tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307412
Tiểu thuyết
17.06.2015
Ngũ Hà Miên
Bão


Họ lại tạt vào giã từ năm cũ ở quán cơm Đồng Nguyên quen thuộc. Chàng vui vẻ mỉm cười chào tái ngộ cậu bé phục vụ vẫn thường mang đến hũ ớt dầm dấm to bự mà chàng rất ghiền mỗi khi tới đây. Chàng trầm ngâm suy tưởng vớ vẩn, rằng con người chỉ nghiện ngập những gì cay đắng. Quái lạ thay, ăn ngon nhất thì phải là vụng trộm. Còn tình yêu, càng ngang trái, càng thiết tha. Có lẽ, trong vườn địa đàng, trái cấm không phải là quả đào tiên ngọt lịm mà là quả khế chua lè, có vậy mới hấp dẫn Adam và Eva chứ. Chàng châm một điếu thuốc thừ người ra.



Vậy mà cũng có một cú vỗ vai làm chàng tỉnh mộng: Ô… Thầy!



Ra là Quán, học trò cũ ở Trần Quốc Tuấn, tốt nghiệp Đốc sự Hành chính, đang làm việc ở Tòa Hành chính Quảng Ngãi. Quán nhìn Thanh Quan đang bối rối, ngờ ngợ: Dạ... chào cô. Thấy hai bên đều ngượng nghịu, chàng phì cười, chỉ vào nàng:



– Đây Thanh Quan, em gái hậu phương tôi. Và nhìn Quán: – Còn đây Thanh Quán, Đốc phủ sứ, chỉ khác nhau có cái dấu sắc, bên người yêu, bên học trò. Số tôi không hên, người xưa cho việc trốn nợ thì phải tới địa phương khác để không ai biết. Đào trái tha hương ngộ cố tri là cái rủi. Vậy mà đi chơi với người yêu cố tình lên cái hóc bà tó Chợ Lớn này, cũng bị cậu phát hiện– Chàng đùa cho đỡ ngượng.



Quán nói:



– Không dám. Em có vợ người Minh Hương(1), ở đây. Nhân công tác trong này, em ghé thăm.



Quán nhìn Thanh Quan, bưng ly bia, chữa thẹn:



– Xin... mừng thầy... cô.



Rồi hỏi chàng: – Vừa rồi sao thầy không về Quảng Ngãi ứng cử Quốc hội Lập hiến?



Chàng đáp: – Ô, tôi mà chính chị (trị) với chính em gì. Tình hình ở ngoải ra sao?



Quán là dân Sơn Tịnh, da ngăm, học giỏi, lấy một cô gái Hoa kiều nổi tiếng đẹp trong tỉnh, có cửa hiệu bán chè đậu xanh lúc nào cũng đông đúc. Thực khách thường là đám học sinh choai choai, chủ ý chiêm ngưỡng nhan sắc bà chủ lớn hơn mình vài tuổi, da trắng muốt, tóc dài thả xuống sau lưng yêu kiều, lắm cậu mê mẩn trồng cây si. Quán ghen ngầm, ít khi chịu đi đâu xa mà nay vô Sài Gòn công tác, chắc phải có việc quan trọng bầu cử bầu kiếc chi đây. Chàng nghĩ. Quán nói:



– Bầu cử theo Liên danh. Mỗi phe đưa ra một danh sách mấy người. Nhưng tùy theo số phiếu có được của mỗi Liên danh(2). Quảng Ngãi hơn triệu dân, hai trăm rưỡi ngàn cử tri ai được trọn 100% thì chiếm luôn bốn ghế, điều không thể có trong thực tế hiện nay nên cứ theo tỉ lệ lấy từ trên xuống. Quốc dân đảng chia làm hai phe, Chính quyền một, Cần lao cũ một, cả thảy bốn Liên danh. Quốc dân đảng Võ Trạng thì thầy Bảo, Quốc dân đảng Trần Hoàng thì hai thầy Hoàng, Nghị vô một Liên danh.



Thầy Hoàng hứa nếu được phiếu nhiều đủ cho cả hai vô thì tốt. Nếu chỉ được một, thì thầy sẽ nhường cho thầy Nghị. Phe thầy Hoàng nhiều phiếu nhất nhưng chưa đủ để được hai ghế. Nội bộ Quốc dân đảng Trần Hoàng họp tính lại và đa số đã quyết nghị thầy Hoàng vô Quốc hội.



– Nghĩa là không có sự nhường ghế gì hết. Từ đó bất hòa rối rắm nảy sinh? Em nghĩ sao? - Chàng hỏi.



Quán không đắn đo:



– Em không tham gia chính trị, chỉ là một công chức làm mướn ăn lương. Em thấy thầy Hoàng đúng là dân trí thức, em không dám nói salon, nhưng cũng gần như vậy, giữa một thời đại ma giáo, đầy thủ đoạn lừa lọc. Tốt hơn hết thầy Hoàng nên rút lui, bảo vệ lời hứa. Thầy Nghị, con một ông Thống chế Nam Triều, đỗ Tú tài bản xứ, có lúc làm chủ công ty, ruộng cò bay thẳng cánh, đáng đại diện cho giai cấp cựu quan lại, tư sản và địa chủ. Vả lại cái Quốc hội Lập hiến này lâu lắm cũng chưa thọ tới một năm, thầy Hoàng nên chờ mấy tháng nữa hễ hay. Dù sao, việc của mấy ổng, em không dám có ý kiến.



Các thầy Hoàng, Bảo đã tựu nhiệm, nghe nói ở trọ trước chợ An Đông. Em muốn nhân đây vô thăm thầy Nghị theo lời ông già em dặn. Nhờ đi ăn cơm trưa hôm nay, may mắn gặp thầy, xin thầy cho biết địa chỉ thầy Nghị giùm.



Chàng nghĩ: Quán làm công chức, sai đâu đánh đó. Tỉnh trưởng là bác sĩ Bùi Hoành, anh nhà thơ Bùi Giáng, bạn tù Côn Đảo với anh Nghị năm 1960–1963. Chắc Hoành có hứa hẹn gì với anh ấy, nhưng nay anh ấy vẫn thất cử, bèn cho Quán vô tìm an ủi đấy thôi.



Có điều Quán hiểu sai: Thật ra anh Nghị cũng không hơn gì hai anh Hoàng, Diễn... đều lỡ bị một số cán bộ kháng chiến đối xử không khéo léo buổi đầu, mà sinh ra đối lập, chứ theo cái phe Quốc gia này các ảnh chỉ có thể là nạn nhân mà thôi. Tuy vậy chàng không nói gì, chỉ xé một tờ giấy trong sổ tay ra ghi mấy dòng: Phạm Đình Nghị 307/24 Cách mạng, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình đưa cho Quán: Em cứ lên đó, đầu hẻm có nhà Tỳ bà của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, vô trong là nhà văn Toan Ánh ai cũng biết.



Từ việc đó, chàng liên tưởng tới bác sĩ Bùi Hoành.



Năm sáu ba, ở tù ra, anh ta về Quảng Ngãi mở phòng mạch, có lẽ cũng bắt chước Khương Tử Nha câu cá chờ thời. Với dụng ý chuẩn bị cho mình một môi trường quần chúng, anh tham gia vào nhóm Quốc dân đảng Võ, như muốn trí thức hóa tổ chức chính trị dao búa này. Tất nhiên, anh tìm mọi cách giao lưu với tầng lớp có chút ít học vấn tại tỉnh lẻ. Đó là lí do thỉnh thoảng chàng cũng được anh mời tới phòng mạch của mình uống trà, đàm luận thời sự, vui chơi.



Hình như anh chưa có vợ, và dư luận không thích anh nói rằng nguồn sinh lực của cái con người to lớn ngoài bốn mươi, được ăn uống phủ phê đó rất mạnh. Và anh tìm mọi cách để vui thú tình dục cho kì được với những cô y tá, thường là những quả phụ của cuộc chiến, những cô gái còn trẻ đẹp, tràn đầy nhựa sống. Tuy vậy, tính anh dễ dãi và giỏi chịu đựng những lời châm chọc.



Hoành cho rằng những anh hùng võ tướng nổi danh trong lịch sử đông tây kim cổ, như Napoléon chẳng hạn, phải có một khả năng xác thịt đặc biệt. Những đứa liệt dương bại xụi, thì còn mần ăn gì được nữa, cái đồ ấy vứt đi. Nhưng khi có ai hỏi tại sao chưa lập gia đình, anh chỉ cười trừ:



Cái số tôi nó muộn màng thế. Bạn hãy làm mai giùm đi.



Hôm anh được tin Tướng Nguyễn Chánh Thi sắp đề nghị mình ra cai trị cái đất Quảng Ngãi hay lo và đãi ra sạn này, anh mời một số anh em tới ăn cơm. Sau màn vung đũa náo nhiệt, tới chầu nhậu bia xả láng, anh đề nghị mọi người góp vui.



Tới phiên chàng:



Tôi thì xin kể một câu chuyện tiếu lâm về vị chủ nhà khả kính của chúng ta, bác sĩ nổi tiếng chịu chơi, đồng ý chứ?-



Anh mạnh dạn: Dĩ nhiên rồi.



 Chàng kể: Dạo này nóng nực quá, ở âm phủ, thủ tướng cũng cảm mạo phong hàn mà qua đời. Khuyết người cai trị, Diêm vương bèn sai quỷ đầu trâu mặt ngựa lên trần gian tìm nhân tài về thay. Dặn: Người đi tới chỗ nào mà thấy có kẻ giết người giỏi thì thỉnh về đây. Địa phủ chúng ta cần một nhân vật như thế mới tăng gia được dân số, hùng cường lên được. Quỷ sứ bay khắp nước ta, giương đôi mắt cú vọ lùng sục từ Nam chí Bắc ba ngày ba đêm chưa được ai, tính quay về khấu đầu chịu tội. May mắn thay, đang lúc buồn rầu thì thấy hiện ra bên sông Trà Khúc có một ngôi nhà cửa đóng mà bên ngoài hàng ngàn oan hồn đang chen lấn gào to, than khóc đòi mạng.



Quỉ sứ hỏi ra mới biết, đó là phòng mạch của bác sĩ Bùi Hoành, lập tức bay về báo cáo Diêm vương. Chúa địa ngục phán: Ngươi quay lại mời ngay nhân vật kỳ tài đó. Quỷ sứ xả hết tốc lực trở lại chốn cũ, thì kinh ngạc thấy vắng lặng như chùa Bà Đanh, không một bóng oan hồn: bác sĩ đã bỏ phòng mạch ra làm tỉnh trưởng Quảng Ngãi.



Trở lại địa phủ trình tấu, quỷ sứ những tưởng sẽ mất mạng, nào ngờ Diêm vương cười lớn: Hỉ tai, đại hỉ tai. Bùi Hoành mà ra cai trị dân chúng thì Diêm phủ ta tha hồ nhận oan hồn, tảo mạng, lo gì dân số không tăng theo cấp số nhân?



Cử tọa được một trận cười nghiêng đình đổ quán. Hoành cũng không vừa:



Cảm ơn anh đánh giá cao tôi. Nếu được vậy, thì anh sẽ là cô hồn đầu tiên của tôi đó.



May mắn thay, Hoành ra làm tỉnh trưởng chưa đầy tháng, chàng đã đổi vào dạy Sài Gòn.



Quán hỏi chàng có thư từ gì về quê không để anh ghé lấy chuyển giúp. Chàng lắc đầu. Khi anh ta đi rồi, Thanh Quan mới trổ tài coi tướng của nàng, một nghề mọn mà lâu nay chàng chưa khám phá ra ở nàng: Anh chàng này rất nặng gia đình, vành tai thấp hơn mắt, sẽ phải chết yểu, không thọ tới bốn mươi đâu.



Chàng vòng tay làm bộ thành kính: Xin bà thầy coi tướng tôi thử được bao nhiêu?



Anh ấy à? Ngang với ông Bành tổ. Nhưng đừng vội mừng, anh đã gây quá nhiều tội ác, Trời Phật bắt sống lâu để hành hạ cho đáng.



Cả hai cùng cười vui thoải mái. Trên đường về thỉnh thoảng nàng cù vào bụng chàng. Chàng không chịu nổi nhột, giãy nảy khiến cho tay lái vặn vẹo như con nít.



Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Chàng nhận được thư chú Út báo tin mẹ dạo này đau yếu luôn, không ăn uống được bao nhiêu mà hay thấy quặn trong ruột, tối nào cũng nghe tiếng mẹ rên. Lập tức chàng ra Hàng không mùa một vé khứ hồi Quảng Ngãi – Sài Gòn gửi về. Chỉ một tuần sau, mẹ vào. Chàng đưa ngay mẹ tới bác sĩ Trần Ngọc Ninh. Bằng tình bạn chân thành, nhà trí thức lớn rất dễ thương này đã tận tình chăm sóc mẹ, dỗ dành bà chụp phim và thử máu. Kết quả, ông mời riêng chàng vào phòng mạch nói nhỏ: Bà cụ bị ung thư bao tử rồi đấy, đã sang thời kỳ thứ hai. Có lẽ, như đã kể, vì hồi trẻ cụ dùng nhiều rượu. Chớ bi quan. Tôi sẽ phẫu thuật bỏ phần bị thương, bà cụ chỉ phải chịu khó một tuầnGiọng ông thì thào như chia sẻ sâu sắc cùng chàng niềm lo lắng, chàng nhớ mãi.



Nhưng mẹ nhất định cự tuyệt khi anh Bảy khéo léo lựa lúc thưa với mẹ về đề nghị đầy thiện ý của tấm lòng tốt đó. Mẹ nói: Mẹ rất sợ mổ xẻ. Bảy mươi hai tuổi, đủ rồi. Các cậu, các dì, như lời thơ của ông ngoại: Cây quế hòe sau khéo gặp mưa giông đều chết trẻ cả. Vả, ở đây xa mồ mả tổ tiên cả ngàn dặm, có bề gì chỉ cực khổ, tội nghiệp tụi bây.



Bác sĩ Ninh không mấy vui: Đành chịu vậy. Nhưng tôi sẽ đổi thuốc cho bác. Và anh nói riêng với chàng: Không mổ thì tôi cho giảm đau, an thần. Dù sao, cũng không kéo dài hơn một năm nữa được.



Nghe mẹ nói, chàng không khóc nhưng lũ thằng Văn đều chảy nước mắt. Mẹ bảo nó: Nội hết bịnh rồi, cứ mua bia cho nội uống. Và mẹ vui vẻ như chẳng có gì xảy ra. Lạ quá, dùng thuốc của bác sĩ Ninh, mẹ như mạnh khỏe hẳn, ăn được, ngủ tốt, đòi đi thăm mấy người bạn già mà mẹ từng giao thiệp. Phổ Đức, Hoàng Hương Trang tới, mẹ lại kêu họ ngâm thơ cho mẹ nghe.



Một hôm Thanh Quan đi Bình Dương về, lần đầu tiên nàng ghé vào Hàng Keo. Lúc đầu, chàng hoảng hồn, lúng túng ra mặt, lí nhí:



Em ở đâu về thế?- Nàng tỉnh bơ.



Không có vợ chàng ở nhà, may quá. Nàng biếu mẹ hai chục nem mua ở Búng, thứ nem nổi tiếng của miền Nam. Mẹ vờ cúi xuống ngoáy trầu, nhưng đầu mày cuối mắt của hai bên, mẹ nhìn rõ hết. Khi Thanh Quan về rồi, mẹ kêu chàng lại nghiêm nghị bảo:



Con nhỏ đó là bồ bịch gì phải không? Nó dễ thương lắm. Nhưng thôi đi, đừng làm khổ người ta tội nghiệp.



Chàng không trả lời, chỉ cúi đầu. Sau Tết, một hôm ở trường, chàng nhận được một phong thư. Chỗ tên người gửi đề: Tikiou, phiên âm tiếng Anh của T.Q (Thanh Quan), chàng biết là ai rồi. Mở ra đọc:



... Lần đầu tiên em đến nhà anh, may mắn làm sao, gặp được mẹ anh. Mẹ em đã mất hồi em mới lên sáu, thỉnh thoảng bà lại từ tiềm thức hiện về trong giấc mơ: không rõ ràng mấy, một thiếu phụ miền Nam với mảnh khăn rằn quấn quanh cổ, thương quý con vô cùng tận, lấy đó làm lẽ sống của mình. Trên mặt mẹ anh hiển hiện tất cả những vẻ đó, điều làm em rất cảm động. Nhưng anh ơi! Em nhớ anh hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây. Cái gì nó nung nấu em, đứng ngồi không yên, như đứng đống lửa, như ngồi đống than của người thiếu nữ chân chất trong ca dao. Anh, anh còn có bạn bè, có các đạo hữu ở chùa Ấn Quang và Quan Thế Âm, có hội đoàn, có các nhà thơ... Còn em, em có gì? Em chỉ có anh. Anh ở xa vời, con đường nắng trưa diệu vợi từ Cô Bắc lên Hàng Keo, cách em bằng bao sách vở, năm tháng của tuổi tác, bằng người miền Trung với miền Nam, bằng tâm hồn nghệ sĩ với một cô giáo tầm thường. Vậy mà em vẫn nhớ anh quay quắt.



Em sinh ra ở Sài Gòn hoa lệ, anh chôn nhau cắt rốn tại cái xóm nghèo Thi Phổ nào đó, không có tên trong bản đồ nước ta theo lời anh kể. Em mang cái tên quay nôi Jacqueline vương giả rất Tây phương, còn anh chỉ là thằng Hạm quê mùa ngốc nghếch hết chỗ nói, thuở bé bò trần truồng trên đất vọc bùn. Mười bốn tuổi, anh đã đi bộ hàng chục cây số đường mòn trong làng làm giao liên cho Việt minh kháng chiến chống Pháp. Em từ một con bé đỏ hỏn lớn lên an lành thành một tiểu thư có vẻ khuê các dưới gót giày đinh của những người lính viễn chinh gốc Gaulois trong cơn xoáy lốc tái chiếm Đông dương, nhân danh một nền văn minh của người da trắng đi khai hóa cho các dân tộc lạc hậu da vàng chúng ta bằng xe tăng, đại bác và phi cơ rạch nát những vùng trời Việt Nam vốn bé bỏng hiền hòa.



Lớn hơn em đến một giáp, lại trở về một cách muộn màng sau cuộc kháng chiến, rồi có vợ, anh lận đận thi Tú tài và đỗ Cử nhân chỉ trước em có vài năm. Tết Đinh Mùi qua, tính theo kiểu âm lịch, anh băm tám tuổi, tóc đã hoa râm. Nhưng anh trẻ hơn em rất nhiều, về tinh thần cũng như thể chất. Dù cùng lứa tuổi, nhưng không thể nào em thông cảm được với những thân phận của Thanh Nga, B.T. tài hoa mệnh bạc mà đám báo chí dơ dáy, tàn nhẫn luôn khai thác nỗi khổ đau bất hạnh của họ để kiếm tiền. Anh thì lại khác. Đọc trong tâm hồn anh, em thấy qua cuộc đời truân chuyên của những nghệ sĩ đó, anh tìm tòi và phát hiện ra một Tuyết bão loạn nhưng rất người trong Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng, để lòng anh rung lên một niềm thương xót sâu xa. Và nhờ Tuyết, anh sống được tấc lòng Chu Mạnh Trinh.



Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu, đã toan đúc sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc, lại muốn mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên. Sợi tơ mành theo gió bay đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch.



Để yêu mến một cách chân thành và trọn vẹn cái nàng Kiều đa cảm và rất dễ thương từng phải mất những mười lăm năm để đi cho hết đoạn trường rất ngắn: là qua bên kia sông Tiền Đường nhằm tìm cái vầng trăng thanh thản, trong sáng buổi ấu thơ với sự chỉ dẫn tận tình của sư tỉ Giác Duyên và bậc cao thâm thiền ẩn Tam Hợp Đạo Cô. Tất cả những cái đó cô đọng lại trong tập thơ Mười năm của anh. Anh đã đem tất cả tâm hồn đó yêu em. Em biết. Từ hôm gặp nhau, như một cuộc kì ngộ. Vì yêu anh, em kín đáo theo dõi anh như một thám tử bí mật dò tìm tung tích một tội phạm giỏi lẩn tránh. Không biết có phải vì em ghen không? Một lần nọ, em canh anh từ trong trường Chu Văn An ra, nép mình vào gốc cây sao già lớn trước nhà thờ Ngã sáu, bắt gặp anh đang rượt xe Honda với đám học trò mười sáu, mười bảy tuổi. Anh như thằng trẻ con, cũng say mê, háo thắng như chúng. Tất nhiên là trong cuộc đua với lũ trẻ, anh luôn luôn thua, cả đám bọn anh ngã ra cười rũ rượi. Em mơ ước được sống như thế nhưng không sao được. Anh là Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông[1] trong Võ Lâm Ngũ Bá. Anh không có tuổi già, trong khi mới hăm lăm, em đã trở thành bà lão, trong sự không chịu chấp nhận những gì mới mẻ táo bạo, mặc dù nhìn cách ăn mặc, người ta có thể nghĩ em là một cô gái đợt sóng mới. Còn về mặt thể xác, anh cũng trẻ hơn em. Đã bao lần, lăn lộn trong cuộc mây mưa thách đấu, em run người lên tê điếng, tự chìm vào vùng hố thẳm hoan lạc, đồng hóa mình với Thái cực hỗn mang. Còn anh, anh vẫn mạnh khỏe, tràn đầy sinh lực trên yên ngựa không biết mỏi mệt, mãi đến khi em phải tuyên bố đầu hàng và xin anh tha cho. Ôi, yêu anh, sung sướng và đáng giá biết ngần nào. Em phải nói câu đó một ngàn lần để có những lời tiếp theo mà anh sẽ ngạc nhiên: Em sẽ đoạn tuyệt anh, sẽ xa anh mãi mãi.



Anh đừng giật mình, đừng giận em. Vì yêu mình, em sẽ không bao giờ gặp mình nữa. Bây giờ đồng hồ nhà em đã gõ hai tiếng, khuya lắm rồi. Chắc bây giờ mình đang ngủ. Và khi ngủ trên cánh tay em, sau những trận làm tình vũ bão, mình hay thở phì phò như một con rắn hổ mang. Ôi, sao em yêu cái tiếng kêu dịu dàng của loài rắn độc đó quá thế? Cho nên những lời em vừa nói thật quả quyết. Chớ nghi ngờ gì nữa và không được van nài. Kẻ phải van nài là em. Hôm qua, em không chịu đựng được nỗi lòng khao khát và mong nhớ anh. Mười hai giờ trưa, sau tiết dạy thứ năm buổi sáng, trời nắng chang chang và rất oi bức. Lên xe về nhà nhưng chỉ được nửa cây số, ngang qua trường Lê Văn Duyệt, em không đi được nữa. Nước mắt em tuôn trào. Một bà thím trạc dưới năm mươi đi đường trông thấy em đứng khóc ngỡ em vừa được tin chồng tử trận, đã đến gần vuốt mái tóc em, lấy khăn chậm khô những dòng lệ. Em lặng thinh cảm tạ. Bà ánh lên một tia nhìn quảng đại nhưng tự hào là mình đã đoán trúng. Em nổ máy Vélo quay ngược trở lại Hàng Keo: chiếc đồng hồ treo tường nhà anh chỉ một rưỡi. Bụng không biết đói, em dừng lại bên hàng tre, ngó nghiêng vào trong. Một người đàn bà còn trẻ, hơn em chừng năm sáu tuổi, đang bồng một đứa bé có lẽ gần thôi nôi, nó bụ bẫm đẹp biết bao. Mẹ nó hôn vào má nó, trìu mến nựng nó như trong huyền sử mẹ Âu Cơ nâng niu những đứa con mình. Trời đất quay mòng mòng quanh em. Em khuỵu xuống, dựa vào chiếc xe giây lâu, rất may không một ai qua đường nhìn thấy. Một tiếng gà trưa xao xác vẳng lại. Tượng Đức Phật Bà Quan Âm vươn lên khỏi bờ tường chùa Huê Nghiêm trên cao ngó xuống nhìn em. Phật Bà vô ngôn đã cứu em. Em không kiêu căng muốn trở thành vĩnh cửu như trước đây nữa. Làm lành tránh dữ, em lắp bắp. Cửa sổ nhà anh ai đó vừa đưa tay khép lại. Từ đây, anh cư ngụ nơi em như một vị thánh. Anh hãy yêu đứa bé, nó là một thiên thần. Anh hãy yêu người đàn bà mà số mệnh đã đặt vào mình. Đừng bao giờ tìm em nữa, vô ích. Hôn anh, vĩnh biệt...”.



Chàng đứng lặng đi, chết cứng một chỗ. Phóng xe xuống Cô Bắc, chỉ có em nàng ở nhà:



– Lin (Jacqueline) đâu rồi, Nết (Jannette)?



– Đi công chuyện. Chị dặn khuya mới về.



– Ủa, sao thấy chiếc Vélo còn kia?



– Có lẽ chị ấy quá giang nhờ bạn chở.



Chàng đành ngậm hậm hực, tợp hết ly nước lạnh do Nết mang ra rồi cáo từ. Sau đó mấy lần chàng đến nhà đều được trả lời tương tự, khi bởi Nết, khi bởi Ri (Henri) hay Tràm em nàng. Rồi tới trường, chầu chực hàng giờ ngoài cổng, cũng không bóng chim tăm cá. Buồn, cũng tự chịu lấy.



Thấy chàng lầm lì bỗng trở nên ít nói mẹ không mấy vui, mẹ ngờ đâu vết thương trong tim chàng khá nặng. Ra xa lộ hóng mát, xuống Sở thú coi mấy con khỉ làm trò mãi rồi cũng chán, mẹ nhớ cái sương muối tháng Giêng xuống trắng cả vườn nhà, mẹ nhớ tiếng gà gáy trưa eo óc. Một buổi sáng, mẹ gọi thằng Văn tới bảo: – Con có thương nội không? – Dạ có. Thằng bé đáp. – Vậy thì con nói ba ghi vé máy bay cho nội về. Nó giãy nảy: Con không chịu đâu, mai mốt nghỉ hè, con đưa nội đi chơi. Bây giờ nội khá bịnh rồi. Mẹ không nói gì, ôm nó vào lòng. Nhưng tối hôm đó, mẹ lặp lại ý định của mình với con trai. Anh Bảy cũng không khuyên can mẹ ở thêm ít nữa. Chàng giục hoãn cầu mưu, nói bây giờ đang còn trong năm học, chưa ai đưa mẹ đi được. Mẹ nói gần tới giỗ ông ngoại rồi, mẹ tự biết mình và lần cuối, mẹ muốn đích thân thắp cho ông nén hương trên bàn thờ, mày mấy tuổi là ông mất đã ngần ấy năm. Ba mươi sáu năm qua, chưa bao giờ mẹ vắng mặt trong cái ngày mà mẹ xem như trọng đại nhất đời này. Mẹ không nói nhiều nhưng sau đó mẹ bỏ cơm. Chàng và anh Bảy quýnh lên.



May quá lại có Ba Tế vào công tác, họ bèn nhờ anh ta đưa mẹ về. Vắng có mỗi mẹ mà sao nhà như bỗng rộng tênh. Ôi, hỡi cái đất nước Việt Nam nhỏ bé của chúng ta, nơi mà những người già, càng già càng queo tóp lại, càng câm nín nhưng lại càng mông mênh chứa đựng tất cả trời bể dịu hiền của bề dày thuần phong mỹ tục bốn ngàn năm. Cái đất nước đó đáng yêu biết bao.



Chàng cảm thấy xót xa thương cảm cho những thân phận, cả những ông Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, với bất cứ lí do gì, đã phải bỏ quê ra đi, chắc là lòng họ trĩu nặng bao nỗi xót xa.



Mẹ về quê mẹ, người yêu mất hút trong khói bụi đô thành. Chàng mở trang nhật kí cũ đọc lại, khóc và sửa hai câu cuối bài thơ viết cho Thanh Quan:



Em đi, khói bụi đô thành



Mênh mông thương nhớ không đành về đâu



Quê hương mây trắng một màu



Con đò sớm thác, biết đâu đợi chờ!



Người yêu trong cõi mộng mơ



Đời chia đôi ngả thì chờ kiếp sau



Ân tình từ giã biệt nhau



Trắng trang nhật kí, nát nhàu tờ thư



Thuốc thời gian, bệnh đổi dời



Nhìn màu áo cũ, nhớ người ngày xưa?



Người xưa nay đã ngày xưa



Đời ta sớm nắng chiều mưa u hoài.



Thế rồi biệt vô âm tín.



Mãi mười bốn năm sau, chàng làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố, một chiều mưa lớn vũ vô thiết tỏa năng lưu khách, chàng phải nán lại cơ quan nhìn những bong bóng nước bất tận đổ bên hè thì chú tùy phái đưa lại cho bức thư. Hóa ra của Thanh Quan. Nàng cho biết địa chỉ ở đường Lê Đại Hành, Phú Thọ và không nói gì thêm, chỉ yêu cầu chàng đến ngay ngày hôm sau, có việc gấp. Họ gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Nàng nói:



Ngày xưa em quá yêu anh nên không thể tiếp nối mối ân tình không lối thoát đó. Phát hiện ra là mình có bầu, em xin nghỉ dạy, lên nhà bà dì ở, không cho cả gia đình biết. Tháng sau thì em gặp người bạn học cũ vừa bị động viên sĩ quan, tình yêu chớp nhoáng để trả thù anh và lấp lỗ trống, trong tâm trạng của kẻ phạm tội và lừa dối, em nhận lời.



Hai bên tức tốc làm đám cưới. Cuối năm sinh con gái đầu lòng, mang họ chồng, tên Tú Quyên. Bây giờ Quí (tên anh ấy), đi học tập đã sáu năm, tương lai hai đứa con hết sức mịt mờ. Từ ngày thấy trên báo chí Cộng sản đăng tin là anh tham gia này nọ, em rất ghét. Nhưng nay thì chẳng đặng đừng, em muốn báo cho anh biết mọi sự, trước khi cùng hai con xuống Cà Mau vượt bể tìm tự do. Em tin rằng không đến nỗi anh đi báo cho nhà chức trách.



Chàng phì cười, vít môi nàng xuống hôn một cái thật ngọt. Ủa, sao như mới ngày hôm qua, gần mười lăm năm dồn nén, người thiếu phụ ngoài ba mươi hơ hớ xuân thì. Chàng đưa mắt soi mói nhìn xung quanh. Nàng hiểu ý:



  Chúng đang ở bên nội, chuẩn bị sẵn sàng, khuya này lên xe.



Rồi họ lại lăn lộn trên giường và ngủ thiếp đi mãi chín giờ khuya. Nàng chạy ra đường mua bốn quả trứng gà luộc và hai ổ mì thịt. Nàng lục trong căn nhà đã dọn sạch đồ đạc, lôi ra một chai Cointreau chỉ còn hơn nửa, bám đầy bụi và một cái cốc:



Đời con gái đã dâng cho anh. Lấy chồng, cương quyết cắt mọi liên hệ, làm tiết phụ mà nuôi con anh và con chồng. Bây giờ lại dâng nốt anh những gì còn lại, nếu được xem là như thế, trước khi vĩnh biệt. Em rót cốc này cho anh, sau đó là phần em.



Chàng không quen uống nhưng vị ngọt của tình yêu và của Cointreau đã làm chàng hưng phấn, mặt đỏ rần cả hai. Chàng ngâm lên trong cơn say:



Em rót nữa đi, cốc rượu đầy



Ta sẽ vì em, say thật say



Mai em đi rồi, mình anh ở lại



Mai em đi rồi, đường dài cát bay.



Ô! Sao mắt em bỗng dưng ứa lệ



Ta vẫn yêu nhau như trong một ngày...



Nghe giọng ngâm, nàng nhìn vào chàng chòng chọc, vồ lấy chàng trong vòng tay. Họ điên rồi, bất cần đời, yêu nhau như vũ bão. Gần sáng, chàng rút ra từ túi áo một giấy giới thiệu mua vé xe đò mà hồi đó ai muốn đi đâu cũng phải được cơ quan cấp. Chàng có thói quen sắp sẵn mọi thứ như vậy cho mình.



Nàng cầm lấy:



  Anh không sợ rủi ra em bị bắt, khai ra, Cộng sản sẽ kết tội anh sao, đang làm lớn lắm mà. Giọng nàng không khỏi có ý giận hờn. Mai mốt rồi tha hồ có nhiều bà nhé.



Từ đó chàng mất hẳn Thanh Quan trong cuộc đời...



Năm Đinh mùi, miền Nam bầu cử Quốc hội. Cháu nội Tổng đốc Hoàng Diệu, vị anh hùng đã tuẫn tiết ở Hà Nội cuối thế kỉ trước là Giáo sư Huỳnh Hòa, đang làm Đổng lý Văn phòng Bộ Giáo dục muốn trở thành dân biểu của quê nhà ông: Quảng Nam. Thế là ông sắp xếp cho chàng cùng ra Đà Nẵng làm Phó Chủ khảo kì thi tú tài toàn phần, giám thị ở đó rồi mang bài ra Huế chấm. Công việc tại thành Cửa Hàn thuần túy bài bản như đệ Ngũ quyền theo Hiến pháp Tôn Trung Sơn, phát giấy, khui đề, coi thi, thu góp, đóng gói, niêm phong lúc nào cũng có chữ kí nghiêm túc.



Ra Huế cũng vậy, chàng tổ chức công việc đâu ra đó, nhanh nhẹn và chính xác, không lơi chút thời gian nào của các vị giám khảo mà theo trường qui bấy giờ, thường phải ở xa, nghĩa là không bao giờ được trực tiếp chấm bài của chính các học trò của mình. Họ có tâm lý muốn được hoàn thành công tác để về sớm và được hưởng phụ cấp feuille de route (giấy công tác đi đường) dôi ra. Chàng rất được ông Hòa, với tư cách chính chủ khảo, khâm phục:



Thấy mày làm việc, tao thích quá. Mày không có mạng làm lớn. Rồi ông lẩy Kiều, đùa: Tài này giá đáng Cao Kỳ cũng nên.



 Ý ổng muốn nói tể tướng đấy, vì hồi đó chính ông Cao Kỳ mà ông khinh miệt đang làm thủ tướng. Tướng thầy Hòa cũng thấp lùn, da ngăm đen, có bộ râu quai nón, mũi nở, tuổi lớn hơn chàng cả con giáp, thuộc dòng dõi vọng tộc Quảng Nam, theo gia phả, nhà toán học Hoàng Tụy kêu ông bằng chú. Dù không học với ông, chàng kêu ông bằng thầy. Chàng mỉm cười, châm biếm: Nếu có mạng, thì thầy phải làm tổng thống chứ đâu tới nỗi xách cặp cho Bộ trưởng Ngô Khắc Tĩnh? Nhưng thôi đi thầy ơi, thầy không nhớ cụ Khổng sao, tới ổng mà còn than:



Hoàng kim chi thế hề, lân phụng du



Kim phi kỳ thời hề, lai hà cầu



Lân hề, lân hề! Ngã tâm ưu.



Gặp thuở hoàng kim, kì lân và chim phụng đi đầy đường. Nay không còn là cái thời đó, mong gì ở tương lai nữa. Lân ơi, lân ơi! Lòng ta ưu sầu. Thầy thấy không? Thời buổi này, chim phụng hoàng ẩn trong đám cỏ lau mà lũ gà qué thì nhảy ra múa máy. Thầy tính đi, ứng cử làm gì.



Ông thở dài: – Nói vậy chớ mày thử nghĩ, tụi nhà binh càn rỡ quá, ai không tức. Tao cũng muốn làm một phát coi dân Quảng Nam giờ còn ngó nghĩ tới nội tổ tao không. Tao sẽ chọn ảnh cụ Đề đốc làm nhãn hiệu trên lá phiếu của mình. Mày có quen với mấy thầy ở Ấn Quang, nói mấy ổng ủng hộ tao chút đi.



Chàng thấy thương một mẫu người như vậy, giống anh Sáu Diễn, ngây thơ làm sao, sống trong một xã hội mà không hề biết nó nghĩ gì. Quảng Nam đang trong vòng kiểm soát sắt máu của nhóm Quốc dân đảng Trịnh Thể, Phan Thiệp. Dân biểu là miếng mồi ngon bây giờ, bầu bán ở Quốc hội được tính bằng đô la, chưa kể lương tiền thoải mái, làm gia nô cho Thiệu – Kỳ còn được du hí nước ngoài, biết mùi gái ngoại mà trả thù dân tộc thì có lẽ nào mà họ chịu san sẻ cho một ông giáo sư thanh bần như thầy?



Còn phía Ấn Quang? Ông lỡ tuyên bố ủng hộ Thiệu – Kỳ trong trận đàn áp năm ngoái, làm sao họ ủng hộ ông được?



Khốn khổ thay, loài người của chúng ta. Nó tôn sùng Chúa và Phật nhưng bao giờ cũng chỉ hành động theo cái ý ưng (tham dục) của mình nên không còn khách quan, không thấy được thực tế. Rồi ra, sẽ chuốc lấy thất bại, điều luôn luôn là đầu mối của mọi đau khổ. Khi ăn trái cấm, chắc Adam cũng như vậy. Chàng nhìn ông, không biết nói sao khác hơn: – Khó đấy, nhưng em sẽ cố gắng - Chàng xấu hổ tự thấy mình nói láo.



Bỗng cánh cửa phòng có tiếng gõ. Một người học trò cũ của ông, bấy giờ đang là một giáo sư đứng tuổi ở Đại học Huế bước vào. Chàng tế nhị nghiêng mình chào rồi ra khỏi phòng, dạo chơi trên sân trường Quốc học, dưới những hàng phượng vĩ đang mùa hoa rực lửa và tiếng ve kêu buồn. Nhìn qua bên kia, cầu Trường Tiền âm thầm soi bóng xuống dòng sông Hương đang lặng lờ trôi. Ngồi xuống một gốc cây, chàng viết bài thơ về Huế:



Tôi bắt gặp thành phố



Trong đáy nước sông trưa



Khi bao hàng cổ thụ



Lắng nghe tiếng chuông chùa



Và bao voi ngựa đá



Đang mơ những thời xưa



Những buổi trưa đường bệ



Ngự trên đường Cột cờ



Ai biết bao thiếu nữ



Tóc xoã nón bài thơ



Nhanh nhanh lách xe đạp



Họ đi về nơi mô?



Thương cho góc phố nhỏ



Nhô ra mé bờ hồ



Sân nhà ai tùng, cúc



Nghe rơi từng lá khô



Tiếng ru từ rào vắng:



Ai ơi! nào thuở cựu đô…



Trời xa mây lữ thứ



Đang đi tìm mùa thu



Đất nước ta dài lâu



Vì rất giàu quá khứ



Nắng tắt hẳn trên bến Ngự, tất cả chìm vào bóng đêm âm thầm. Huế ở khắp mọi nơi, Huế dìu dịu thấm vào hồn chàng. Năm hăm bốn tuổi, từ một anh chàng lấc cấc, áo vải dép râu vừa đi kháng chiến về, chàng đã kiếm sống ở đây. Trong hoảng loạn của thời cuộc và trong cuộc mưu sinh với cái gánh nặng gia đình mới mẻ trên vai, chàng không kịp nhận ra những vẻ đẹp kì diệu của Huế, không chỉ bóng dừa ngàn thông như trong ca nhạc mà trong cả huyền bí của ma Hời nước non nghìn dặm ra đi thật là Huyền Trân Công Chúa, lẫn với khí thiêng của cả nhiều đời chúa Nguyễn dày công mở mang bờ cõi. Huế của những cô gái đa tình, của Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Thanh Tịnh... trọn kiếp mộng mơ, đã cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ, Phan Bội Châu nuôi lớn tâm hồn chàng. Huế của trường đại học Văn khoa với cha Nguyễn Văn Thích, Cao Văn Luận mà chàng thực sự mến yêu dù không đồng đạo đã cho chàng văn bằng Cử nhân thật đắc lực trong việc kiếm cơm. Với Huế, phải cảm nhận bằng tất cả quá khứ sâu dày và hiện tại lúc nào cũng có vẻ khắt khe của mảnh đất cằn luôn năm bị đe dọa bởi mưa to gió lớn. Huế, đốt xương và linh hồn của cả miền Trung.



(còn tiếp)



Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.



www.trieuxuan.info









(1) Người Hoa thời Minh, chống nhà Thanh, di cư đến Việt Nam.





(2) Mà được chia cho số đại biểu Quốc hội.





[1] Một nhân vật của Kim Dung luôn rong chơi.



 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »