận thì hoặc mỗi hai câu đổi vần (lối này phải dùng vần liên châu, mỗi cuối câu mỗi hạ vần), hoặc bốn câu đổi dùng một vần (như lối thơ tứ tuyệt), hoặc tám câu đổi dùng một vần (như lối thơ bát cú). Mỗi khi đổi vần, câu thứ nhất có gieo vần, hoặc không gieo vần cũng được. Trong bài thơ liên vận, có thể dùng vừa vần bằng vừa vần trắc (hết trích).


Sau phần viết này, GS Dương Quảng Hàm nêu bốn ví dụ bốn bài: Ngũ ngôn bát cú (cổ phong) bài này ví dụ đổi vần, Thất ngôn bát cú (cổ phong), bài này ví dụ bất tuân niêm, Ngũ ngôn tràng thiên (cổ phong)hai bài này ví dụ liên vận, bất tuân niêm, luật của Đường luật. Cũng thú vị là, khi tra chữ niêm trong Từ điển Hán-Việt của GS Đào Duy Anh, tôi phát hiện tiếp GS đã giải thích sai về niêm luật ( luật của niêm) thể hiện trong thơ thất ngôn. Lạ thật, từ điển đấy! Đến giời cũng có lúc sai chứ không chỉ các cụ. Ông Nguyễn Khắc Bảo thường hay nói đến chuyện ông sử dụng từ điển này từ điển nọ nhưng nếu sử dụng vào những cái mà từ điển sai thì hậu quả tất yếu sẽ sai theo. Sử dụng từ điển cũng phải có chuyên môn và đặc biệt là phải xét đoán. Trong bài trước tôi nói rằng, từ điển chỉ cung cấp cho chúng ta những nghĩa cơ bản mà thôi là vì vậy.


Bây giờ, qua hai ví dụ thơ Mạnh Hạo Nhiên (Trung Quốc), thơ Cao Bá Quát (Việt Nam), và qua ý kiến về thể thơ của GS Dương Quảng Hàm ta thử áp bài thơ của Nguyễn Hành ở trên vào thì sẽ thấy nó thuộc thể nào:


- Nó là thất ngôn bát cú (khái niệm dùng của Dương Quảng Hàm khi đưa ra các ví dụ).


- Nó không tuân thủ luật và niêm của thơ Đường luật (trong thơ Đường luật yêu cầu niêm về thanh bằng thanh trắc dính nhau dọc bài qua các câu trong một bài thơ thường bắt đầu từ thanh của chữ thứ hai mỗi câu: chữ thứ hai câu I và chữ thứ hai câu VIII phải cùng thanh, chữ thứ hai câu II phải khác thanh chữ thứ hai câu I và cùng thanh chữ thứ hai câu III, chữ thứ hai câu IV khác thanh chữ thứ hai câu III và cùng thanh chữ thứ hai câu V, chữ thứ hai câu VI khác thanh chữ thứ hai câu V và cùng thanh chữ thứ hai câu VII. Từ chữ thứ hai đó đọc theo thứ tự chữ trong câu mà suy ra sự dính nhau dọc bài của các vị trí khác). Trường hợp bài thơ Nguyễn Hành mà ta đang bàn theo dõi các chữ cửu - thế - môn - lệ - thu - vọng - khứ - linh, chúng ta thấy nó hoàn toàn thất niêm theo chuẩn tắc thơ Đường luật. Vì nó là cổ phong. (theo Dương Quảng Hàm).


- Giữa các liên hai và ba hoàn toàn không đối vì đã là thơ cổ phong thì không yêu cầu bắt buộc phải đối như thất ngôn bát cú Đường luật. (theo Dương Quảng Hàm).


- Bài thơ chuyển vần dùng từ trắc sang bằng: bài này có sáu chữ mang vần, ba chữ vần trắc (tử - hĩ - tử) chuyển sang ba chữ vần bằng (trung - công - đồng). Sự chuyển vần này giống bài thơ thất ngôn bát cú của Cao Bá Quát ở trên và đảo ngược cách chuyển vần (bằng sang trắc) so với bài thất ngôn bát cú của Mạnh Hạo Nhiên. (theo Dương Quảng Hàm).


Cái sự thất ngôn bát cú cổ phong của bài thơ là quá rõ, không thể phủ định. Chúng ta thấy ông Nguyễn Khắc Bảo cứ khăng khăng dùng ý kiến về thất ngôn bát cú Đường luật của Trần Trọng Kim mà buộc vào nó thì hiểu sao nổi. Mở Việt nam văn phạm của cụ Trần Trọng Kim ra xem, thấy quả đúng phần viết về thất ngôn bát cú của cụ là nằm trong phần Đường luật chứ không phải ở phần cổ phong. Cụ còn nói rằng sách cụ tham khảo ý kiến của cụ Ưu Thiên Bùi Kỉ qua cuốn Quốc văn cụ thể. Mở tiếp Quốc văn cụ thể (1931) thì cũng thấy như vậy. Ở đây, ông Nguyễn Khắc Bảo đã có sự đánh tráo phần viết để đưa thông tin lừa gạt bạn đọc bởi vì ta biết rằng không phải bạn đọc nào cũng có sẵn các tài liệu đó ở trong nhà. Chúng ta biết rằng, hai thể cổ phong và Đường luật đều có cả ngũ ngôn và thất ngôn, tứ tuyệt và bát cú. Lấy qui cách của thể này làm chuẩn mực cho thể khác thì đó chỉ là người không hiểu biết gì về thể thơ trong văn học trung đại. Gọi bài thơ của Nguyễn Hành ở trên là thất ngôn bát cú như anh Vương Trọng là không có gì sai cả như bài báo trước tôi đã nói. Còn trong cổ thi bốn câu ba vần là sự thường không chỉ Đường luật mới có. Tôi lấy ngay một ví dụ về thơ cổ thi bốn câu ba vần trong Quốc văn cụ thể:


Qui tiều


Rừng lau gió lác đác


Chim hôm bay xáo xác


Gánh củi lững thững về


Đường quen không sợ lạc.


(Vô danh – Trang 38)


Đây là thí dụ về ngũ ngôn tứ tuyệt độc vận mà cụ Bùi Kỉ đưa ra đầu tiên khi viết về mục cổ phong cùng trang  sách. Bài thơ trên là cổ phong, có bốn câu và ba chữ mang vần là: đác - xác - lạc. Nó không phải là Đường luật vì lau - hôm - củi – quen bất tuân niêm của luật thi. Ông Nguyễn Khắc Bảo hỏi rằng có bốn câu ba vần trong cổ thi không thì câu trả lời đã rõ. Đó là câu hỏi của một người thiếu hiểu biết định dùng để bắt bẻ người khác.


Chưa hết, khi trích ý kiến của GS. Dương Quảng Hàm, ông đã cố tình quên đoạn giáo sư so sánh giữa cổ phong và Đường luật, giả vờ không hiểu đoạn nói về niêm luật và cắt luôn cả đoạn nói về cách gieo vần trong lối cổ-phong cũng như các thông tin ví dụ mà giáo sư đã đưa ra. Ông cắt xén thông tin với mục đích gì vậy. Vì thiếu hiểu biết hay để đánh lừa người đọc.


Đến việc ông xác định thể của “hai bài thơ” thì quả thật để cười cho thiên hạ. GS. Bùi Văn Nguyên do ảnh hưởng ý kiến GS. Trương Chính (1962) và  của Hợp tuyển (1959) mà xác định đó là hai bài tuyệt cú. Nếu chia làm hai bài như sự nhầm lẫn đó thì gọi nó là hai bài tuyệt cú là đủ và đủ thận trọng. Đằng này ông Nguyễn Khắc Bảo vẽ rắn thêm chân vào văn người trước mà thêm vào mấy chữ “thuộc loại cổ-phong” thì đúng là thiểu năng trí tuệ. Xin nói rằng, nếu quan niệm là hai bài thì chỉ bốn câu đầu là tuyệt cú cổ-phong thôi còn bốn câu sau là tuyệt cú Đường luật đấy.Vì đó là một bài tuyệt cú Đường luật có cấu trúc sử dụng hai câu đầu và hai câu cuối của một bài thất ngôn bát cú Đường luật kể cả niêm và luật. Trong một cơn xúc cảm, viết liền một chùm hai bài mà ngay bài trên là cổ phong, bài dưới đã là Đường luật thì đó mới là điều dị thường. Còn coi nó là một bài thất ngôn bát cú cổ phong mới là điều tất yếu. Từ đầu mục a này tôi nói rằng ông Nguyễn Khắc Bảo hoàn toàn không biết gì về thể thơ trung đại, khi trích dẫn thì cắt cụt ý, giấu thông tin là vì vậy. Dùng một tri thức thiểu năng như ông mà tranh luận khoa học thì làm gì đi đến kết quả. Còn nhiều ngớ ngẩn nữa tôi sẽ nói sau. Lấy quy tắc của niêm luật thơ Đường luật (có sau) để xác định thể của thơ cổ phong (có trước) thì có khác nào lấy quy tắc của tám câu lục bát (dấu tích sớm nhất cũng cuối thế kỉ XV) để áp vào xem xét thể của thơ nôm Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập. Việc tôi nói rằng ông Nguyễn Khắc Bảo dùng thước tây (có sau) để lấy số đo bàn thờ (theo quy chuẩn có trước) là thế đấy. Có thế mà ông Bảo cũng không hiểu lại còn vặn vẹo.


c. Bây giờ ta sẽ điểm qua ý kiến về bài thơ trên của Nguyễn Hành là hai bài hay một bài:


- Ý kiến cho là một bài gồm: 1958, Phạm Khắc Khoan trình bày bài thơ khi sao chép làm một bài. 2006, nhà thơ Vương Trọng cho là một bài. 2006, Nguyễn Hùng Vĩ dựa trên bản sao chép chữ Hán mà xác định nó là một bài và coi ý kiến của những người cho đó là hai bài là một sự nhầm lẫn cần sửa chữa.


- Ý kiến quan niệm là hai bài: 1959, các tác giả làm Hợp tuyển… khi phiên âm sang chữ quốc ngữ dùng kí hiệu I đặt trên bốn câu đầu và kí hiệu II đặt trên bốn câu cuối. Có thể hiểu ý các cụ là hai bài. (Tuy nhiên trên văn bản này hoàn toàn không có dấu hiệu các cụ phân thành hai kỳ như ông Nguyễn Khắc Bảo cố tình mô tả sai để đánh lừa người đọc trong bài tranh luận với tôi. Đây là một tiểu xảo mập mờ trong mô tả. Tôi dám cá rằng ông Nguyễn Khắc Bảo không thể hiểu chữ kỳ trong văn bản chữ Hán được các nhà thơ dùng như thế nào mà nó lại chia các bài với nhau khi cùng một đầu đề. Cùng lắm ông chỉ hiểu nôm na kỳ là bài mà thôi). 1962, GS Trương Chính trên  Nghiên cứu văn học số 8 cũng quan niệm là hai bài. Sau đó giáo sư Bùi Văn Nguyên theo ông mà quan niệm là hai bài.2000, GS Đặng Đức Siêu khi làm Tổng tập văn học Việt Nam qua tham khảo các cụ như lời nói đầu viết, cũng dùng kí hiệu I và II đặt trên từng mỗi bốn câu. Cũng có thể hiểu quan niệm đó là hai bài. Điều lạ là với những bài khác mà trong bản chữ Hán chép rõ là kỳ nhất, kỳ nhị… thì ông phiên Kỳ I, Kỳ II, còn với bài này thì chỉ độc mỗi I, II mà thôi. Đây là một dấu hiệu đáng ngờ. 2006, và có thể trước đó, ông Nguyễn Khắc Bảo vì lệ thuộc vào người trước mà cũng quan niệm là hai bài khi tranh luận với nhà thơ Vương Trọng. Một đằng chúng tôi đang hi vọng sửa sai cho người trước qua văn bản chữ Hán sao chép lại ở thời điểm sớm hơn cả, còn một đằng thì dựa vào chính những văn bản đã phiên âm của họ và mượn uy tín khoa học người trước mà cãi lại thì làm sao mà có lí được. Ông hãy đưa ra một văn bản chữ Hán khác đi, nếu chúng tôi sai, chúng tôi sẵn sàng đính chính công khai.


Về phong cách chỉ thấy một điều rằng, Nguyễn Hành là một nhà thơ ưa thích dùng thể thơ cổ phong trong sáng tác của mình từ rất sớm. 12 bài trong Hợp tuyển… thì đã có đến sáu bài cổ thể (bát cú ngũ ngôn hoặc bát cú thất ngôn, bất tuân niêm hoặc chuyển vận hoặc cả hai). Trong lúc đó Ức Trai thi tập (Nguyễn Trãi), thơ Ngô Thì Nhậm, thơ Nguyễn Du với bát cú tuyệt đối không có bài cổ thể nào. Người bạn thân thiết của Nguyễn Hành là Nguyễn Huy Vinh (1770-1818, thọ 49 tuổi) trong bài tựa cho tập thơ Quan hải thi tập đã từng nói rằng Nguyễn Hành thường hướng đến những thể cổ văn cổ thi lại càng làm ta tin rằng ông đã sử dụng cổ phong trong trường hợp này. Hy Nhân Nguyễn Huy Vinh trong bài Quan hải thi tập tự viết về Nguyễn Hành như sau: “Mùa đông năm Kỉ Dậu (1789), ông lánh đến sống ở miền biển Đan Nhai, đêm ngày tụng đọc không ngừng, thường mượn sách của tôi, hễ không phải sách về thời Tam đại, Hán-Ngụy thì quyết chẳng xem; dụng tâm rất cao minh, đạt nhiều điều sở đắc. Rồi bèn bỏ hết những sáng tác trước đấy, đi sâu vào văn chương Tiên Tần, Tao, Tuyển, rồi đặt nhan đề cho tập thơ mình là Quan hải, có thể nói tầm nhìn thật thấu đáo vậy. Nguyên ủy của tam thiên là thể Tao của nước Sở, thể Tứ ngôn, Thất ngôn của thời Hán Tấn. Từ Đường trở xuống những thể đó trở thành một lưu phái vậy”. Xem vậy ta thấy ngay từ thời sáng tác Quan hải thi tập, Nguyễn Hành đã có xu hướng nghiêng về cổ thể một cách mạnh mẽ để tìm ra cái uyên nguyên của chính khí văn chương. Sử dụng cổ phong đúng là một phong cách của ông.


d. Đến đây tôi đã có thể lí giải về cách xác định của mình trong bài báo trước về thể của bài thơ Văn thúc phụ… Ở bài báo đó tôi đã viết rằng: (Trích): Về thể, có thể có hai cách quan niệm: Thứ nhất, đây có thể gọi là thất ngôn trường thiên, nhưng với trường hợp Nguyễn Hành, ông chỉ viết tám câu bằng đúng số lượng một bài thất ngôn bát cú. Thứ hai, theo chúng tôi là đúng hơn, đây đúng là một bài thất ngôn bát cú cổ thể luân chuyển bốn câu vần trắc tiếp bốn câu vần bằng. Tại sao tôi lại đã xác địnhlà thất ngôn bát cú cổ thể mà còn lưỡng lự với thất ngôn trường thiên và nói rõ là với trường hợp Nguyễn Hành ông chỉ viết 8 câu bằng đúng số lượng một bài thất ngôn bát cú. Sự thể như sau: Đối với văn học, việc xác định thể của nó chắc chắn là phải dựa trên văn bản và cách trình bày văn bản của người sáng tác. Tuy nhiên với những trường hợp cụ thể vẫn cần tính đến đặc điểm của hoàn cảnh sáng tác cũng như mối quan hệ của các thể trong một nền văn học. Trong nghiên cứu văn học dù hướng đến văn bản người ta vẫn cần những thông tin về tiểu sử và ngược lại. Xu hướng nghiên cứu văn bản và xu hướng nghiên cứu tiểu sử cần có những bổ trợ trong các trường hợp đó. Với trường hợp Nguyễn Hành, khi sáng tác cùng một lúc ông đối diện với nhiều thực tại, trong đó tối thiểu là: thực tại của mối xúc cảm khi nghe tin chú mình mất trong mùa đại dịch, song một thực tại khác là ông phải lựa chọn thể cho sáng tạo của mình. Trong văn học, mỗi thể có một công năng riêng mà khi sáng tạo, nhà thơ không thể không tính tới và lựa chọn. Những người đã được đào tạo và am hiểu ngôn ngữ văn học đều hiểu điều đó. Ở đây, Nguyễn Hành sẽ lựa chọn như thế nào? Với bát cú Đường luật, tự công năng của nó, sau tám câu sẽ chấm dứt một xúc cảm, một thực tại vì luật của thơ Đường luật là chặt chẽ và tự nó trọn vẹn. Khi cảm xúc quá dồi dào trước cái chết của một người thân mà Nguyễn Hành quá yêu quý, ông đã lựa chọn cổ phong vì cổ phong không yêu cầu bắt buộc phải dừng lại ở bát cú, nó hoàn toàn có thể kéo dài qua việc luân chuyển bằng trắc để trở thành trường thiên. Người viết sẽ chủ động hơn trong quá trình sáng tạo của mình. Sự lựa chọn này thích hợp với phong cách ưa dùng cổ thi của ông cũng như tình thế xúc cảm mà thực tại đặt ra. Trong mạch cảm xúc đó, ta thấy bài thơ dường như chưa dừng lại nếu đặt nó cạnh những bài thất ngôn trường thiên. Rất có thể vì một điều kiện nào đó đã khiến Nguyễn Hành dừng bút. Tôi viết rằng, “nhưng với trường hợp Nguyễn Hành, ông chỉ viết tám câu bằng đúng số lượng một bài thất ngôn bát cú” và đặt ý kiến đó ở tình trạng có thể quan niệm (có thể thôi, không khẳng quyết, để gợi mở những suy tư). Cách viết đó hoàn toàn không khác gì cách viết: “Truyện ngắn Chí Phèo là một tiểu thuyết thu nhỏ”. Đã truyện ngắn mà lại là tiểu thuyết đấy. Ông Nguyễn Khắc Bảo là người không thể hiểu nổi người khác trong nghề, ông lại cắt cụt ý của tôi và coi đó như một ý quan niệm khẳng quyết để bắt bẻ. Việc làm của ông chỉ lộ ra khả năng kém cỏi của ông mà thôi. Còn câu hỏi của ông rằng nó có phải thất ngôn bát cú hay thất ngôn bát cú cổ thể thì tôi đã trả lời ở phần trên. Còn trong bài, quan niệm của tôi về thể của bài thơ là hoàn toàn nhất quán.


Tóm lại, bằng những ví dụ của những bài thơ tương đồng đời Đường, đời Nguyễn mà tôi đưa ra, bằng những chỉ dẫn về thể thơ Đường luật và thể thơ cổ phong qua Việt Nam văn học sử yếu của giáo sư Dương Quảng Hàm, bằng văn bản chữ Hán chép từ 1958 của cụ Hồ Trai Phạm Khắc Khoan, bằng sự phân tích phong cách sử dụng thể thơ của chính Nguyễn Hành, khi đem áp bài thơ của cụ vào những chuẩn tắc đó, bạn đọc sẽ xem xét bài thơ đó thuộc thể nào, có đúng như tôi đã xác định không. Cũng từ đó, bạn đọc sẽ có nhận xét về tri thức và tư cách của ông Nguyễn Khắc Bảo qua bài ông trao đổi lại với tôi.


Vấn đề còn lại là tại sao các cụ làm Hợp tuyển… lại có sự lầm lẫn? Văn bản các cụ sử dụng là văn bản nào vậy? Điều này chỉ khi chúng ta tìm được văn bản chữ Hán đó sẽ có câu trả lời xác đáng. Còn hiện nay tôi vẫn vững tin rằng việc coi bài thơ trên là hai bài tuyệt cú là một sự lầm lẫn cần được sửa chữa. Sự lầm lẫn có thể xảy ra với bất cứ ai. Nhưng vấn đề là nếu không có người sửa chữa thì tình trạng dĩ ngoa truyền ngoa sẽ đem lại hậu quả cho việc nâng cao tri thức cộng đồng. Người sai theo người trước đã sai thì có thể thông cảm được vì kém cỏi. Nhưng theo cái sai rồi dùng mọi mánh lới, bất chấp sự thật, bất chấp những thao tác khoa học để cãi cối và xúc phạm người khác, đó là người không trung thực về mặt nhân cách!


(còn tiếp)


NHV.


 


vanhoanghean

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một cách nhìn khác về chiến tranh trong trường ca và thơ Việt Nam hiện đại - Lưu Khánh Thơ 18.06.2018
Khi anh nhìn em – Thơ của những tâm hồn lãng mạn, yêu thương mãnh liệt - Triệu Xuân 05.06.2018
“Tụng giá hoàn kinh sư” bài thơ chói ngời khí phách, khát vọng Việt - Trầm Thanh Tuấn 21.05.2018
Võ Phiến: Đọc: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta” (1974 ) - Võ Phiến 17.05.2018
Một giả thiết khác về hành trình đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 - 1814 - Nohira Munehiro 15.05.2018
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) (1) - Phạm Trọng Chánh 15.05.2018
Thi ca Việt Nam qua những miền kinh tuyến - Khuất Bình Nguyên 02.05.2018
Nhà thơ Ngô Thế Oanh: “Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ” - Nguyễn Việt Chiến 02.05.2018
Nhà văn, Dịch giả Phan Quang: tác phẩm, nhân cách, tấm lòng - Triệu Xuân 22.04.2018
Truyện Tỳ Bà, từ Trung Quốc vào Việt Nam - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
xem thêm »