tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549102
Tiểu thuyết
01.07.2015
Triệu Xuân
Giấy trắng


bốn



Đội quân khai thác nguyên liệu làm bột giấy chuyển về rừng lồ ồ Mã Đà, gần thác Trị An. Do yêu cầu của công tác trong khi đang có đoàn thanh tra làm việc, Sáng đã trở về nhà máy. Mạnh trực tiếp quản lý đội. Phó giám đốc Lộc vẫn đi lại như con thoi đôn đốc công việc. Việc khai thác lồ ồ vất vả hơn khai thác cỏ Mỹ rất nhiều. Lộc hướng dẫn cho mọi người thao tác chặt lồ ồ để thân cây khi bứt khỏi bụi không lao vào chân người chặt. Tai nạn lao động giữa rừng sẽ rất nguy hiểm. Kinh nghiệm hàng chục năm ở rừng cho Lộc biết, nhiều khi người ta không chết vì bom đạn mà chết vì những phút sơ ý, mất cảnh giác. Rừng Mã Đà bị bom đạn tàn phá nhiều trên những sườn núi thấp ven sông Đồng Nai hay trong những thung lũng nhỏ, từng vạt lồ ồ mọc ken dày lẫn với những cây dầu, cây bằng lăng găm nhiều miểng bom trên thân. Lực lượng khai thác lồ ồ, ngoài số công nhân ở xã Bình Minh tình nguyện, còn có năm chục thanh niên của quận K đưa lên. Đây là số thanh niên không có nghề nghiệp, sống bê tha vất vưởng ở thành phố. Ủy ban nhân dân quận kết hợp với Liên hiệp công đoàn quận đã tập hợp số anh em này lại, vận động cho họ lên rừng khai thác nguyên liệu cho nhà máy. Có việc làm, có thu nhập xứng đáng, mặc dù rất vất vả, năm chục thanh niên quận K đã đứng vững ở vị trí này. Thông qua lao động, họ tìm thấy niềm vui và những điều khám phá mới mẻ về đất nước, núi sông.



Để có được năm chục thanh niên đó, Thịnh đã phải mất nhiều thời gian thuyết phục Ủy ban và Liên hiệp công đoàn quận K. Lúc đầu, không ai tin là nhà máy sẽ giữ được lực lượng này. Biết bao đợt đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, quận K đều gặp thất bại. Người ta trở về sống vất vưởng ở lề đường, gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Thịnh cùng với Lộc đã kiên nhẫn phân tích cho đồng chí phụ trách lao động của quận nguyên nhân những thất bại và biện pháp mà nhà máy tiến hành. Nói đến biện pháp, nghe ra có vẻ to tát. Thực ra, Thịnh chỉ có một cách làm duy nhất: lo cho con người. Chính yếu tố này đã giúp cho năm chục thanh niên quận K và số nhân công ở xã Bình Minh trụ bám rừng Mã Đà, khai thác ngày càng nhiều lồ ồ đưa về nhà máy.



Một tuần sau khi đoàn thanh tra đến nhà máy, không khí trở nên căng thẳng đến cao độ. Anh em công nhân lo lắng, nhiều người hoang mang, mỗi người hiểu theo một cách. Từ phòng Tư Phát bước ra, Thân rỉ tai nói nhỏ với một công nhân trong tổ của mình:



- Ông Tư nói chuyến này giám đốc và ông Lộc có lẽ phải vào tù!



- Vì tội gì?



- Trời! Nói nhỏ thôi mày. Muốn mất đầu hả! Nghe nói có chuyện nhập nhằng hàng vạn đồng tiền mặt!



Những lời xì xào như thế như vết dầu loang, lan nhanh trong toàn nhà máy. Linh mục Đạt, kỹ sư Sáng, kỹ sư Hải quýnh lên gõ cửa phòng giám đốc hỏi cho ra nhẽ. Họ đều được Thịnh trả lời với nụ cười bình thản và câu: “Hãy vững tâm. Đừng để kẻ khác lợi dụng”.



 



Đã có sự mâu thuẫn càng ngày càng gắt giữa Tư Lợi và Lan về quan điểm thanh tra, về cách làm việc ở nhà máy Hy Vọng. Nhân viên của Tư Lợi tiếp tục hạch sách đủ điều đối với phòng kế toán tài vụ. Họ sao chép như học trò chép bài những cột thống kê dày đặc chữ số. Thịnh nghĩ: Không biết họ có hiểu gì về những con số đó không. Tư Lợi ngày ngày họp bàn, trao đổi với phó giám đốc Phát.



Chiều nay, Thịnh rời Sài Gòn lên Mã Đà. Anh muốn thay đổi không khí, đồng thời muốn tận mắt xem việc khai thác lồ ồ tiến hành ra sao. Lộc ra cửa rừng đón Thịnh. Thịnh thông báo cho Lộc biết tình hình đoàn thanh tra và tâm trạng công nhân trong nhà máy. Lộc tức giận:



- Đồ hèn! Thật không ngờ cha Tư Phát hèn mạt đến vậy. - Lộc nhìn Thịnh - Anh làm gì với đám hỏa mù đó?



- Làm gì! Ông bảo tôi phải làm gì?



- Lấy sổ sách của mình ra mà quật vào mặt hắn!



- Đâu có được! Cây ngay không sợ chết đứng! Cứ để cho họ làm cái công việc cạo giấy đó! Ta không cần phản ứng vội, cũng không thanh minh bằng lời nói. Ta sẽ chứng minh. Đúng! Phải chứng minh bằng việc làm.



- Ngon! Tôi chịu anh! Phải chứng minh chứ không thèm thanh minh! Số một!



- Tình hình khai thác ra sao?



- Năng suất lao động khá. Lồ ồ được đưa ra cửa rừng ngày một nhiều. Nhưng khó nhứt là chuyên chở. Mưa quá trời, đường lầy, xe không vô nổi.



- Có cách nào không?



- Đã tìm hết cách. Lát cây xuống lòng đường, chết nỗi sình lầy ghê quá. Chịu không xiết. Suốt ngày hôm qua chỉ có hai xe về thành phố. Đáng tiếc nhứt là ở khúc cửa rừng, xe không tài nào kéo nổi rơ moóc.



- Thì ta để rơ moóc ngoài xa lộ rồi trung chuyển!



- Thì đó. Làm vậy chớ biết sao!



- Còn anh em, có ai sốt rét không?



- Không. Đến nay thì chưa, nhờ ăn uống tốt. Thịt nai ăn phát ngán hà.



- Săn được hả?



- Săn cũng có mà mua cũng có. Cậu Mạnh và Tâm là xạ thủ đó. Tụi nó mê rừng quá trời.



- Thu nhập của anh em thế nào?



- Bình quân sáu chục đồng mỗi ngày. So với công nhân lâm trường, gấp mười lần.



- Khá lắm.



Sông Đồng Nai vào đầu mùa mưa nước dâng đục ngầu, chảy xiết. Thịnh và Lộc đang đứng bên dòng suối Rộp. Trước mắt họ, thác Trị An tung bọt trắng xóa. Nơi bến đò Hiếu Liêm, vài chiếc ghe chở khách men theo bờ sông ngược dòng để rồi thả theo dòng nước mà chèo qua bờ bên kia. Thịnh kể cho Lộc nghe câu chuyện về thác Trị An. Giọng anh trầm ấm, như không phải kể cho bạn của anh nghe, mà kể cho mấy đứa nhỏ háu chuyện ở nhà.



- Vào năm một ngàn chín trăm lẻ năm, vấn đề nước sinh hoạt ở Sài Gòn vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa. Một đô thị lớn như vậy mà không có nguồn nước ngọt. Sông Sài Gòn bị nước triều từ biển tràn vào, mang vị chua mặn, không ăn uống được. Lúc đó, người ta phải đào giếng lấy nước dùng. Có lần Hội đồng thành phố đã đem chuyện này ra bàn cãi. Dựa vào một chương trình có cơ sở khoa học là khai thác thủy điện Trị An để dẫn nước ngọt và dẫn điện về Sài Gòn, hãng Balliste đã đề nghị vay vốn đầu tư cho công trình này. Một chương trình khá hấp dẫn. Cuniac về Pháp vay tiền thực hiện, nhưng thực dân Pháp lúc đó đã không đồng ý với ý định này, dù chỉ với số vốn cho vay là mười ba triệu quan tiền Pháp... Thành thử, thác Trị An vẫn chỉ là thác Trị An, ngày đêm tung bọt nước trắng xóa réo ào ào giữa rừng hoang... Mãi về sau này, dự án khai thác thủy điện Trị An lại được tiếp tục khảo sát và đề xướng. Nhưng cả Pháp lẫn Mỹ đều không thể thực hiện được. Trị An nằm giữa lòng chiến khu D nổi tiếng của Cách mạng. Rồi đây, một ngày nào đó, thác Trị An sẽ cho ra năng lượng thủy điện dồi dào, cung cấp cho thành phố và cho cả các tỉnh quanh vùng...



- Lúc đó, chắc chắn sẽ không còn cái trò thanh tra như hiện nay? - Lộc chợt cắt ngang câu chuyện.



- Thanh tra thì hết thế nào được! Nhưng là thanh tra đúng nơi đúng chỗ và đúng cách kia.



- Nghĩa là muốn đánh, phải đánh trúng!



- Có vậy mới bảo vệ được chân lý. Nếu không thì ngược lại... Thật đáng buồn.



Sau câu nói đó, cả hai im lặng. Họ dừng lại ở bờ sông Đồng Nai, ngay nơi thác Trị An đổ. Nước reo vang, dội vào rừng, vọng trở lại những âm thanh ngồ ngộ. Mặt trời từ trên đỉnh đầu xối ánh nắng xuống lòng sông, xuống thác Trị An. Và dòng thác phản quang lại muôn ngàn vùng sáng lấp loáng. Ở dưới chân thác, nước cuồn cuộn lên như luyến tiếc thượng nguồn trước khi trôi về xuôi. Có tiếng cây rừng đổ, tiếng dao chém vào thân cây và tiếng người lao xao vọng tới. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hoạt động của con người chinh phục rừng già, trong lòng Thịnh xốn xang cảm giác mà ở Sài Gòn, ở nhà máy, anh không thể có trong thời điểm này. Lộc ngồi bên anh cũng đăm chiêu suy nghĩ. Chắc hẳn anh không đăm chiêu bởi câu chuyện bâng quơ về thác Trị An mà Thịnh vừa kể. Thịnh nhìn Lộc. Gương mặt quắc thước, đôi mắt như sắc sảo hơn, râu mọc lởm chởm. Người bạn chí thiết của anh, người cán bộ nhiệt tình nhất của nhà máy, quên hết mọi chuyện riêng tư để lên rừng lo nguyên liệu giấy, mấy lần chết hụt giữa rừng già. Con người ấy mà người ta nỡ bôi đen à? Rồi đây còn những chuyện gì xảy ra nữa? Thịnh biết chắc là nếu như đoàn thanh tra có quan điểm thanh tra đúng đắn, minh bạch thì Phương án Giấy trắng sẽ tồn tại, sẽ được bảo vệ. Nhưng mục đích của Tư Phát và những kẻ ủng hộ anh ta đã rõ ràng. Học sẽ không dừng lại ở việc tung hỏa mù. Học sẽ tìm mọi cách hãm hại sự nghiệp của nhà máy, thậm chí, Học sẽ hãm hại những người nhiệt tình như Lộc. Điều đáng nói tới, đáng giận là họ làm những việc ấy trong khi họ nhân danh Chủ nghĩa Xã hội, nhân danh người Cộng sản. Đó phải chăng là những con sâu mọt của chế độ? Những con sâu mọt đục khoét, phá hoại được ngụy trang khéo léo bằng lớp kén vàng óng ánh của những con nhộng. Thấy Thịnh vẫn ngồi, đăm chiêu nhìn xuống dòng sông, Lộc giục:



- Ta về đi anh. Đến giờ ăn trưa rồi đó.



Lộc mượn được khu nhà của một đội sản xuất thuộc lâm trường. Đại bản doanh của Lộc đặt ở đây. Anh em công nhân khai thác dậy từ sáng sớm, ăn bữa sáng thật no rồi vô rừng, mang theo một suất ăn trưa. Buổi chiều, sáu giờ họ mới về ăn bữa tối. Thịnh hài lòng thấy nhà ngủ, nhà ăn sạch sẽ. Giường nào cũng có mền mùng đầy đủ. Trước mỗi dãy nhà, anh em treo lủng lẳng vài chục giò lan. Có nhiều giống lan quý, anh em cưa cả khúc cây lớn rinh về, hương thơm ngào ngạt.



Mạnh và Tâm đi cùng anh em từ sáng sớm. Suốt ngày hai chàng trai ấy làm việc cùng mọi người. Vừa chặt vừa khuân vác lồ ồ, họ còn thường xuyên nhắc nhở anh em đề phòng tai nạn lao động. Mạnh có sáng kiến chia đoạn đường từ nơi khai thác ra bãi tập kết làm bốn phần, và chia từng tổ khai thác ra làm hai. Một chuyên chặt và khuân vác lồ ồ qua một phần tư đoạn đường. Một nửa còn lại chuyên vác lồ ồ qua ba phần tư đoạn đường còn lại. Cứ thay nhau mà làm như thế. Năng suất lao động nhờ vậy tăng hơn kiểu mạnh ai nấy làm. Kể lại cho Thịnh nghe cách làm của anh em, Lộc không giấu được niềm tự hào:



- Họ là những người tuyệt diệu! Đúng là trai Sài Gòn anh ạ. Đã làm là làm hết ga! Bây giờ, bí nhất là chuyện đường sá chuyên chở.



- Ông có nhớ là ở ngoài Bắc, người ta đưa cây về xuôi bằng cách nào không? Không biết có anh chàng nào làm bài thơ Bè xuôi sông La được giải thưởng đó? - Thịnh mỉm cười nhìn Lộc.



- Trời! Sao cái đầu tôi nó tối quá! Trời! Có vậy mà tôi không nghĩ ra! Đúng rồi. Kết thành bè, thả theo sông Đồng Nai  về đến chân cầu xa lộ. Ta sẽ bốc lên xếp ở đó và thế là alê! Xe cứ việc ăn hàng ở cầu xa lộ.



- Tiết kiệm được hàng trăm lít dầu! Không ít đâu!



- Số dách! Số dách!



- Nè, khi qua thác, coi chừng đó ông!



- Được mà! Lo gì chuyện vặt đó. Nào, ta đi ăn trưa đi. Nếu mắc công chuyện, anh cứ về trước. Ngày mai, tôi sẽ về lãnh tiền phát lương cho anh em.



- Tình hình bọn Fulro ở đây ra sao?



- Chết cha! Tôi quên chưa kể anh nghe. Bọn Fulro ở khá xa. Cách đây hai tuần, chúng nó phá phách gì đó nhưng không đáng kể. Nhưng có chuyện này, anh biết không, tuần trước, tôi cùng đi với Mạnh ngược dòng Đồng Nai khảo sát địa hình để coi nơi nào thuận lợi cho việc khai thác. Mải lo công chuyện, trời về chiều lúc nào không hay. Chúng tôi chuẩn bị qua sông để trở về bờ bên này thì từ trong rừng phía trước mặt, một người hối hả, dớn dác bước đi. Tôi bấm thằng Mạnh nép vào lùm cây. Người đó là ai? Vào giờ này còn vô rừng sâu làm chi? Những câu hỏi đó bật ra trong đầu tôi. Thằng Mạnh lăm lăm khẩu AK trong tay. Tôi ra hiệu bảo nó nằm lặng theo dõi. Còn cách chừng hai chục thước, thằng Mạnh nói: “Ông chủ tịch Hài!”. “Suỵt!”. Tôi rút máy ảnh, phản xạ nghề nghiệp mau lẹ của tôi từ những ngày đi săn ảnh thời sự vẫn còn. Tôi nhìn qua ống kính và vẻ mặt gian giảo của hắn, đôi mắt ti hí, đôi lông mày rậm rì của hắn lọt  vào máy của tôi. Tôi bấm liên tiếp hai kiểu. Hắn không hề hay biết gì. Lúc đó đã là bốn giờ chiều. Lưng nó mang chiếc ba lô có lẽ khá nặng. Tay nó cầm con dao như người đi rừng thực thụ. Suốt đêm đó, tôi không ngủ được. Mày là ai hả Hài? Mày vô rừng giờ đó làm gì? Hướng mày đi là hướng tàn quân Fulro hoạt động. Không lẽ mày đi điều tra bọn nó mà đi có một mình? Phải chăng mày chính là tay chân của chúng? Mày tiếp tế cho chúng. Mày nhận lệnh của chúng. Mày chứ không phải ai khác đã gây nổ phá hoại việc khai thác cỏ, suýt nữa giết mất thằng Sáng của chúng tao... Tôi tráng phim. Phim chụp rất nét. Nghề mà! Sau khi rửa ảnh, tôi đã gởi mấy tấm cho Công an huyện. Từ đó, ấn tượng của tôi về kẻ thù chui vào hàng ngũ của ta ngày càng đậm. Sáng nào trước khi đi làm, tôi đều nhắc anh em cảnh giác. Súng đạn, việc canh gác được lo chu đáo. Đêm nào tôi cũng cho anh em thay nhau tuần tra quanh khu vực này.



- Ông cảnh giác là phải. Nhà máy đang có chuyện rắc rối, đừng để xảy thêm rắc rối khác.



- Tôi đâm ra suy nghĩ nhiều, anh Thịnh ạ. Kẻ thù bây giờ phức tạp hơn trong chiến tranh. Chúng có lớp vỏ bọc rất kín. Chúng ở ngay trong các cơ sở của chúng ta, ngay trong đội ngũ chúng ta. Chúng chào cờ, hát Quốc ca, Quốc tế ca và hô khẩu hiệu rất lớn. Chúng nói như lãnh tụ. Nhưng chúng lại là kẻ thâm thù Cách mạng. Làm sao để  lật mặt chúng? Tôi tin là chúng sẽ bị vạch mặt, bị trừng trị.



- Ông có niềm tin đó thì mọi chuyện không đáng ngại nữa. Thôi. Tạm biệt nhé. Cứ nấn ná mãi thì không làm sao rời nhau ra được.



- Nè, ông Sáu, - Lộc nói với người lái xe cho Thịnh - coi chừng mấy cây cầu đó. Chúng được làm từ thời con mẹ Lệ Xuân khai thác rừng. Cầu yếu, đường trơn, ông đi ngon lành, nghe ông!



- Chú Ba cứ yên tâm. Tôi rành con lộ này rồi.



Xe từ từ lăn bánh, Lộc chạy theo đưa cho Thịnh mấy giò huyết nhung lan và hài vệ nữ. Những đóa lan rừng tỏa hương thơm  và sắc đẹp kiêu sa, thanh khiết.





 



 



CHƯƠNG SÁU



 



một



Đám hỏa mù người ta tung ra đã có hiệu quả. Dư luận trong các xí nghiệp in cũng như trong thành phố xôn xao bàn tán. Có nhiều xí nghiệp tán đồng với nhà máy Hy Vọng. Nhiều giám đốc tin tưởng rằng Thịnh sẽ thắng cuộc. Nhưng những lời nói xóc vẫn không thiếu. Ông Mãnh, Giám đốc xí nghiệp in Quyết Tiến, gặp Thịnh ở cuộc họp toàn Xí nghiệp Liên hiệp đã không úp mở, mỉa mai:



- Chà chà. Phen này lá cờ đầu có lẽ chấp chới dữ ha!



Trong phong trào công nhân ngành in, làn sóng dư luận về Hy Vọng, làm nhiều người xưa nay hy vọng đã cụt hứng. Họ không còn biết tin vào cái gì nữa! Mong có được một sự phát triển của sản xuất để đời sống khá hơn, có việc làm tức là có đóng góp cho đất nước. Ấy thế mà rụp một cái, người ta kiểm kê nhà máy như kiểm kê cải tạo tư sản không bằng.



Cuộc đời, thiếu gì kẻ đục nước thả câu. Thiếu gì những kẻ mà con đường danh vọng gắn liền với sự đạp đổ người khác. Họ như chiếc máy sấy tóc, hễ mở miệng ra là thổi phồng lên mọi chuyện như thổi phồng mái tóc xẹp lép của những phụ nữ lớn tuổi. Thành thử, với những người này, câu chuyện về nhà máy in Hy Vọng thế này thế nọ, giám đốc Thịnh, phó giám đốc Lộc thế nọ thế kia... Những chuyện trời ơi đất hỡi cứ nhân lên, một thành mười, mười thành trăm. Và cuối cùng thì chuyện thành ra thế này: Thịnh và Lộc cho tư nhân hùn vốn, nhân danh nhà máy làm bột giấy, đổi lấy giấy bán chợ đen. Mỗi tấn giấy giá nhà nước qui định sáu ngàn đồng, Thịnh bán chín ngàn đồng, mười hai ngàn đồng. Tiền lời Thịnh, Lộc chia nhau, có xớt cho công nhân chút đỉnh để bịt miệng, v.v...



Những chân rết của Tư Phát, của Học còn mang về văn phòng của hai ông lắm chuyện động trời hơn. Đại loại thế này: Thịnh ký giấy cho phép công nhân đi nước ngoài để ăn hai ba cây vàng. Nhà Thịnh lúc nào cũng có người lui tới quà cáp biếu xén. Còn Lộc thì tuyển người khai thác với tiền thế chân mười ngàn đồng mỗi người. Đi khai thác lồ ồ thực ra chỉ khai thác gỗ quý và buôn lậu lâm sản. Rằng nhà Lộc, nhà Thịnh  bây giờ đồ đạc nhiều không kể xiết, v.v...



Một trong vài người thân tín nhất của ông Phát là Thân, tổ trưởng mới được đề bạt sau kỳ thi thợ giỏi đầu năm. Hồi mới về nhà máy, Thân làm cho ông Phát khó chịu vì cái mặt tròn xoe, mập ú, chiều cao không quá một mét sáu, bàn chân nhỏ như chân con gái, cánh tay ngắn chủn nhưng lại to như bắp chuối. Thân có đến thăm ông Phát mấy lần tại nhà riêng. Mấy đợt đó, nhằm dịp ông Phát bệnh, Thân đến, mang theo quà gồm thuốc men, trái cây, rượu… cùng những lời thăm hỏi rất chân tình. Mấy thứ lặt vặt trong nhà như chiếc đèn ống bị đen đầu, cái vòi nước bị hở doăng, cái nồi cơm điện bị hư bộ phận tự động, v.v... chị Tảo nhờ, Thân sửa chữa ngon lành trở lại. Dần dà, ông Phát coi Thân như người trong nhà. Thân kêu ông là chú, còn ông kêu mày tao với Thân như bà con ruột.



Thân được ông Phát giao cho việc theo dõi Thịnh và Lộc. Bà mẹ của Thịnh lên chơi, mang theo gà, cá, nếp. Bữa cơm có bà cụ ở quê lên chơi khá xôm tụ. Thân về báo cáo với ông Phát:



- Độ rày bà Khanh đi chợ cả trăm đồng mỗi ngày, chú Tư! Bữa trưa có tới chục món. Gà quay, cá lóc nướng nguyên con, xôi nếp đậu xanh, canh chua cá bông lau... Thiệt quá cỡ!



- Hừ! Cháy nhà ra mặt chuột! - ng Tư lẩm bẩm.



- Vậy chú Tư có hay chuyện ông Lộc về chưa?



- Hả? Lộc về thì có gì đáng nói?



- Ổng về lãnh cả vạn đồng tiền mặt đưa lên rừng chia cho mọi người!



- À hả! Thiệt hả! -  Phát bật dậy nhìn Thân chòng chọc.



- Con thấy tận mắt ổng đếm tiền bên tài vụ mà.



- Ừ. Im nghe mày! Coi như mày chưa nói tao nghe chuyện này nghe mày!



Ngay sau khi Thân ra khỏi phòng, ông Phát điện thoại cho Học, kể cho Học nghe câu chuyện vừa rồi. Nghe xong, Học  suy nghĩ giây lát rồi nói:



- Ông qua gặp tôi ngay!



Tại phòng làm việc của Học, Nhàn đang cạo gió và xoa bóp cho Học. Ông Phát gõ cửa. Học lên tiếng:



- Cứ vào.



- Kìa, anh Tư đã qua! - Nhàn vừa xoa bóp trên hai bả vai của chồng, vừa nhìn Tư Phát cười toe toét - Nhà em trúng gió. Anh đóng cửa lại giùm đi.



Tư Phát đóng cửa, lặng lẽ ngồi chờ. Một lát, Nhàn ra khỏi. Khi đi ngang chỗ ông Phát, Nhàn còn kín đáo đá lông nheo với ông.



(còn tiếp)



Nguồn: Giấy trắng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu tháng 3-1985. Các nhà xuất bản Văn Học, NXB Hội Nhà văn tái bản nhiều lần. Đến năm 2014, đã in 14 lần.



www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »