tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18526532
Những bài báo
11.09.2015
Tư liệu
Cây núc nác & Cây mắc mật

Cây núc nác, phía sau lưng nhà văn Triệu Xuân, giữa rừng Krong Ana, Dak Lak.



Cây Mắc mật được Y sỹ Phùng Kiều Sính lấy giống từ quê nội Lạng Sơn vào trồng trong vườn nhà bạn tôi ở chân đèo Ea na, huyện Krong Ana, tỉnh Đăk Lăk (Darlak). Ảnh Triệu Xuân chụp ngày 22-8-2015.


Trái cây núc nác.


 



Khi còn non, trái núc nác đem nướng, hấp, là món ăn ngon rất hợp khi ăn các loại thịt, cá...


Núc nác có rất nhiều tên gọi khác như mộc hồ điệp, ngọc hồ điệp, vân cố chỉ, bạch ngọc chỉ, so đo thuyền, lin may, ung ca, hoàng bá nam, thiêu tầng chỉ, bạch ngọc nhi, thiên trương chỉ. Tên khoa học Oroxylum indicum (L.) Kurz. Thuộc họ Núc nác (họ Chùm ớt) - Bignoniaceae.


Núc nác là cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở cả hai miền Nam, Bắc nước ta. Ngoài ra còn thấy mọc ở các nước như Trung Quốc, Malaysia, Ấn Ðộ, Lào, Campuchia…


Cây to cao 7 – 12m, có thể cao tới 20 – 25m, thân nhẵn, ít phân nhánh, vỏ cây màu xám tro, nhưng khi bẻ có màu vàng nhạt. Lá to 2 – 3 lần kép lông chim, dài tới 2m. Quả nang to, dài tới 50 – 80cm, rộng 5 – 7cm, trong chứa hạt, bao quanh có một màng mỏng, bóng và trong, hình chữ nhật.


Cây nhỡ, cao 5-13m. Thân nhẵn, ít phân cành, vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng. Lá xẻ 2-3 lần lông chim, dài tới 1,5m. Hoa màu nâu đỏ sẫm mọc thành chùm dài ở ngọn thân. Đài hình ống, cứng, dày, có 5 khía nông. Tràng hình chuông, phình rộng, có 5 thuỳ họp thành hai môi, 5 nhị, có chỉ nhị có lông ở gốc. Đĩa mật có 5 thuỳ rõ, cao 4-5mm, đường kính 12-14mm. Quả thõng, dài 40-120cm, rộng 5-10cm, các mảnh vỏ hoá gỗ. Hạt dài 4-9cm, rộng 3-4cm, kể cả cánh mỏng bao quanh.


Hoa nở về đêm, thụ phấn nhờ dơi. Hoa và quả từng lúc quanh năm. Các quả chín vẫn ở trên cây khá lâu vào mùa khô khi cây rụng hết lá.


Bộ phận dùng: Vỏ và hạt - Cortex et Semen Oroxyli Indici.


Dược liệu là vỏ cây còn gọi là nam hoàng bá (Cortex Oroxyli). Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ cây phơi khô hay hạt núc nác (Semen Oroxyli) làm thuốc có tên là mộc hồ điệp (mộc là gỗ, cây; hồ điệp là con bướm) vì hình dạng giống như con bướm. Quả ăn có vị đắng, tính mát; hạt có vị đắng, tính mát, đi vào hai tạng can và phế.


Đông y cho rằng, nam hoàng bá tính mát, có tác dụng chống viêm ngứa, chữa kiết lỵ, tiêu chảy, chữa ho, chữa đau vú, ápxe vú, mụn nhọt. Chữa bệnh sởi đậu, sốt phát ban, viêm gan, đau mắt đỏ, một số bệnh ngoài da như eczema, chàm hóa các nốt sần, viêm da cơ địa, tổ đỉa, á sừng…


Do vậy nam hoàng bá và mộc hồ điệp được dùng làm thuốc trị liệu trong những trường hợp sau đây.


* Đau tức hạ sườn phải, da vàng, nước tiểu đỏ (do can khí uất kết): Chọn một phương.


- Nam hoàng bá 16g, bạch thược 12g, đan bì 12g, chi tử 12g, sài hồ 16g, xa tiền 12g, nhân trần 12g, cỏ mực 16g, rau má 20g, cam thảo đất 16g. Cho các vị vào ấm, đổ nước 1 lít, sắc còn 400ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.


- Nam hoàng bá 16g, diệp hạ châu 16g, cối xay 16g, đương quy 12g, sài hồ 12g, tam thất 10g, thanh bì 12g, bưởi bung 16g, xa tiền 12g, bạch mao căn 16g, cam thảo 12g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước sắc còn 400ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.


* Trị viêm da ngứa lở, các tổn thương bị tiết dịch có biểu hiện bội nhiễm.


- Thuốc uống: Nam hoàng bá (sao qua) 16g, kim ngân 16g, kinh giới 16g, phòng phong 10g, chi tử 10g, đinh lăng 16g, sài hồ 16g, xuyên khung 10g, bạch chỉ 10g, sài đất 20g, lá bưởi bung 16g, uất kim 10g, cam thảo 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước sắc còn 400ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.


- Thuốc rửa tại chỗ: Nam hoàng bá 50g, lá kinh giới 30g, lá đinh lăng 30g. Các thứ trên cho vào ấm, đổ nước nấu sôi, nhấc khỏi bếp cho nguội. Dùng nước này rửa các chỗ bị tổn thương, ngày 2 lần.


* Trị bệnh sởi (bài thuốc dùng cho trẻ em): Nam hoàng bá 6g, kinh giới 6g, ngân hoa 4g, lá dấp cá 5g, mã đề thảo 4g, sài đất 5g, liên kiều 4g, hoa hồng bạch 4g, sài hồ 4g, đương quy 4g, cam thảo 4g, huyền sâm 4g. Cho các vị vào ấm, đổ 2 bát nước sắc còn 1 bát, chia 3 – 4 lần uống trong ngày. Nên kiêng gió, kiêng nước lạnh cho trẻ.


* Hội chứng lỵ (đau bụng đi ngoài nhiều lần, phân có lẫn máu mũi, mùi tanh): Nam hoàng bá 20g, hoàng liên 12g, khổ sâm 16g, cỏ sữa 20g, lá nhót 20g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, bạch truật 12g, chích thảo 12g, cỏ mực (sao đen) 20g. Sắc uống ngày 1 thang.


- Hoặc nam hoàng bá 16g, búp ổi 12g, khổ sâm 16g, đinh lăng 20g, rau sam 20g, cỏ sữa 20, hoa hòe (sao đen) 16g, bạch truật (sao hoàng thổ) 12g, cây cứt lợn 16g, ngũ gia bì 16g, hoàng đằng 12g, chích thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Kiêng chất tanh, dầu mỡ.


* Trị vú có hòn cục, sờ vào thấy rắn và đau, có thể sốt nhẹ, cần điều trị sớm bằng các phương thuốc sau:


- Thuốc uống: Nam hoàng bá 16g, hương nhu trắng 16g, cát căn 16g, hoàng cung trinh nữ 6g, uất kim 10g, đinh lăng 16g, táo nhân (sao đen) 16g, hoa hòe (sao vàng) 20g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, xuyên khung 12g, tam thất 12g, xương bồ 16g, huyền sâm 12g, chích thảo 12g. Cho các vị trên vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày. 15 – 20 ngày là một liệu trình.


- Dùng kết hợp thuốc chườm: Lá nam hoàng bá, lá đinh lăng mỗi thứ 50g, sao rượu. Dùng miếng vải mềm gói lại, chườm tại chỗ. Khi thuốc nguội, cần sao lại để chườm tiếp. Công dụng: Tiêu viêm, giải uất, phá kết.


* Chữa viêm họng mạn tính: Dùng mộc hồ điệp 6g, hạt bí đao 10g, thêm chút đường trắng cùng sắc uống trong ngày (Gia đình thực liệu hiệu phương).


Loài phân bố từ Xri Lanca tới Ấn Độ qua Himalaya, Nam Trung Quốc, Đông Nam Á châu tới Philippin, các đảo Xêlép và Timo. Ở nước ta, cây mọc hoang ở rừng thường xanh và có khi trong các quần hệ thứ sinh những vùng thấp ẩm ướt, tới độ cao 900m. Cũng có nhiều nơi gây trồng. Trồng bằng hạt hoặc bằng cành vào mùa xuân. Thu hái quả nang chín màu nâu vào mùa thu và đông, phơi khô ngoài nắng cho vỏ nứt hạt, tách lấy hạt và phơi tiếp cho đến khô. Vỏ cây thu hái quanh năm; khi cần thiết, đẽo vỏ trên cây, phơi hay sấy khô.


Vỏ và hạt chứa một hỗn hợp flavonoid và chất đắng kết tinh là oroxylin. Vỏ chứa baicalein và chrysin. Hạt cũng chứa oroxylin và một chất dầu chứa 80,40% acid oleic, acid palmitic, acid stearic và acid lignoceric.


Tính vị, tác dụng: Vị đắng ngọt, tính mát. Hạt có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi hầu họng, chống ho, giảm đau, vỏ thân có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp. Các flavonoid trong vỏ cây và hạt có tác dụng đối với bệnh mày đay và mẩn ngứa và còn có tính kháng trùng.


Ăn: Lá hoa và quả khi còn non đều ăn được sau khi đun nấu. Người ta thường lùi quả non vào trong tro than rồi đem bóc bỏ vỏ ngoài, lấy phần trong của quả xào ăn.


Hạt, vỏ thân thường được dùng làm thuốc.


Hạt dùng trị:  viêm họng cấp và mạn tính, khan cổ; viêm phế quản cấp và ho gà; Đau vùng thượng vị, Đau sườn.


Vỏ được dùng trị: viêm gan vàng da, viêm bàng quang, viêm họng, khô họng, ho khan tiếng, trẻ em ban trái, sởi. Cũng dùng chữa dị ứng sơn, trị bệnh vẩy nến, hen phế quản trẻ em.


Ở Ấn Độ, người ta dùng vỏ rễ trị ỉa chảy, lỵ, vỏ thân làm thuốc bổ đắng và trị tê thấp cấp tính. Quả non lợi trung tiện và lợi tiêu hoá. Hạt để xổ và làm thuốc trị rắn cắn.


Liều dùng: 1,5-3g hạt, 15-30g vỏ, dạng thuốc sắc. Có thể nấu thành cao hay chế dạng bột. Dùng ngoài nấu nước rửa hoặc dùng cao bôi.


Ở nước ta đã sản xuất nunaxin viên 0,25g từ hỗn hợp các flavonoid để chữa mày đay và mẩn ngứa, dùng vỏ Núc nác làm viên Habanin kháng trùng và một loại viên kết hợp 2 dạng thuốc trên.


1. Ngoài da lở ngứa, bệnh tổ đĩa ngứa giữa lòng bàn tay, bệnh giang mai lở loét: Vỏ Núc nác, Khúc khắc, mỗi vị 30g, sắc uống hàng ngày.


2. Viêm đường tiết niệu, đái buốt ra máu: Vỏ núc nác, rễ Cỏ tranh, Mã đề mỗi thứ một nắm, sắc nước uống.


3. Ho lâu ngày: 5-10g hạt, sắc nước hoặc tán bột uống.


4. Lở do dị ứng sơn: Vỏ Núc nác nấu cao, dùng uống và bôi vào chỗ lở.


Cây Mắc mật


Mắc mật, móc mật, mác mật, còn gọi là hồng bì núi hay củ khỉ, dương tùng (danh pháp hai phần: Clausena indica) là loài thực vật có hoa thuộc họ Cửu lý hương. Mắc mật thường mọc trên núi đá vôi. Từ "mắc mật" là tiếng Tày-Nùng và có thể dịch thành "quả ngọt".


Tại Việt Nam, cây phân bố ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa, Hòa Bình. Quả mắc mật có thể ăn tươi hoặc dùng để nấu, kho trong một số món ăn, ngoài ra quả Mác Mật còn dùng để ngâm măng ớt; lá mắc mật có tinh dầu thơm nên được dùng trong các món vịt quay hay lợn quay tại Cao Bằng, Lạng Sơn.


Mác mật thuộc loại cây gỗ nhỏ, cao từ 3 đến 7 mét, cành non có màu xanh nhạt, có lông rải rác về sau nhẵn, vỏ thân màu xám đen, có những nốt sần. Vỏ thân, cành, lá, hoa, quả có tinh dầu thơm. Lá kép lông chim mọc cánh, dài 10-30 cm, chóp lá nhọn, gốc lá lệch, tù hay nhọn, mép lá gần như nguyên hay có khía răng nhỏ. Quả hình cầu, đường kính 9-13mm, có các điểm tuyến, khi chín có màu trắng nhờ đến trắng trong. Hạt 1-2 mm, màu xanh nhạt.


Mác mật ra 2 đợt lộc trong năm là lộc xuân và lộc hè thu. Với độ cao phân cành 56-80cm là phù hợp đối với cây thu hái quả, đặc biệt là quả mọng nước.


Cây giống mác mật có chiều cao 15- 20 cm, cây giống khỏe không sâu bệnh.


Cây đạt chiều cao và hình dạng bộ khung tán ổn định có hình mâm xôi hoặc hình bát úp vào giai đoạn từ 16- 20 năm tuổi sau trồng. Về phát triển: Mác mật ra hoa tháng 4-5, quả chín vào tháng 6-7. Quả còn non có màu xanh đậm, hình cầu, trên vỏ có túi tinh dầu, khi chín vỏ quả màu vàng nhạt, nhẵn bóng, trong.


Người ta thường sử dụng quả và lá mắc mật để ăn, làm gia vị như một loại quả đặc sản vì có mùi thơm đặc biệt


Quả và lá non dùng làm gia vị, lá và rễ được dùng trong đông y, ngoài ra lá cây cũng được dùng để cất tinh dầu. Quả mắc mật có thể ăn tươi có thể rửa sạch quả cho vào lọ và ngâm với muối, ớt, hoặc dùng để nấu, kho trong một số món ăn; lá mắc mật có tinh dầu thơm nên được dùng trong các món thịt lợn quay, thịt lợn kho, khau nhục, vịt quay…, có mùi thơm ngon đặc biệt.


Ngoài chức năng dùng làm gia vị để chế biến một số món ăn, lá cây mác mật còn có tác dụng lợi mật, kích thích tiêu hóa; tinh dầu quả mác mật có tác dụng bảo vệ gan, làm giảm đau.


Lá có hàm lượng protein, sắt, mangan, canxi cao hơn quả và hạt, quả mắc mật giàu hàm lượng vitamin C. Hàm lương tinh dầu: Tập trung chủ yếu ở lá, vỏ quả, hạt, cành, cuống lá, cuống quả. Bộ phận chứa nhiều tinh dầu nhất là vỏ quả chứa 5,55%. Sau vỏ quả là lá chứa 2,71%. Hạt chứa 1,47%.


Trong tinh dầu lá mác mật có 11 thành phần chất, trong đó, có 2 thành phần chính là myristicin (40,37-56,04%) và P-cymen-8-ol (18,58-22.45%). Trong tinh dầu của vỏ quả có 9 thành phần chất, trong đó chủ yếu là beta-myrcen (70%).


Thành phần hoá học của tinh dầu lá và vỏ quả có sự khác nhau cơ bản về hàm lượng một số thành phần chính nên mùi thơm của quả khác với mùi thơm của lá. Từ thành phần hoá học trong lá và vỏ quả có thể sử dụng làm thuốc giảm đau có nguồn gốc thiên nhiên.


Trong lá và quả có hàm lượng các nguyên tố vi lượng và đa lượng khá cao. Trong đó, lá có hàm lượng protein, sắt, mangan, can xi cao hơn quả và hạt. Quả mác mật rất giàu hàm lượng vitamin C. Ngoài cung cấp các nguyên tố vi lượng, đa lượng và vitamin C cho cơ thể, người dân còn dừng cây mác mật để làm thuốc chữa cảm sốt, phong thấp, lá nấu nước gội đầu làm sạch gầu.


 


Tư liệu sưu tầm

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hoa sứ mà người ta dịch là hoa bằng sứ - Tư liệu 29.03.2017
Nam Hà, một thời chiến trường sống và viết - Ngô Vĩnh Bình 29.03.2017
Đình Đông Cốc, Bắc Ninh: Bán cây sưa 200 tuổi giá 24,5 tỉ đồng - Nhiều tác giả 28.03.2017
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
xem thêm »