tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19749591
25.05.2015
Tư liệu
Cây cứt lợn và cây nhân trần



Từ trái qua: Cây cứt lợn. Cây nhân trần


Cây cứt lợn



Ageratum conyzoides



Starr 040209-0126 Ageratum conyzoides.jpg



Phân loại khoa học



Giới (regnum)    Plantae



(không phân hạng)        Angiospermae



(không phân hạng)        Eudicots



(không phân hạng)        Asterids



Bộ (ordo)          Asterales



Họ (familia)       Asteraceae



Phân họ (subfamilia)      Asteroideae



Liên tông (supertribus)   Helianthodae



H.Rob.



Tông (tribus)     Eupatorieae



Chi (genus)       Ageratum



Loài (species)   A. conyzoides



Danh pháp hai phần



Ageratum conyzoides



L.



Danh pháp đồng nghĩa[1]



    Ageratum album Hort.Berol. ex Hornem.,



    Ageratum ciliare Lour., Cacalia mentrasto Vell.,



    Ageratum obtusifolium Lam.



    Cacalia mentrasto Vell.



    Eupatorium conyzoides (L.) E.H.L.Krause



Cứt lợn hay còn gọi là cây hoa ngũ vị, cây bù xít, thắng hồng kế, cỏ hôi, cỏ thúi địch (tên khoa học Ageratum conyzoides) là một loài cây thuộc họ Cúc. Cây thường được dùng như một loài cây thuốc.



 



Cứt lợn là một loài cây nhỏ, mọc hằng năm, thân có nhiều lông nhỏ, mềm, cao khoảng 25–50 cm, thường mọc hoang. Lá mọc đối xứng hình trứng hay ba cạnh, dài từ 2–6 cm, rộng 1–3 cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mặt dưới có màu nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím xanh. Quả màu đen, có 5 sống dọc.



Thành phần hóa học



Công dụng dược lý



    Chữa phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở.



    Chữa viêm xoang dị ứng



    Phối hợp với nước bồ kết để gội đầu có tác dụng sạch gầu, trơn tóc.



Theo Đông y, cây hoa cứt lợn có vị cay, đắng, tính mát; vào 2 kinh Thủ thái âm Phế và Thủ quyết âm Tâm bào. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, tiêu thũng, trục ứ. Dùng chữa cảm mạo phát sốt, các chứng bệnh yết hầu sưng đau, ung thũng, mụn nhọt... Sách Quảng Đông trung dược còn nói dùng để trị bệnh sa tử cung và u tử cung.



Liều dùng khi uống trong: từ 15 - 30 g khô (hoặc 30 - 60 g tươi), sắc với nước uống hoặc giã vắt lấy nước cốt uống; dùng ngoài không kể liều lượng.



Một số ứng dụng cụ thể:



    Phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở: Trong dân gian có kinh nghiệm hái chừng 30 - 50 g cây hoa cứt lợn tươi, đem về rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt và chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 3 - 4 ngày (Những cây thuốc và vị thuốc VN).



    Trị các chứng bệnh ở yết hầu (bao gồm cả bạch hầu): Hái chừng 30 - 60 g lá cây hoa cứt lợn tươi; giã nát vắt lấy nước cốt, hòa thêm nước và đường phèn vào, chia 3 lần uống trong ngày; cũng có thể lấy lá phơi khô, tán mịn, dùng làm thuốc bột - ngậm và nuốt dần xuống họng (Tuyền Châu bản thảo).



    Trị nhọt độc sưng đau: Nhổ cả cây hoa cứt lợn, rửa sạch, trộn với cơm nguội, thêm chút muối, trộn đều, giã nát, đắp vào chỗ có bệnh (Tuyền Châu bản thảo).



    Trị "ngư khẩu tiện độc" (chỉ nên tham khảo, vì cần tìm hiểu thêm): Lá cây hoa cứt lợn tươi 100 - 120 g, trà bính 15 g. Tất cả đem giã nát, hơ nóng rồi đắp vào chỗ bị bệnh (Phúc Kiến dân gian thảo dược). "Ngư khẩu tiện độc" là tên chứng bệnh ngoại khoa của Đông y, do bị bệnh giang mai, hạch bạch huyết ở bẹn sưng tấy (Syphilitic buto), nếu sưng hạch ở bên trái thì Đông y gọi là "ngư khẩu", còn ở bên phải gọi là "tiện độc".



    Sưng đau do giãn gân, sái xương: Lấy một nắm cây hoa cứt lợn khô, cho vào lò đốt cháy và hun khói vào chỗ đau (Phúc Kiến dân gian thảo dược).



    Cảm mạo phát sốt: Lấy cây hoa cứt lợn tươi 60g, sắc nước uống (Quảng Tây trung thảo dược)



    Ngoại thương xuất huyết: Lấy một nắm cây hoa cứt lợn, gĩa nát đắp vào chỗ bị thương (Quảng Tây trung thảo dược).



    Mụn nhọt mưng mủ chưa vỡ: Lấy một nắm cây hoa cứt lợn tươi, thêm chút đường đỏ, gĩa nát đắp vào chỗ bị thương (Quảng Tây trung thảo dược).



    Nga khẩu sang, đinh nhọt sưng đỏ: Lấy 10 - 15 g cành và lá cây hoa cứt lợn, sắc nước uống (Vân Nam trung thảo dược). "Nga khẩu sang" (miệng con ngỗng), còn gọi là "tuyết khẩu chứng" (miệng như có tuyết bám vào) là tên gọi dân gian của chứng bệnh "viêm miệng ap-tơ" (oral thrush), do nhiễm phải một loại nấm mốc gây nên; thường thấy ở trẻ nhỏ suy dinh dưỡng, tiêu chảy mạn tính, dùng kháng sinh và hormone tuyến thượng thận dài ngày.



Chứng trạng: niêm mạc miệng phát đỏ, xuất hiện những nốt trắng hay màng trắng, bệnh kéo dài sẽ lan tới lưỡi, lợi, vòm họng trên, những mảng trắng rất khó lau sạch; bệnh kéo dài có thể gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa...



    Sốt rét, cảm mạo: Lấy 15 - 20 g cành và lá cây hoa cứt lợn khô, sắc với nước, chia 2 lần uống trong ngày (Văn Sơn trung thảo dược).



    Phong thấp đau nhức, gãy xương (sau khi đã cố định lại): Lấy một nắm cây hoa cứt lợn tươi, giã nát, đắp vào chỗ đau (Văn Sơn trung thảo dược).



___



    ^ http://cangio.vietbiodata.net/cgi-bin/detail.tcg?id=14



Tham khảo



    Đỗ Tất Lợi, "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", Nhà xuất bản Y học, 2006.



    Ming, L.C. (1999) Ageratum conyzoides: A tropical source of medicinal and agricultural products. p. 469–473. In: J. Janick (ed.), Perspectives on new crops and new uses. ASHS Press, Alexandria, VA.



http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_c%E1%BB%A9t_l%E1%BB%A3n



 



 CÂY NHÂN TRẦN



Tên khoa học: Adenosma caeruleum R. Br. (Adenosma glutinosum (L.) Druce var. caeruleum Tsoong)



Thuộc họ: Hoa mõm chó Scrophulariaceae



Tên khác: Chè nội, Chè cát, Tuyến hương lam.



Tên vị thuốc: Nhân trần



I. Đặc điểm thực vật



Cây Nhân trần là loài cỏ mọc hoang sống hàng năm, cây cao từ 80 - 110 cm, thân tròn màu tím sẫm, trên thân có lông trắng mịn, cây có khả năng phân cành nhiều. Lá mọc đối, hình trứng, đầu lá dài, mép lá có răng cưa, phiến lá dài từ 4 - 9 cm. Hoa mầu tím, mọc đơn độc, hình ống. Quả nang hình trứng, khi chín quả có mầu nâu và tự tách ra, hạt nhỏ mầu nâu.



Mùa hoa vào tháng 8 - 9. Mùa quả vào tháng 9 - 10.



II. Điều kiện sinh thái và phân bố



Cây Nhân trần thường mọc hoang ở những đồi, ruộng trung du miền Bắc, nhiều nhất tại Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Nghĩa Lộ, Quảng Ninh, Hà Nội (Sóc Sơn), v.v... ở phía Nam cũng gặp Nhân trần mọc ở Tây Ninh.



Nhân trần phân bố ở Thái Lan, ấn Độ, Inđônêxia.



Nhân trần là cây sống hàng năm, gieo hạt bắt đầu từ cuối tháng 2 sang tháng 3 khi cây được 6 lá đem trồng, sau khi trồng 5 - 6 tháng cây bắt đầu ra hoa, kết hạt sau đó tàn lụi. Cây cũng có thể tái sinh nếu gặp điều kiện thuận lợi, gốc cây có thể sống qua đông đến mùa xuân năm sau xuất hiện các chồi mới.



Cây ưa sáng và ưa ẩm nhưng không chịu được úng, lượng mưa thích hợp cho Nhân trần từ 1700 - 1800 mm, nhiệt độ thích hợp từ 15 - 30oC. Những năm gần đây, Nhân trần được trồng nhiều ở một số nơi như Mê Linh (Vĩnh Phúc), Gia Lộc (Hải Dương) và một số vùng đồi núi gần Hà Nội… Phạm vi thích ứng về đất đai cũng khá rộng. Nhân trần trước đây mọc hoang, sau đó nhân dân đưa về trồng ở các tỉnh vùng trung du miền núi có kết quả. Nhân trần được di thực và trồng ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương) có chất lượng cũng không thua kém Nhân trần trồng ở vùng trung du miền núi.



III. Giá trị làm thuốc



1. Thành phần hoá học



Cây Nhân trần có tinh dầu với hàm lượng 1%, trong đó các thành phần chính là paracymen, pinen limonen, cineol, anethol. Ngoài ra còn có một số thành phần khác như axit nhân thơm, sesquiterpen, flavonoid, monoterpenoid...



2. Bộ phận dùng làm thuốc và công dụng



a) Bộ phận dùng làm thuốc:



Bộ phận dùng làm thuốc là bộ phận trên mặt đất của cây Nhân trần.



b) Công dụng:



Theo y học cổ truyền



- Nhân trần có vị đắng, cay, tính bình, quy vào các kinh tỳ, vị, can, đởm, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, hành khí, chỉ thống, lợi tiểu, làm ra mồ hôi. Được dùng trong các bệnh viêm gan, viêm túi mật, bệnh hoàng đản (vàng da), kích thích tiêu hóa.



- Nhân trần dùng chữa vàng da, sốt nóng, tiểu tiện không thông, và hồi phục sức khoẻ cho phụ nữ sau khi đẻ.



- ở Trung Quốc, Nhân trần được dùng chữa phong thấp cốt thống, khí trễ phúc thống, mụn nhọt, mẩn ngứa do bọ đốt...



Theo y học hiện đại



- Nhân trần có tác dụng tăng tiết mật trên chuột lang.



- Tăng cường khả năng thải trừ của gan qua thực nghiệm với nghiệm pháp BSP ở chuột lang.



- Trên mô hình gây phù bàn chân chuột bằng kaolin và mô hình gây u hạt thực nghiệm cho thấy, Nhân trần có tác dụng chống viêm rõ rệt ở cả giai đoạn cấp và mãn tính.



- Nhân trần cũng gây teo thu tuyến ức ở chuột cống non (mức độ 31,4%), thể hiện tác dụng ức chế miễn dịch.



- Tác dụng diệt giun kí sinh rất tốt, đã thử nghiệm trên giun đũa.



- Nhân trần có tác dụng kháng một số chủng vi khuẩn Shigella shigae, Staphylococcus aureus, Streptococcus hemolyticus...



- Độc tính cấp và bán mãn được nghiên cứu trên thực nghiệm không thấy có các biểu hiện nhiễm độc do thuốc.



- Bộ môn truyền nhiễm Trường đại học Y khoa Hà Nội dùng siro Nhân trần điều trị thực nghiệm bệnh viêm gan do virus trong giai đoạn cấp tính (các bệnh nhân dùng thuốc là người lớn), có biểu hiện của thời kì tiền hoàng đản hay hoàng đản, có hoạt độ của men transaminaza và bilirubin máu tăng. Sau một thời gian điều trị cho thấy bilirubin máu và hoạt độ của SGPT trở về bình thường và cải thiện rõ rệt các triệu chứng cơ năng của bệnh nhân.



- Viện Dược liệu đã nghiên cứu và sản xuất thuốc Abivina từ Nhân trần, dùng để hỗ trợ điều trị viêm gan virus.



Tác dụng chữa bệnh của cây Nhân trần



Theo truyền thuyết, danh y Hoa Đà (Trung Quốc) đã phát hiện ra cây nhân trần sau khi từ chối điều trị cho một cô gái mắc bệnh hoàng đản (viêm gan vàng da), một căn bệnh lúc ấy được coi là vô phương cứu chữa. Từ đó, kho dược liệu của đông y có thêm một vị thuốc túy mà tác dụng của nó đã được y học hiện đại khẳng định.



Chuyện xưa kể rằng, có một nữ bệnh nhân tìm gặp Hoa Đà để chữa bệnh. Nhìn thân hình gầy như que củi, sắc mặt và mắt vàng vọt, tiên sinh biết ngay cô gái này bị chứng hoàng đản. Ông bảo: "Căn bệnh này tôi không chữa được, cô hãy về đi!". Một năm trôi qua, tình cờ gặp lại, thấy cô gái thân hình béo tốt, sắc mặt hồng hào, dáng đi nhanh nhẹn, Hoa Đà rất đỗi ngạc nhiên. Nữ bệnh nhân cho biết cô không hề chữa bệnh ở đâu, cũng không tự uống thuốc gì. Do đói kém, cơm gạo chẳng đủ nên cô phải lên núi hái Hoàng cao để ăn. Nghe vậy, Hoa Đà vội nhờ cô gái dẫn đi xem rau Hoàng cao, rồi từ đó chú tâm nghiên cứu khả năng chữa bệnh hoàng đản của loại cây này.



Nghe theo lời khuyên của Hoa Đà, nhiều bệnh nhân hoàng đản đã dùng Hoàng cao làm rau ăn trong một tháng và hầu hết đều khỏi bệnh. Tuy nhiên, có một bệnh nhân mặc dù đã làm đúng theo lời dặn của danh y, ăn rau thuốc mấy tháng liền, nhưng bệnh vẫn không khỏi. Hoa Đà hỏi: "Vậy anh ăn Hoàng cao vào thời gian nào?". Người bệnh đáp: "Vào khoảng sau tiết Thanh minh". Sau nhiều ngày suy ngẫm, vị danh y nhận ra rằng: vào mùa xuân, dương khí rất mạnh, chất thuốc tập trung ở thân và cành nên hiệu quả chữa bệnh cao. Từ đầu hạ trở đi, cây cối ra lá và mọc cành mới, dược lực phân tán nên việc trị liệu ít kiến hiệu. Năm sau, trước tiết Thanh minh, ông tự mình lên núi lấy Hoàng cao về cho người bệnh kể trên ăn. Chỉ sau một tháng, bệnh tình thuyên giảm rõ rệt, dùng thêm 2 tháng nữa thì bệnh khỏi. Sau này, để tránh nhầm lẫn, Hoa Đà đã đặt cho cây thuốc này một cái tên mới là "Nhân trần".



Theo các y thư cổ, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn, có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi mật, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp. Để trị hoàng đản, dân gian dùng nhân trần 15 g sắc uống. Để chữa viêm da lở loét, dùng nhân trần sắc đặc, lấy nước ngâm rửa chỗ tổn thương. Nếu mắc chứng da viêm nề và ngứa nhiều, dùng nhân trần 30 g, lá sen 15 g sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 g với nước lọc có pha chút mật ong.



 



Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân trần có tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm. Nó có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, thương hàn, phó thương hàn, mủ xanh, e.coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm. Nhân trần giúp cải thiện công năng miễn dịch và ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư. Trên lâm sàng, nhân trần đã được sử dụng để điều trị các bệnh: viêm gan truyền nhiễm cấp tính thể vàng da, vàng da tán huyết do thương hàn ở trẻ sơ sinh, giun chui ống mật, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành, eczema dai dẳng ở trẻ em, viêm loét miệng, nấm da...



ThS Hoàng Khánh Toàn, báo Sức Khỏe & Đời Sống


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tỉnh Yên Bái - Tư liệu 28.06.2017
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II - Nhiều tác giả 22.06.2017
Ngày 22/06/1944: F.D. Roosevelt ký Đạo luật G.I. - Tư liệu sưu tầm 22.06.2017
Stonehenge - Bãi đá cổ ở Anh Quốc - Tư liệu 20.06.2017
Tam cương, Ngũ thường - Tư liệu sưu tầm 20.06.2017
Ông Vũ Khoan viết về cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ - Vũ Khoan 20.06.2017
Thời kỳ vàng son mới của Ba Lan - Gunter Verheugen 20.06.2017
Tập Cận Bình muốn gì? - Graham Allison 20.06.2017
Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin - Helmut Kohl 19.06.2017
Đặng Tiểu Bình giúp tạo nên một Trung Quốc tham nhũng như thế nào? - Tư liệu 18.06.2017
xem thêm »