tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813328
Điện ảnh, âm nhạc và hội họa
24.06.2015
Nhiều tác giả
Những bài báo về Họa sỹ Lưu Công Nhân


 



Lưu Công Nhân - Người của kháng chiến và bình yên



Bùi Quang Ngọc 13/02/2014



Tôi không nhớ rõ Lưu Công Nhân tuổi Ngọ hay Mùi, Ngựa hay Dê; nhưng biết chắc chắn rằng lúc sinh thời ông có một con ngựa sắt. Đó là chiếc xe đạp mang nhãn hiệu JUNIOR cao lênh khênh rất giống Lưu Công Nhân. Con ngựa sắt đó đã cùng ông rong ruổi khắp mọi nẻo đường thiên lý từ miền thượng du, miền trung du đến vùng đồng bằng lúa mướt xanh hay bãi biển trải dài cát trắng. Con ngựa sắt đó mang theo trên mình chiếc cặp vẽ quét đen sơn ta đã góp phần cùng ông chủ Lưu Công Nhân tạo nên bao nhiêu tranh đẹp giá trị cho đời.



Tôi có nhiều kỷ niệm khó quên với họa sỹ Lưu Công Nhân. Hơn nửa thế kỷ đã qua, nhắc lại làm chi một thời để nhớ, khiến lòng ta phải rưng rưng. Cố nhân xa rồi, biết nhắn cùng ai về lại chốn xưa.



Năm 1958, không hiểu cơ duyên nào tôi và Lưu Công Nhân gặp nhau tại cổng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, 42 Yết Kiêu Hà Nội. Lúc đó Lưu Công Nhân đã là họa sỹ thành danh, học trò cưng của thầy Tô Ngọc Vân trong kháng chiến chống Pháp. Tôi chỉ là cậu sinh viên quèn đang học năm thứ nhất, Khoá 1 của Trường. Năm ấy Lưu Công Nhân 26, tôi 21 tuổi, tuy vậy từ đó chúng tôi trở thành bạn vong niên.



Đối với tôi, Lưu Công Nhân là một nhân vật đặc biệt hấp dẫn, một chàng trai hào hoa phong nhã, một họa sỹ chuyên nghiệp tài năng. Suốt đời ông tha thiết muốn dấn thân để đi tìm cái Đẹp, đi tìm bản thân mình, luôn tự hỏi mình là ai trong thế giới nghệ thuật mênh mông. Nhân luôn tự vấn và tự mâu thuẫn với chinh mình. Nhân đã xào nấu đủ kiểu trong căn bếp nghệ thuật của ông. Và cuối cùng bằng hội họa ông muốn phủ nhung gấm lên tấm vải thô trần trụi của cuộc sống những gì ông nhìn thấy.



Lưu Công Nhân vẽ rất nhiều và triển lãm liên tục. Ông đã vẽ bức Một buổi cày ở Kiên An, nơi ông về thâm nhập nông thôn. Lưu Công Nhân làm việc như một người thợ: tĩnh vật hoa lá, rặng nhãn, hàng xoan, đồi cọ, cổng làng, mái đình, chuồng chim, ụ súng, lô cốt bên đường.... trên bờ ruộng loáng nước còn trơ gốc rạ, vài chú vịt tung tăng.... lại nhớ về một ngã ba sông chói nắng với lá đò con đang trở mái sang ngang.



Kể cả trong thời “bao cấp” cho đến nay, Lưu Công Nhân có nhiều triển lãm cá nhân nhất Việt Nam ở Hà Nội và cả Sài Gòn. Tôi cũng 2 lần trưng bày tranh chung cùng Lưu Công Nhân một lần ở Quảng Ninh và một lần ở Tp. Hồ Chí Minh cùng nhà thơ, họa sỹ Phan Vũ.



Trong những chuyến đi dã ngoại thường kỳ của Lưu Công Nhân, trên con ngựa sắt trứ danh và trong chiếc cặp đen quen thuộc cứ đầy dần lên những tấm tranh mới về vùng ông đã đi qua.Lưu Công Nhân sử dụng điêu luyện chất liệu màu nước trên giấy. Vì vậy khi chuyển sang vẽ sơn dầu ông theo quán tính vẫn giữ nguyên cảm quan của mình lúc vẽ màu nước. Nhà thơ Hoàng Hưng có lần nhận xét “Lưu Công Nhân vẽ sơn dầu như vẽ màu nước”. Tuy vậy, Lưu Công Nhân đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm màu dầu đặc sắc: những cô gái trên xe tải, lớp học bình dân, hố bom, anh quân bưu... rất nhiều chân dung thiếu nữ nông thôn và các em tiểu thư phố thị môi hồng móng tay đỏ ngồi làm mẫu cho Nhân vẽ.



Trong mấy vựng tập tác phẩm của Lưu Công Nhân đã xuất bản, tôi ưng ý nhất bộ tranh màu nước ông vẽ Vịnh Hạ Long, năm 1991. Với những nhát bút cực kỳ khoáng họat và chuẩn xác, ông đã thâu tóm được vẻ đẹp tổng quan toàn cảnh Vịnh Hạ Long khi vùng biển đó vẫn còn những cánh buồm nâu lãng đãng. Trong gần 100 bức thư Nhân gửi mà tôi còn giữ lưu niệm, ông viết “Ngọc ạ, Vịnh Hạ Long sẽ không còn những cánh buồm. Những cánh buồm dân dã với vài mảnh vá thật đẹp rồi đi vào dĩ vãng. Văn minh cơ khí sẽ nuốt mất cúa chúng ta những cánh buồm“.



Thường nhật, Lưu Công Nhân sống điều độ và nghiêm túc. Ông làm việc cần mẫn và có chương trình sáng tác cụ thể từng ngày. Trong quan hệ bạn bè cũng như nhu cầu ẩm thực, Nhân chọn lọc rất kỹ. Ông không uống rượu, cà phê hoặc hút thuốc lá. Thỉnh thoảng ông dùng một chai bia lạnh. Ông ham uống trà, lúc nào cũng có sẵn sàng một hộp chè móc câu Thái Nguyên và một bình nước sôi bên mình. Khi mời khách ông cẩn thận chuyên trà trong những bộ ấm cổ rất quý. Nào Mạnh Thần, nào Thế Đức gan gà hoặc men lam hay bạch định... Lưu Công Nhân cũng là người sưu tập đồ cổ kiểu tài tử.



Lưu Công Nhân trên con đường sáng tạo nghệ thuật là người gặp nhiều may mắn và thuận lợi. Trời ban cho ông một người vợ tuyệt vời. Bà suốt đời tận tuỵ với chồng con và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất đẻ Lưu Công Nhân làm việc, chính bà cung cấp nguyên liệu vẽ và tạo nơi làm việc cho Nhân dù trong hoàn cảnh nào. Ông là họa sỹ trẻ đầu tiên ở Việt Nam được hưởng trở cấp sáng tác dài hạn, lại đươc nhà nước cho nhà riêng đẻ vẽ ở Thác Bà. Lưu Công Nhân hiểu biết rộng. Ông có một tủ sách về nghệ thuật tạo hình khá đầy đủ và quý hiếm. Lưu Công Nhân sống mạnh mẽ, hơi ngang nhưng rất hài hước và chân tình. Có lần nghe tin cô ngồi mẫu cũ ở Sài Gòn gặp khó khăn, Nhân đã nhờ tôi chuyển ít tiền vào giúp cô.



Tôi có quá nhiều kỷ niệm với Nhân, nhất là thời kỳ vợ ông đi học dài hạn ở nước ngoài. Nhớ những đêm Hà Nội trở rét, hai thằng mặc áo bông đụp, mũ len che tai, lang thang khắp các nẻo đường, góc phố. Những đêm Nô-el rộn rã, những buổi mưa xuân ngày Tết ấm áp cành đào. Hà Nội êm ả của những ngày qua. Lưu Công Nhân sống nhiều năm ở Hà Nội và Hải Phòng. Có một thời gian ông tá túc và vẽ ở Vĩnh Yên. Sau 1975 gia đình Nhân chuyển hẳn vào Sài Gòn ở đường Nguyễn Trãi, Nguyễn Văn Thủ và Nguyễn Kiệm. Cuối đời, ông về ở hẳn Đà Lạt trong ngôi nhà có con đường dốc ven sườn đồi đầy hoa.



Lại nhớ, năm 1973, sơ tán máy bay Mỹ về Phú Thọ, có lần tôi và Nhân cùng đạp xe từ Đoan Hùng về Hà Nội. Tiện đường, chúng tôi ghé thăm và qua đêm trong ngôi nhà tranh trống trải của họa sỹ Trần Lưu Hậu. Dọc đường Nhân không quên ghé vào quán ven đường mua một cân thịt trâu tươi đã làm sẵn để đãi bạn. Gia đình thầy Hậu hồi đó sơ tán theo trường với một đàn con nhỏ nên còn nghèo. Đêm đó trời rét buốt, Hậu phải nhường một chiếc chăn duy nhất cho hai ông bạn, còn bọn trẻ đành tạm dùng quần áo cũ thay chăn. Chưa hết, ngay trong căn nhà đó, đối diện với giường ngủ ông có nuôi một đàn gà để cải thiện. Sáng ra, Hậu định thịt một chú gà mời khách, nhưng Nhân gạt đi mà xin một nồi sắn bở tiễn đưa.



Năm 1979, họa sỹ Bùi Xuân Phái vào Sài Gòn vẽ tranh ở nhà anh Lê Đại Chúc con ông Lê Đại Thanh cạnh bến Bạch Đằng, nhìn ra con phà Thủ Thiêm. Vào tháng 10 năm ấy, trươc khi kết thúc chuyến đi, cụ Phái nhờ Nhân đèo xe đạp đến nhà tôi tận cư xá Thanh Đa để tạm biệt thằng em mà cụ vẫn nhớ. Nhân xách theo một bịch ốc hương mua ở chợ Cầu Muối. Tôi cũng đưa ra một xị rượu đế để đãi hai ông. Uống, ngà say và vẽ. Cụ Phái vẽ rất nhiều trên giấy và bìa, cụ rất nhớ Hà Nội. Quá trưa, chỉ có rượu đế và ốc hương nên quá say và đói. Xin nói rõ, thời đó Sài Gòn thiếu gạo, toàn dân chỉ ăn bo bo và bột mỳ. Hỏi: có gì ăn không. Trả lời: chỉ có mỳ nắm luộc. Hai ông khách xịn gặm mỳ xong, vẽ tiếp. Lưu Công Nhân lại đèo cụ Bùi Xuân Phái trở về trung tâm Sài Gòn.



Trên con đường nghệ thuật gập gềnh, họa sỹ Lưu Công Nhân mải miết đi tìm mình. Trải qua bao nhiêu kiểm chứng trong hội họa, cuối cùng ông cũng dừng lại ở “ngôi nhà hiện thực”. Nghệ thuật trừu tường không phải địa danh để Nhân tìm đến.



Họa sỹ Lưu Công Nhân đã ra đi mãi mãi vào năm 2007 tại Đà Lạt. Ông yên nghỉ trên một sườn đồi thanh thoáng cây cối xanh tươi. Trên mộ chí của ông có khắc mấy chữ mà nhà văn Tô Hoài ghi trên vựng tập “Lưu Công Nhân người của kháng chiến và bình yên”.



Bùi Quang Ngọc



Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số Tết tháng 1+2/2014.


 


 


 



Sướng và khổ của họa sĩ Lưu Công Nhân



Năm 1954, Lưu Công Nhân bắt đầu nổi trội trong giới họa sĩ trẻ là một cây bút tài hoa, và tôi cũng là một trong những người hâm mộ tranh của anh: Bút pháp Lưu Công Nhân phóng khoáng, màu sắc trong trẻo, vẽ như chơi mà đẹp! Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn nhớ nhiều ấn tượng, kỷ niệm vui vui ở ông bạn họa sĩ này…



Một họa sĩ sướng nhất…



Lưu Công Nhân sướng nhất được là học trò “cưng” của họa sĩ Tô Ngọc Vân; được cùng thầy đi thực tế trên một chiến trường oanh liệt nhất – Điện Biên Phủ.



Khi về tới Hà Nội, vẫn dáng dấp thư sinh, dong dỏng cao, thông minh, tính tình cởi mở, hay cười. Anh được nhà nước tuyển chọn trong danh sách một số họa sĩ hưởng chế độ đặc biệt ăn lương trong biên chế, chỉ có việc sáng tác tranh, không bị chi phối thêm công việc chức trách cơ quan, đó là chế độ lý tưởng đối với các văn nghệ sĩ trong thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX… Thế là anh tự do phơi phới mang cặp vẽ lên đường về lại với đồng quê, với những con đường kháng chiến cũ, với thiên nhiên.



Sung sướng nữa là anh không bị ràng buộc, cấn cái bởi kinh tế gia đình – vì vợ anh là một dược sĩ cao cấp, phụ trách một xí nghiệp dược phẩm của nhà nước. Chị ấy rất hiểu tính cách nghệ sĩ với nghề nghiệp của chồng. Chị đảm đang lo tất cả mọi việc nuôi con ở nhà để anh rảnh rang làm nghệ thuật. Vì thế, anh phấn chấn trẻ trung, bay bổng cùng nét cọ tài hoa mà không hề lo lắng gì đến cơm áo gạo tiền.



Họa sĩ Đào Đức, bạn tôi, và cũng là bạn cùng khóa với Lưu Công Nhân kể: Có lần đi qua xí nghiệp, Lưu Công Nhân ghé vào thăm vợ. Người bảo vệ cơ quan lúc đầu không cho vào. Khi ông ta vào báo cáo bà giám đốc… có một thanh niên người cao ráo đi chiếc xe đạp “cuốc”, mặc quần soọc ngắn, trắng trẻo, đẹp trai nhưng có vẻ cấc lấc… anh ta cứ nhất định đòi vào… thì bà giám đốc (vợ anh) đang nghiêm trang bỗng đổi vẻ hiền hòa, mỉm cười nhỏ nhẹ: Bác cứ mời anh ấy vào ngồi phòng khách, bảo pha trà…



Trông thấy họa sĩ cũng ngồi xe ôtô Mốtskyvít với bà giám đốc đi đâu đó, người ta vui vẻ kháo nhau: Ngày xưa, cái thuở hàn vi, các thầy khóa được vợ tần tảo nuôi cho ăn học. Tới khi thi đỗ ông Nghè, vinh qui bái tổ thì “võng chàng đi trước võng nàng theo sau”. Lưu Công Nhân thành đạt kém chi ông Nghè. Chỉ thiếu quyền cao chức trọng thôi. Có khác là ngồi cùng “võng” của vợ… Thế còn sướng hơn ông Nghè ấy chứ! Đúng là vinh quy thời hiện đại.



Một lần chịu khổ…



Chuyện là thế này: chiều hôm đó rảnh rỗi, Lưu Công Nhân đi chơi qua chợ Bến Thành, nghĩ tới một Bảo tàng mỹ thuật mới thành lập, chắc có gì mới, anh quyết định tới xem. Kiến trúc bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh rất đồ sộ, có khoảng mười lăm phòng trưng bày ở mỗi tầng lầu. Tuy chưa phải là kiến trúc dành riêng cho bảo tàng, nhưng kiên cố, cẩn mật.



Họa sĩ say mê xem tranh. Đặc biệt mảng tranh ký họa của các họa sĩ đi B… nhiều tác giả quen biết, nhiều tác giả trẻ mới được đào tạo; nhiều bút pháp, phong cách khác nhau. Nhiều cảnh sắc chiến đấu sinh động của từng vùng, miền đã nói lên ý chí, tình cảm con người Việt Nam trong ba mươi năm cách mạng và kháng chiến.



Như bị cuốn hút vào mê cung của cái đẹp hào hùng, Lưu Công Nhân không hề nhớ mình đang ở lầu mấy? Tiếng chuông reo hết giờ anh cũng không để ý. Bảo vệ đã khóa chặt mọi cửa, các cô thuyết minh đã ra về từ lúc nào.



Ngắm nghía mỏi mắt chồn chân rồi thì Nhân mới xem hết phòng cuối của lầu 2. Thấy còn cầu thang nữa, anh lại nghĩ, đã cất công xem thì phải xem cho hết.



Lầu trên này còn mang tính chất kho tàng ngổn ngang, hơi lộn xộn. Nhưng những tủ kính hiện vật, những lọ gốm, chóe men dáng lạ, những bộ y phục dân tộc, những cồng chiêng Tây Nguyên… Cho tới khi quá mệt mỏi, hơi lả đi vì đói, khát; nhìn đồng hồ; đã quá 22 giờ, anh giật mình – đêm rồi! Anh vội “leo” xuống thì than ôi, mọi cánh cửa sắt đã đóng chặt. Nhìn qua các khe thấy sân trong sân ngoài vắng tanh. Anh gọi, chẳng có hồi âm.



Nhân kể lại: “… Oải quá, mình đành phải ghé lưng trên cái bàn thường trực, định đánh một giấc cho quên, nhưng không tài nào ngủ được. Muỗi Sài Gòn tấn công tàn bạo! chúng vo ve trắng trợn lao tới như những con thiêu thân, mà mình chỉ mặc có cái quần soọc ngắn gấu cao trên đầu gối với áo sơ mi cộc tay. Tâm trạng bứt rứt, mình quyết định lùng sục tất cả mọi ngóc ngách từ dưới lên trên mong tìm lối thoát ra khỏi cái “két” ngân hàng tranh tượng này mà không thể.



Để giết thời gian, mình lại xem tranh, chỉ còn cách xem tranh thôi. Chưa bao giờ trên đời, mình lại được dịp xem tranh nhiều và xem kỹ đến thế: xem cả các kiểu khung và loại vải bố, ván hậu sau tranh! Thực suốt mấy chục năm kháng chiến, khi ở rừng rú cũng chưa bao giờ đến nỗi chịu cho muỗi đốt hung như thế! Tay cứ vỗ đùi non, cứ tự vả vào má, bạt tai liên tục…”.



Tôi bảo: Bạn bè từng cho rằng ông là sướng nhất – thì qua chuyện này, có thể nói rằng – thì là – ông khổ nhất, phải không?



Nhưng xin tiên sinh hiểu cho rằng, nếu như một người tù nào đó có trình độ văn hóa mà đang phải nằm trong khám, biết chuyện này, chắc chắn sẽ nằm mơ có một đêm như ông. Nghĩa là được bị tống giam tại một bảo tàng giữa thành phố lớn, giữa những gian phòng lung linh đầy màu sắc.



Vậy khổ của họa sĩ Lưu Công Nhân vẫn cứ là khổ - sướng, cực sướng!



Phạm Thanh Tâm



honvietquochoc.com.vn



Họa sĩ Lưu Công Nhân: Người đi tìm cái đẹp



Lưu Công Nhân (1931-2007) là một trong những họa sĩ có nhiều triển lãm tranh nhất ở Việt Nam. Trong gần 60 năm làm nghề, ông đã vẽ hàng nghìn bức tranh với đủ chất liệu: sơn dầu, màu nước, giấy dó... Lưu Công Nhân đặc biệt nổi tiếng với các bức tranh nude và câu chuyện về lối sống phóng túng, dám dấn thân cho nghệ thuật của ông vẫn luôn là đề tài được giới văn nghệ truyền tụng bấy nay...



1. Trong lần trả lời phỏng vấn một tòa báo, họa sĩ Lưu Công Nhân đã nói đại thể, tranh có giá trị khắc sẽ có người mua, nhưng "không phải họa sĩ bán được nhiều tranh là tài năng thực sự". Mặc dù đến nay, các khách hàng là người ngoại quốc rất thích sưu tập tranh của Lưu Công Nhân, song trong quan niệm của ông, về chuyện chơi tranh, người Việt Nam mình cũng "sành sỏi lắm", có khi còn hơn người ngoại quốc, cho nên "bán tranh cho các nhà sưu tập Việt Nam mới khó".



Có lẽ vì quan điểm như thế nên sinh thời, mặc dù vẽ nhiều song Lưu Công Nhân lại rất ít khi chịu bán tranh, nhất là những bức mà ông tâm đắc. Con trai ông - anh Lưu Quốc Bình - từng kể, vào những năm 50 của thế kỷ trước, thân phụ anh có vẽ hai bức "Thiếu nữ" (mà nguyên mẫu chính là người vợ thân yêu của ông). Hai bức này được ông treo trang trọng nơi phòng khách trong ngôi nhà ở đường 3/4 TP Đà Lạt, Lâm Đồng. Ai hỏi mua và trả bao nhiêu tiền ông cũng nhất mực không bán. Khi về TP Hồ Chí Minh chữa bệnh, ông cẩn thận lấy tranh xuống, cho cất vào kho. Những năm cuối đời, ông mơ ước xây được một căn nhà rộng rãi nằm kề ngay sau nhà ở để bày tranh. Ông muốn đây sẽ là chỗ ai thích tranh thì cứ đến tham quan. Đặc biệt, ông muốn phục vụ nhân dân vì, như ông từng nói: "Nhân dân từng nuôi tôi, phục vụ cái thằng tôi nghệ sĩ này thì cuối đời, tôi phải có trách nhiệm phục vụ lại họ".



Mơ ước lưu giữ được mãi những gì mình yêu quý là điều mà Lưu Công Nhân luôn trăn trở. Họa sĩ Đỗ Phấn từng kể: Một lần, anh vờ say nói đùa với Lưu Công Nhân: "Thị trường rất khó có tranh Lưu Công Nhân giả, bởi nếu nó có nhu cầu thì chính ông đã tự chép ra rồi". Những tưởng bậc đàn anh sẽ nổi giận, ai ngờ Lưu Công Nhân gật gù tâm đắc: "Cậu nói đúng, tại sao ta không có quyền lập cho riêng mình một bảo tàng".



Cũng theo Đỗ Phấn, ý thức lưu giữ những kỷ vật liên quan đến mình của Lưu Công Nhân thật không mấy người sánh kịp: Phần lớn thư từ viết cho bạn bè đều được ông giữ lại… bản chính.



Tuy ý thức lưu trữ cao như thế, song trong đời Lưu Công Nhân, cũng đã có những lúc ông "hào phóng" cho hết những bức vẽ của mình. Ấy là lần ông vẽ liền một mạch 15 bức ký họa. 10 bức ông tặng Quỹ Tấm lòng vàng của Báo Lao động để bán đấu giá lấy tiền ủng hộ người nghèo. 5 bức còn lại ông gửi tặng 5 nhà văn trẻ mà ông yêu mến. Trước đó, vào năm 1985, trong lần dự trại sáng tác quốc tế ở Ba Lan, ông vẽ được mấy chục bức tranh, nhưng khi chuẩn bị lên đường về nước, ông đã đem tặng tất, không mang về bức nào. Lý do chỉ bởi: Đó là những bức tranh phong cảnh, mà phong cảnh nơi… xa lạ chứ đâu có phải phong cảnh quê hương mình.



2. Nhắc tới Lưu Công Nhân là nhiều người nhớ tới một hình mẫu nghệ sĩ ưa xê dịch, tính cách có phần ngang tàng, kiểu "tay chơi". Chuyện kể rằng, một lần, tiện đường, ông ghé vào một xí nghiệp thăm vợ (bấy giờ vợ ông đang là lãnh đạo một xí nghiệp dược phẩm). Thấy có người đàn ông trắng trẻo, điển trai, đi xe "cuốc" (xe đạp dáng cao, kiểu thể thao, thuộc loại đắt tiền ngày ấy), mặc quần soóc trắng, vẻ hơi cấc lấc… muốn gặp bà giám đốc, người bảo vệ xí nghiệp nhất định không cho vào. Khi nghe người bảo vệ báo cáo lại sự việc và kể lại đặc điểm nhân dạng của vị khách, bà giám đốc liền đổi thái độ. Bà mỉm cười nhỏ nhẹ: "Bác cứ mời anh ấy vào phòng khách, bảo pha trà…".



Nhớ về Lưu Công Nhân, những người bạn thân thiết, từng trao đổi thư từ với ông hẳn đều không quên chi tiết: Lưu Công Nhân rất hiếm khi bỏ trắng vỏ bì thư mà thường ông dùng bút màu vẽ thêm một vài nét vui vui lên đó. Ông Nguyễn Dương cho biết: "Trên tất cả phong bì, lá thư ông gửi cho chúng tôi, ông đều dùng bút màu vẽ thêm hoặc viết thêm hoặc tốc họa rất ngộ nghĩnh, hài hước và vui tươi. Khác thường nhất là thiệp chúc Tết, ông vẽ những đường cong tuyệt mỹ của tạo hóa ban cho người phụ nữ được ngụ ý trong 12 con giáp hoặc những hoa trái vui tươi đầy rung cảm".



Nhà thơ Văn Công Hùng thì kể: "Một ngày giáp Tết, tôi bỗng nhận được một cái bì thư mà phong bì rất nguệch ngoạc, phía trên phong bì đề rất rõ tên người gửi: Họa sĩ Lưu Công Nhân. Hồi hộp, tôi mở ra thì bên trong là một bức tranh ký họa khuôn mặt một thiếu nữ rất đẹp, kèm đến hai cái card visit". Theo Văn Công Hùng, "card visit của ông rất lạ, cũng độc nhất vô nhị, do ông tự vẽ lấy bằng tay". Một tác giả trẻ ở Phú Thọ, quê gốc của Lưu Công Nhân cũng cho hay: "Trên tất cả các phong bì thư, các lá thư, các tấm card, hay cả các ảnh chụp… gửi cho tôi, ông đều dùng bút đề thêm hay vẽ thêm những câu chữ và hình minh họa rất dí dỏm, hài hước, thật vui tươi, thật ngộ nghĩnh, thật lãng mạn và khác đời". Qua đó, ta có thể thấy, họa sĩ Lưu Công Nhân, dù ở hoàn cảnh nào cũng vẫn luôn giữ được một lối sống khoáng đạt và trẻ trung.



3. Xem tranh của Lưu Công Nhân, ai cũng phải thừa nhận là ông có sở trường trong mảng tranh… nude. Vậy từ đâu nhà họa sĩ thuộc lứa các họa sĩ trưởng thành từ thời chống Pháp lại quyết tâm theo đuổi mảng tranh này?



Họa sĩ Lưu Công Nhân kể rằng, ngay từ năm 1950, giữa rừng núi Phú Thọ, trong giờ thi môn vẽ khỏa thân, các thí sinh đã hết sức bất ngờ khi thầy Tô Ngọc Vân "tuyển" được một cô… người mẫu. Thì ra, đó chính là cô cấp dưỡng của trường mà nhà danh họa này thuyết phục được. Câu chuyện đã in sâu trong tâm khảm Lưu Công Nhân và làm nảy nở trong ông một ý hướng sáng tác mới. Tuy nhiên, ý hướng ấy đã gặp nhiều lực cản từ quan niệm chật hẹp một thời. Thậm chí, khi lãnh đạo Trường Mỹ thuật Hà Nội tổ chức cho sinh viên vẽ tranh khỏa thân, đã có vị lãnh đạo ngành văn hóa "gợi ý": Hay là cho người mẫu che "chỗ ấy" lại. Theo quan điểm của Lưu Công Nhân: "Không thực sự xúc động trước vẻ đẹp thân thể người con gái thì làm sao truyền cảm lên bức vẽ?" và "Cái đẹp của thân thể con người là ở sự hài hòa tuyệt diệu giữa từng bộ phận, và cái đó thì không thể bịa ra được".



Chính vì xác định cái đẹp của thân thể con người "không thể bịa ra được" nên khi quyết định chuyên sâu vào con đường vẽ tranh nude, Lưu Công Nhân rất chú trọng tới vấn đề người mẫu. Ở Đà Lạt, ông từng thuê một người phụ nữ hàng ngày chỉ làm mỗi việc là làm mẫu cho ông vẽ mà không đi làm thêm bất cứ nghề nào khác. Đến Đà Nẵng, ông nhờ một người bạn là nhà văn đi kiếm người mẫu cho ông vẽ. Trước đó, thời kỳ sống ở thị xã Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc), ông được vợ (bấy giờ đang ở TP HCM) thuê cho mấy cô người mẫu ở cả tháng cùng ông để ông lấy làm mẫu vẽ. Mỗi bức tranh được hoàn thành, ông lại tất tả đóng thùng tôn gửi vào TP HCM cho vợ… bảo quản.



Lưu Công Nhân tâm sự rằng: Ông coi việc vẽ nude như công việc hằng ngày. Và vẽ với một sự… nuối tiếc. Tại sao lại có tâm trạng ấy, nhà họa sĩ đa tình giải thích: Mỗi lần đứng trước cái đẹp, ông thấy nuối tiếc tuổi trẻ đã qua, nuối tiếc sức lực không cho mình làm những điều mình muốn. Trả lời phỏng vấn một tòa báo, ông còn đùa hóm: "Giá như mình có thể quay ngược lại thời gian. Nếu tâm hồn mà trẻ thì nó không tiếc nuối đâu, mà chỉ biết chiếm đoạt thôi".



Người biết tiếc nuối và ý thức được về cái giới hạn của mình như thế là một người có tâm hồn không hề già cỗi. Những bức tranh thiếu nữ khỏa thân của Lưu Công Nhân càng củng cố trong tôi ý nghĩ như vậy. Chẳng gì thì chính Lưu Công Nhân cũng đã hơn một lần thổ lộ: "Cứ xem tranh sẽ thấy tôi đã bày tỏ cảm giác ấy ra sao…"



Lương Đức



cand.com.vn



"Xì-căng-đan cuối cùng" của họa sĩ Lưu Công Nhân



Tưởng vọng hai năm ngày mất của họa sĩ Lưu Công Nhân (21/7/ 2007 - 21/7/2009), nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hữu Hồng Minh nhớ lại vụ trộm tranh có một chưa hai liên quan tới họa sĩ mà nhiều người gọi là “xì-căng-đan cuối cùng” của họa sĩ.



Họa sĩ Lưu Công Nhân là một tên tuổi lớn của làng hội họa hiện đại Việt Nam. Mới đây, nhà sưu tập Lê Thái Sơn tìm chuyển cho tôi một tư liệu về tranh của Lưu Công Nhân đã từng tham gia bán đấu giá ở Singapore với mức giá khởi điểm hơn 4.500 đô-la, thuộc loại cao so với mặt bằng giá tranh bán trong khu vực của các họa sĩ Việt Nam. Thời gian trước ngày họa sĩ qua đời không lâu, trên báo chí đã xảy ra vụ “luận chiến” khá ồn ào về việc có hay không một vụ đánh cắp táo bạo 139 bức tranh của Lưu Công Nhân tại Đà Lạt. Sự việc ly kỳ đến nỗi, trước đó một ngày, tờ nhật báo X tường trình, giựt tít tràn ra ngoài bìa Vụ đánh cắp táo bạo 139 tranh của họa sĩ Lưu Công Nhân nêu vụ việc, tường thuật chi tiết về chuyện mất tranh. Nhưng sau đó một ngày, trên nhật báo Y lại chạy bài to đùng: May quá, tìm thấy rồi! với ảnh họa sĩ đang cầm trên tay xấp tranh giấy, vẻ mặt rất vui mừng vì đã tìm thấy được. Sau đó một ngày nữa thì nhà sưu tập Lưu Quốc Bình, con trai họa sĩ, đại diện gia đình đến tòa soạn báo X cảm ơn và xác nhận vụ mất tranh xảy ra vừa qua trong gia đình anh là có thật. Chính nhờ báo X sớm đưa tin này nên đã tìm ra (!?). Hơn 139 bức tranh bị mất vừa đưa trên báo sau 24 tiếng đã được tìm thấy. Tất cả sự việc mọi việc “xoay vòng vòng” liên hồi kỳ trận như đóng kịch vậy. Và rồi chìm vào quên lãng.



Từ lúc xảy ra chuyện ồn ào đến nay đã mấy năm. Nhiều người vẫn tò mò muốn biết rốt cuộc với “vụ án” kia, tranh có bị mất thật hay không? Nếu mất, tại sao có nhiều bức tranh “to vật” như thế lại tìm thấy quá dễ dàng? Nếu không mất tại sao báo chí lại đưa tin? Từ đâu ra nguồn tin này? Phải chăng Việt Nam đã bắt đầu có những tổ chức đánh cắp nghệ thuật với những vụ án ly kỳ “có một không hai”, những cú “ápphe” siêu lợi nhuận? Hay rốt cuộc tất cả chỉ là giấc mơ cuối đời của họa sĩ Lưu Công Nhân? Thực hư câu chuyện ra sao?



Mọi việc có thể bắt đầu khi Lưu Công Nhân trở bệnh nặng và gia đình đưa ông về Sài Gòn để điều trị cuối năm 2006. Tôi biết việc này qua anh Lưu Quốc Bình, con trai ông, người hợp gu với cha mình và thường “áp tải”, chăm sóc khi họa sĩ đi đây đó. Tôi đề nghị anh Bình sắp xếp cho tôi một cuộc phỏng vấn họa sĩ vì lâu lắm ông mới về Sài Gòn. Anh Bình bảo phải thư thư một thời gian vì lúc này họa sĩ Lưu Công Nhân đang nằm trong bệnh viện Phổi Phạm Ngọc Thạch, vào ra cũng không tiện. Anh Bình hứa khi ông khỏe một chút, sẽ tạo cơ hội cho tôi gặp. Và cơ hội đó đã đến vào dịp họa sĩ Thái Tuấn triển lãm Về nguồn ở gallery Tự Do - Hồ Tùng Mậu tháng 12/ 2006. Lưu Công Nhân và Thái Tuấn không chỉ là hai tên tuổi lớn trong làng hội họa Việt Nam hiện đại mà còn là hai người bạn thân tình. Thái Tuấn, trước đó định cư ở Pháp nhưng đã về Sài Gòn sống những năm cuối đời và phòng tranh Về nguồn là một nỗ lực lớn cuối cùng của ông thực hiện ở Việt Nam. Vì thế, Lưu Công Nhân rất háo hức muốn đến chia sẻ niềm vui với bạn. Tôi đã gặp họa sĩ ở đây và ông hỏi thăm tôi nhiều chuyện, về nghề báo, về mỹ thuật, sinh hoạt văn nghệ, các trường phái sắp đặt và trình diễn, những triển lãm đáng chú ý gần đây của các họa sĩ trẻ... Nói chung, tuy bệnh nặng và tuổi cao sức yếu nhưng ông lại vẫn rất quan tâm đến tình hình mỹ thuật nước nhà. Ông lắng nghe tôi nói và bình luận bằng những ghi nhận, góp ý sắc sảo mà hiếm người già nào còn đủ minh mẫn thể hiện chính xác như vậy được. Tuy nhiên, ông rất mệt, nên đề nghị sẽ tiếp tục cuộc trò chuyện bằng bút đàm. Và mời tôi khi có dịp lên Đà Lạt ghé nhà chơi, xem tranh ông...



Sau đó sức khỏe ông yếu hẳn đi và phải ở thường xuyên trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện. Bài phỏng vấn đành dang dở. Hình như mấy tháng sau, Lưu Công Nhân mới tạm bình phục để trở về Đà Lạt. Gặp lại anh Bình, tôi có nhắc về bài báo dang dở. Anh nói bây giờ có thể tiếp tục vì cuối tuần anh về Đà Lạt thăm cụ sẽ nhắc giùm.



Nhưng chuyến đi đó của anh Bình đã xảy nhiều chuyện ngoài dự tính. Từ Đà Lạt anh gọi điện cho tôi thông báo vừa qua, gia đình phát hiện bị mất một số lượng tranh khá lớn trong xưởng vẽ của họa sĩ. Vụ mất tranh này đã xảy ra lúc nào, bao lâu thì gia đình đang xác minh. Nhưng có một điều chắc chắn rằng tranh đã bị mất trong thời gian họa sĩ về Sài Gòn chữa bệnh. Có thể sẽ làm tường trình báo công an, thông tin rộng rãi trên các phương tiện truyền thông để ngăn chặn đưa tranh quý ra nước ngoài. Cũng theo anh, thời gian mất tranh có thể xảy ra ban đêm. Tranh bị lấy trong nhiều lần chứng tỏ kẻ trộm đã nghiên cứu, nắm rõ thời gian, giờ giấc sinh hoạt của mọi người trong nhà và họa sĩ. Anh gợi ý cho tôi, thay vì bài phỏng vấn “nguội” về họa sĩ có thể viết một bài báo “nóng” về sự việc này được không. Tôi có nói với anh, nếu mất thật và mất một số lượng lớn như thế có lẽ nên cẩn trọng và làm từng bước. Đầu tiên cần xác minh thời gian mất tranh, thống kê cụ thể số lượng tranh, tên tranh bị mất. Và quan trọng hơn hết phải có xác nhận của người tác giả của những bức tranh, chính là họa sĩ Lưu Công Nhân. Sau đó phải có thư gửi của họa sĩ Lưu Công Nhân cho báo chí nhờ đưa tin, viết bài giúp ông đưa vụ việc ra ánh sáng. Một chi tiết khác đáng lưu ý, bọn cướp đã “tinh ý” lấy được một số tranh độc, tranh “cực kỳ tâm đắc” mà giá cao bao nhiêu ông cũng không bao giờ muốn bán. Làm sao bọn cướp lại có thể giỏi “tinh tướng” đến như thế?



Tôi lúc đó cũng bán tín bán nghi. Ba ngày sau tôi nhận được một phong bì dày cộm, gồm hình ảnh, tư liệu, thống kê bước đầu 139 bức tranh đã bị mất cắp tại Đà Lạt do chính tay họa sĩ Lưu Công Nhân viết và gửi. Để kịp thời đưa sự việc ra trước công luận, ông không chuyển thư bằng đường bưu điện vì sợ mất thời gian mà đã nhờ một tài xế chạy xe tốc hành chặng Đà Lạt - Sài Gòn nửa đêm về sáng. Bài báo được đăng nhanh hơn dự kiến của tôi vì tính đặc biệt ly kỳ và nóng hổi của nó. Có thể xem đây là sự kiện đầu tiên về quy mô mất tranh lớn nhất ở Việt Nam.



Và như đã viết ở trên, ly kỳ và nóng hổi hơn nữa khi ngay ngày hôm sau trên một tờ báo khác, xuất hiện bài viết của một phóng viên thường trú tại Đà Lạt: May quá, tìm thấy rồi! với hình ảnh họa sĩ Lưu Công Nhân tay mân mê một chồng tranh giấy vẽ màu nước trên tay. Nụ cười của ông vẫn thế, khổ sở và nhăn nhúm. Theo như bài báo tường thuật, ông vì già yếu nên đã lẫn không còn nhìn thấy những bức tranh của mình. Ông vẽ rất nhiều nên phòng làm việc thường bề bộn những bức tranh xếp chồng lên nhau và ông tưởng là đã mất. Một trong những xấp tranh quý vẽ biển bằng màu nước đã được người nhà vì yêu quý lấy cất đi, không kịp báo cho ông. Vì khi chữa bệnh từ Sài Gòn về, gia đình đã sắp xếp lại xưởng vẽ nên ông không tìm được tranh theo thói quen. Có những gì nữa đã xảy ra xung quanh vụ mất tranh? Liệu nó quá đơn giản khi lập luận Lưu Công Nhân muốn làm một điều gì đó để nổi tiếng? Và quan trọng hơn, với những người thạo tin, nhiều những bức tranh sơn dầu, màu nước trong vụ mất tranh hy hữu kia của Lưu Công Nhân đã được tìm thấy trong dinh thự của một nhà sưu tập tranh có tiếng ở Sài Gòn.



Tôi vẫn giữ bức thư của Lưu Công Nhân từ Đà Lạt gửi về trong vụ mất 139 bức tranh như những kỷ niệm khó quên trong quãng đời làm báo của mình cũng như không giấu tình cảm, rung động có thực khi đứng trước nhiều tác phẩm nổi tiếng vẽ biển Vịnh Hạ Long của họa sĩ. Phải chăng, cuộc đời là mặt biển nhấp nhô mà chính cả bản thân mình chưa bao giờ hiểu hết và định trước? Tôi lại nghĩ về những vụ đánh cắp tranh táo bạo, ly kỳ có thật vẫn xảy ra ở những bảo tàng lớn trên thế giới với kiệt tác vô giá của các danh họa và nghĩ về bản kê khai mất tranh, những nét thô ríu, loằng ngoằng, đôi khi không rõ nét, có thể vấn vương, sắp đặt một tính toán đầy hàm ý nào đó từ bàn tay run rẩy của họa sĩ. Liệu có giấc mơ nào buồn và hẹp hơn chăng vì mới hôm qua thông báo mất tranh mà hôm nay đã tìm được tranh? Như vừa mới thoắt bay trên đỉnh thăng hoa vinh quang đã phút chốc giật mình rơi ngược cái hang ổ chật chội của thực tại. Nhưng Lưu Công Nhân đã mất. Chỉ có ông mới nắm giữ được bí mật sau cùng...



Nguyễn Hữu Hồng Minh



thethaovanhoa.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về tuyên bố của ca sĩ Thanh Lam - Đỗ Duy Ngọc 23.10.2017
Cố nhạc sĩ Thanh Sơn: Dấu son bolero trong nền âm nhạc Việt - Tư liệu sưu tầm 19.10.2017
Ông Thủy Nguyên: Hãng phim là cái chợ trời trước khi tôi đến, nghệ sĩ tới chỉ xả rác - Tư liệu 10.10.2017
Gởi thím Tùng Dương - Đỗ Duy Ngọc 22.08.2017
Vũ Tân Dân không bao giờ giới hạn bản thân - Natalia Kraevskaia 14.07.2017
10 phim hay nhất nửa đầu 2017: hành động, kinh dị và 18+ - Tư liệu 07.07.2017
Rembrandt - họa sĩ vĩ đại nhất thời kỳ hoàng kim - Tư liệu sưu tầm 30.06.2017
Wonder Woman': Phim về siêu anh hùng hay nhất của vũ trụ điện ảnh DC - Tư liệu 02.06.2017
Wonder Woman: trái tim phụ nữ của một siêu anh hùng - Tư liệu 02.06.2017
Sofia Coppola con gái của 'Bố Già' và 'Ngày tận thế' - Tư liệu 01.06.2017
xem thêm »