tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813304
Lý luận phê bình văn học
27.08.2015
Nhiều tác giả
"Kiểm dịch Trần Đình Sử" của Chu Giang và hai bài phản biện lý thú!


GS Trần Hữu Dũng: Cái ông Chu Giang này không biết một tí gì về "thuyết trò chơi" (game theory) cả.  Một sự dốt nát thảm hại! (Nếu biết tiếng Anh, ông nên đọc cuốn "Game theory: A critical Introduction" của GS kinh tế, cưu bộ trưởng tài chính Hi Lạp Yanis Varoufakis, để biết có thể áp dụng thuyết này vào các thương thuyết quốc tế - từ các thỏa hiệp hạt nhân đến các thỏa ước kinh tế tài chính - ra sao. Hay là đọc cuốn sách của ... tôi ("A Microeconomics Reader") để biết thuyết này được áp dụng vào các cạnh tranh công nghiệp ra sao).  Ông có biết rằng John Nash, người đã có những đóng góp nền tảng cho "thuyết trò chơi" đã nhờ đó mà được Nobel Kinh tế? (Nếu không đọc nổi John Nash thì nên xem... phim "A Beautiful Mind" về đời ông ta, do Russell Crowe đóng).



Kiểm dịch Trần Đình Sử



Bài của Chu Giang (tên thật: Nguyễn Văn Lưu)



Về mọi phương diện, Luận án của Trần Ngọc Hiếu tệ hại nguy hiểm hơn Luận văn của Đỗ Thị Thoan rất nhiều. Tác hại xã hội của nó là ở cấp độ cao hơn. Song chúng tôi sẽ không đề nghị huỷ bỏ Luận án thu hồi học vị, xem xét trách nhiệm của người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn.



Nếu làm thế, thì còn gì là khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội nữa. Vuốt má nể môi. Mía sâu có đốt nhà dột có nơi. Thôi thì chỉ mong “các ông tí” nhanh nhanh lên để còn lau chùi bát đĩa đậy điệm đồ ăn giống dựng. Nhà nghèo thực không dám phí phạm. Ày là một lẽ. Còn một lẽ cao sâu cảm động hơn là GS.TS Trần Đình Sử tuy thế, vẫn còn gắn bó với trung tâm, với cái chính thống, với thể chế này lắm. Bởi Giáo sư vẫn tham dự vào Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, năm 2014. Giáo sư lại kính tặng tác phẩm dự giải cho nhà văn Dương Trọng Dật, ủy viên Hội đồng Lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam để thêm phần hiểu biết tin cậy. Nhà văn Dương Trọng Dật người Bắc, tỉnh Đông (Hải Dương) sau chiến tranh định cư ở TP. Hồ Chí Minh. Đúng là hữu duyên thiên lý mới tương ngộ được như vậy. Tuy không được cái giải gì, nhưng tấm lòng của Giáo sư đối với Hội ta (Chu Giang cũng là hội viên), với chế độ ta, với nền văn học cách mạng – xã hội chủ nghĩa của chúng ta vẫn còn sâu nặng lắm. Nghĩ mà xem. Mâm cao cỗ đầy. Nhà hàng sang trọng. Trống ngược kèn xuôi thiệp mời trang trọng mà khách khứa không thèm đến thì có nhục không? Đằng này bữa cơm rau muối nhưng nặng tình nặng nghĩa. Được lời như cởi tấm lòng. Chủ khách một lòng thành thực, rượu với bia tuy ít vẫn thừa… Cho nên Hội ta tuy chưa được cái Noben nào nhưng đã hơn ngàn lại hơn ngàn đang chờ vào, là người ta trông vào Giáo sư đấy. Quí hóa lắm. Giải nào cho xứng. Trong các bài viết trước đây, có điều gì làm cho Giáo sư không được vui lòng, mong Giáo sư mở lượng khoan dung thì kẻ học trò này hân hạnh vô cùng. Từ nay, chỉ dám thưa với Giáo sư những chỗ chưa được thông khi tiếp cận với tư tưởng của Giáo sư qua một khối lượng trước tác thật là đồ sộ.



Nhìn vào danh mục Những tác phẩm chính của Giáo sư quả thật là choáng ngợp. Trước một GS.TS. NGND hội viên Hội Nhà văn từ địa phương đến quốc gia, tổng chủ biên, chủ biên, biên soạn, viết



chung và dịch thuật biết bao nhiêu là công trình… thì dám nói gì nữa chứ. Đọc đi ngắm lại, định thần lại, mới thấy có một công trình biên soạn chung hay lắm, mà Giáo sư quên mất. Xem trong Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại bản in lần thứ tư, năm 2010 cũng không thấy. Đó là cuốn “Một thời đại văn học mới” (NXB Văn học. H. 1987), Giáo sư có bài hay lắm.



Xin trích một đoạn: “Con người của nền văn học đó (văn học cách mạng) không thể nào khác hơn là con người chính trị, con người được nhận thức thể hiện trong bản chất giai cấp, trong các quan hệ của đời sống muôn vẻ, gắn liền với chính trị và được đánh giá từ góc độ chính trị. Đó là điểm cách tân quan trọng nhất, căn bản nhất của văn học ta cũng là đặc điểm chung căn bản của văn học xã hội chủ nghĩa thế giới” (Một thời đại văn học mới. NXB Văn học, 1987, tr.46).



Tôi nói hay là nói đến cái giá trị khoa học của nó. Không có bài luận của GS thì ngay bây giờ cho đến các đời sau người ta không biết con người Việt Nam hồi ấy nó như thế nào. Làm sao mà cắt nghĩa được những công việc long trời lở đất kinh thiên động địa đến nỗi các ông Tây phải cuốn cờ xách túi ra về. Cái con người giai cấp con người chính trị mà làm được như thế chẳng đáng là con người hay sao? Nói thật lòng với GS chứ bây giờ tôi lại ước mong những con người chính trị đó sống lại đông thêm mạnh ra trăm triệu người cùng chung một ý chí một niềm tin cùng hành động thì cái đám quan liêu tham nhũng buôn gian bán lậu đạo chích đạo văn… còn đường nào đất nào mà hoành hành. Con người cá nhân phong phú đa dạng cũng hay, ai ai cũng là hoa hậu hoàn vũ, ước mơ cho lá rau má to bằng lá sen… thì cuộc đời đẹp làm sao! Nhưng mà cứ như hiện thời, con người cá nhân phong phú đa dạng con người tự do tự chọn… nó làm cho gia đình và xã hội nát như tương bần. Chẳng nói xa xôi cứ nói trong ngành giáo dục – đào tạo, trong nhà trường bây giờ từ mầm non mẫu giáo đến đại học cao học siêu học… thật biết bao nhiêu cái buồn lòng. Chưa đọc thông viết thạo đã phải chạy điểm chạy lớp chạy trường. Lên nữa thì chạy bằng chạy cấp mua luận án bán luận văn ngay nách tường Bộ học… Thầy chẳng theo được Di Tề. Học trò không biết chuyện Tăng Sâm, Phạm Sư Mạnh… Lạnh nhạt với lý tưởng – ước mơ – nghĩa vụ, thay các điển hình người tốt việc tốt bằng các thần tượng, các cảm giác mạnh… đã đưa lớp trẻ đến đâu? Vụ thảm sát ở Bắc Giang năm trước, lại Bình Dương vừa rồi… man rợ khủng khiếp quá. Nhà trường và các thầy nên xem lại sự giáo dục, sự truyền bá truyền thụ kiến thức tri thức cho học trò đi. Cổng trường khắc câu Tiên học lễ… Học trò nó bảo Tiên học phí… Bài Văn hóa và con người trong thời hội nhập… in trên Văn nghệ Nghệ An, nay GS chọn vào sách, là xác đáng, trúng cựa lắm. Tôi rất tán thành. Nhưng trong khung cảnh xã hội như trên mà lại đề cao ngoại biên, đề cao, khuyến khích giải trung tâm, giải chính thống, giải truyền thống, phá vỡ cái hiện hữu, cái tiền lập. Tất cả đều đem ra làm vè, giễu nhại từ lãnh tụ anh hùng dân tộc danh nhân văn hóa cho đến thuần phong mĩ tục… thì đưa xã hội đến đâu? Tự do sáng tạo mà giễu cợt chớt nhả cá đối bằng đầu có giống Quát (Cao Bá Quát)… có như Xương (Trần Tế Xương)… (LA. 109) rồi diệt cả Lục Vân Tiên, cả cụ Chiểu (Đồ Chiểu), thơ chỉ cốt vần vè mà không thành một chút nội dung nào lại có thể tôn vinh hay sao (LA. 180)? Ày là chỗ rất bất cập của Giáo sư. Nó chẳng xứng với một người làm lý luận chuyên nghiệp, một nhà khoa học về đường lý luận (văn học) như Giáo sư tự nhận.



Những bất cập của Giáo sư về đường tri thức cụ thể nó nhiều lắm, thôi ta chẳng nói. Mà đi tìm nguyên nhân của nó. Đó chính là phương pháp tư duy, phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Giáo sư. Chỗ này cần làm rõ, không phải chỉ vì Giáo sư, mà vì muôn ngàn Giáo sư trong tương lai. Giáo sư chẳng qua chỉ là cái ví dụ cụ thể cái mẫu bệnh phẩm trong sự kiểm dịch mà thôi.



Nay xin kiểm dịch sơ qua quyển Trên đường biên của lý luận văn học. NXB Văn học. H. 2014. Tác phẩm tham dự Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn đã nói trên.



Không rõ trong Tuyển tập Trần Đình Sử, NXB Giáo dục. H. 2004, sự trước tác của Giáo sư như thế nào, vì tôi chưa có hân hạnh được tiếp cận. Nhưng sau 10 năm Giáo sư mới đưa ra cuốn Trên đường biên… mà Giáo sư tự nhận Đây là cuốn sách của một người làm lí luận… trong hành trình tự vượt lên mình (Lời nói đầu. Viết ngày 10-6-2014 tại Hà Nội).



Cứ xem như thế thì sự trước tác ở đây còn phải nghiêm cẩn hơn cả Tuyển tập…



(năm 2004). Là cái dịp tự duyệt lại mình tự vượt lên mình thì một ý tưởng, một câu một chữ càng phải nên thận trọng, thực sự là mình tự vượt lên chứ không phải mình tự tụt xuống. Cho nên xin thưa với Giáo sư ba điểm trong cuốn sách mới này: một về thái độ học thuật. Một về phương pháp học thuật. Một về cụ thể học thuật.



Xin được tuần tự.



    Về thái độ học thuật:



Giáo sư viết: Các ý kiến của tôi chắc chắn khó tránh khỏi khuyết điểm, mâu thuẫn hoặc chưa chín. Đó cũng là chuyện thường tình. Đây là câu cuối cùng trong Lời nói đầu.



Thế là giáo sư kiêu ngạo quá. Trịch thượng quá. Xem thường khoa học, xem thường bạn đọc quá. Có khuyết điểm ư, có chưa chín ư… đó là sự thường tình, là chuyện thường tình nhé. Ăn được thì ăn xài được thì xài không thì bỏ đó nhé. Sống mới chả chín. Đây chỉ có thế. Nó là chuyện thường tình xưa nay. Rách chuyện.



Thưa giáo sư, một cá nhân không tránh khỏi được thiếu sót. Nó là thực tế. Như một qui luật. Vì cá nhân là một người. Cái nhìn cái nghĩ của một người làm sao bao quát hết cả. Làm sao bằng được muôn người. Cho nên nó là sự thường gặp. Nhưng không vì nó là sự thường mà xem nó là thường tình, không tỏ ra cẩn trọng. Nên người xưa thường mở đầu bằng Phi lộ (lời dẫn trước), Lời thưa trước, Đôi lời này kia, và cuối bài, cuối sách luôn tỏ ra khiêm nhường, thường dùng chữ cẩn chí, cẩn tự, lời cầu mong được chỉ giáo, được bổ chính… Rằng “người viết tuy thế này thế kia, vẫn không tránh khỏi thế này thế kia… Mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho… ”. Nói xa thì như thế, nói gần thì như nhà văn nhà giáo lão thành Phạm Toàn trong lời giới thiệu cho Tập tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của cụ Phạm Thượng Chi quá cố, cũng dùng mấy chữ Phạm Toàn cẩn tự ở cuối bài. Có đâu như Giáo sư, quẳng ra một câu Đó cũng là chuyện thường tình rồi chấm hết. Trong học thuật mà thái độ như thế thì rất khó tự vượt mình, vì cái gót Asin nó còn nặng lắm. Người xưa xem thói kiêu ngạo là căn bệnh tệ hại nhất của kẻ sĩ cũng là có lý lắm (Xem Danh ngôn Hán học. Trần Lê Nhân. NXB Văn học. H. 2008). Bây giờ thì càng có lý.



    Về phương pháp học thuật:



Giáo sư viết: Tôi là người đã được đào tạo nhiều năm trong môi trường lý thuyết cũ, bao nhiêu năm tuổi trẻ dành đọc các lý thuyết xơ cứng. May mà tự biết tìm đọc các tinh hoa lí luận Liên Xô cũ của Mikhail Bakhtin, Dimitri Likhachev, Jouri Lotman, tôi đã nhận thấy những hạn chế của lí thuyết Xô Viết và tìm cách diễn giải lại, trước hết cho bản thân mình, sau cung cấp cho bạn đọc tham khảo.



Tôi đã nhiều lần tham gia và chủ biên giáo trình lí luận cho các trường đại học, đã cố gắng đưa vào các tri thức mới (Lời nói đầu. Trên đường biên… Sđd., tr.8). Cái bất cập lớn nhất trong phương pháp học thuật của Giáo sư là ở chỗ diễn giải lại. Đọc thiên kinh vạn quyển mà chỉ làm được cái việc diễn giải lại thì có khác gì đào, kép cứ theo vở của thầy tuồng mà diễn giải lại. Và Giáo sư đã diễn giải lại, theo tôi, là rất sai, trường hợp lý thuyết ngoại biên của Bakhtin. Chỗ này, Giáo sư tỏ ra vào hàng kép nhất mà diễn giải lại cái vở của Bakhtin thôi. Hoàn toàn không có tri thức gì mới và càng không có sự sáng tạo nên khi vận dụng vào văn học Việt Nam hiện nay, khá là sai lầm nguy hiểm, như sự hướng dẫn khoa học cho Trần Ngọc Hiếu, với tư tưởng giải trung tâm, đề cao, cổ động cho cái ngoại biên, cho quá trình ngoại biên hóa đang diễn ra trong văn học Việt Nam.



Về lý thuyết ngoại biên của Bakhtin là vấn đề cũng dài dòng văn tự. Nhưng cần phải đặt ra những vấn đề khi tiếp cận với thuyết của Bakhtin.



Về tư cách học thuật của Bakhtin là không hoặc chưa đáng tin cậy. Xem Ngô Tự Lập trên Lý luận phê bình văn học nghệ thuật – Tạp chí của Hội đồng LLPBVHNT TW – số tháng 5-2015 thì Bakhtin có nhiều khả năng là một tay đại bịp. Tuy nhiên, phải chờ đợi thông tin ở các chuyên gia văn học Nga. Biết đâu là ngược lại. Nhưng các trích dẫn của Giáo sư về Bakhtin là chưa đáng tin cậy, thậm chí có chỗ theo chúng tôi, là giáo sư đã diễn giải lại một cách ngô nghê, như câu này: Theo Bakhtin, biên giới (đường biên, ranh giới, giới hạn, tiếp giáp, ngoại biên) không phải là vùng khép kín, bất biến mà là nơi mở ra, tạo thành tính chất chưa hoàn thành của đời song và văn hóa (TĐB… tr.315). Thật là thấy người ăn cũng thò tay vào bị… đời sống và văn hóa có bao giờ là hoàn thành nhỉ? Viết rồi dịch rồi diễn giải lại một sự vô nghĩa, nó phí phạm quá. Trong động từ tiếng nga chia ra thể hoàn thành và chưa hoàn thành, thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Từ những ký ức của ngôn ngữ mẹ đẻ mà Bakhtin viết như thế, ấy là chuyện của ông ấy. Nhưng khi đọc và diễn giải lại cho người Việt, sang tiếng Việt, thì phải khác tiếng Nga chứ. Đời sống và văn hóa mà hoàn thành thì thành đại nghĩa địa rồi, còn gì phải bàn nữa chứ. Ảy, cái nô lệ học thuật chữ nghĩa tuy thế cũng vui. Chứ can tự như Phạm Toàn thì còn gì mà nói.



Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn.



Cần phải xem Bakhtin đưa ra thuyết ngoại biên hóa trong hoàn cảnh như thế nào. Về chủ quan – tác giả, tức Bakhtin, về khách quan, ngoại quan, là xã hội Xô viết, cuộc sống Xô viết thời đó. Và mục đích của các trường phái phương Tây thời đó.



Theo Ngô Tự Lập thì Bakhtin là người chống Mác quyết liệt từ đầu đến cuối. Cái giải trung tâm, ngoại biên hóa, chống lại trung tâm, chính thống của thuyết ngoại biên là có nguồn cơn từ đó chăng? Và phương Tây bốc Bakhtin lên như nhà bác học lớn của thời đại, nhà tư tưởng lớn của thời đại, phải chăng, trước hết, và xuyên suốt, cuối cùng, vì Bakhtin là kẻ không đội trời chung với chủ nghĩa Mác? Mà việc bốc thơm, tung hô Bakhtin ở Việt Nam gần đây nó có cái hơi hướng đó không?



Nhưng mà qua sự diễn giải lại Bakhtin thì thấy thầy trò Giáo sư rất đáng buồn cười, nhất là câu này “Mikhail Bakhtin quan niệm bản chất văn hóa nằm ở ngoại biên” (Sđd., tr.314). “Lĩnh vực văn hóa không có nội địa, bởi vì toàn bộ nó nằm trên đường biên…” (Sđd., tr.314). Rồi theo thầy, Giáo sư Trần viết: Tôi hình dung lí thuyết văn học như một không gian, mà đường ranh giới của nó tiếp giáp với các không gian lí thuyết khác. Mọi đổi thay lí thuyết đều diễn ra trên đường ranh giới này. Mọi cố gắng của tôi cũng đều nằm trên đường ranh giới Cái gì đang ở biên có nghĩa là chưa vào tâm… (Sđd., tr.9).



Giáo sư quả là một học trò rất vụng về của Bakhtin. Trò mà như thế biết thầy làm sao! Văn hóa đâu phải ở các chợ đường biên.



Để khỏi mất thì giờ của bạn đọc, xin khái lược thế này: Thế giới vô cùng phong phú đa dạng nhưng có qui luật. Mỗi một phạm vi lĩnh vực, một thực thể… có qui luật của nó. Khi nghiên cứu khoa học phải tìm ra sự khác nhau giống nhau và quan trọng hơn là phạm trù này có thể vận dụng được gì ở phạm trù kia, mà không thể thuyền đua thì lái cũng đua con cóc cũng nhảy con cua cũng bò… ấy là về lí thuyết. Hiệu ứng ngoại biên mà Bakhtin vận dụng là của lí thuyết sinh học. Ở vùng giáp ranh giữa hai môi sinh môi trường thì sinh vật phát triển cực mạnh, cực phong phú. Cái đó cũng đúng mà cũng chưa hoàn toàn. Vùng nước lợ quả là lắm thứ tôm cá. Nhưng nó chỉ nhiều chỉ lắm ở đấy. Cái đa dạng phong phú của vùng giáp ranh (nước lợ) cũng có cái hay – như món cá song cá vược con nhệch con nhạc chẳng



hạn. Nhưng con cá ngừ đại dương con cá voi cá mập cũng có giá của nó chứ. Cấu trúc của các hệ thống xã hội, về chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa nghệ thuật… nó khác lắm. Không thể đem mô hình, lý thuyết đường biên sinh học mà vận dụng vào được, mà hô hào giải trung tâm, ngoại biên hóa. Bakhtin có động cơ mục đích của ông ta. Còn trong học thuật nói chung và ở Việt Nam nói riêng, không thể nhắm mắt tụng theo Bakhtin được. Thôi không dài dòng nữa. Mời Giáo sư vào chính khu rừng nhiệt đới – như Cúc Phương chẳng hạn, rồi lại lên vùng giáp ranh như Sapa chẳng hạn, xem nó giống nhau khác nhau thế nào. Xem sức sống ở đâu mạnh hơn, phong phú hơn. Rồi về Hà Nội, nhờ cái Hội trường Viện văn chẳng hạn, phương chi nhiên hậu, ta hẵng bàn đến cái ngoại biên và ngoại biên hóa.



Giáo sư tự nhận có mâu thuẫn là đúng. Giáo sư dẫn giải Bakhtin rằng văn hóa không có nội địa, cũng không có trung tâm, tất cả là ở ngoại biên. Nhưng xướng xuất lí thuyết, Giáo sư lại hàm ý mong vào được Trung tâm vào được tâm: Cái gì đang ở biên có nghĩa là chưa vào tâm… (Sđd., tr.9). Giáo sư ơi, ở tâm, ở trung tâm, nó có cái gì đâu, nó có gì đâu mà mong vào! (Ày là theo tinh thần tư tưởng của Bakhtin). Vả lại, một lần mâu thuẫn thì thể tất được thịt da ai cũng là người, nhưng nhiều lần, và ở những chỗ rất quan trọng thì thành ra anh hàng bán mâu rao thuẫn, cái gì cũng đâm thủng, cũng giải được mà không có cái gì đâm thủng được giải hóa được…



- về cụ thể học thuật:



Có nhiều, xin nêu một vài làm ví dụ. Giáo sư viết:



“Tuy nhiên, truyền thong tư tưởng của chúng ta thiếu vắng các cuộc tranh luận khoa học thực sự, vì truyền thong ấy coi trọng chữ “đồng”, “tam giáo” rất khác biệt vẫn “đồng nguyên ”. Do coi trọng chữ đồng cho nên xã hội, văn hóa ít có biến động lớn, xã hội gần như dẫm chân tại chỗ, ít phát triển” (Sđd., tr.308).



Giáo sư không hiểu những đặc điểm rất quan trọng của lịch sử chính trị và văn hóa của Việt Nam. Tranh luận khoa học thực sự đúng là còn ít nhưng thiếu vắng thì không đâu. Hỏi các cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Tô Ngọc Vân… xem. Hòa đồng tôn giáo là một tư tưởng tích cực trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam. Ở ta không có kỳ thị mâu thuẫn chiến tranh tôn giáo vì là như thế. Quí lắm! Sau này đến Tứ giáo (thêm Thiên chúa giáo) vẫn đồng ở chỗ nguyên nên các giáo hiện tồn vẫn chung câu tốt đời đẹp đạo. Như một làng Xuân Phả (Xuân Trường – Thọ Xuân – Thanh Hóa). Trong làng có chùa, có nhà thờ, có văn miếu, có Bái thờ (thờ Lê Thái Tổ). Đạo nhà ai nhà nấy thờ. Lại nói do coi trọng chữ đồng cho nên xã hội, văn hóa ít có biến động lớn, xã hội gần như dẫm chân tại chỗ, ít phát triển (!). Chỗ này mà dám biện luận với Giáo sư thì hóa ra dạy chân dài vén



áo. Nên xin mượn lời một người đồng bào, ông Nguyễn Văn Trọng, viết: Đạo lý cương thường của Khổng Mạnh rõ ràng trói buộc con người… (Bàn về Tự do. NXB Tri thức. H. 2014, tr.264) khi cuốn Bàn về Tự do của John Stuart Mill công bố lần đầu ở Anh năm 1859 thì đến năm 1871 người Nhật đã dịch và in hàng triệu bản (Sđd., tr.262). Trong khi đó Tự Đức trọn đời chỉ có hai lần ra khỏi cung cấm còn thì tự trói mình trong đó với mấy trăm bà vợ và việc nước thì giao cho bề tôi của Khổng Mạnh trước khi là bề tôi của mình như Phan Thanh Giản… Xã hội Việt Nam thời phong kiến ít biến động, ít phát triển, dẫm chân tại chỗ không phải do trọng chữ đồng đâu, Giáo sư hiểu rất sai về vấn đề rất lớn.



Định thôi, mà không đành không nỡ. Thôi thì cho nó trót. Giáo sư viết: “Chân lý nằm trong đối thoại và chỉ qua đối thoại mới được mọi người thừa nhận. Và ai có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi thì sẽ có điều kiện tiếp cận chân lý nhiều hơn người chỉ biết áp đặt nhận định tuỳ tiện (Sđd., tr.309).



Chỗ này khó nói quá. Có điều kiện học tập tìm hiểu nghiên cứu thông thạo ngoại ngữ như Giáo sư thì điều kiện tiếp cận chân lý hẳn là hơn người nhiều lắm. Nhưng giáo sư nhầm. Tất cả các yếu tố, điều kiện Giáo sư nói chỉ là một nửa của vấn đề, mà là nửa phụ, nửa lý thuyết giấy tờ sách vở thôi. Thưa Giáo sư, chân lý được kiểm nghiệm được khẳng định thừa nhận là trong thực tiễn, qua thực tiễn. Qua đối thoại mà có được chân lý thì Giáo sư thua xa các chị em trên chợ Đồng Xuân.



Có bạn đọc hỏi: Kỳ này không cấp thời kiến nghị… nữa à? Như kỳ trước đã nói, vuốt má nể môi, chứ cạn tàu ráo máng… thì con em mình nó biết học hành thi cử vào đâu? Sát nhất miêu cứu vạn thử. Vả lại, Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội có truyền thống đáng kính đáng quí. Các thầy học của tôi từ đấy mà ra. Phải nhớ ơn tôn kính bảo vệ chứ. Với lại, Khoa Ngữ văn ĐHSPHN hiện tiền cũng còn nhiều thầy cô có lương tri lương năng, chứ đâu chỉ có cái cặp đôi kép Vị trí bên lề… và Lý thuyết trò chơi…



Đã cặp đôi lại còn kép! Đúng thế. Vì có những hai cặp đôi, chẳng kép là gì.



Có cái sự như thế thì thông tin đến bạn đọc như thế. Còn thì tuỳ ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, tuỳ nhà trường ĐHSPHN, tuỳ Khoa Ngữ văn… Nhưng mà – nếu có lòng tự trọng – Giáo sư nên trả lại trách nhiệm khoa học, uy tín và danh vọng Giáo sư Trưởng khoa, Nhà giáo nhân dân… cho dư luận. Nếu không, công luận cũng có cách xử sự của công luận. Từ tấm gương của Giáo sư, tôi nghĩ, thà làm đầu cái ti cái tí nhà mình còn hơn làm cái đuôi chín ngà cho nhà BaKhờ BạcTin!



Kính sợ mong chờ đối thoại cho nó ra chân lý, thưa Giáo sư!



Hà Nội, 15-7-2015



Chu Giang/ tuanbaovannghetphcm.vn



Kiểm duyệt Trần Đình Sử: Im Lặng là Vàng?



Bài: Phùng Nguyễn



19.08.2015



Trong bài viết “Nhân trường hợp Võ Phiến nhìn lại sự kiện Luận văn Nhã Thuyên” người viết cảnh báo rằng sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên” có thể không phải là cú giãy cuối cùng và vô hại của nền phê bình chỉnh huấn. Như thực tế chứng minh,  với sự đỡ đầu của bạo lực, cú giãy đã gây thương tích trầm trọng cho các nạn nhân. Không chỉ có Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình mà còn cả sự thoái bộ đáng tiếc của tự do học thuật ở các cấp Đại học trên toàn quốc. Và điều tệ hại hơn nữa, không có gì bảo đảm đây sẽ là cú giãy sau cùng.



Quả đúng như vậy, Chu Giang Nguyễn Văn Lưu, người đã phát động chiến dịch “đánh” thạc sĩ Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và PGS TS Nguyễn Thị Bình lại vừa bắt đầu một cuộc tấn công mới, lần này nhắm vào GS TS kiêm nhà giáo ưu tú Trần Đình Sử và học trò của ông, tiến sĩ văn học Trần Ngọc Hiếu. Lần này, thay vì luận văn thạc sĩ, “tang vật” là một luận án tiến sĩ có tên Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại. Và cũng như lần trước, bài viết của Chu Giang, gồm 2 phần, được phổ biến trước tiên trên tuần báo Văn Nghệ Thành phố HCM dưới một tựa đề thiếu lễ độ “Kiểm dịch Trần Đình Sử.”



Ngay lập tức đã có những phản ứng mạnh mẽ chỉ riêng với cái tựa đề. Cụm từ “kiểm dịch” chủ yếu được áp dụng cho việc cô lập các sinh vật (kể cả con người) mang bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo để ngăn chặn lây lan. Bằng cách đòi “kiểm dịch” GS Trần Đình Sử, phải chăng Chu Giang có ý cáo buộc nhà giáo ưu tú này là một con bệnh nguy hiểm cho hệ thống quyền lực, cần có biện pháp đề phòng, cô lập? Một người bạn Facebook của tôi đã phải kêu lên, “Một giáo sư đại học cao niên, một nhà khoa học đáng kính mà bị đối xử như một con vật đem ra kiểm dịch như vậy thì hỡi nền giáo dục Việt Nam, hãy tàn lụi đi!!!”



Để cho công bằng, Chu Giang có thể phân trần rằng việc chọn cái tựa đề khó nghe này thật ra chỉ là một hình thức nhằm trả đũa bài bình luận “Phê bình kiểm dịch” mà giáo sư Trần Đình Sử đã treo trên blog cá nhân của ông và được phát tán rộng rãi trong giai đoạn sôi nổi nhất của sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên.” Trong mọi trường hợp, việc kéo chằng cụm từ  kiểm dịch với tên tuổi của vị giáo sư này không thể được xem là một hành động tử tế. Không chỉ riêng cái tựa, phần nội dung cũng chẳng tử tế gì nếu không muốn nói là tệ hại hơn rất nhiều. Như người đọc có thể đoán được,  không có gì mới trong bài viết mang tính “đấu đá” của Chu Giang, vẫn luận điệu truy chụp bằng cách trích dẫn ngoài ngữ cảnh và diễn dịch một cách đầy ác ý  một số những câu những đoạn trong luận án Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại của TS Trần Ngọc Hiếu.



Xin trích dẫn một số đoạn trong bài “Kiểm dịch Trần Đình Sử”  (phần I & II) và xin phép không đưa lời bình luận vì hoàn toàn không cần thiết:



1.     “Cái nguy hiểm của Lý thuyết trò chơi... mà thầy trò Trần Đình Sử - Trần Ngọc Hiếu vận dụng là ở chỗ dùng trò chơi văn chương (trò chơi thơ, chơi chữ nghĩa để giải trung tâm, giải thiêng, giải chính thống, giải trật tự hiện hữu, giải truyền thống văn hoá lịch sử - như là một tôn ti, trật tự siêu nghiệm.”



2.    “Luận án này toát lên tình trạng bất an bất định muốn chống lại, giải cái trung tâm chính thống truyền thống, phá vỡ cái hiện hữu, đạp lên cái tiền lập... Nhưng để đi đến cái gì? Những người thực hiện Luận án đã không trả lời được, hoặc không muốn, mà ngầm hiểu: hẵng phá vỡ cái hiện hữu đi đã!”



3.    “Đấy là tư tưởng nguy hại của Luận án này. Trong khi xã hội muốn hướng hoạt động văn hoá, văn học vào xây dựng con người, xây dựng các quan hệ xã hội theo hướng nhân văn Chân - Thiện - Mĩ thì Luận án này lại khẳng định, đề cao khuyến khích xu hướng ngược lại: Phá vỡ tất cả! Lật đổ và phá vỡ!”



4.    “Theo Ngô Tự Lập thì Bakhtin là người chống Mác quyết liệt từ đầu đến cuối. Cái giải trung tâm, ngoại biên hóa, chống lại trung tâm, chính thống của thuyết ngoại biên là có nguồn cơn từ đó chăng? Và phương Tây bốc Bakhtin lên như nhà bác học lớn của thời đại, nhà tư tưởng lớn của thời đại, phải chăng, trước hết, và xuyên suốt, cuối cùng, vì Bakhtin là kẻ không đội trời chung với chủ nghĩa Mác? Mà việc bốc thơm, tung hô Bakhtin ở Việt Nam gần đây nó có cái hơi hướng đó không?”



Nghĩ cho cùng, “không đội trời chung với chủ nghĩa Mác” là chuyện bình thường với hầu hết các thể chế chính trị trên thế giới, đâu có gì để làm ầm ĩ! Nhưng chỉ riêng tại Việt Nam, và tại nước bạn thân thiết Trung Quốc, “không đội trời chung với chủ nghĩa Mác” là một tội danh có thể khiến cho người bị cáo buộc nhanh chóng trở nên thân tàn ma dại.



Có thể nói Chu Giang là một trường hợp điển hình của chính sách ”phê bình kiểm dịch” mà GS Trần Đình Sử đã từng phân tích.  Phê bình kiểm dịch dựa dẫm vào quyền lực của giới thống trị, không xem trọng lý luận khoa học, không cần đến bài bản mới. Không phải phương pháp truy chụp kiểu này đã từng có hiệu ứng rất cao trong sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên” hay sao?



Tuy đang trên đà thừa thắng xông lên, Chu Giang cũng không quên nhìn trước ngó sau. Giống như lần trước, mục tiêu của lần này cũng là cặp đôi, nhưng chỉ xét riêng về mặt học vị, đây là “con mồi” lớn hơn nhiều. Đó là chưa kể đến danh vọng và uy tín của giáo sư Trần Đình Sử. Theo Phạm Thị Hoài, “GS Trần Đình Sử đã giảng dạy Lí luận Văn học hơn hai mươi năm tại Trường ĐHSP Hà Nội, nơi ông cũng từng làm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình nghiên cứu về Thi pháp học. Từ mười năm nay ông là ủy viên Hội đồng Lí luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương.” Lớn thì khó nhá, cho nên Chu Giang đã cẩn thận chừa đường tháo lui bằng một tuyên bố ngay ở đoạn đầu của phần II:



“Về mọi phương diện, Luận án của Trần Ngọc Hiếu tệ hại nguy hiểm hơn Luận văn của Đỗ Thị Thoan rất nhiều. Tác hại xã hội của nó là ở cấp độ cao hơn. Song chúng tôi sẽ không đề nghị huỷ bỏ Luận án thu hồi học vị, xem xét trách nhiệm của người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn.”



Tại sao có sự ”khoan dung?” Bởi vì, theo Chu Giang, cái nguyên tắc “vuốt má nể môi” và cũng bởi vì “GS.TS Trần Đình Sử tuy thế, vẫn còn gắn bó với trung tâm, với cái chính thống, với thể chế này lắm.” Người viết bài này e rằng phát biểu huênh hoang của Chu Giang nhiều phần chỉ nhằm che giấu sự thiếu tự tin vào kết quả của lần “đấu tố” này. Tuy vậy, cũng không nên loại trừ khả năng Chu Giang được sử dụng như là một cái loa phường để những người đứng trong bóng tối gửi ra cái thông điệp răn đe những ai cố tình đi chệch ra khỏi con đường “tự do học thuật” đã vạch sẵn.



Nếu một cuộc thăm dò dư luận được tổ chức dành cho những người quan tâm đến thực trạng văn hóa giáo dục của Việt Nam, tôi tin rằng số người không đồng tình với Chu Giang sẽ chiếm đa số. Tuy vậy, phần lớn trong số họ, vì những lý do có thể hiểu được liên quan đến an toàn cá nhân, sẽ không có phản ứng đặc biệt nào hết ngoại trừ việc chỉ trích, chê bai Chu Giang ở những chốn riêng tư. Người ta chờ đợi những phản ứng sôi nổi và công khai ở những người còn lại, những người đủ dũng khí để lên tiếng bằng những bài viết vạch trần luận điểm sai trái, phản động (theo nghĩa đi ngược lại trào lưu tiến hóa của các xã hội tiến bộ trên thế giới) của Chu Giang, những kháng nghị nảy lửa lên án mưu đồ cản trở tự do học thuật chân chính, và ngay cả những thư ngỏ với lời lẽ mềm mỏng gởi các quan chức “thẩm quyền” nhằm đánh vào tình cảm người nhận.



Nhưng không phải tất cả những điều đó đã được thực hiện trong suốt quá trình diễn tiến của sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên” hay sao? Và kết quả, như mọi người đều biết, là con số không vĩ đại! Những nỗ lực đáng quý của nhiều trí thức tên tuổi không những đã không ngăn chặn được tai họa xảy đến cho thạc sĩ Đỗ Thị Thoan và PGS Nguyễn Thị Bình mà còn cho thấy sự bất lực của họ trong việc gìn giữ những thành quả về tự do học thuật giành giật được trong nhiều năm trước đó.



Những thất bại như thế khiến người ta thận trọng hơn. Một số tự bảo mình nên kiên nhẫn, chờ đợi các diễn tiến mới để có thể phản ứng tốt hơn, hoặc hay hơn nữa, để vấn đề tự nó bốc hơi và tan biến đi. Diễn tiến mới ở đây có thể là chuyện bài viết của Chu Giang sẽ được phổ biến trên các tờ báo nặng ký của đảng và nhà nước như đã từng trong vụ Luận văn Nhã Thuyên trước đây. Nếu không có ai lớn tiếng phản đối, tuyên giáo nhà nước có thể sẽ không làm ồn lên, họ hy vọng. Cũng có người ngần ngại không muốn lên tiếng vì sẽ không có “đối thoại đúng nghĩa” giữa các phe bênh chống. Những người này sẽ tiếp tục ngần ngại rất lâu vì khó mà có đối thoại thực sự giữa họ, những trí thức trói gà không chặt,  và thiểu số nắm giữ quyền bính chưa hề “ngần ngại” phải sử dụng bạo lực! Người ta cũng có thể trở nên bi quan, thụ động hơn nữa, và cuối cùng là cái “ý thức” về sự bất lực của mình. “Tại sao phải can dự vào những điều đã được chứng minh là vô vọng?” người ta tự hỏi. Hậu quả là một điều rất đáng sợ có thể xảy ra, người ta nín thinh, quay lưng lại với sự kiện, hoặc sắm vai kẻ bàng quan.



Nếu im lặng cố tình là câu trả lời chung của trí thức trong và ngoài ngành giáo dục dành cho bài viết với nội dung truy chụp, đấu đá của Chu Giang, đây sẽ là món quà quý giá nhất mà Chu Giang và cái thế lực đứng sau lưng ông ta có thể nhận được. Bởi vì, sự im lặng sẽ được diễn dịch, một cách không phải là không chính xác, như là dấu hiệu của sự khuất phục của trí thức trước quyền uy tối thượng của chế độ đối với tương lai của ngành giáo dục và các lãnh vực liên hệ…



Về sau, điều này sẽ như tảng đá lớn đè lên phần lương tri của họ, những người đã chọn quay lưng lại với sự kiện ‘Kiểm dịch Trần Đình Sử.” Thỉnh thoảng, dọc con phố họ tình cờ đi qua, xuất hiện những “dân oan khiếu kiện” trên hè phố, phía sau những tấm biểu ngữ bụi bặm, rách rưới vì dãi dầu sương gió. Đây là những người dân vô cùng thấp cổ, vô cùng bé miệng. Không giống như các nhà trí thức với những học hàm, học vị gây choáng người mà ngay cả cái thể chế toàn trị hiện hành cũng có phần kiêng dè khi chạm đến, công an có thể đánh đập những dân oan này, bắt giam họ, nhốt họ vào bệnh viện tâm thần mà không lo bị tai tiếng hoặc trách phạt. Nhưng họ vẫn kiên trì ngồi đó như tự bao giờ, đòi hỏi chỉ một điều, chút công lý nhỏ nhoi để sống sót, và không hề hy vọng sẽ nhận được điều họ đòi hỏi vào buổi sáng hôm sau. Nhưng chúng ta, những người bàng quan, sẽ có nhiều hy vọng nhìn thấy họ, cũng trên hè phố này, đàng sau những tấm biểu ngữ rách rưới, vào ngày mai, ngày mốt, và những ngày sau đó.



Và điều này chỉ có thể làm tăng thêm sức nặng của tảng đá kia!



Phùng Nguyễn blog



Nhà văn Phùng Nguyễn sống và làm việc trong ngành IT ở Hoa Kỳ. Tác giả của 2 tập truyện ngắn Tháp Ký Ức và Đêm Oakland và Những Truyện Khác.



Nghiên cứu Phê bình 25 Tháng Tám, 2015



Sự việc “kiểm dịch” của ông Chu Giang với Gs Trần Đình Sử: những cản trở của nền học thuật Việt Nam



Bài của Hà Thủy Nguyên



Sau một năm sóng dư luận đã yên, sự việc luận án về nhóm “Mở miệng” của Nhã Thuyên đã được khơi lại bởi ông Chu Giang Nguyễn Văn Lưu. Ông Chu Giang viết một bài có tên là “Kiểm dịch Trần Đình Sử” đăng trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, với nội dung thông qua lời cảm ơn của Nhã Thuyên dành cho Trần Ngọc Hiếu với luận án “Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại”, để hạ bệ Giáo sư Trần Đình Sử, người đã xét duyệt cho luận án táo bạo của Trần Ngọc Hiếu. Chính ông Trần Đình Sử là người hướng dẫn cho luận án này. Đây là một hiện tượng “dìm hàng” thường thấy của nhiều nhà phê bình, nhà văn công chức, tự cho mình quyền lực để “kiểm dịch” những nhân tố dám nói khác, nghĩ khác trong giới văn chương, chữ nghĩa. Sự “kiểm dịch” này, tiếc rằng lại không dựa trên nền tảng kiến thức khoa học mà chỉ là cái nhìn phiến diện và ác ý.



Cái nhìn sai lệch về Lý thuyết trò chơi



Mở đầu bài viết của mình, ông Chu Giang tập trung vào việc công kích và phê phán luận án của Trần Ngọc Hiếu vì đã ứng dụng Lý thuyết trò chơi để phân tích trường hợp của nhóm Mở Miệng. Ông Chu Giang cho rằng việc nhắc lại Lý thuyết trò chơi chỉ là “nhại lại, diễn đạt lại tư tưởng của các học giả nước ngoài”. Ngoài ra, với cái nhìn phán xét, ông Chu Giang đã có những đánh giá rất sai lệch về Lý thuyết trò chơi như sau: “Sự chơi, trò chơi là một thực tế, một phần hoạt động của con người. Nhưng xem mọi văn học đều là trò chơi, mọi hoạt động đều là trò chơi, là cội nguồn của văn học, là điên rồ!”. Sau đó, ông Chu Giang trích dẫn rất nhiều lời của các “học giả nước ngoài”, nhưng chẳng câu nào liên quan đến Lý thuyết trò chơi cả.



Ông Chu Giang đã có một sự nhầm lẫn về Lý thuyết trò chơi, có thể ông đã bị ấn tượng xấu về từ “trò chơi” là một cái gì đó không nghiêm túc nên ông không bỏ thời gian ra để tìm hiểu xem Lý thuyết trò chơi là cái gì. Lý thuyết trò chơi không phải là thứ lý thuyết để phóng chiếu mọi thứ thành trò chơi. Đó là một nhánh của Toán học ứng dụng, dùng để nghiên cứu các tình huống chiến thuật mà các đối thủ sử dụng để tiến đến gần mục đích nhất có thể. Đầu tiên, Lý thuyết trò chơi chỉ được áp dụng trong Kinh tế, nhưng sau đó đã lan sang các lĩnh vực khác như Chính trị, Triết học, Sinh vật học… Nhưng ứng dụng Lý thuyết trò chơi vào Văn học để phân tích hành vi của “kẻ bên lề” như nhóm Mở Miệng, đó đích thực là một bước đi táo bạo của Trần Ngọc Hiếu.



Nếu đọc kỹ về Lý thuyết trò chơi, chắc hẳn ông Chu Giang không đưa ra những đòi hỏi vô nghĩa như yêu cầu Trần Ngọc Hiếu xem xét lại việc ứng dụng Lý thuyết trò chơi có hợp với hoàn cảnh lịch sử hiện nay của Việt Nam hay không. Bởi vì, lý thuyết vốn là một thước đo, một phương pháp để mổ xẻ hiện thực, như vậy có nghĩa là, lựa chọn phương pháp nào để nghiên cứu, đó là quyền của học giả. Ông Chu Giang có thể sử dụng phương pháp “kiểm dịch” của ông để mổ xẻ hiện tượng Trần Ngọc Hiếu hay Nhã Thuyên, đó là quyền của ông, nhưng quan trọng hơn hết, ông phải trung thành với các tiêu chí của phương pháp mình đã lựa chọn; giống như Trần Ngọc Hiếu cũng phải đảm bảo các tiêu chí căn bản của Lý thuyết trò chơi vậy. Cái nhìn sai lệch của ông Chu Giang về Lý thuyết trò chơi cho thấy ông đã phản bội lại chính các quy tắc của “kiểm dịch”.



Với cái nhìn sai lệch ấy, ông đã coi các Luận án của Trần Ngọc Hiếu và Nhã Thuyên và những trí thức dám chấp nhận họ như ông Trần Đình Sử là một thứ bệnh dịch mà ông tự cho phép mình quyền được lên án và loại trừ: “Luận án này toát lên tình trạng bất an bất định muốn chống lại, giải cái trung tâm chính thống truyền thống, phá vỡ cái hiện hữu, đạp lên cái tiền lập… Nhưng để đi đến cái gì? Những người thực hiện Luận án đã không trả lời được, hoặc không muốn, mà ngầm hiểu: hẵng phá vỡ cái hiện hữu đi đã!” . Tại sao ông lại lo lắng với khả năng “giải cái trung tâm chính thống truyền thống” của những “kẻ bên lề” như vậy? Ở độ tuổi như ông, đọc Đông đọc Tây, đọc chủ nghĩa Duy vật biện chứng, chính ông cũng tự hiểu rằng không có cái gì mãi mãi là “chính thống truyền thống”, không có một “hiện hữu” duy nhất, cái “tiền lập” nhất định phải có cái kế tiếp. Cho nên, việc khư khư giữ một cái “trung tâm chính thống truyền thống” nào đó, thực chất, với những người như ông Chu Giang, chỉ là giữ địa vị quyền lực và lợi ích, bất chấp vòng quay của xã hội và quy luật tự nhiên.



Sự lên tiếng của ông Trần Đình Sử, nên hay không?



Ông Chu Giang đã dành hẳn một phần rất dài để đả phá lý luận của ông Trần Đình Sử trong việc xét duyệt Luận án của Trần Ngọc Hiếu. Giáo sư Trần Đình Sử là một nhà lý luận có uy tín lớn trong giới trí thức Việt Nam, chuyên ngành về Lý luận văn học. Nguyên nhân sâu xa của việc ông Chu Giang cố tình hạ uy tín của ông Trần Đình Sử, chúng ta không thể biết đến mà chỉ có thể ngầm hiểu. Và ông Trần Đình Sử đã chọn phương pháp im lặng để đối phó với trường hợp này.



Sự im lặng này đến từ nhiều nguyên nhân. Trước hết bởi, ở vị thế của một trí thức nghiên cứu, ông Trần Đình Sử không muốn lời qua tiếng lại, vừa phiền phức mất thời gian, lại vừa mất đi cái cốt cách của người có học. Sau đó là bởi, từ lâu ở nước ta đã hình thành lớp công chức có vẻ có học, chuyên “kiểm dịch” một cách vô tội vạ như Chu Giang, cùng với sự ủng hộ của báo chí chính thống và khả năng ngôn từ sắt đá, xóc mói, hoa ngôn, bất chấp lý luận và khoa học. Đối phó với đội ngũ đông đảo này, những trí thức nghiên cứu hiền lành như ông Trần Đình Sử không thể tranh cãi được.



Tuy nhiên, việc lên tiếng của Giáo sư Trần Đình Sử là vô cùng quan trọng. Không phải vì uy tín cá nhân của ông hay của Trần Ngọc Hiếu, Nhã Thuyên, mà vì độc giả, đặc biệt là các độc giả trẻ. Sự ra đời của các đội ngũ “kiểm dịch” mà ông Chu Giang là một phần trong đó nhằm mục đích thao túng truyền thông chính thống, cản trở độc giả tiếp cận với cái mới, cái khác biệt, cái đột phá. Nếu chúng ta im lặng, đồng nghĩa với việc giúp sức cho đội ngũ “kiểm dịch” kia lộng hành, che mắt dư luận, phá hoại mọi nỗ lực nâng cao dân trí và xây dựng nền học thuật Việt Nam vững mạnh của rất nhiều trí thức có trách nhiệm đang từng ngày gắng sức.



Đã từ lâu rồi, nền học thuật Việt Nam thiếu những cuộc tranh luận học thuật. Trí thức chân chính thì im lặng trước các cuộc tranh luận, đội ngũ “kiểm dịch” thì thích “dìm hàng” ai là “dìm hàng” được người đó, độc giả hoang mang không phân định được vàng thau. Đừng đổ lỗi cho độc giả khi họ không phân định được, bởi từ rất sớm họ đã bị đội ngũ “kiểm dịch” kia che mắt. Vì vậy, trí thức không chỉ làm nhiệm vụ nghiên cứu hay sáng tạo, mà quan trọng không kém, đó là dám sử dụng tri thức của mình để phát ngôn, giúp độc giả có cái nhìn đa chiều hơn trước mọi khía cạnh của vấn đề.



Kết luận



Sự việc ông Chu Giang công kích Giáo sư Trần Đình Sử, Trần Ngọc Hiếu, Nhã Thuyên cho thấy hiện tượng vùi dập các nhân tố mới lạ trong nền học thuật đã trở thành thói quen trong tư duy của đội ngũ “kiểm dịch”. Sự “kiểm dịch” này hoàn toàn phản khoa học và là bước cản lớn cho con đường phát triển học thuật ở Việt Nam.



Hạn chế quyền lực của đội ngũ “kiểm dịch” này là một việc quan trọng để thúc đẩy nền học thuật ở Việt Nam. Để hạn chế sự lộng quyền của “kiểm dịch”, không cần các bài viết văn hoa, những trích dẫn dài dòng, mà cần những bài viết của các trí thức, chỉ rõ thực trạng, nêu lên sự thật và vạch ra những sai lầm trong cách thức “kiểm dịch”. Bên cạnh đó, độc giả cũng đóng vai trò quyết định. Nếu độc giả có cái nhìn đa chiều, đọc kỹ và hiểu rõ vấn đề thay vì chỉ vội vã tin vào những ngôn từ to tát của báo chí chính thống, dám lên tiếng bảo vệ điều đúng đắn, dù chỉ bằng một cái post trên facebook hay vài dòng trên blog cá nhân, cũng đủ để đội ngũ “kiểm dịch” kia phải xem xét lại mình.



Tôi tin rằng, dù đang lên gân hết sức, nhưng đội ngũ “kiểm dịch” không thể chống lại sự vận động liên tục đang diễn ra ở xã hội Việt Nam, khi mà cái khác biệt, cái ngoại vi, cái mới đang ngày càng được mở rộng và những “kẻ bên lề” đang dần có vị thế ngang với những người ở “trung tâm chính thống”.



HTN



vanviet.info



 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
xem thêm »