tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20001008
Tiểu thuyết
29.05.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Đợi cho mọi người đi hết, Thân một mình đi ra mộ vợ vừa chôn lúc sẩm tối. Qua những cuộc tranh luận căng thẳng, đến lúc ấy Thân mới thật cảm thấy hết nỗi buồn bã, đau đớn của mình. Anh cảm thấy cô đơn, giá lạnh. Một mình lần đi trong bóng tối, một thứ bóng tối rùng rợn của chiến tranh, của một vùng chỉ cách quân địch có một con sông nhỏ. Thân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh, anh hoàn toàn buông lỏng mình cho những niềm đau đớn đến tê dại xâm chiếm cả tâm trí. Anh bước đi thất thểu, mấy lần suýt ngã chúi trên bờ ruộng mấp mô. Cuối cùng anh tới được bên mộ vợ. Quỳ xuống bên nấm đất còn mới đào nhưng sương đêm đã làm ướt đẫm, anh giơ hai bàn tay xoa lên khắp mộ một lượt.





  • Như người mất trí, anh đứng lên rồi lại ngồi xuống. Quãng đời cũ của anh với vợ hiện dần trong trí óc. Những năm còn nhỏ tuổi, chơi thân với nhau, những buổi chăn trâu trên đồng cỏ sau làng và cho trâu tắm trên dòng sông Nam Phổ đục ngầu. Những buổi chia nhau củ khoai lang bới vụng được trong ruộng khoai nhà Lý cựu Đang rồi ăn sống một cách ngon lành vì đói. Những ngày đầu Ngạc về nhà Thân ở. Rồi buổi trao đổi tâm tình đầu tiên với Ngạc sau đêm Thân được sống những phút say sưa, êm dịu, đê mê của tình yêu. Những năm hoạt động trong bóng đêm dày đặc của thời nô lệ, trong vòng vây của mật thám, nhà tù, xà lim và máy chém. Rồi đến ngày Cách mạng tháng Tám tưng bừng, cũng là ngày mà Thân - Ngạc gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Đám cưới đơn sơ mà tràn đầy hạnh phúc ở làng Nam Phổ. Rồi cái buổi gặp gỡ bất ngờ, tuy ngắn ngủi nhưng không thể quên ở đền Nam Giao, nơi Thân biết tin vợ đã có mang. Đứa con mong đợi của anh. Tội nghiệp, nó chưa kịp chào đòi và chưa kịp mang cái tên mà bố mẹ hằng suy nghĩ nhưng vẫn chưa dứt khoát đặt là tên gì. Một cơn gió lạnh tạt qua. Sương đêm bắt đầu thấm lạnh. Một cái gì nhói trong tim Thân, mắt anh bàng hoàng như chợt thấy một vệt gì xam xám bay vụt qua trước mặt. Thân không muốn tin là vợ anh và đứa con anh còn trong bụng vợ đã chết.


    Không thể chết thê thảm như thế này được. Nhưng không, anh không thể nghi ngờ gì nữa, chính tay anh đã khiêng xác vợ tới đây và đã xếp lên đây những tảng đất vô tình. Làng ngay bên cạnh mà không đem sang chôn được. Một vệt gì đen loáng lại vụt qua mắt Thân lần nữa. Thân bỗng quên anh là người duy vật, anh chợt lẩm bẩm: “Ngạc ơi, hay là hồn em còn lẩn quất đâu đây. Anh đây, Thân đây, anh mãi mãi nhớ mối tình đằm thắm của đôi ta...”.




  •  Ai? - Có tiếng thét dõng dạc, ngắn gọn trong đêm tối. Thân giật mình đứng dậy. Anh vội nói:




  •  Tôi, tôi đây.




  •  Trời ơi, anh Thân. Em cứ tưởng anh còn họp tỉnh ủy.




  •  Không, họp xong lâu rồi. Chết thật, có lẽ tôi ngồi đây lâu quá rồi chăng. Các anh là ai đấy?




  •  Dạ! Thưa anh! Em là Thiện, con đồng chí Hải già, còn đây là ba đồng chí Thạc, Quý, Ngọ trong đại đội 3 của em trước. Lúc chiều, chính em đã khiêng chị từ bên kia sông sang.




  •  Thế à?"- Thân tiến tới nắm chặt tay Thiện, mắt anh nhìn vào mắt Thiện, vừa như dò hỏi, vừa như cảm ơn.


    Thiện biết ý, anh nói:




  •  Chính em đã trông thấy mặt tên Tây lai bắn chị ngay trên đường cái. Chị đang dẫn một bà cụ loà và một cháu nhỏ đi chập chững trên đường lúc ấy vắng tanh không có một ai thì bị nó bắn. Dã man quá. Em và ba đồng chí này liền ném lựu đạn và hô xung phong. May thế nào lại có cả một tiểu đội du kích huyện Quảng Điền cũng nấp gần đấy hô theo chúng nó mới rút và chúng em mới đem được chị qua sông.




  •  Các đồng chí hiện đang bố phòng phải không?




  •  Dạ phải. Chúng em đã tìm về trung đoàn. - Thiện bỗng nắm chặt tay Thân, dìu anh đi mấy bước - Anh ạ, khuya lắm rồi, sương lại lạnh nữa, để mời anh về nghỉ, anh ở đây một mình sợ có gì nguy hiểm chăng.




  •  Không, chính tôi cũng định về. Còn nhiều công việc phải làm ngay bây giờ. Thôi, các đồng chí cứ đi canh gác đi. Tôi về nhé.




  •  Để bọn em đưa anh về.




  •  Thôi, không cần. Anh em cứ giữ vững tinh thần chiến đấu nhé.




  •  Dạ. - Thiện và ba chiến sĩ nhìn theo Thân, trong bụng phân vân lo lắng cho anh. Nhưng Thân đã bước nhanh về làng, bước chân thoăn thoắt vững vàng trên những bờ ruộng mấp mô, với vẻ thành thạo của những con người vốn sinh trưởng nơi đồng ruộng.


     





VII



Trong lúc tỉnh ủy đang họp thì suốt dọc các con đường chạy về phía bắc, từng đoàn dân chúng, bộ đội, cán bộ vẫn tiếp tục tìm đường chạy. Và cũng như ở làng Vĩnh Nẩy, gần như khắp nơi ở hai huyện Phong, Quảng, đã diễn ra cái cảnh tượng kỳ khôi: Du kích tước súng của bộ đội chủ lực, cho ăn rồi chỉ đường cho lên chiến khu hoặc ra Vinh. Qua cái đêm hãi hùng đó, đến hôm sau, tình hình đã hơi dịu xuống. Quân Pháp đã vượt qua con sông nhỏ ở làng Nam Phổ một cách nhẹ nhàng rồi tiến theo đường số 1 đánh thẳng ra Quảng Trị.



Ngồi trên chiếc xe Jeép chạy và dừng lại ngay giữa cầu Mỹ Chánh, nơi giáp giới của hai tỉnh Thừa Thiên - Quảng Trị, quan tư Côt-xtơ nói với thiếu tướng Coóc-nê:



- Đến đây là hết địa phận tỉnh Thừa Thiên. Nhờ tài của thiếu tướng, thế là chúng ta đã tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn Cao Vân của Việt Minh. Đến đây, tôi xin phép thiếu tướng để quay lại. Chúng tôi sẽ làm nhiệm vụ bình định.



Xin chúc thiếu tưống tiếp tục tiến quân thắng lợi. Trước mắt ngài thiếu tưóng, bây giờ chỉ còn trung đoàn 95 đã mất tinh thần của Việt Minh ở Quảng Trị. Tôi cũng tin chắc như thế. Xin chào ông.



Quan tư Cốt-xtơ quay trở lại trường học Mỹ Chánh, nơi quân Pháp vừa chiếm được và đang biến thành đồn binh, trong lòng vui vẻ, thoả mãn. Những kỷ niệm của hơn một tháng bị vây ngột ngạt trong thành phố Huế đối với hắn ta đã bị quên bằng hết. Giờ đây, hắn cảm thấy hắn chỉ còn nhiệm vụ rất nhẹ nhàng: Quét cho hết những tên cán bộ Việt Minh còn lẩn quất trong tỉnh bằng cách chia quân đóng thành một hệ thống đồn bốt dày đặc không chế tất cả những địa điểm xung yếu và lập hệ thống chính quyền bù nhìn. Về nhiệm vụ thứ nhất thì lập những trung đội cơ động đi lùng quét, về nhiệm vụ thứ hai thì ta đã có quyền bá tòng, Côt-xtơ tự nhủ như vậy rồi hắn lên xe về ngay thành phố Huế.



*



Làng Triều Dương, nơi giáp giới hai huyện Phong Quảng ở phía bắc tỉnh. Đây là một làng chỉ dính tí đuôi với các cánh đồng ruộng lúa còn thì ba phía kia là những bãi cát mênh mông. Đây là một bãi cát chạy dài từ quốc lộ số 1 đến tận cửa biển Thuận An, dài đến hai, ba chục cây số, rộng đến năm sáu cây số. Trên bãi cát không có những con đường đi chính thức, bởi vì ngưòi ta có thể đi ở đâu cũng được. Nhưng cũng lạ, ngưòi ta cũng đã tạo nên những con đường mòn trên đó, có lẽ là vì những người đi từ làng này qua làng khác lâu ngày đã tạo nên những con đường mòn đó. Trên bãi cát rộng mông mênh đó, không có một thứ cây cỏ nào, trừ những thứ cây dại mọc thấp lè tè và những thứ cỏ sắc đến nỗi có thể cứa đứt cả da thịt của những người chỉ quen sống trong thành phố. Đây chỉ là nơi mà nông dân hai huyện Phong Quảng đi từ làng này qua làng khác, còn ngoài ra không có ai đi lại chốn này làm gì. Bởi vì đi mỏi chân lắm và có cảm giác buồn nản lắm. Mùa hè, đi giữa trưa thì cát nóng bỏng dưới chân, người ta tưởng tượng giá đem trứng gà vùi xuống cũng có thể chín được và những cơn gió mạnh tạt đầy cát bụi vào mặt khách qua đường. Thật là một bãi cát vô tích sự, dân hai huyện Phong, Quảng bảo nhau như thế, bởi vì ngoài tác dụng để phơi thuốc lá cho khô ra, trên cát người ta không còn trồng được thứ gì mang lại lợi nữa.



Nhưng Tây đánh đến, bãi cát đã trở thành một nơi chạy Tây rất tốt và đêm đêm, những người cán bộ ra ngủ trên bãi cát, đầu gối xuống đất, áp tai xuống đất, nghe như bãi cát phẳng lì mênh mông đang thầm thì với người.



Sáng hôm ấy, ở làng Triều Dương, mọi người vừa tỉnh giấc sau một đêm ngủ say vùi vì mệt nhọc thì bỗng có tiếng trống báo động. Mọi người đang bàng hoàng, sửng sốt thì chợt nghe có tiếng người thét lên: “Tây vào trong làng rồi. Chạy đi bà con ơi”.



Không ai bảo ai, ngưòi ta xô nhau chạy ra bãi cát sau làng. Người ta không kịp mang theo một thứ gì cả. Bởi vì không hiểu du kích canh gác thế nào mà Tây đến đầu làng mới biết, du kích không còn kịp bố trí và chỉ còn kịp đánh lên một hồi trống báo động ngắn ngủi. Năm tên Pháp, phải chỉ vẻn vẹn có năm tên do một tên đội dẫn đầu, đã nghễu nghện đeo súng trên vai đi vào trong làng. Chúng tin rằng Việt Minh đã tan hết và chúng có thể đi lùng quét mà không vấp phải sức chống cự. Mà quả như thế thật. Trong cơn hoảng hốt, cả một trung đội du kích làng Triều Dương đã không biết nếp tẻ ra sao, vác súng chạy theo đường tắt ra sau bãi cát. Đến một lùm cây khuất gần kề bãi cát, mọi người mới hoàn hồn đứng lại.





  •  Làm thế nào bây giờ nhỉ?




  •  Có quay lại chiến đấu không, đồng chí Thảo?




  •  Biết nó đông hay ít mà quay lại?




  •  Thế thì ta vùi súng xuống cát mà chạy xa ra nữa chứ? Vác súng thế này mà chạy thì vướng lắm. Dân ngưòi ta thấy lại chửi cho.




  •  Thế chôn súng người ta cũng chửi cho chứ?




  •  Không, sao lại chửi. Người ta biết mình bị lùng bất ngờ chứ.


    Một tràng súng máy bỗng nổi lên phía trong làng. Lẫn với tiếng súng nghe như có tiếng giày đinh rầm rập chạy của một toán quân đông lắm. Hoảng hốt, một ngưòi bỗng nằm rạp xuống, hai tai cào bới đống cát thành một lỗ dài rồi đặt khẩu súng của mình vào đó, Thảo cũng làm theo nốt.




  •  Mau lên mà chạy. Chậm nó đuổi ra đến đây thì chết cả.




  •  Tản ra mà chạy thành nhiều phía.


    Cả một trung động du kích không sử dụng tới vũ khí của mình, đã ù té chạy tán loạn trên bãi cát, trong bụng lo lắng hoang mang, chỉ sợ có quân địch đuổi theo. Nhưng thật ra, chỉ có tiếng chân của chính họ đạp trên bãi cát thình thịch đuổi theo họ.


    Nhà bác Hoán ở ngay đầu làng Triều Dương, nơi quân Pháp từ trên đường số 1 kéo tới trước tiên, cả nhà lớn bé có chín người đang ăn cơm sáng thì quân Pháp đã kéo tới. Quái thật, không thấy du kích báo động, bác Hoán trai nghĩ như thế rồi vội chạy ra cởi vũi cho con trâu, định lùa cho nó chạy trốn. Bác Hoán gái thì vội giật lấy đứa con nhỏ mới khoảng bốn tháng trong tay con chị nó vừa lên năm, vơ vội cái bị lác đựng mấy chiếc áo rách ở đầu giường và lùa sáu đứa trẻ ra cửa sau, định chạy. Nhưng muộn quá rồi. Tên đội Tây đi đầu đã trông thấy tất cả. Hắn nhằm thẳng vào bác Hoán trai trước tiên, lia một tràng tôm-xơn ngắn, gọn. Bác Hoán trai gục xuống, con trâu giằng mũi dây trong tay bác lồng lên chạy vụt ra khỏi ngõ. Bác Hoán gái rú lên một tiếng thất thanh, định chạy lại bên chồng thì một tràng súng tiểu liên nữa lại bay tới, bác ngã gục xuống, trong tay vẫn ôm chặt đứa bé mới bốn tháng tuổi.




  •  Vây chặt không cho đứa nào chạy thoát. - Tên đội Pháp hét lên như thế.


    Bốn đứa con lớn nhà bác Hoán mặt xanh đi không còn hột máu, nhớn nhác, sợ hãi, không còn hồn vía. Chúng ùa nhau định chạy ra cổng. Nhưng muộn quá rồi. Năm tên lính Pháp đã vây chặt quanh nhà, trông theo bốn đứa trẻ chạy quanh, chừng như thích thú với cái trò mèo vờn chuột ấy.




  •  Thôi, hạ thủ đi rồi còn làm việc khác. Không hơi đâu mà đùa với bọn mọi con Việt Minh này.


    Bắn nốt bốn đứa nhỏ, bọn lính Pháp còn đảo mắt nhìn quanh. Bỗng chúng reo lên thú vị. Sau mấy luống khoai trong vườn nhà, chúng đã trông thấy hai đứa nhỏ, một đứa lên năm và một đứa lên ba đang nấp và đang bò trườn định đi tìm sự sống. Hai đứa lúc đầu đã khóc thét, nhưng sau không hiểu sao đã biết im thin thít mà bò ra đến đây. Lại một băng tiểu liên nữa và xác hai đứa trẻ nằm vắt trên luống khoai như đang cố vục đầu vào luống đất tìm ăn một cái gì.




  •  Hãy cho cái nhà này ra tro cái đã. - Tên đội ra lệnh. Nhưng nhanh hơn hắn, một tên lính đã rút sẵn bao diêm từ lúc nào và đã giơ lên châm lửa vào mái tranh thấp lè tè chỉ cao hơn đầu hắn có một chút. Phút chốc, ngọn gió ở đâu bỗng tạt tới và những tiếng nổ đôm đốp của tre nứa đưa ra, gây cho cả bọn lính Pháp một cảm giác khoái trá rùng rợn. Bỗng có tiếng trẻ khóc thét. Chúng trố mắt ra nhìn. Dưới đất, bên cạnh xác bác Hoán gái đầm đìa những máu, đứa bé đang day vú mẹ và chừng như thấy không phải là sữa như mọi khi, nó đã khóc thét lên.




  •  Ồ! Bẩn thỉu. Giống man rợ. - Tên đội hét lên rồi hắn đưa chân đi giày đinh hất bắn thằng bé ra khỏi mẹ nó. Một tên lính thuận tay cầm luôn hai chân đứa bé ném luôn vào đống lửa.




  •  Đi mau sang nhà khác. - Tên đội ra lệnh. - Công việc còn nhiều mà chúng ta chỉ có năm ngưòi. Đừng để đứa nào chạy thoát.


    Vừa nói hắn vừa rút luôn một que củi cháy nữa giơ ra chạy ngay sang nhà bên cạnh châm lửa đốt luôn.


    Khói mù mịt bốc đầy trời, cả làng Triều Dương như chìm trong biển lửa. Năm tên lính Pháp, mặt đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại mặc dù đang mùa rét, đã hoàn thành nhiệm vụ và lên đưòng về trại. Chúng nhìn ra bãi cát, đưa mắt nhìn nhau xem có nên đuổi không rồi tặc lưỡi quay lui. Tên đội có vẻ còn chưa thoả mãn, ngoài ngôi nhà đầu tiên chúng giết được chín người, trong làng dân chúng đã chạy hết, chúng chỉ còn bắn chết thêm được một ông già, hai bà già và một người đàn bà chậm chân không chạy kịp. Tên đội nói với đồng bọn:




  •  Đi làm nhiệm vụ như thế này mà chỉ có năm người. Nếu đông hơn một tí thì có phải đã thu được thắng lợi nhiều hơn không.


    Nhưng thật ra thì đứa nào đứa nấy đều hả hê cả, trong hai túi quần rộng thùng thình của chúng, đứa nào cũng có ít nhất là hai, ba con gà. Chúng đã lùng gặp dịp, vì còn sớm, các chuồng gà còn đóng cả.


    *


    Từ sau cuộc họp của tĩnh ủy, Thân đề nghị để cho anh ở lại đồng bằng làm công tác quần chúng. Anh họp với hai huyện ủy Phong, Quảng và bàn chân anh đã đi khắp các làng Vĩnh Nẩy, Triều Dương, Trung Thành, Phong Lai, Phú Thái, Đại Lược... Đi đến đâu, anh cũng động viên mọi người kháng chiến, hô hào dân quân du kích tổ chức canh gác đề phòng địch càn quét. Lúc địch đốt phá làng Triều Dương thì anh còn ở Phong Lai. Chiều hôm ấy, anh đã tức tốc tới Triều Dương để an ủi bà con. Ở đây, dân làng đã trở lại sau một ngày khủng khiếp, họ đang cùng anh em du kích dập tắt các đám lửa, chôn cất những người bị bắn chết. Thân cũng tới giúp sức với bà con. Anh cùng đi với du kích, lễ mễ vác xác bác Hoán trai cùng vợ và bảy đứa con đi chôn cất mà trong lòng đau như cắt. Một nỗi căm thù bốc lên ngùn ngụt trong lòng anh. Và lúc ấy, những lời nói của anh động viên dân làng thật quả là những lời nóng bỏng tự trong đáy lòng. Anh nói:




  •  Bà con coi đó. Chúng ta không đánh địch thì địch sẽ tàn sát chúng ta. Không thể trông mong một tí nào ở lòng nhân đạo của chúng. Nhân đạo gì mà đứa trẻ mới ba tháng của nhà bác Hoán cũng bị giết chết, cả nhà bác Hoán bị giết không còn một người.


    Để khêu gợi thêm căm thù, Thân đã hỏi mọi người:




  •  Bà con ta đây, có ai trông thấy một đứa trẻ con mấy tháng gặp cơn nguy hiểm, ví dụ như đang bò trên miệng giếng sâu chẳng hạn, mà lại không run sợ rùng mình lo lắng, thương xót và lập tức tới cứu không? Có ai nỡ đang tay lại xô thêm cho nó ngã xuống giếng không? Chắc chắn là không. Chúng ta quý mạng người, đốỉ với trẻ con vô tội chúng ta lại càng quý lắm. Vậy mà chúng nó thì làm như thế đấy.


    Du kích và cả một số đồng bào làng Triều Dương lặng yên nghe Thân nói. Trong số đông, thấy có người lặng yên giơ ống tay áo lên chùi nước mắt. Lúc ấy trời đã gần tối hẳn, và ngưòi ta nghe như trong ngọn gió có vong hồn những người chết trở về kêu gọi trả thù.


    Nhưng một hồi trống báo động nữa lại đã nổi lên và ngay sau tiếng trống là tiếng súng nổ đì đẹt của du kích chặn đánh quân Pháp ngay trước cổng làng. Thì ra sau khi nghe tên đội Pháp về báo cáo, tên đồn trưởng đồn Mỹ Chánh đã đồng ý cho cả một trung đội đi càn quét làng Triều Dương. Tên đồn trưởng nói:


    - Lại cứ càn ngay vào cái làng ấy. Chúng ta chỉ cần tiêu diệt một vài làng thôi, nhưng đã triệt thì triệt cho sạch, có như vậy các làng khác mới chịu quy phục. Và cần phải càn ngay trong chiều và tối nay, bởi vì chúng nó có thể đã quay về làng và có thể lại không phòng bị. Các anh có thể và cần phải đuổi ra tận bãi cát, cố nhiên là không đi xa quá.


    Bọn lính Pháp hùng hổ kéo tới đây không ngò bị du kích chặn đánh. Chúng bị chết hai tên và bị thương một tên ngay sau loạt súng đầu tiên. Nhưng lực lượng du kích cũng chỉ có thể chiến đấu đến đấy thôi. Những khẩu súng cũ rích, những viên đạn và lựu đạn không nổ đã không cho phép họ làm được nhiều hơn. Nhưng loạt đạn súng ấy cũng đủ để cho dân làng có thì giờ bỏ chạy ra bãi cát. Thân cũng chạy theo dân làng. Anh chạy được bộ nửa cây số thì dừng lại thở, trưóc mặt anh là một ngòi nước hẹp, đen ngòm, ngăn đường anh lại. Lúc ấy trời đã tối mịt, gió bắt đầu thổi mạnh trên bãi cát mênh mông. Thân ngạc nhiên hỏi mấy người cùng chạy theo ngả của anh: “Lạ nhỉ, sao ở đây lại có cái ngòi nước này nhỉ. Nom dài lắm, y như một con sông vậy. Bên kia là cái gì”. Một người trả lời anh: “Không phải sông, chỉ là con ngòi cụt thôi, nhưng cũng khá dài, dễ đến non nửa cây số”.




  •  Chết, thế thì chúng ta chạy ngả này không tốt rồi. Nó mà đuổi theo đến đây thì nguy lắm. Tại sao bà con ở đây mãi mà cũng chạy ra đây?


    Một ngưòi trong bọn trả lời:




  •  Nào chúng tôi có biết. Thấy cán bộ chạy ngả nào thì chúng tôi chạy ngả đó, quên mất rằng đến đây có ngòi nước này.


    Thân hỏi:




  •  Nước sâu không nhỉ? Ta lội qua bên kia mà chạy thêm quãng nữa cho chắc chắn đi.




  •  Nước sâu đấy anh ạ. Mà bẩn lắm. Chịu khó đi vòng tí vậy, đến đầu ngòi thì ta vượt sang bên kia...


    Nhưng đã quá muộn. Một toán lính Pháp không rõ ít hay nhiều đã chạy lùng trên bãi cát và tới gần đấy. Thấy bóng mấy ngưòi thấp thoáng trên bờ ngòi, chúng bắn luôn một tràng tiểu liên. Hoảng quá, họ nhảy tùm xuống ngòi nước đen ngòm, mặc cả quần áo mà cố bơi sang bên kia. Lúc ấy trời đã tối mịt. Nhưng bọn lính Pháp đâu có chịu bỏ mất mồi ngon, chứng tức tốc chạy tới bên bò ngòi, xả súng bắn xuống nước như mưa.


    Một mùi hôi thối xông lên mũi Thân sặc sụa. Nhưng mặc, Thân vẫn không để ý gì cả, anh vẫn ra sức bơi. Bỗng có mấy viên đạn réo trên đầu anh, xối mạnh vào nưỏc tung tóe chung quanh mình anh. Thân hoảng sợ vội lặn ngụp sâu xuống. Trong phút vô cùng nguy ngập ấy, không hiểu sao, Thân lại chợt nhớ tới những ngày còn bé anh đã lặn ngụp trong dòng sông Nam Phổ, đùa nghịch với con trâu và với Ngạc. Anh lặn một mạch, tưởng chừng đã lâu lắm và đã gần đứt hơi không chịu nổi phải nổi mình lên mặt nưóc thở thế mà vẫn chưa thấy bờ. Đèn pin của bọn lính Pháp chiếu loang loáng trên con ngòi. Thấy đầu Thân vừa ló lên, chúng đã bắn luôn một băng đạn nữa. Một lần nữa nưóc lại réo sôi, tung toé lên bên mình Thân. Anh lại lặn hụp xuống nữa và đã lặn rẽ sang một lối khác để vào bờ. Thân thấy nguy hiểm quá, không ngoi lên để thở thì không chịu nổi mà nổi lên thì bị chúng nó rọi đèn soi theo, cầm chắc cái chết trong tay. Anh chợt thấy hối hận là đã không chịu nghe lời các đồng chí tỉnh ủy lấy một đồng chí du kích địa phương đi theo làm người bảo vệ. Nếu có bảo vệ, có lẽ đã không đến nỗi chạy nhầm ra để chết uổng ở đây. Một hình ảnh đen tối thoáng qua trong óc Thân: anh thấy lo lắng cho phong trào. Vừa mới vỡ mặt trận xong còn bao nhiêu việc phải làm để củng cố phong trào, tổ chức kháng chiến, thế mà anh là người đang nắm những đầu mối chính, những nhiệm vụ quan trọng nhất lại chết ở đây mà không kịp nhắn lại cho ai một điều gì cả. Chủ quan thật là tai hại, Thân nghĩ như thế. Anh lại thấy ngạt thở, không thể chịu đựng được lâu hơn nữa cái thứ nước đen kịt và hôi thối đang bọc chung quanh mình và đang bịt hết cả tai, cả mũi, cả mắt, cả miệng, ộc, Thân sặc một cái, và một ngụm nước theo miệng anh chui tuột vào trong họng. Nhưng cũng vừa lúc ấy, Thân cảm thấy nước bỗng nhiên cạn hẳn trên lưng anh và một lùm sậy nhỏ sạt vào mặt anh. Anh đã vào đến bờ và may mắn thay đã vào đúng chỗ có một lùm sậy nhỏ mọc loà xoà ở bên ngòi. Thân vẫn nằm ngâm mình dưới nưỏc, hai tay anh chống ngược xuống lòng ngòi chỉ nhô cái mặt lên một chút vừa để thở. Trên mặt nước, ánh đèn pin của bọn lính Pháp vẫn chiếu loang loáng. Thân vẫn nằm im không động, anh tự nhủ bây giờ mà lại lặn xuống nữa thì chúng nó biết mất. Một cái gì bỗng nhói vào ống chân anh, rồi ba cái, bốn cái, năm cái. Đỉa, đỉa trâu, Thân rùng mình tự nhủ. Quả nhiên, lại thêm bốn năm cái cắn đau nhói. Nhưng Thân không dám cựa quậy. Anh nằm im, cảm thấy máu trong ngưòi mình đang theo những cái vòi của những con đỉa lớn chảy mạnh ra ngoài, làm căng phồng bụng những con đỉa lớn.


    Cũng may cho Thân, bọn lính Pháp rọi đèn một lúc lâu không thấy động tĩnh gì nữa liền bỏ đi mất. Đợi cho chúng đi khỏi một lúc lâu, Thân mới dám bò lên bò. Nhưng anh chưa dám đứng thẳng dậy. Nằm ngay trên bờ ngòi, Thân lần cởi quần áo và đưa tay gỡ hơn một chục con đỉa đang bám khắp người anh. Những con đỉa tai quái. Chúng đã bám vào người Thân quá chặt, chúng lại trơn nhãy, gỡ mãi không ra. Nhớ lại kinh nghiệm từ thời còn bé, Thân nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, xoa vào chỗ đỉa, ra sức gỡ. Nhưng nước bọt đối với loại đỉa trâu này đâu có ăn thua. Thân nghiến răng, anh quấn chặt con đỉa mấy vòng vào ngón tay trỏ và ra sức giật. Máu tươi trào ra, ri rỉ chảy khắp mình Thân. Mươi lăm phút gỡ đỉa đối với Thân thật dài như hàng tiếng đồng hồ. Không còn suy nghĩ được việc gì nữa, tâm trí anh để hết cả vào cái việc làm căng thẳng ấy. Một bóng đen bỗng bò đến bên Thân lúc nào anh không biết: “Anh, anh còn ở đây à? Chết, tròi ơi, đỉa cắn anh ra nhiều máu quá. Em lên bờ cũng đã lâu, nhưng cũng không biết Tây chúng nó đã đi chưa nên cứ nằm như chết trong bụi cây đằng kia, hai bác kia không biết có thoát được không. Lạ thật, em cũng bị đỉa cắn nhưng chỉ có ba con thôi. Anh bị nhiều quá, hay tại máu lạ?”.


    Thân cưòi, vỗ vai người nông dân hiền lành:




  •  Không đâu, hồi bé tôi cũng bị đỉa cắn nhiều rồi.




  •  Anh quê ở đâu vậy?




  •  Làng Nam Phổ, bên huyện Quảng đây thôi.




  •  Thế ư? Chúng em cứ tưởng cán bộ các anh đều là ngưòi thành phố  cả.




  •  Không, trước tôi cũng làm ruộng như bà con ở đây thôi.


    Anh nông dân nắm chặt tay Thân. Và khi cảm thấy đó đúng là một bàn tay đầy chai sạn như mình, anh ghé sát lại ngưòi Thân, thì thầm hỏi nhỏ:




  •  Hỏi thật liệu như thế này thì ta có đánh Tây được không. Nó đốt hết cả, giết hết cả, một ngày lùng hai lần, nguy quá. Chính phủ có cách gì cứu dân được không anh?


    Đến lượt Thân nắm chặt tay người nông dân Triều Dương chưa quen biết. Anh nhìn vào mắt ngưòi bạn cùng cảnh ngộ, nói một giọng đầy tin tưởng:




  •  Kháng chiến được anh ạ. Tây nó chỉ có một dúm người, ta thì là hai mươi lăm triệu đồng bào cả nước. Ai cũng chống nó cả thì nó không cai trị ta được. Nó nhiều súng ống nhưng ta sẽ cướp súng nó đánh nó. Làng nào cũng đánh, cũng chống càn thì chúng nó sẽ bị mòn dần. Lúc nào ta mạnh hơn hẳn chúng, ta sẽ đánh cho chúng phải cút về nước. Vả lại, ta cũng còn bộ đội nữa chứ. Chỉ cần một điều: ai cũng một lòng một dạ theo chính phủ ta mà đánh giặc. Anh thấy phải không?


    Anh nông dân thở mạnh một cái, trả lời:




  •  Theo Chính phủ, theo Cụ Hồ, thì ai cũng theo cả rồi. Anh tính, như nhà em, trước không có một tấc ruộng, xã quan cấp cho được hai sào công điền vừa xa vừa xấu, làm không đủ ăn, phải đi làm mướn gần quanh năm mà vẫn không đủ ăn. Em có lần đã bị Tây đoan về bắt rượu lậu, đánh cho một trận nhừ tử. Cách mạng rồi thì được ủy ban xã quận cấp hơn ba sào ruộng gần, món nợ nhà em mắc của ông cửu Tại lưu cữu đã mấy năm không biết sao cũng không thấy anh con nhà ấy đòi nữa, thành ra dễ sống hơn trước nhiều. Như thế thì ai lại có thể theo Tây mà chịu cực như trước.


    Thân nói:




  •  Nói cho anh biết, rồi đây Chính phủ còn làm cho mọi người cày đều có ruộng, có trâu nữa kia. Chắc chắn là như thế. Nhưng đó là chuyện sau này, tuy cũng không xa nữa đâu. Bây giờ thì ta lo đánh Tây đã.


    Thân đã vắt khô bộ quân áo, mặc lại vào người và đứng dậy.




  •  Anh lại về Triều Dương chứ?




  •  Không anh ạ. Tôi tính có lẽ phải ngủ ngay trên bãi cát tối nay. Vào làng bây giờ nguy hiểm lắm. Không biết nó đã rút chưa, hoặc nửa đêm nó lại lùng nữa thì nguy hiểm lắm.




  •  Thế để em đi về lấy cho anh chiếc chiếu với cái chăn, rét lắm.




  •  Thôi anh ạ, để hôm khác. Tôi cũng có chiếc chiếu con với cái chăn nhưng lại để bên Phong Lai. Thôi, đêm nay thì chẳng cần.




  •  Thế để em đi gọi mấy ngươi du kích tới cùng nằm bảo vệ cho anh đã.


    Thân chưa kịp níu lại thì người nông dân đã chạy biến mất.


    Anh sung sướng, mĩm cười một mình trong đêm tối vắng lặng giữa bãi cát mênh mông, lòng đầy tin tưởng ở những ngưòi dân chất phác, hiền lành nhưng yêu nước. Anh nghĩ: Chà tối nay ngủ trên bãi cát, trên “sa trường” đây. Anh bật cười vì cái chữ “sa trường” ngộ nghĩnh ấy. Nhưng anh chợt nhăn mặt, tự nhủ: Lần sau phải nhớ: không được chủ quan và phải vật bất ly thân. Quần áo chăn chiếu gì để cả ở Phong Lai thế là đêm nay đành chịu rét. Mà chắc gì ở Phong Lai lại không có Tây đi càn. Bác người Triều Dương lạ thật, biết du kích bây giờ ở đâu mà đi tìm. Và du kích biết tìm mình nằm ở đâu trên cái bãi cát mênh mông này...


    Thân đang loay hoay tìm một chỗ cát phẳng và không có cỏ sắc để ngả lưng thì bác nông dân nọ đã cùng ba người du kích chạy tới. Và không biết họ đã xoay đâu được mấy chiếc chiếu, một bộ quần áo khô và hai cái chăn đơn. Thân cùng họ nằm ôm lấy nhau trên bãi cát, cùng đắp mảnh chăn đơn mỏng dính.


    Anh áp tai xuống đất, nghe như cả bãi cát mênh mông đang thầm thì với người những lời gì huyền diệu lắm. Họ ngủ say vùi trên bãi cát. Sáng dậy, sương xuống đã làm ướt mái đầu Thân và anh cảm thấy lạnh run trong xương sống, anh hắt hơi liền mấy cái và cảm thấy như đang lên cơn sốt, nóng hầm hập trong hơi thở. Mấy người du kích dìu Thân về tận làng Triều Dương và mãi đến chiều hôm sau, anh mới gượng dậy được sau khi đã xông bằng nồi nước lá bưởi và lá tre mà một bà mẹ trong làng đã nấu cho anh.


    *


    Đại đội quyết tử quân của tỉnh vừa mới thành lập đã phái bộ ba Út, Hiền, Bao tới phục kích ở gần đồn Mỹ Chánh. Nhiệm vụ của họ là phải đặt một quả bom ngay gần đồn, nơi quân địch có thể qua lại nhiều để giết chết vài thằng cho chúng chờn, bớt hung hăng đi càn và để gây cho nhân dân lòng tin tưởng. Chính bọn Tây ở Mỹ Chánh là bọn khá hung hăng, chúng đã kéo đi càn suốt hai huyện Phong, Quảng, đốt trụi làng Triều Dương và cả gan chạy lùng cả trên bãi cát. Chúng đóng đồn ngay trong Mỹ Chánh, chung quanh đồn của chúng có hơn trăm nóc nhà dân. Sau buổi chạy giặc đầu tiên, đã có vài chục nhà hồi cư về ở làng này. Nhưng bọn Pháp cũng coi thường, chúng lo đi lập tề ở đầu huyện, cuối huyện, nhưng tại ngay làng chúng đóng thì lại chưa có gì cả. Thật ra thì bộ ba Út, Hiền, Bao cũng chẳng để ý gì đến chuyện đó. Lợi dụng một buổi tối trời không có trăng sao, họ lễ mễ vác một quả bom nặng, lẻn vào trong làng và tìm vào nhà một bà cụ nghèo khổ, có ngôi nhà xiêu vẹo ở cuối làng. Lúc ấy đêm đã khuya lắm. Bà cụ Bái và cô con gái út đã sắp sửa đi ngủ thì nghe có tiếng gõ nhè nhẹ vào vách liếp.




  •  Ai đấy?




  •  Bọn con đây. Mẹ mở cửa cho bọn con vào với.


    Bà cụ ghé lại tận sát vách nhòm ra ngoài:




  •  Bọn con là ai mới được chứ?




  •  Bộ đội đây mà.


    Cánh cửa liếp bỗng hé ra và ba chiến sĩ lách ngay vào.




  •  Chà ấm quá!




  •  Chết, các anh liều mạng thật. Chó nó sủa thì chết hết.




  •  May quá, mẹ  ạ . Không có con nào sủa cả. Trong làng có phản động không mẹ.




  •  Mẹ không biết. Chừng như chưa có đứa mô. Bom đạn chi đây phải không?




  •  Dạ, bom đó. Gần đồn có chỗ nào kín nấp mà giật được không mẹ. À quên, mẹ tên là gì, để bọn con gọi cho tiện. Trong nhà còn ai nữa không?




  •  Các anh cứ gọi là mẹ Bái. Còn con Lựu, con gái út của mẹ nữa. Để mẹ nhớ coi nào. Phải, gần đồn chỗ đàng đông, trước sân trường học ấy, gần cái đường đất đi vào giếng làng ấy, có một chỗ nấp tiện lắm. Nhưng giật bằng gì?




  •  Giật bằng dây mẹ ạ. Bom chôn ngay trên đường, thòng dây ra phía sau, bọn con ngồi trong bụi giật. Bọn Tây hay đi qua đường ấy không?




  •  Mẹ cũng không biết. Cứ làm thử đi coi ra răng.




  •  Mẹ chỉ có con gái thôi à, không có con trai hả mẹ?


    Bà cụ Bái đang vui vẻ bỗng buồn xịu hẳn mặt xuống. Bà nói nhỏ, rơm rớm nước mắt:




  •  Hai đứa con gái lớn đi lấy chồng ở Phú Thái rồi. Còn thằng Đào anh con Lựu nữa, hắn cũng đi bộ đội như các anh, nhưng chết ở Huế rồi.


    Bà cụ bỗng gục mặt xuống khóc, lấy tay áo chùi mãi lên đôi mắt kèm nhèm. Chợt bà ngẩng mặt lên, gọi con gái:




  •  Lựu ơi, lấy cho mấy anh cái chiếu trải nơi ổ rơm ngoài ni. Các anh nghỉ đã chứ.




  •  Không mẹ ạ, đi chôn bom ngay bây giờ được thì tiện hơn. Trời đang tối. Chôn sớm, mai không có dấu vết, Tây nó mới không ngờ.




  •  Rứa thì để mẹ dắt các anh đi.


    Nhưng bom chôn đã gần hết hai ngày và Út, Hiền, Bao chờ đã mỏi cả mắt mà vẫn không thấy một tên Pháp nào đi về ngả ấy. Trưa, tối, lúc đoán chừng quân Pháp trong đồn đã ăn cơm và không có hy vọng gì chúng bén mảng ra chỗ chôn bom, Út, Hiền, Bao cũng về nhà bà cụ Bái ăn cơm. Và trong hai ngày ngắn ngủi ấy, họ đã làm thân ngay với cô Lựu. Cô con gái vừa mười chín tuổi ấy có nước da bánh mật, người rắn chắc và hơi thấp, cô có dáng đi chắc nịch của người dân đồng ruộng, đôi hàm răng đen nhánh, và hình như lúc cô tủm tỉm cười duyên thì hơi có lúm đồng tiền thì phải. Cô Lựu đã đem hết tài ra nấu cho ba anh bộ đội những bữa ăn nóng sốt, cố nhiên cũng chỉ có cơm với ruốc (mắm tôm), ớt và một nhúm rau luộc. Và cả bà cụ Bái, cả cô Lựu đã hai hôm nay bữa nào cũng chờ cơm ba anh. Chính bà cụ Bái cũng không phản đốì gì việc ba chàng trai thỉnh thoảng lại nói đùa với cô Lựu hoặc trêu nhau về cô Lựu, hơn nữa, bà cụ có vẻ lại hơi thinh thích là đằng khác. Bao là ngưòi hay đùa nhất, có hôm anh đã nửa đùa nửa thật hỏi bà cụ ngay giữa bữa cơm có đông đủ cả năm người: “Mẹ ơi, trong ba đứa đây, mẹ ưng đứa nào cho làm con thật của mẹ đi”. Lựu đã lấy đầu đũa gõ vào đầu gối Bao: “Rõ cái anh này, đồ yêu!”. Rồi cô ngượng ngùng nhìn mẹ, chờ đợi một sự trách móc. Nhưng không, bà cụ chỉ hơi mỉm cười, và đột nhiên bà nói: “Đứa mô mẹ cũng thích cả nhưng con Lựu không biết ra răng, chứ mẹ thì mẹ ưa Út hơn cả”. Lựu đỏ bừng mặt, cô đứng ngay dậy, bỏ dở bữa cơm đi vào nhà bếp. Bởi vì mẹ cô đã nói trúng ý cô quá. Bên ngoài này, Út cũng thấy lúng túng, ngượng nghịu, anh hình như cảm thấy mọi người đã đoán biết được tình ý thầm kín của anh. Út vốn là người chín chắn nhất trong bọn, lại là người can đảm nhất, tháo vát nhất. Không bộc toạc như Bao, nhưng cũng không quá lầm lì như Hiền. Anh cũng có nói đùa với Lựu, nhưng anh chưa hề dám nói những câu sàm sỡ. Ấy thế mà trong khoé mắt, trong giọng nói, trong nụ cưòi, hình như giữa hai anh ả đã có chút gì muôn thầm kín nói với nhau mà chưa ai dám thổ lộ ra trước. Là thợ điện ở nhà máy đèn thành phố Huế, Út tuy vậy vẫn giữ nhiều tính chất mộc mạc thật thà của người nông dân, bố mẹ anh không sống ở Huế mà vẫn làm ruộng ở mãi tận huyện Phú Vang. Út còn trẻ lắm, năm ấy anh mới hai mươi mốt tuổi nhưng cuộc sống kham khổ đã làm cho anh sớm phải suy nghĩ. Anh đã đón chào cuộc Cách mạng tháng Tám với tất cả nhiệt tình của tuổi mười chín. Rồi anh vào tự vệ nhà máy và bây giờ đây, làm tổ trưởng một tiểu tổ quyết tử quân gồm hai người bạn nối khố của anh.


    - Út nghĩ chi mà thừ người ra đó. Ăn đi chứ. Hay tại con Lựu hắn bỏ hắn đi mà ngồi tương tư đó?


    Bao và cả Hiền nữa ôm bụng cười sằng sặc. cả Út cũng phải bật lên tiếng cười, tuy anh cũng ngượng đỏ cả mặt. Anh không ngờ một bà mẹ già nghèo khổ ở nông thôn lại có thể nói đùa về chuyện tình duyên của con gái một cách thẳng thừng như thế được. Vì sao thế nhỉ? Chắc không phải tại mình. Không, đây là tại bà cụ tin, yêu bộ đội, coi bộ đội như con đẻ. Càng nghĩ càng thấy quý bà cụ, Út đã cảm động hỏi:







  •  Mẹ ơi mẹ, năm nay mẹ bao nhiêu tuổi rồi?




  •  Nhờ trời cho, mẹ sáu mươi tư rồi. Nghèo cực quanh năm, không biết ăn chi mà sống dai dừ.


    Út nói:




  •  Thế là mẹ hơn mẹ con ở nhà hai tuổi. Mẹ con chỉ có hai đứa, anh con và con. Anh con đi bộ đội Nam tiến lâu rồi chưa thấy tin tức gì, còn con thì đi đây. Không biết mẹ con ở nhà bây giờ ra sao.


    Bà cụ Bái đang vui vẻ bỗng rơm rớm nước mắt. Bà sụt sịt, giơ ống tay áo lên lau mũi rồi càng ngày càng tủi thân, bà khóc to hơn. Bà nói qua hai hàng nưóc mắt đầm đìa:




  •  Tụi bay rứa cả. Đứa nào đứa nấy chỉ biết đi, để mặc các mẹ ở nhà thương nhớ héo ruột héo gan mà không biết mần răng. Khổ thân thằng Đào, con trai tui. Trời ơi, nghĩ đến hắn, tui lại điên ruột lên với mấy thằng Tây. Độc ác chi bay mà độc ác. Can chi bay mà kéo sang cướp nước người ta.


    Bữa cơm đang vui bỗng đượm màu tang tóc. Út, Hiền, Bao ra sức an ủi bà cụ, Lựu cũng ra đỡ mẹ dậy vào giường nằm nghỉ.


    Đến hết ngày thứ hai rồi mà bộ ba vẫn trở về không, quả bom vẫn chôn trên mặt đường không một ai qua lại. Bao đã có vẻ ngán ngẩm. Anh đã đòi Út để anh ôm thẳng bom vào tận hàng rào trường học để phá trại lính của giặc, nhưng Út không cho vì sợ mình chưa ôm bom tới nơi, giặc đã bắn chết mình rồi. Họ đang bàn cãi nhau sôi nổi, chưa ai chịu ai thì bà cụ Bái bỗng nói:




  •  Bay để bom như rứa, không có chi nhử giặc cả thì đời mô hắn ra đứng đó cho bay giật. Mà có đi ngang qua thì chỉ giật chết được một đứa là cùng.


    Út nói:




  •  Mẹ ạ, bọn con cũng chỉ cần giật chết lấy một đứa là đã khá rồi. Cấp trên dặn thế, chỉ cốt làm cho chúng hoảng và dân tin tưởng là được.




  •  Rứa mà mẹ có cách làm cho tụi Tây tụ lại đó đông đến chục thằng cho coi. Thôi được, ba đứa ngủ đi rồi mai hay. Mai mẹ sẽ ra đó. Khi mô bay nghe mẹ gọi: Lựu ơi, chặt thêm cho mẹ vài nải chuối thì bay giật cho bom nổ.


    Cả ba đang bán tín bán nghi muốn hỏi lại thì bà cụ đã gạt đi, kêu rằng buồn ngủ lắm không nói nữa.


    Sáng hôm sau, như thường lệ, ba người bò ra chỗ nấp cũ thì quả nhiên thấy trên đưòng đi mà họ có đặt bom có tiếng xì xồ, Bao mừng rỡ, vội hé một chùm lá nhỏ che trước mắt nhìn ra thì quả thấy có năm sáu tên lính Tây đứng ngay gần quả bom thiệt. Bao bấm cho Út nhìn ra rồi nói khẽ: Bà cụ tài thật. Không biết bà làm cách gì mà Tây nó đứng đó thật. Giật thôi anh nhé.


    Nhưng Út sau khi nhìn qua kẽ lá đã giữ ngay tay Bao lại. Anh thầm thì: “Chết mẹ Bái ngồi thế kia giật sao được”.


    Giữa lúc ấy, bỗng nghe bà cụ gọi to: “Lựu ơi, chặt thêm cho mẹ vài nải chuối đi”.


    Cả ba người hé mắt nhìn qua kẽ lá. Một cảnh tượng làm họ nín thở, không ngờ có thể xảy ra lạ lùng đến thế: bà cụ Bái, ngồi ngay trên chỗ chôn bom, trước mặt bà là một rổ đầy chuối và quýt. Bọn Pháp trong đồn Mỹ Chánh đã kéo ra đây mua chuối. Chúng xì xồ nói chuyện ầm ĩ, chúng khen bà cụ tốt, tốt. Bà cụ gọi một lượt, hai lượt rồi ba lượt. Út, Hiền, Bao vẫn nằm im không dám động đậy. Rổ chuối, quýt đã hết nhẵn. Bọn Pháp ném vào rổ bà cụ vài đồng bạc rồi bỏ đi hết. Bà cụ từ từ đứng dậy, mắt đảo quanh rồi nhìn vào bụi rậm chỗ ba ngưòi nấp kín, mồm lẩm bẩm điều gì có vẻ bực tức lắm. Trong bữa cơm trưa hôm ấy, bà cụ đã gắt Út : “Tau gọi đã ba lượt mà răng bay không giật. Tau đã muốn gọi nữa, nhưng sợ lộ, lại vừa bọn Tây đi cả. Mất cả một rổ chuối với quýt của mẹ”.





(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »