tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21302077
Tiểu thuyết
01.07.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Lai nhìn tất cả anh em trong gian phòng một lừợt rồi xúc động nói:





  •  Tôi cũng như anh em, không biết rõ lắm. Nhưng chắc chắn là Hồ Chủ tịch vẫn khoẻ. Nghe đâu sau khi ở ta vỡ mặt trận thì Cụ có vào Thanh Hóa và có phê bình. Tôi lại nghe một đồng chí bên tỉnh ủy nói rằng có thể nay mai chúng ta được học tập thư Cụ gửi cho các đồng chí Trung Bộ. Đấy, tôi chỉ biết có thế. Ta ở đây xa quá, mà đường đi lại thì khó khăn.


    Kháng hỏi lớn:




  •  Thôi, không ai hỏi gì nữa, ta giải tán, các đồng chí hè?




  •  Đề nghị anh cho biết có phải Khu sắp phái bác sĩ vào cho trung đoàn không?


    Kháng cười hỏi lại:




  • Làm sao mà đồng chí lại biết? Phải, ông y sĩ Y Ngông, người Ra Đê, được điều về lại Khu 5 để làm việc cho căn cứ ở Tây Nguyên. Ông ấy sau cách mạng mới được học tiếp để đỗ y sĩ đấy nhé. Tỉnh lại mở thêm một bệnh xá nhỏ cho ba huyện miền nam. Vì thế Khu có điều vào cho ta một bác sĩ. Nhưng bác sĩ là chung cho cả bệnh viện quân dân y ở chiến khu 7, không phải riêng của trung đoàn ta đâu. Ngó bộ anh em hay sốt rét quá nên săn đón bác sĩ dữ nhỉ?




  •  Là tại đồng chí Thảo cứ băn khoăn rằng không biết bác sĩ kháng chiến có giỏi bằng bác sĩ ở Huế không...?


    Cả đám người ào ào kéo tỏa ra về các doanh trại rải rác khắp khu đất bằng của làng Hòa Mỹ, lòng vui phơi phới, cảm thấy bước chân nhẹ nhàng, cảm thấy mảnh trời chiến khu buổi sáng hôm ấy sao mà đẹp thế! Nhưng trong cả bọn cũng có một người nét mặt bần thần, vẻ không vui lắm, bước từng bước một khỏi gian phòng một cách chậm chạp, nặng nề. Thiện cũng quay về đại đội cũ của mình, chợt anh trông thấy Hồ, đại đội trưởng đại đội 2, bước lùi lại và như có vẻ muốn tránh mặt anh. Không hiểu vì lẽ gì, Thiện quay lại vỗ vai Hồ:




  •  Này cậu, về chứ. Nghe phổ biến tình hình cậu thấy thế nào?




  •  Phấn khởi chứ sao nữa. Xin có lời chào cấp trên của tôi.


    Cùng xuất phát điểm, Thiện thoáng hiểu ngay là Hồ có thắc mắc và đây chắc là thắc mắc tại sao mình không được đề bạt gì cả. Thiện và Hồ từ trước đến nay vẫn là hai người bạn chơi thân với nhau. Hồ là anh họ của Vân và đã từng dìu dắt Vân đi theo con đường cách mạng. Hồ là con một công chức nhỏ, anh cũng đã học đến hết tú tài phần một. Sau ngày Nhật đảo chính, anh vào trường Thanh niên tiền tuyến về Việt Minh và đã gia nhập Việt Minh khoảng ba bốn tháng trước cách mạng. Trong ba bốn tháng ấy, anh có đi rải truyền đơn bí mật độ ba, bốn lần, đi tuyên truyền rỉ tai được bốn, năm người bạn đồng học và tuyên truyền được Vân, em gái họ của anh. Hồ cho rằng như thế là mình cũng đã có công nhiều với cách mạng, anh nghĩ rằng con đường sự nghiệp của anh phải bắt đầu từ đây. Anh thường ngâm hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: Đã mang tiếng đứng trong trời đất Phải có danh gì với núi sông để bộc lộc tâm tư của mình. Theo anh thì danh đây không phải là danh lợi tầm thường mà đúng là danh tiếng với núi sông, nghĩa là những hành động cứu nước anh hùng. Sau cách mạng anh xin vào ngay Vệ quốc quân, rồi do có trình độ văn hóa, lại là thanh niên tiền tuyến đã có học tập qua về quân sự, nên được đề bạt ngay làm đại đội phó rồi chẳng bao lâu làm đại đội trưởng. Khi mặt trận vỡ, đại đội của anh tan vỡ hết, chỉ còn một mình anh chạy lung tung vùng Hiền Sĩ, Cổ Bi, hoang mang, vô định. Nhưng rồi du kích Phong Điền đã chỉ đứờng cho anh lên chiến khu, ở đây lúc đầu anh vào làm việc ở ban chính trị trung đoàn, sau khi tiểu đoàn 16 thu thập được khá nhiều bộ đội chạy lạc, lập lại 3 đại đội, anh lại được làm đại đội trưởng đại đội 2. Tuy chơi thân  với Thiện vì Thiện thường hay săn đón tin của Vân nhưng Hồ vẫn thường tự so mình với Thiện. Anh cho rằng về văn hóa thì Thiện có cao hơn anh cũng chỉ chút ít, nhưng về trường đời thì nhất định không bằng và nhất là anh đã tham gia cách mạng từ thời bí mật trong lúc Thiện vẫn cắp sách đi học chưa biết gì. Ấy thế mà nay Thiện lên tiểu đoàn phó, cấp trên của anh rồi. Biết đâu đấy, nếu có sự gì xảy ra, Kháng... hy sinh chẳng hạn, Thiện lại chẳng lên làm tiểu đoàn trưởng. Một học sinh chay mới ra trường mà làm như thế, chính sách cán bộ lạ thật. Hồ nghĩ như thế và anh tự nhiên thấy ghen tức với Thiện, một nỗi ghen tức không sao lấy lý trí mà kìm hãm được. Vì vậy khi thấy Thiện đáp lại câu anh nói, bằng một cái vỗ vai và một câu nói: “Sao anh lại mỉa mai tôi thế. Cấp trên là gì, tôi còn phải học anh chán”, Hồ lại thấy đấy là một câu Thiện dùng để mỉa mai lại mình. Không nén được giận, anh quắc mắt nói: “Thôi, yêu cầu anh để cho tôi yên. Đừng có giả vờ khiêm tốn. Tôi xin nói rằng về phương diện tổ chức, tôi sẵn sàng phục tùng ban chỉ huy mới của tiểu đoàn. Nhưng anh không cần phải đả thông tư tưởng cho tôi”.


    Nói xong Hồ quay ngoắt ngưòi đi nhanh về phía đại đội của anh, với dáng điệu hầm hầm bực tức, để mặc Thiện đứng trơ-ra, bàng hoàng, sửng sốt.





II



Ngồi bên chiếc đèn hoa kỳ leo lét cháy, tỏa ra một khoảng ánh sáng vàng đục le lói trong ngôi nhà lá tối om, Thắng vừa lấy hai chân đập vào nhau để xua muỗi, vừa đọc lại đoạn nhật ký của mình. Anh vừa rời bệnh viện Bạch Ngọc của tĩnh Nghệ An và  đang trên đường đi vào chiến khu Thừa Thiên.



“Hôm nay nữa là ba ngày mình xa Hồng Ngọc và hai đứa Hồng, Loan. Ba hôm nay, em và các con làm gì, chắc nhớ bố lắm. Cũng hôm nay là trang mở đầu tập nhật ký hành trình của ta. Đường đi còn bao xa nữa? Những gì đang chờ đợi bước chân ta? Ôi, chắc là có nhiều điều kỳ thú! Hai ngày đầu đi ca nô trên sông Lam và đi thuyền trên sông Ngàn Sâu, không có gì đặc biệt. Hôm nay là buổi đi bộ đầu tiên xa nhất trong đời mình. Ai có thể ngờ được là ta đã vượt hơn 35 cây số bằng bước chân ngắn ngủi nhất. Ta sẽ còn vượt băng trên dãy Trường Sơn. Dãy núi dài nhất của Tổ quốc ta ơi, ta sẽ tới thăm người trong vài ngày nữa! Hôm nay mới là hết địa phận của huyện Hương Khê, huyện cuối cùng của Hà Tĩnh, bên kia sông đã là Tuyên Hóa, đất của Quảng Bình, vẫn còn là đất tự do. Lần đầu tiên ta đeo ba lô lên vai, như tất cả những người cán bộ kháng chiến khác. Gia tài của ta thu gọn trong đó, vả lại cũng không thể mang theo cái gì khác. Hồng Ngọc ơi, anh không thể mang cả ngôi nhà tranh xinh xắn ở cái làng có tên xinh đẹp là Bạch Ngọc có em và hai con vào trong ba lô mà vác đi được. Nhưng em và hai con nặng trĩu trong tim anh. Nếu có người ra, anh sẽ viết thư ngay cho em... Nếu không, em sẽ đọc lại tập nhật ký này... vài năm sau nữa. Biết đâu đấy, trường kỳ kháng chiến kia mà. Ta sẽ làm được gì trong cái đất Thừa Thiên mà quân Pháp đã chiếm đóng gần hết? Ta sẽ ở đâu, làm việc với ai, chữa bệnh bằng gì? Không, ta không hoang mang lo lắng. Cán bộ các ngành vào được thì bác sĩ cũng vào được, ủy ban Khu đã điều động ta vào, chắc là có lý. Hôm nay lúc đến bên bờ sông này, đã xảy ra một chuyện nhỏ thôi nhưng mà hay hay, đáng được ghi lại. Ông Khanh kêu đau chân và đề nghị nghỉ lại vài ngày để chữa. Ông giơ gan bàn chân, những bọng nước đã phồng rộp lên. Khổ thật, ông này có lẽ từ bé đến giờ chưa đi bộ bao giờ chăng. Trác, Nghi và Trọng, ba anh dân quân gánh thuốc vào Thừa Thiên, Quảng Trị thì cứ đi băng băng, tuy họ phải gánh trên vai những bồ thuốc nặng trĩu, mình chỉ nhấc lên không thôi cũng đủ thở rồi. Nghe ông Khanh đề nghị nghỉ vài ngày, họ đã phản đối, nhưng sau khi thấy bàn chân ông thì họ lại thương hại. Không biết rồi sẽ giải quyết sao đây. Chỉ thị của Khu là phải vào gấp cho đúng hẹn. Đường thì còn dài, còn phải đi bộ gần một tháng nữa. Chưa biết mình mai, ngày kia, chân mình có khổ sở như thế không? Thôi, hôm nay tạm ghi vài dòng, gọi là mở đầu cho tập hành trình nhật ký của ta”.



Gấp cuốn sổ tay lại, Thắng ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Anh không ngờ mình lại có dịp được vào lại Thừa Thiên, nơi chôn rau cắt rốn của mình, trong một hoàn cảnh đặc biệt như thế này. Thắng chợt lẩm bẩm: Mới đấy mà mình đã xa Huế đã được gần hai năm rồi. Nhanh thật. Lúc ấy đã tưởng đâu đến chuyện sẽ xảy ra chiến tranh. Phải, lúc mới được điều ra Vinh, anh đã nghi ngờ rằng ngưòi ta muốn tách anh khỏi ảnh hưởng của Hanh, anh ra đi không lấy gì làm thích thú cho lắm. Thành phốVinh với những phố buôn bán đông đúc, ồn ào với ít cây cối ,với nhà máy Trường Thi đầy thợ, với một con sông đào hẹp và với một dãy thành cổ thấp lè tè và những con người cục mịch đã làm anh nhớ tới Huế với những sông Hương, núi Ngự, với những lăng tẩm cổ kính, im lặng mát mẻ, với những nhịp cầu Tràng Tiền duyên dáng, những con người thanh lịch. Và nhất là anh nhớ ngôi nhà mà anh đã sống từ thuở bé, ngôi nhà mà vợ chồng anh đã xây hạnh phúc, trừ một vài tháng lạnh nhạt với Hanh, người anh ruột nhưng khác tính tình của anh. Nhưng vốn tính ưa hoạt động, ưa giao thiệp, chẳng bao lâu anh và Hồng Ngọc đã làm quen được với hoàn cảnh mới. Hồng, đứa con trai lớn lên bảy tuổi của anh bắt đầu đi học lớp 1 ở trường tiểu học công của thành phố Vinh. Hồng Ngọc tham gia hoạt động phụ nữ tỉnh Nghệ An. Thắng giao thiệp với những cán bộ của tỉnh, của Khu, thỉnh thoảng anh viết một vài bài thơ hay bài bàn về công tác y tế đăng báo. Gần đến kháng chiến, anh xin nhập ngũ và chuyễn  sang quân y. Việc ta đánh tan ngay lực lượng mỏng manh của quân Pháp ở Vinh trong có vài hôm làm anh tin rằng kháng chiến cũng chẳng lâu gì cho lắm. Nhưng ngay sau đó, anh ngạc nhiên thấy người ta phá cả thành phố Vinh, phá đến cả bốn bức tường thành cổ đầv đá gạch. Cái ngôi nhà hai tầng mà vợ chồng anh thuê được ở gần cầu Rầm cũng bị phá. Rồi đến bệnh viện mà anh làm việc cũng bị phá nốt. Từ đó bệnh viện chuyển đi hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng lên đóng tại làng Bạch Ngọc, cách thị trấn Đô Lương nổi tiếng chừng bảy tám cây số, ở đây là bệnh viện quân dân y của cả Nghệ An và cũng của cả Khu 4 nữa. Trong những ngày di chuyển, Thắng và Hồng Ngọc làm quen dần với hoàn cảnh sống ở nông thôn. Không biết từ lúc nào, anh đã xếp xó tất cả những bộ âu phục sang trọng của anh, để xuềnh xoàng bộ ka ki có hai túi trên ngực như những người cán bộ khác. Hơn nữa, để tỏ ra là mình có tham gia quân đội, anh cũng sắm một cái ba lô quân đội, có đính ngôi sao vàng tròn vành vạnh. Cũng không biết tự bao giờ, anh đã bỏ không đi những đôi giày da có mang bít tất nhiêu khê nữa mà đi đôi dép con hổ giản dị.



Cũng trong những ngày di chuyển ấy, anh được nghe tin mặt trận Thừa Thiên vỡ và quân Pháp đánh chiếm ra tận Đồng Hới, Quảng Bình chỉ còn có một huyện Tuyên Hóa là chưa bị chiếm đóng. Thắng đã đi tìm những người chạy từ Thừa Thiên ra Vinh để hỏi chuyện. Nhưng anh cũng vẫn giữ ý, đổi với cán bộ Thừa Thiên hay cán bộ xứ, anh không hỏi gì về Hanh cả, anh cho rằng mình vẫn phải giữ mình. Anh chỉ hỏi họ về tình hình đánh nhau, về tình hình thành phố và các huyện bị chiếm đóng ra sao, cầu Tràng Tiền và cầu Bạch Hổ có còn không, liệu quân Pháp có đánh ra đến tận Vinh không? Đối với những học sinh chạy ở Huế ra thì anh có dò hỏi về Hanh, trong thâm tâm, anh mong Hanh sẽ tản cư ra đây. Thắng vẫn nuôi hy vọng thuyết phục được Hanh theo kháng chiến. Anh vẫn tin Hanh không thể là người phản quốc, anh tin rằng Hanh chỉ vì bị người ta tuyên truyền và vì cố chấp về chính kiến nên đã có lúc lầm lạc theo Quốc dân Đảng. Nhưng tất cả những học sinh mà anh hỏi đều không ai biết Hanh hiện ở đâu, và đang làm gì cả? Có người nói rằng có thể Hanh đã hồi cư về Huế, cũng có người nói không chắc vì lúc mặt trận vỡ, chẳng  ai biết rõ số phận của những người chạy loạn ra sao? Dù sao thì Thắng cũng vẫn chưa hết nghi ngờ là cán bộ đã không muốn anh ở gần Hanh.



Thế rồi đến bây giờ anh được Khu điều động vào Thừa Thiên và sự điều động ấy đã làm tan mối nghi ngờ của Thắng. Anh tin là Khu đã tín nhiệm anh nên mới điều anh vào cái vùng xa xôi mà quân giặc đã chiếm đóng gần hết ấy. Phải, nếu trước đây ngưòi ta sợ mình bị ảnh hưởng của Hanh thì sao bây giờ lại điều mình vào Thừa Thiên. Không, rõ ràng là trước kia họ điều mình ra Vinh chỉ vì nhu cầu công tác. Nhắc tới Thừa Thiên, Thắng lại nhớ tới Thân, người cán bộ cách mạng đầu tiên mà anh được gặp. Không biết Thân bây giờ ở đâu? Quái thật, trong số cán bộ chạy ra đây hồi mặt trận vỡ, và trong số cán bộ đi ra đi vào từ trong ấy đến ngoài này từ bấy đến nay, mình chứa hề gặp anh ấy. Không hề thấy anh ấy ở các cơ quan của Khu. Chắc là anh ấy ở chiến khu Thừa Thiên, nơi mình sẽ vào công tác. Gặp lại nhau, chắc là thú vị lắm. Thắng nhớ lại buổi đi ăn cưới Thân. Không nhớ tên vợ Thân là gì nhỉ? Chắc là chị ta cũng ở trong ấy, hai ngưòi chắc đã có con rồi. Không biết nếu họ đẻ con mà vỡ mặt trận như thế thì rồi chạy giặc ra làm sao nhỉ? Nghĩ tới việc mình sắp phải đi vào nơi chiến trường xa xôi ấy, Thắng bỗng thấy lo lắng và hơi có phần sợ sệt. Trước hết là anh sợ cái nỗi phải đi bộ hàng tháng trên núi rừng heo hút. Nhưng Thắng còn có lòng hăng hái và óc lãng mạn, anh dẹp ngay nỗi sợ hãi và nghĩ tới việc được đi sâu trong lòng Trường Sơn bí mật, được công tác ở một chiến khu mà toàn tỉnh đã bị chiếm. Con cháu mình sau này sẽ hãnh diện biết bao khi nghe ông cha chúng đã làm một công việc lịch sử: Leo băng qua hàng trăm ngọn núi của dãy Trường Sơn và làm việc trong một bệnh viện lập ở trên rừng núi. Cũng là một dịp để được sống một cuộc đời mới lạ là một dịp để thử thách chí gan dạ và lòng yêu nước của mình, Thắng nghĩ như thế.



Ngày hôm sau, đoàn người phải nghỉ lại vì chân bác sĩ Khanh vẫn còn đau.



Hôm sau nữa, họ lại lên đưòng. Họ đã đến bên bờ sông Gianh lịch sử, họ đi theo tốc độ trung bình 35 cây số một ngày. Thế rồi đến ngày thứ tư, họ bắt đầu leo núi. Đây mới chỉ là một cái dốc bình thường thôi, nhưng đã là một sự thử thách đối với Thắng và nhất là đối với Khanh. Ông bác sĩ chưa quen xông pha này vừa leo vừa thở dốc. Ông đã nhờ người ta chặt cho một cái gậy, chống lần đi như một ông lão. Ấy thế mà đến lưng chừng dốc, Khanh không thể nào chịu nổí nữa, ông đề nghị dừng lại nghỉ, trời tuy rét nhưng mồ hôi ông đầm đìa. Cuối cùng anh dân quân Trọng vui lòng gánh thêm cho ông chiếc ba lô nặng trĩu, ông chỉ còn phải đeo có hai ống muối và thịt khô mà thôi. Thắng trông thấy Khanh đeo lủng lẳng hai cái ống tre hai bên mà không nhịn được cười. Anh nói: “Anh Khanh, anh có bao giờ tưởng tượng có lúc anh phải đeo hai cái ống ấy như thế và chông gậy mà đi không. Thật chỉ còn thiếu cái bị cói nữa nhé!”.



Khanh gượng cười ngượng nghịu có vẻ khổ sở: “Thì từ bé đến nay mình sướng quen có ai ngờ bây giờ làm bác sĩ mà phải đi như thế này”.



Khanh đã nói thật ý nghĩ của mình. Ông vốn là một bác sĩ tư có phòng khám bệnh riêng ở Vinh. Kháng chiến bùng nổ, thành phốVinh, trong đó có cái biệt thự hai tầng của ông bị phá, ông cho anh tài xế và con sen về quê, nhưng vẫn giữ anh bếp và bà vú. cả cái bộ sậu ấy chuyển về nông thôn, đi hết làng này qua làng khác, cuổì cùng cũng dọn về bên Bạch Ngọc như mọi người. Khanh đã cho sự chịu đựng gian khổ trong hơn một năm qua của gia đình mình là ghê gớm lắm, ông những tưởng mình đã từng đi bộ đến năm, sáu cây số liền là ghê lắm rồi. Ấy thế mà không ngờ hôm nay lại có cái việc leo núi như thế này. Ông không còn biết suy nghĩ về việc gì nữa, chỉ đưa đôi mắt lo lắng nhìn lên con đường mòn heo hút chạy ngược lên trên cao, chạy ngược lên mãi như mất hút đâu tận trên nền trời xa thẳm mà rùng mình, lo cho đôi chân gầy yếu của mình không biết có chịu nổi hay không?



Thắng cũng thấy mệt lả. Anh cũng không ngờ leo núi lại mệt đến thế, mệt hơn cả những buổi anh ham chơi quần vợt quá nhiều. Nhưng anh vẫn cảm thấy tự hào là mình đang vượt qua dãy Trường Sơn đầy bí hiểm. Tối hôm ấy, trong khi Khanh lấy dầu long não ra bóp chân, Thắng giở cuốn nhật ký ra hý hoáy viết. Anh cao hứng làm luôn bốn câu thơ:



Ta vượt dãy Trường Sơn vòi vọi



Núi ngất trời dẫm dưới chân trai



Nẻo đường đất nước dù dài



Say đời kháng chiến, còn người băng qua.



Thắng nhăn mặt nói: “Dở quá, không nói hết được ý ta. Sau này phải làm một bài trường thiên ghi lại chuyến đi này mới được”.



Thế rồi họ cũng tới được Troóc, một địa điểm quan trọng trên con đường giao thông nối liền Bình Trị Thiên với Khu 4. Ở đây, họ không ngờ là có hàng quán. Thắng, Khanh đã ghé vào ăn phở ngon lành, tuy phở chỉ là cái thứ miến khô to sợi và lèo tèo vài miếng thịt. Thắng vừa ăn vừa khen ngon.



Tối hôm ấy, đồng chí trưởng trạm liên lạc ở Troóc tới báo cho họ biết: “Ngày mai các đồng chí sẽ leo qua những chặng đường gian khổ nhất. Đó là dốc Liên và Ba Rền. Các đồng chí hãy chuẩn bị tinh thần. Đi con đường này, dù mệt cũng phải gắng đi cho tới đích vì không có trạm nghỉ nửa chừng đâu”.



Tối hôm ấy, trời mưa như trút nước. Thật là một tai vạ cho họ. Bởi vì hôm sau thì đường leo dốc lại càng trơn như đổ mỡ. Họ phải bám lấy cây hai bên đường để leo lên từng bước vì nếu không thì có thể tụt ngã ngay. Có ngưòi đã nói đùa rằng cái dốc U Bò này sở dĩ có tên như thế là vì người ta phải bò lên từng bước và đầu người đi sau có khi chạm phải gót chân người đi trước. Còn sở dĩ có tên là Ba Rền là vì khi anh nào đã rên đủ bã lần thì anh mới qua được. Đoàn người cứ trèo, trèo mãi. Lên hết một dốc, họ lại tụt xuống, lúc đi xuống coi chừng lại vất vả hơn lúc leo lên vì phải bấm chân, giữ chặt các cành cây bên đường, giữ cho mình không theo đà mà lăn xuống dốc mất mạng. Qua hết năm dổc là hết Liên U. Đến đây có một con suối rộng, nước chảy ồ ồ như thác. Phong cảnh tuyệt đẹp nhưng vì tái xanh mặt mày và mồ hôi ra ướt đẫm nên không còn ai thấy gì nữa. Ngưòi đưa đường nói rằng chỉ được nghỉ 10 phút rồi phải đi ngay mới kịp vì còn qua ba cái dốc dựng đứng của Ba Rền nữa. Thắng cũng quá mệt nên không còn thấy cảm hứng gì nữa. Anh ngồi trên một phiến đá lớn bên dòng suối, nghĩ mà rùng mình cho đoạn đường vừa đi qua và cả đoạn đương sắp tới. Anh nhìn Khanh thương hại. Khanh không còn ra hồn người nữa. Ông ngồi bẹp ngay dưới đất ẩm ướt, mặc cho bùn đất bám đầy cả quần áo. Nếu không có ai, có lẽ ông đã nằm vật ra đấy. Nhưng ông có muốn nằm cũng không được. Những con vắt tai quái cứ bò lại phía ông lổm ngổm và chỉ chờ lúc ông sơ hở là len vào trong ống quần hút máu. Thật ra thì trong lúc đi đường, cả mấy người ấy đã phải làm quen dần với cái giống hút máu tai ác này. Lúc đầu Thắng và nhất là Khanh còn sợ lắm, họ lấy những cành cây nhỏ gạt nó đi. Nhưng sau thấy gạt như thế không ăn thua, hơn nữa, nếu đang đi mà dừng lại một chút thì sẽ được hàng chục con vắt tới thăm ngay nên họ cũng phải đánh bạo giơ tay ra bắt lấy nó và vứt đi. Thậm chí về sau ông Khanh cũng quen đến nỗi cứ lấy hai ngón tay cái và tay trỏ vê con vắt lại thành một cục tròn để dễ vứt ra khỏi ra thịt mình và không cho nó bò ngoằn ngoèo trên bàn tay mình nữa.



*



Con đưòng dù dài mấy, cứ đi mãi rồi cũng đến lúc phải tới nơi. Sau một tháng trèo đèo lội suối, cuối cùng đoàn người cũng đã tới được chiến khu Ba Lòng của tĩnh Quảng Trị. Đến nơi, Thắng hỏi Khanh:





  •  Thế nào, một tháng trời đi đưòng anh có nhận xét gì không?


    Khanh mỉm một nụ cười, lần này không còn gượng gạo như trước. Ông nói:




  •  Phải nhận rằng gian nan cũng có rèn luyện con người thật. Tôi cũng không ngờ rằng như tôi mà cũng có thể đi được từ ngoài ấy vào đến đây. Dù sao, tôi vẫn mong rằng khi ra, chúng ta sẽ được đi con đường khác. Cố nhiên, ấy là tôi mong cho kháng chiến thắng lợi và các con đường ở đồng bằng lúc ấy cũng là những con đưòng của ta. Thôi, chúc anh tiếp tục lên đường mạnh khoẻ. Tôi sẽ gửi thư vào chiến khu Thừa Thiên cho anh và mong anh cũng đừng quên thằng bạn... ốm yếu ở cái chiến khu Quảng Trị này.


    Thắng thân mật khuyên bạn:


    - Anh nên tìm tới cả các cán bộ đoàn thể của tỉnh. Họ là những người tốt thật đấy anh ạ. Muốn kháng chiến thắng lợi, phải có họ đấy.


    Khanh không đáp, chỉ hơi gật đầu se sẽ. Thắng cũng không biết là ông đồng ý hay không đồng ý, chỉ thoáng thấy trong ánh mắt của Khanh có một vẻ gì như suy nghĩ, lưỡng lự, nửa như đồng ý, nửa như còn nghi ngại điều gì.


    Họ đã chia tay nhau như thế, và ba hôm sau, Thắng và hai anh dân quân Trạc và Nghi đã lội qua dòng Ô Lâu, đặt chân lên chiến khu Hòa Mỹ của Thừa Thiên.





III



Làng Nam Phổ, từ sau trận càn lớn của quân Pháp hồi tháng 2 năm 1947, trông có vẻ ngơ ngác tiêu điều. Dân làng đã hồi cư về gần như đông đủ nhưng mọi người đều có vẻ bàng hoàng và như chưa lại hồn sau những cơn biến động quá lớn trong đời sống như vậy. Làng đã bị cháy trụi gần hết. Nhìn qua lũy tre, mà chính lũy tre trong này cũng không còn xanh tươi như trước vì nó bị đốt vàng sém và bị chặt ở nhiều quãng, người ta chỉ còn thấy trơ ra hai ngôi nhà ngói năm gian của cựu Chánh tổng Huân và của Lý cựu Đang. Ngoài ra không hiểu do sự may rủi thế nào mà cũng còn sót lại chừng chục nóc nhà tranh trong số gần hai trăm nóc nhà của làng trước đây. Cũng không hiểu do sự may rủi thế nào mà chính ngôi nhà của bà cụ Thân cũng không bị giặc đốt và bà cụ vẫn sống đấy một mình, ngày ngày lụi cụi đi nấu một niêu cơm độn khoai nhỏ xíu để ăn cả sáng, trưa, chiều. Con sông sau làng vẫn lờ đờ chảy nhưng điều khác trước là ít khi thấy có trẻ chăn trâu lội ra tắm, nghịch. Trên những nền đất cũ, những ngươi dân làng hồi cư đã dựng lên những chiếc lều con để ở tạm. Đúng là những chiếc lều thật vì nó chỉ gồm có một mái tranh và bốn cọc tre chống chung quanh. Nhà nào may mắn hơn thì có hai ba bức liếp vây quanh. Giường, bàn, ghế, chõng phần nhiều đã mất hết, họ nằm trên những chiếc nong, nia may còn lượm được. Cũng có nhà không còn cái nong, cái nia nào nữa thì lót tạm lá chuối khô trên ổ rơm mà ngủ. Người ta âm thầm sống cho qua ngày và trong thâm tâm ai cũng chờ đợi một điều gì đó sẽ xảy ra. Nhưng cán bộ cũ trong làng đã dạt đi đâu mất hết. Sau trận càn lớn ấy, quân đội Pháp đóng ở huyện lỵ Quảng Điền vẫn thỉnh thoảng về đây. Chúng đi từng tốp nhỏ bốn năm tên một, có khi chỉ có hai ba tên cũng cứ đi lùng, có một tên ngụy quân hướng dẫn đường lăng xăng như chó săn đi trước chủ. Song dân làng ở đây không chạy nữa, họ dần dần quen với cảnh ấy. Họ quen dần cả với việc mấy tên lính Pháp và tên ngụy quân - mà qua vài lần họ đã biết tên và gọi là “cậu quyền Chân” - đi sục vào các chuồng gà và chuồng heo bắt gà kêu quang quác. Họ biết vậy nhưng ai cũng phải bấm bụng mà chịu, bởi vì họ biết nếu chống lại thì chẵng những nhà họ bị đốt, họ bị bắn giết mà cả làng cũng bị vạ lây. Thậm chí có hôm một tên lính Pháp lùng sục một chuồng gà mãi không chộp được con nào đã nổi khùng định xoè diêm đốt một ngôi lều thì đứa bé con lên tám của nhà ấy đã lễ mễ xách tới cho hắn ba quả trứng gà sống và ra hiệu cho hắn đập trứng mà hút. Tên lính Pháp đã nguôi giận, hắn đỡ lấy ba quả trứng, lần lượt đập từng quả vào mũi giày đinh cứng như sắt hút hết rồi xoa đầu thằng bé bỏ đi không đốt nữa. Những chuyện như thế được cả người lớn trong làng truyền tụng cho là một phương sách khôn ngoan để tránh cho làng xóm khỏi bị đốt thêm lần nữa.



Chính trong những ngày buồn rầu thê thảm ấy, dân làng lại thấy Lý cựu Đang thò mặt ra khỏi nhà và đi dạo quanh làng. Hắn đi khắp mọi xó, không bờ tre bụi chuối nào không ngó tới. Sau ngày Cách mạng tháng Tám, mặc dù chính quyền cách mạng không mó gì tới nhà hắn, không hiểu sao Lý cựu Đang cứ ru rú trong nhà. Hắn ngồi một mình trên chiếc phản bằng gỗ lim kê ngay gian giữa trước án thờ ,bảo người nhà đóng kín cửa lại, cả trong những ngày nắng ráo nhất, rồi cứ ngồi yên như thế hàng giờ không động đậy. Lúc hắn đứng dậy để đi vệ sinh, ngưòi ta thấy ở cái cột gỗ cạnh tấm phản, có hàng chục cái mẩu thuốc lá hút còn thừa dán đầy ở đấy. Lão ăn ở trên chiếc phản ấy và ngủ cũng ở đấy. Tính tình lão thay đổi đến nỗi con cháu trong nhà sợ xanh mặt, không đứa nào dám bén mảng lên ngôi nhà trên những khi lão ngồi trầm ngâm một mình ở đấy. Về phần lão thì lão lại rất sợ dân làng tới nhà. Nếu có người nào tới, lão sai người nhà ra-tận cổng dòm kỹ rồi báo cáo cho lão rõ người tới đó là ai, tới để làm gì. Nếu chỉ là dân thường, những người xưa nay vẫn vay tiền vay thóc của lão hay cấy ruộng của lão thì lão bảo người nhà ra nói lão đi vắng hay ốm không tiếp được. Nếu là cán bộ xóm xã hay nếu là cán bộ huyện thì lão vội vàng tụt khỏi chiếc phản, cho mở bớt một cánh cửa trong số hàng chục tấm cánh cửa trưóc gian nhà giữa, rồi lật đật chạy chân đất ra tận cổng đón. Lão cung kính chắp tay lại, khom mình lại cong như con tôm dắt khách vào nhà giữa, tự đi pha nước vối cho khách uống và phàn nàn vì nhà sa sút không còn gì để tiếp khách cho xứng đáng. Nhưng sau câu phàn nàn, không lúc nào lão quên nói cái câu đầu lưỡi của lão khi tiếp khách: “Nhờ ơn Chính phủ, ơn Cụ Hồ, nước nhà được độc lập tự do, nhà chúng tôi mới được tiếp rước người của Chính phủ đến chơi. Dạ, bây giò toàn dân đoàn kết là đúng lắm ạ. Cụ Hồ thật là sáng suốt, Cụ là ông Thánh...”. Khách vừa đi khỏi, lão lại quay về cái tấm phản của lão, cẩn thận đóng cửa lại và lên ngồi im lìm trên phản hút hết điếu thuốc này sang điếu khác. Có ai tới ngay bên cạnh lão, thì mới nghe thấy tiếng lão thở dài rất khẽ.



Nhưng sau khi mặt trận vỡ và sau khi làng Nam Phổ bị một trận càn làm cho xơ xác điêu tàn thì người ta thấy lão Lý cựu như ngưòi chết rồi sống lại. Lão lôi bộ quần áo lụa nhuộm nâu ra mặc lại, lão lôi đôi giày hạ đã xếp xó từ lâu ra đi lại. Khuôn mặt lão vẫn héo quắt vì hơn một năm qua sống lo âu trong bóng tối, nhưng người ta đã thấy lão nở những nụ cười nham hiểm khi đứng trước những nền nhà cán bộ bây giờ vắng tanh không có lấy một bóng ngưòi. Đối với lão, cơn ác mộng như thế là đã qua, bây giờ trở lại cái thế giới quen thuộc của lão, mặc dù chung quanh lão là cả một cái làng bị đốt trụi. Lão đã điểm mặt tất cả những cán bộ thôn xã cũ. Đán đã chết, Hạng, Sinh, Sửu, Bộ không biết dạt đi đâu đến mấy tháng nay rồi, có lẽ chết rồi cũng nên, cái con Ngạc trời đánh vợ thằng Thân cũng chết rồi. Hừ, ác giả ác báo, nó chết ngay khi còn mang thai trong bụng. Hiếp nạt dân cho lắm, giờ chết không ai thương. Cái thằng Thân có lẽ mạt kiếp cũng không dám về đây nữa. Mà biết đâu hắn chết rồi cũng nên. Lão thầm mong tròi Phật sấm sét đánh cho chết cái thằng yêu quái ấy đi. Nhưng lão vẫn để bụng những điều mong ước thầm kín ấy, không hé răng ra câu nào. Lão cảm thấy bây giờ nói ra vẫn chưa lợi, còn phải đợi ít lâu nữa xem sao đã. Lão vẫn giữ mồm, giữ miệng, nói chung vẫn làm bộ nhu mì.



Ấy thế rồi vụ làm mùa đã tới. Trong làng, ngưòi ta bắt đầu nôn nao lên vì không biết sẽ làm ăn ra sao, cày cấy, ngâm giống gieo mạ thế nào? Lác đác có vài người tới xin lĩnh ruộng của Lý cựu Đang về cấy. Bây giờ gian nhà giữa của lão đã mở cửa, lão ngồi bệ vệ trên tấm phản. Những người tới xin ruộng đều ngồi trên bục cửa. Nhưng lão vẫn ỡm ò nói: “Bác ạ (hay ông ạ, anh ạ tùy người), bây giờ cày cấy làm sao? Chính phủ thì còn đó nhưng cán bộ chưa thấy về, thật quả là tôi không dám tự tiện. Cày cấy rồi khi gặt thì thế nào? Không biết ý các bác thế nào, chứ nếu cứ chia theo lối sau... cách mạng thì tôi thiệt quá. Bác xem, nhà tôi bây giờ cũng như cả làng, có còn cái gì nữa đâu. Hết sạch, nếu chia như thế thì tôi chịu không nổi. Nhưng nếu xin trở lại như trước thì sợ phạm lệnh Chính phủ. Thôi bác ạ, cũng chỉ có mấy sào ruộng, tôi để con cháu trong nhà làm, bác đi nhà khác vậy”.



Thế rồi sau khi mấy người nông dân nọ đã van lên van xuống, nói khổ nói sở với hắn mãi, sau khi họ đã đồng ý rằng “về cái khoản tô thì tùy cụ muôn chia thế nào cũng được”, lão mới nói: “Nể bác quá, thôi thì bác chỉ làm mấy sào ở chỗ ấy, chỗ nọ thôi nhé. Còn cái chuyện... chia thì để tính sau vậy” (lão vẫn kiêng không nói tới cái chữ thu tô và giảm tô).



Nhưng cái nôn nao của một vài người trên đây chỉ là số ít. Cả làng còn nôn nao hơn nữa khi “cậu quyền Chân” từ trên đồn huyện Quảng Điền về báo tin là cái việc quan cấp ruộng công bây giờ phải chia lại, quan đồn có công nhận mọi người mới được cấy; mà muốn chia lại thì trước hết phải lập hội đồng hương chính xã đã. Cái tin ấy thật như một tin sét đánh trong dân làng. Bởi vì cán bộ thì đã đi hết, hội đồng hương chính xã lại chưa có, không ai dám tự tiện ra cày cái đám ruộng công mà mình được cấp từ sau cách mạng cả. Trong làng, không biết từ miệng ai đầu tiên đã bắn ra một cái tin đồn: làng này phi cụ Lý cựu ra không còn ai có thể làm được việc này. Nhưng nếu có ai hỏi lý cựu Đang thì lão lại tỏ ra rất ngạc nhiên, lão nói rằng lão không hay biết gì cả, vả lại vài sào ruộng công đối với lão thì không cần đến. Ấy thế rồi một buổi chiều, các cụ bô lão và một số nhà nông không chờ được nữa rủ nhau kéo đến là Lý cựu Đang. Họ đồng thanh đòi Lý cựu Đang ra nhận chức chánh hội đồng hương chính để giải quyết cho ổn với quan đồn về cái chuyện cấp ruộng công vì thời vụ làm mùa đã gấp lắm rồi, để lâu nữa e cái vụ này không còn cày cấy gì được nữa.



Nhưng trước mặt mọi người Lý cựu Đang đã nhất mực từ chối. Lão nói:





  •  Chết, cái việc ấy xin để cụ nào ra làm cho, tôi không thể nhận được. Chính phủ thì còn đó, ủy ban chẳng qua chỉ dạt đi đâu đó, nay mai lại về, các cụ đẩy tôi ra làm thì phải tội với Chính phủ mất.




  •  Nhưng nếu không ai làm thì lại phải tội với đồn kia mà. Làng ta đã bị đốt trụi một lần rồi, bao nhiêu ngưòi đã bị chết rồi, không nên để bị đốt lần nữa, bị bắn chết người lần nữa. Tôi e rằng nếu bị đốt lần nữa thì cái nhà ngói năm gian của cụ cũng không còn đâu.


    Lão Lý cựu thở dài thưòn thượt, lắc đầu ngao ngán nói:




  •  Đốt lần nữa thì thật chết hết. Phải, không ai ra làm thì lại phải tội với đồn.


    Nhưng lão vẫn chối:




  •  Thưa các cụ, tôi cũng thấy là cần có người ra làm... tạm, nhưng xin các cụ cử cho người khác. Tôi là chân cựu hương lý, trước đây cán bộ đã có ý nghi ngại rồi, tuy tôi vẫn một dạ một lòng trung thành với Chính phủ - lão nhấn mạnh câu ấy - nay nếu tôi ra làm nữa thì e Chính phủ kết tội là Việt gian mất. Xin để cụ lão nông nào ra làm cho thì phải hơn...




  • Có ngưòi trong bọn bỗng nói: “Hay để cụ Nhiêu ra làm vậy”.




  • Cụ Nhiêu tên thật là gì không ai còn nhớ rõ nhưng hồi còn nhỏ vì cố bán ruộng mua lấy cái nhiêu nên đã trở thành tên chính thức. Cụ Nhiêu là một lão nông nghèo xơ và hơi lẩm cẩm. Lý cựu Đang đê vào: “Phải, để xin cụ Nhiêu ra làm cho”. Lão vừa nói vừa nheo mắt cười, cái cười vừa có vẻ khinh bỉ, mỉa mai, vừa có vẻ nhạo báng, lại vừa có vẻ như tán đồng ý kiến mời cụ Nhiêu ra làm việc.




  • Cụ Nhiêu tuy lẩm cẩm cũng tự biết mình không thể nhận được. Cụ nói: “Tôi ra làm để mang cái khổ lên trình quan đồn à. Các cụ thử nghĩ xem quan đồn họ có bao giờ nhận để những người như tôi ra làm hay không?”.




  • Mọi người chèo kéo mãi, Lý cựu Đang mới chịu nhận ra làm hội tể, sau khi đã cẩn thận phân bua mới cả bọn: “Xin các cụ biết cho đấy nhé. Tôi bị các cụ và dân làng ép ra đấy nhé, nếu có cán bộ về, tôi xin các cụ báo cho họ biết việc như thế thì đỡ oan gia cho tôi. Xin các cụ đồng báo cho dân làng, những người không có mặt ở đây biết như thế nhé. Nào, thôi bây giờ ta cử một đoàn lên báo cáo với đồn để xin làm cho xong cái việc quan cấp công điền thôi”.


    *


    Chỉ một loáng sau, cả làng Nam Phổ đều biết tin cụ Lý cựu Đang đã ra làm chánh hội tề. Người ta báo cho nhau biết như vậy, nhưng không ai bình phẩm với ai câu nào. Mọi người ai cũng giữ vẻ tự nhiên trước cái tin ấy, nhưng trong mắt họ, người ta đọc được một nỗi ngao ngán và bực tức. Cái câu duy nhất mà người ta bảo cho nhau biết là: Này cụ Lý cựu lại ra rồi đấy. Cũng có người bẳn tính hơn người khác một ít, cau mặt nói: Biết rồi ai lạ gì nữa. Nhưng cũng có dư luận tung ra: Cụ Lý cựu từ chối mãi sau dân làng ép mãi, cụ mới nhận. Cụ nói cụ ra làm chỉ vì việc cấp công điền mà thôi.


    Nhưng đến tối hôm ấy thì trong những góc nhà tối vắng, mới có những cái đầu chụm vào nhau thầm thì: Này, ông Lý cựu ông ấy đã bí mật lên đồn mấy lần rồi đấy. Chính mắt tôi có lần trông thấy. Từ chối gì! ông ta muốn để sau này ủy ban về thì khỏi mất chỗ đội nón đấy thôi.


    Nở, một anh bần nông cháu họ của bà cụ Thân cũng tới báo cho bà cụ biết cái tin ấy. Bà cụ kéo cháu vào trong buồng kín rồi nói nhỏ với Nở: “Cháu ạ, rứa là hắn mần Việt gian rồi. Tau biết. Ai chớ lão nớ thì trước sau đằng mô cũng làm Việt gian. Nhưng cháu đừng nói hở cho ai biết là bà nói rứa nghe”.


    Từ sau hôm đó, dân làng thấy lúc nào bà cụ cũng đeo một mảnh vải đỏ khá bẩn lên ngang đôi mắt và đi đâu cũng chống gậy sò soạng từng bước. Có người thương hại nói: Khổ thật, bà cụ nhớ con và thương con dâu, khóc đến lòa mất rồi.


    Cũng từ  hôm đó, không biết từ bàn tay bí mật nào, những tờ truyền đơn kêu gọi toàn dân kháng chiến của Tỉnh bộ Việt Minh in từ khi vỡ mặt trận, cứ cách một hai ngày lại xuất hiện. Hôm nay, tờ truyền đơn được dán trên vách liếp một ngôi nhà ở đầu thôn, ngày kia truyền đơn lại xuất hiện ở cuối thôn. Có hôm, truyền đơn dán ngay nơi cánh cổng nhà Lý cựu Đang mà lão không hay biết gì cả, mặc dù nhà lão có đàn chó khá dữ hay sủa vang xóm và lão cũng rất tỉnh ngủ.


    Lão Lý cựu như cuống lên trước những tờ giấy đó. Lão vừa tức, vừa lo sợ. Từ sau cái hôm lão sai Tảo, cháu họ lão, một phú nông, phao ra cái tin rằng chỉ có lão mới làm được việc cấp công điền, và sai Tảo kéo thêm một số bô lão tới nhà lão để thỉnh cầu lão ra làm việc, lão đã tưởng mọi việc là êm đẹp lắm. Thế mà bây giò không ngờ lại có tờ rơi ở trong làng. Đứa nào bỏ tò rơi được nhỉ? Lão Lý cựu ngồi một mình trên tấm phản, không buồn khêu ngọn đèn dầu lạc đang lụi dần và bập bùng, bập bùng sắp muốn tắt. Lão vẫn đi khắp làng. Hừ, có chỗ nào là mình không để mắt tới đâu. Bọn cán bộ đã có đứa nào về đâu. Lão điểm qua một lượt nữa tất cả những nhà mà lão nghi là có thể có người hoạt động. Thằng Đán thì chết rồi, con mẹ hắn với con trai hắn cũng chết rồi, ở xóm cuối chả còn đứa nào có gan làm việc ấy. Thế nhưng, tò rơi lại dán ở đấy trước tiên. Không, lão lắc đầu, mấy hôm sau, lại dán ở đầu làng và mới đây dán ở ngay trước cổng nhà mình. Hạng, Sinh, Sửu, mấy bọn ấy vẫn chưa về. Nhà cậu Phát, con cụ Chánh Huân thì không lẽ lại có người như thế. Mới đây, cậu ta còn định đi Huế để xoay một chân việc ở huyện. Nở, Lạng, Ngoạt, Biều, Thai... bọn ấy thì như cái đụn rạ, biết gì. Hay con mẹ Thân. Vô lý, con mụ ấy đi còn phải sờ soạng làm cái gì được. Lão chợt mỉm một nụ cười hiểm độc: nhưng con mụ ấy đẻ ra thằng Thân và nuôi con Ngạc. Phải trị, đúng, truất phần công điền của mụ đi. Ai nói gì thì ta bảo rằng có cho mụ phần ruộng mụ cũng không làm được kia mà. Nghĩ tới việc cấp công điền, lão lại như mở cờ trong bụng. Phen này thì vớ được món to đây. ít nhất là phần ruộng của bọn cán bộ xóm, thôn, xã, huyện cộng lại cũng gần chục mẫu cái đã. Cho vào quỹ hội đồng hương chính. Lão nghĩ: không cần nói, người ta cũng biết cho vào quỹ hội đồng là cho vào túi ta, nhưng đứa nào trong làng này dám nói gì. Nói gì thì đừng có hòng mà ở cái làng này. Cho rũ tù ngay. Bỗng lão chợt nhớ tới những nhiệm vụ mà quan hai đồn trưởng đã giao cho lão mà thấy lo lắng sốt ruột. Chết thật, mới kéo lên đồn báo tin lập được hội đồng hương chính, ông ấy đã bắt nộp năm chục tên lên phu đồn và trăm cây tre. Cũng phải lo cho đủ thôi. Bổ vào ai bây giờ nhỉ? Thôi dại gì, trước hết hãy chặt hết tre ở mấy cái nhà bọn cán bộ cái đã, nhà con mụ Thân nữa. Mai phải bảo mõ nó gọi dân làng ra hội ở đình.


    Đĩa đèn dầu lạc bỗng phụt lên vài cái rồi tắt hẳn. Lão Lý cựu cũng không thèm thắp lên nữa, lão thò hai chân xuống khỏi phản đập vào nhau mấy cái rồi để nguyên quần áo, với cái gối mây vuông ngả đầu ngủ luôn.


    Đến sáng hôm sau, lão vừa đi ra cổng định tự đi gọi lấy thằng mõ thì lão bỗng rụng rời tay chân. Ngay trước cổng nhà lão, lại có một tờ truyền đơn. vẫn cái thứ truyền đơn ấy, nhưng không biết sao, cuối tờ truyền đơn lại có một dòng chữ viết bằng cán bút lộn ngược:


    “Những đứa Việt gian bán nước hãy coi chừng”.


    Cái dòng chữ ngắn ngủi ấy có mãnh lực ghê gớm làm lão Lý cựu Đang chùng ngay lại không dám bước ra cổng nữa. Lão tái mét mặt, tim đập thình thịch và quay vội vào trong nhà, bước chân run lập cập. Lão vội gọi đứa con trai út lên mười của lão ra gỡ ngay tờ giấy vào xem lại. Không, đúng vẫn là cái thứ truyền đơn ấy, vẫn là cái lời kêu gọi in từ khi mặt trận vỡ, nghĩa là đã cách đây bốn năm tháng. Nhưng còn cái dòng chữ viết ở đây thì là của đứa nào? Lão lại ngồi điểm lại tên những người biết chữ ở cái làng nhỏ bé này. Nhưng rồi lão chịu không lần ra manh mối, từ ngày Cách mạng tháng Tám đến nay, vì có cái bình dân học vụ, số người biết chữ đã trở nên nhiều quá.


    Sau khi đã sai ba đứa con lão ra coi xem có bóng dáng ai qua lại ngoài cổng nhà lão không, lão Lý cựu mặc chiếc áo dài the, đóng chiếc khăn đóng vào và cứ để chân đất như thế, lão chạy vụt ra khỏi cổng như bị ma đuổi. Lão chạy lên đồn báo cáo về cái tờ giấy đang đè nặng lên tâm trí lão như một cái bóng ma kinh khủng.





(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »