tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21079084
24.05.2015
Tư liệu
Ấm Trà - Nghề chơi cũng lắm công phu!

Bài của Nguyễn Duy Chính



Hầu như đã uống trà thì ai cũng có cách uống riêng của mình, không thể nói ai sành hơn ai. Ðối với người Á Ðông uống trà là một sinh hoạt rất phổ thông, vào tiệm ăn thường gia đình nào cũng gọi thêm một ấm trà nóng để làm đồ uống phụ vào bữa chính.



Lịch sử còn khá nhiều hình ảnh liên quan đến uống trà, từ một gánh trà rong bán cho phu kéo xe ở Quảng Ðông hồi cuối thế kỷ XIX đến những trà quán tương đối sang trọng hơn ở San Francisco. Ngay từ nhiều thế kỷ trước đã có những hình vẽ về sinh hoạt chẳng hạn như Ðấu Trà (thi uống trà) đời Nguyên. Thế nhưng phong cách uống trà của người Trung Hoa khác người Việt, phần vì họ luôn luôn có vẻ màu mè, phần khác vì cố tình nâng lên thành một nghệ thuật và ngày nay mỗi cộng đồng người Hoa lại tự tạo một cách thức riêng nên lại càng phức tạp.



Người Việt uống trà thường là để giải khát hơn là thưởng thức và thói quen này cũng chính là một cách phòng ngừa bệnh tật. Nước nấu sôi là một cách khử trùng hữu hiệu mặc dù ngày xưa chưa có kiến thức về mầm bệnh ẩn trong nước lã chưa đun. Một cụ đồ ngồi trên sập tay cầm xe điếu bên cạnh bộ đồ trà và hộp đựng trầu quả là một hình ảnh rất Việt Nam nhưng rõ ràng con người là trọng điểm còn những thứ khác chỉ là phụ.



Theo lịch sử, đồ sứ của nước ta đã được xuất cảng sang nước khác từ thời Trung Cổ trong đó có cả một số đồ dùng để uống trà. Ðã có thời đồ sứ Việt Nam là sản phẩm được người Nhật ưa chuộng vì lối chế tạo giản phác phù hợp với sở hiếu của họ(1). Thế nhưng trà cụ Việt Nam nằm trong khung cảnh chung là đồ sứ vì đồ trà nước ta không dùng một loại đất riêng và cũng không có một phương thức chế tạo khác biệt như người Trung Hoa. Chính vì nét độc đáo này, hiện nay cứ nói tới tử sa (zisha), Nghi Hưng (Yixing)... thì ai cũng biết đó là ấm đất nung Trung Quốc.



Vài chục năm trở lại đây, từ khi chính quyền Hoa Lục mở cửa thông thương với bên ngoài, sản xuất và tiêu thụ ấm trà phát triển mạnh. Việc sử dụng, sưu tầm ấm tử sa đã thành một trào lưu và sách vở viết về trà và ấm trà khá phong phú (thường từ Hoa Lục hay Ðài Loan), phổ biến trong giới người Hoa và cả một số người Việt.



Một cách tổng quát, có hai hạng người sưu tầm ấm. Một hạng thuộc về sưu tập đồ cổ, coi trọng niên đại và người nặn ấm. Chọn ấm loại này không phải vì công dụng của chiếc ấm mà vì giá trị của món hàng với con dấu là bằng chứng của tác giả. Hạng người thứ hai là người sưu tập như người ta chơi tem, chơi sách, chơi cây cảnh, càng nhiều càng tốt, thích mắt thì mua. Tuy nhiên, mỗi hạng người lại có một trình độ, sở thích, có người sưu tập theo kiểu, theo cỡ, theo loại, cũng có người sưu tập theo tên tác giả giống như người sưu tầm tranh. Những cơn sốt ấm trà tạo nên những nhu cầu giả tạo và không hiếm người nặn ra những chiếc ấm lạ lùng, giống như một tác phẩm điêu khắc hơn là một dụng cụ dùng hàng ngày(2). Tuy nhiên theo những chuyên gia thì ấm dùng để pha trà nên có đủ những tiêu chuẩn để tạo được một ấm trà ngon mới đáng kể.



Ðối với chúng ta, uống trà chỉ cần những món tối thiểu: ấm đun nước, ấm pha trà và chén để uống. Thêm một chút là ấm chuyên hay chén tống, dụng cụ để rót trà vào rồi san ra chén nhỏ cho đều nhau, không ai đậm, ai nhạt. Thế nhưng theo thời đại, việc uống trà nay phức tạp hơn nhiều, không phải chỉ ấm mà còn nhiều thứ lỉnh kỉnh khác.



Theo sách vở, một bộ đồ trà đầy đủ bao gồm những món sau đây:



-           Ấm pha trà (trà hồ -  茶壺)



-           Hũ đựng trà



-           Bồn chứa nước thừa



-           Ðĩa lót ấm (trà thuyền -  茶船) để đặt ấm và hứng nước tràn ra khi pha trà



-           Ấm chuyên (trà chung -  茶盅) còn gọi là trà hải hay đại công bôi



-           Ðĩa để nắp (khi nhắc ra để rót nước sôi vào ấm thì để nắp ấm vào đó)



-           Khay trà (phụng trà bàn -  奉茶盤)



-           Chén (bôi -  ) và đĩa (thác -  )



-           Muỗng xúc trà



-           Cóng đong trà (trà hà -  茶荷)



-           Ðũa moi bã trà và đũa thông vòi ấm



-           Khăn lau



Những người chơi ấm lại có cả một số bút lông, bàn chải... là những dụng cụ mà người ta gọi là”dưỡng hồ”(nuôi ấm) để đánh bóng chiếc ấm đang dùng cho thêm phần cổ kính. Thành thử, một bộ đồ trà kể cũng nhiêu khê, nhất là món nào cũng có nhiều hạng, giá cả cũng vô chừng. Một bộ đồ hoàn chỉnh khoảng vài trăm dollars. Nếu mọi thứ đều kén chọn, giá cả có thể lên đến bạc ngàn.



CÁCH CHỌN ẤM:



 Mua ấm chủ yếu là để pha trà. Ngày xưa, khi người khôn của khó thì có một cái ấm dùng mãn đời, chết đi để lại cho con cháu như đồ gia bảo. Ấm đất đem sang nước ta thường là loại nhỏ, đơn giản do một số thương nhân người Hoa chở thuyền sang bán.



Ngày nay, khi đi vào nghệ thuật chơi ấm, những tiêu chuẩn cũ ít ai dùng mà phải theo sách vở nghĩa là có lý thuyết hẳn hoi. Cứ theo các nhà chuyên môn nhiều kinh nghiệm, khi chọn ấm người mua cần biết một số kiến thức để khỏi lầm.



Nguyên liệu



Tự cổ chí kim, ấm trà được chế tạo bằng nhiều loại, từ kim khí như vàng, bạc, đồng, thiếc, sắt, thủy tinh, đá, sứ... trong đó đất nung là vật liệu được coi là có nhiều ưu điểm hơn những loại khác. Một trong những truyền kỳ là ấm đất càng dùng lâu càng quí và vì thế đồ cũ đắt hơn đồ mới.



Ấm đất nung thường gọi là ấm tử sa (紫砂) (tử là màu tím nâu). Tử sa là một loại đá được nghiền nát, sàng lọc, chế biến qua nhiều giai đoạn khác nhau trước khi đến tay người thợ. Loại đá này phân chất ra bao gồm những nguyên tố chính như thạch anh, đất sét, vân mẫu và quặng sắt.(3) Các chuyên gia đều cho rằng một trong những cái thú của người uống trà là việc dùng vải hay bàn chải đánh bóng chiếc ấm cũ, càng lúc càng lên nước như có phủ một lớp si. Do đó, việc chọn chất liệu làm ấm được coi là ưu tiên hàng đầu của người sành sỏi vì loại ấm không tốt dùng lâu tuy cũ đi nhưng màu xỉn không bóng bẩy.



Nói chung ấm cũ Nghi Hưng thứ thiệt hạt tương đối lớn, nặng tay và kỹ thuật thời đó còn chưa tinh vi tới mức”thưởng ngoạn”nên ít khi có ấm thật đẹp. Dù sao chăng nữa, thời đại và giá trị kinh tế là những yếu tố quyết định, không thể không quan tâm. Những ấm mới ngày nay, mỹ thuật hơn, đất mịn hơn, tinh xảo hơn, nhiều đẳng loại hơn nên thường phải nhiều lần sàng lọc trước khi chúng ta có được một bộ sưu tập ưng ý. Hiếm có ai sành sỏi ngay từ những ngày đầu và kinh nghiệm nào cũng có cái giá riêng của nó.



Tử sa (紫砂)



 Màu tử sa có nhiều cấp độ, từ đỏ thẫm chuyển sang màu nâu đến màu đen, tuy không đen nhánh như sừng nhưng nhìn kỹ có màu tím than và nếu chẳng may bị vỡ sẽ thấy cạnh sắc như đá. Tử sa là màu thông dụng nhất, dễ kiếm hơn cả nên sách vở thường đồng hoá ấm tử sa (zisha) với Nghi Hưng (yixing).



Ðoạn nê (緞泥)



Ðoạn nê là đất màu vàng, thường có lẫn những tạp chất li ti màu đen. Hiện nay, nhiều ấm màu vàng nhưng không phải là đoạn nê vì tinh khiết quá, màu tươi quá. Ðoạn nê thật thường không thuần sắc và cũng không mịn mặt một cách giả tạo. Ấm đoạn nê thường nhỏ, ít khi kiếm được loại to.



Chu nê (硃泥)



Chu nê theo nghĩa đen là đất màu đỏ mặc dù có người phân biệt ra một loại đất đỏ, màu tươi, độ dính cao mà người thợ khéo có thể nặn mỏng như vỏ trứng (egg- shell).



Ấm chu nê có đặc tính dùng lâu sẽ thẫm lại như một trái bồ quân chín. Nhiều người chuộng ấm chu nê vì dùng một thời gian thì thẫm dần, mỗi khi rót nước nóng vào lại đỏ au lên sinh động chẳng khác gì một con cá lia thia thấy bóng mình trong nước.



Có điều đất chu nê đã khai thác hết từ mấy chục năm nay, phần lớn ấm được gọi là chu nê không phải là đồ thật, ngoại trừ một số danh thủ còn giữ được một số ít để làm những ấm khá đắt tiền.



Ngoài ba loại màu chính trên đây, một số màu khác tương đối hiếm hơn, do thiên nhiên cũng có mà do pha chế cũng có, màu trắng, màu xanh dương, màu lục... với nhiều cấp độ cũng được dùng trong kỹ nghệ làm ấm nhưng không được ưa chuộng bằng.



Kỹ thuật



Việc chế tạo một chiếc ấm trải qua thời gian đã được thử thách và thí nghiệm nhiều kỹ thuật khác nhau, từ luyện nê đến xây lò, nung đất. Thời Ðại Bân (một danh thủ nặn ấm đời Minh mạt) còn giã nhỏ đồ sứ làm thành hồ để nặn ấm mới. Gần đây, một số công tác đã được nghiên cứu theo lối khoa học hiện đại nên càng ngày càng rút tỉa được những kinh nghiệm quí báu. Ðể cung ứng cho nhu cầu ngày càng cao, một số công ty đã cố gắng tái tạo một số ấm chén theo kiểu đồ sứ thời Tống, thời Nguyên. Tuy ấm đất chưa có những tiêu chuẩn nhất định về độc ẩm, song ẩm, quần ẩm... nhưng học hỏi kinh nghiệm, kế thừa kỹ thuật là điều cần thiết và càng ngày chúng ta càng thấy mới mẻ về hình dáng lẫn chất liệu.



Hình dáng



Hình dáng thay đổi theo từng thời kỳ, muôn hình vạn trạng. Hầu như trong lãnh vực tạo hình, ấm đất đã được chế tạo đa dạng hơn hẳn các loại đồ gia dụng khác.



Giai đoạn đầu tiên, ấm được nặn giả làm đồng cổ, hình đa giác, mũ nhà sư, cho chí hình dẹt, hình ống. Những đời sau cũng bắt chước chỉ thêm các hoa văn, chữ viết hay điêu khắc cho lạ kiểu. Ðến gần đây, hình thù lại càng đa dạng nhưng không thích hợp cho việc pha trà.



Về dung lượng, có những ấm nhỏ để trang trí nhưng cũng có những ấm thật to mà người thợ muốn nặn cho khác thường. Thông dụng nhất là các loại dùng để pha trà, khoảng từ 120 đến 400 cl dùng cho một đến bốn, năm người.



 Trang trí



 Trang trí và điêu khắc trên thân ấm, nắp ấm cũng là một cách để gửi gắm ước vọng và thể hiện trình độ của chủ nhân. Ngày xưa, nhiều Nho sĩ tự tay mình đề thơ hay vẽ hình trước khi cho vào lò nung. Ngày nay, phần lớn ấm được sản xuất với số lượng lớn, chỉ những ấm nặn tay hay đặc biệt mới có thêm điêu khắc hay chữ viết, nhìn vào thư pháp hay nội dung có thể đánh giá phần nào được trình độ và phong thái của chủ nhân.



 Công năng



 Thường thì chúng ta mua ấm chú trọng đến hình dáng, kiểu ấm, chất liệu nhưng lại ít để ý đến công dụng chính của chiếc ấm là để pha trà. Một chiếc ấm tốt thường dễ rót, nước chảy ra thông sướng, không bị tắc.



Ấm mới ngày nay thường chặn được lá trà khỏi chui vào vòi làm tắc ấm bằng nhiều lỗ nhỏ (6 hay 9 lỗ) thay vì một lỗ lớn hoặc tổ ong hình cầu đục vô số lỗ nhỏ. Nắp ấm cũng cần khít khao, vừa vặn kín hơi. Thông thường nhất, đổ nước vào khoảng 2/3 rồi rót ra, nếu bịt lỗ thông hơi trên nắp, nước ngưng ngay lại không chảy nữa là ấm kín.



 QUÁ TRÌNH NẶN THÀNH MỘT CÁI ẤM



 Nặn được một cái ấm thủy bình trơn (không hoa văn) tuy đơn giản nhưng phải qua 63 thao tác, chia làm 5 giai đoạn:



Thân ấm gồm 22 trình tự, bao gồm từ việc chia cục đất thành nhiều phần khác nhau để làm thân ấm, đáy ấm. Sau khi đập dẹt, đất làm thân được cuốn thành hình tròn. Ðường nối của thân ấm luôn luôn được đánh dấu để sau này gắn quai ấm.



Sau khi làm được thân ấm, người thợ sẽ nối với đáy và khoét thành miệng ấm.



Vòi ấm gồm 7 trình tự, quan trọng nhất là làm sao cho thành vòi đều, nước chảy ra không bị tắc và cân xứng với thân ấm.



Quai ấm gồm 6 trình tự, sao cho cân với vòi ấm.



Nắp ấm gồm 17 trình tự, là phần phức tạp nhất trong việc nặn ấm. Nắp ấm có nhiều phần, dày mỏng không đều, phải vừa với miệng ấm. Những ấm tốt hiện nay có nắp chìm rất mỏng và khít, đậy lên không xục xịch chút nào. Sau khi gắn núm trên nắp, người thợ đục lỗ thông hơi để nước có thể chảy ra khi rót.



Giai đoạn sau cùng quan trọng hơn cả là ráp tất cả những bộ phận thành cái ấm. Quai ấm, vòi ấm cân xứng và thích hợp, được trau chuốt lại cho mất vết tích đã nối. Thân ấm cũng được chà bóng cho trơn tru và miệng ấm không bị biến dạng trong quá trình nặn ấm.



Một khi mọi việc đều hoàn chỉnh, người thợ mới đóng dấu lên nắp ấm, đáy ấm, tay cầm... trước khi đưa vào lò nung. Các công việc trên chỉ bao gồm việc hoàn thành cái ấm, còn như vẽ hình hay viết chữ lại thuộc giai đoạn khác. Những chiếc ấm quí, công viết chữ, vẽ hình được tính ngang với việc làm ấm. Nhiều cơ xưởng có một đội chuyên làm việc này nhưng những thợ lành nghề có hoa tay thường tự mình đảm trách.



Nhiều chiếc ấm giá cao vọt lên vì có đến ba danh thủ cùng làm, người thợ nặn ấm, người khắc hoa văn và người đề chữ. Một chiếc ấm đẹp có thêm vài chữ Nho hay một hai câu thơ thường tạo ra một cảm xúc khó tả nhất là nếu chúng ta hiểu được rằng mỗi động tác đều không thể sửa lại được, chiếc ấm đã hoàn thành cũng giống như một thư pháp gia hạ tay xuống tờ giấy bản, nếu không vừa ý chỉ có cách xé bỏ chứ không có thể tẩy xoá.



 TÔI ẤM



 Tôi ấm là làm cho ấm mất đi mùi đất trước khi dùng. Ấm mới dù tốt cũng vẫn có những mạt đất li ti, nếu dùng pha trà ngay sẽ có mùi gạch, vừa khó chịu, vừa mất vệ sinh. Do đó, trước khi dùng chúng ta nên dùng giấy nhám đánh sơ qua bên trong ấm, dùng kim móc đi những vụn đất còn sót lại trong các khe nhỏ hay vòi ấm.



Khi ấm đã sạch rồi, nên rửa ấm nhiều lần, cho nước chảy để xem có gì không được như ý chăng? Nắp ấm đôi khi không khít lắm tuy hiện nay những ấm tốt thường được mài hay tiện lại cho thật vừa. Chúng ta cũng nên dùng nắp ấm xoay quanh miệng ấm một vài vòng để hai bên cọ xát với nhau cho thật tròn, không bị vướng hay hóc.



Ấm Nghi Hưng là loại không tráng men, có những khí khổng li ti (pores) nên uống trà một thời gian, cao trà đóng vào sẽ bít đi những kẽ hở và tạo nên một hương vị riêng. Vì thế ấm cũ thường kín hơn ấm mới và nhìn cao đóng quanh nắp ấm chúng ta có thể đoán chừng được ấm đã dùng nhiều hay ít.



Sau khi chuẩn bị, cho ấm vào một cái nồi, đổ bã trà hay trà cũ vào ninh lên chừng 2 tiếng đồng hồ, vừa để cho ấm sạch, vừa để ấm có dịp nở ra cho cao ngấm vào. Sau khi tôi ấm, rửa sạch rồi phơi cho khô trước khi dùng để pha trà. Thường ấm phải dùng vài ba lần mới biết được những ưu và khuyết điểm của nó. Nhiều ấm trông đẹp, đắt tiền nhưng khi dùng lại có những điều không vừa ý, nước chảy không đều, cầm trên cao rót xuống không chảy thành dòng mà tung toé, nhắc không cân, lệch tay, quai rộng hay chật quá...



Mỗi người chúng ta có vóc dáng riêng, tiêu chuẩn riêng nên ấm cũng như áo, vừa với người này mà chưa hẳn thích hợp cho người khác. Việc pha trà cũng cần thoải mái nên nếu như ấm có điều bất toàn, trà thủ sẽ không cảm thấy tự nhiên.



THẾ ÐỨC GAN GÀ...



Thứ nhất Thế Ðức gan gà,



Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần.



Nghi Hưng (tên cũ Dương Tiện) nằm ở phía tây Thái Hồ (ngã ba của các tỉnh Giang Tô, An Huy, Chiết Giang) là một khu vực chuyên sản xuất đồ bằng đất nung, nổi tiếng nhất là ấm trà. Vùng Nghi Hưng có những mỏ đá, được khai thác và qua một chu trình biến chế trở thành đất nặn ấm. Tùy loại đất, loại mỏ người ta có được những sản phẩm khác về chất, về màu. Do đó nói ấm Nghi Hưng là nói chung về ấm đất không tráng men (unglazed).



Như chúng tôi đã đề cập, đất nặn ấm bao gồm ba loại chính: chu nê (朱泥), đoạn nê (緞泥) và tử sa (紫砂). Hai màu tím nâu (tử sa) và đỏ (chu nê) thông dụng nhất. Ðoạn nê là loại đất màu vàng hơi ngả màu xanh lục.



Về màu gan gà, hiện nay có hai giải thích xem ra đều có lý. Một lối giải thích chính thức (theo nghĩa trong từ điển) cho rằng màu gan gà”tả màu vàng hoặc xám vàng, giống như màu gan của gà (thường nói về đất sét)”. Ðây là định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) (Hà Nội: Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, 1992) tr. 373. Ðịnh nghĩa này còn có thêm”đất gan gà, vách đá gan gà”làm thí dụ. Ðây hẳn là màu miếng gan gà đã luộc chín cắt ra bày lên đĩa.



Cũng theo cách giải thích này, Từ điển Việt Hán (giáo sư Ðinh Gia Khánh hiệu đính) (Hà Nội: Bộ Ðại học và Giáo dục Chuyên nghiệp, 1990) trang 414 định nghĩa”gan gà 1- 鷄肝 (kê can) 2- 黄色 (hoàng sắc)”với thí dụ”đất gan gà - 黄色土 (hoàng sắc thổ)”.



Một số từ điển tiếng Việt khác chúng tôi tra cứu lại không rõ, nói đúng ra là không định nghĩa gì cả. Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Ðức (Hà Nội: Trung Bắc Tân Văn, 1931) tr. 202 viết”Gan gà: Màu như màu gan gà: Ðất gan gà”. Ðại Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) do Trung Tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam (Bộ Giáo dục và Ðào tạo) (Hà Nội: Văn hoá - Thông tin, 1999) tr. 705 viết”gan gà: Màu của đất giống như màu gan của con gà: đất gan gà”.



Tuy nhiên, ngoài màu vàng ở trên, một lối giải thích khác không hẳn là vô lý. Màu gan gà là màu nâu sậm, ẩn màu tím của lá gan con gà còn tươi khi mới mổ. Màu này cũng chính là màu tía theo nguyên thủy chữ Hán trong”tử sa”. Nếu như thế, ấm gan gà là ấm tử sa màu nâu sậm là màu khá thông dụng cho các loại ấm đất, chỉ sau loại màu đỏ gạch. Cụ thể là trong số những ấm đất mà người ta tìm thấy trong các thuyền buôn bị đắm thì hầu như chỉ có hai loại ấm màu đỏ (chu sa) và ấm màu nâu (tử sa), không thấy ấm màu vàng (đoạn nê) là loại mà ngay ở Trung Hoa cũng ít thấy. Nếu xem tận mắt lá gan gà chưa luộc chín thì màu sắc quả rất tương đồng với những ấm tử sa loại tốt. Do đó ấm gan gà mà cổ nhân mua được chính là ấm tử sa màu nâu sậm, không phải ấm màu vàng. Ðây là một giả thiết được bằng hữu góp ý, người viết chỉ đưa ra cho rộng đường dư luận.



Thực ra”Thế Ðức gan gà”mà các cụ ta nhắc đến không phải là ấm số một trong các loại ấm Nghi Hưng. Dưới thời Minh Thanh (và cả sau này thời Dân Quốc), người Trung Hoa có một mạng lưới thương mại rất rộng, hầu như khắp nơi trên thế giới. Ðồ sứ, đồ đất nung là những món hàng được ưa chuộng. Riêng các quốc gia Ðông Nam Á, ấm đất được chở sang gồm nhiều hiệu khác nhau nhưng Thế Ðức Ðường (世德堂) là loại nổi tiếng nhất, kế đó là ấm nhỏ hình quả lê theo hai kiểu Lưu Bội, Mạnh Thần. Khi chọn ấm, phân biệt Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần là nhãn hiệu ở đáy ấm, thường là chữ viết hay con dấu. Thế Ðức Ðường là tên một hãng sản xuất, Lưu Bội và Mạnh Thần trái lại là tên của hai danh sư chuyên nặn ấm đời Minh. Về sau, một số kiểu ấm của hai vị này được hình danh, gắn liền với tên trở thành hai cái tên ấm -  ấm Lưu Bội, ấm Mạnh Thần. Khi ba cái tên Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần được gộp chung lại xem ra có điều bất ổn vì một đằng là thương hiệu, một đằng là kiểu ấm. Trong những ấm mới hiện nay, không thấy ấm giả mang dấu Thế Ðức (Ðường). Những loại Lưu Bội, Mạnh Thần mà các cụ nói đến là kiểu ấm chứ không phải do hai danh thủ Lưu Bội hay (Huệ) Mạnh Thần (đời Minh) hơn năm trăm năm trước nặn rồi chở thuyền sang bán ở bên ta.(4)



Nói chung, ba tên này là ba hiệu ấm thông dụng nhất nhập cảng vào nước ta hồi thế kỷ XVIII, XIX. Ngày xưa chẳng mấy ai đủ tiền để mà so sánh hơn kém nên hai câu:”Thứ nhất Thế Ðức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”được người nọ truyền cho người kia như một câu”thần chú”để khi mua khỏi bị lầm. Thời xưa, việc có được một chiếc ấm là đại sự, không phải như chúng ta hôm nay, muốn mua bao nhiêu cũng có.



Thực ra, ba hiệu này cũng có nhiều thành phẩm, tốt xấu tùy loại, tùy hàng, tùy đợt... việc khẳng định một cách võ đoán như trên chưa hẳn đã đúng. Có điều khi đã thành định kiến rồi thật khó thay đổi. Cho đến nay, hai loại Thế Ðức và Lưu Bội hầu như tuyệt chủng nhưng ấm Mạnh Thần thì có nhiều, không phải vì tên hiệu mà vì kiểu ấm được nhiều người biết đến.



Lưu Bội: không rõ năm sinh, năm mất. Một số chuyên gia đoán rằng ông sống vào thời Thanh sơ, cũng có người cho rằng ông thuộc đời Minh mạt hay sớm hơn nữa, đời Gia Tĩnh.



Lưu Bội nổi tiếng về các loại ấm chu nê nhỏ, hiện nay còn lại không nhiều. Dương tiện sa hồ đồ khảo (陽羨砂壺圖考) liệt kê 5 chiếc:



- Chiếc thứ nhất do Ðường Thiên Như sưu tầm được, thuộc loại chu nê nhỏ, dưới trôn ấm có dấu viết năm chữ”Dĩ Tri Cấp Cổ Công”(以知汲古功) và ký tên”Lưu Bội Chế”(留珮製), chữ chìm.



- Chiếc thứ hai do Phi Vân Lâu cất giữ, cũng là loại ấm chu nê nhỏ, dưới đáy có hai chữ”Thính Ðào”(聽濤) (nghe tiếng sóng vỗ), khắc bằng dao tre, trong nắp có ấn kiềm hai chữ”Nguyên Giang”theo lối triện, vành nắp có viết hai chữ”Lưu Bội”.



- Chiếc thứ ba do Bất Ðam Các cất giữ, dưới đáy có viết sáu chữ”Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hoà”nét tương tự như của Ðường Thiên Như.



- Một chiếc khác cũng do Bất Ðam Các sưu tầm được, có sáu chữ”Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hoà”theo lối thảo.



- Chiếc thứ năm do Trương Hồng giữ, dưới đáy có sáu chữ”Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hoà”, dưới nắp có dấu kiềm”Nguyên Giang”.(5)



Nếu đúng như thế, ấm do chính tay Lưu Bội nặn ngày nay không còn nhiều. Những ấm có đóng dấu Lưu Bội tuy cũ thật nhưng đều thuộc dạng ấm thương mại được sản xuất hàng loạt. Thỉnh thoảng trên internet cũng thấy một hai chiếc ấm Lưu Bội hay Mạnh Thần để bán và thường được mua với giá từ 100 đến 400 dollars, tuỳ loại, tuỳ kiểu, xem ra cũng không phải là đắt lắm, nếu có dư dật và kiên nhẫn một chút có thể mua được.



Về Mạnh Thần, theo chính những hàng chữ viết thì ông sống vào đời Minh Thiên Khải (1621- 1627) qua tới đời Sùng Trinh (1628- 1644). Ông thường nặn loại ấm nhỏ tròn, khắc chữ bằng dao tre, trong nắp có hai chữ”Vĩnh Lâm”bằng chữ triện(6). Ấm Mạnh Thần chế tạo đa số là ấm chu nê và tử sa, chỉ có rất ít ấm bằng đoạn nê. Các loại ấm cỡ trung và đại cũng hiếm.



Trong các ấm cổ, dường như ấm Mạnh Thần được người ta”nhái”nhiều hơn cả và cũng là loại ấm nhỏ thông dụng nhất. Tuy nhiên, ấm do chính tay ông làm không dễ kiếm và đều ở trong tay các nhà chuyên môn hay viện bảo tàng.



Các loại ấm thương mại Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần xuất hiện trong sách phần lớn là loại”thuỷ bình”(7), tay cầm, miệng ấm và vòi ấm ngang nhau (còn gọi là”tam sơn tề”). Ðặc tính này cũng trở thành một tiêu chuẩn để chọn ấm (bằng cách lật úp trên một mặt phẳng, hoặc thả vào nước xem có cân không). Ấm có ba điểm ngang nhau sẽ không bị tràn nước ra khỏi vòi khi rót đầy. Tuy nhiên, theo cách thức pha trà ngày nay, ấm luôn luôn được để trong một cái tô lớn (trà thuyền) nên việc nước trào ra hay không cũng không còn là vấn đề. Việc quai ấm phải ngang với miệng ấm cũng không còn là một trọng điểm vì thực ra quai ấm không liên quan đến mực nước mà để cho thuận tiện, quai ấm nhiều khi được chế tạo cao hơn miệng bình để khi rót không phải nâng lên, dễ cầm hơn có quai ngang với thân ấm.



Việc lật úp ấm lên mặt bàn cũng chỉ áp dụng được cho những loại ấm đơn giản, kiểu cổ. Ngày xưa ấm đem sang bán ở nước ta thường là loại thương mại, được chế tạo với số lượng lớn, ít khi được điểm xuyết bằng tay, cái tròn cái méo không đều nên phương thức giản dị để chọn một cái ấm đẹp và tốt khi đến hiệu buôn là cần thiết. Những cách thức mà nhà văn Nguyễn Tuân nhắc đến nên được hiểu và áp dụng trong khung cảnh xã hội Việt Nam cách đây 100 năm, thời đại mà dân trí thấp, nghèo nàn, buôn bán đều là tiểu thương, ngày nay những tiêu chuẩn đó không có giá trị bao nhiêu.



 Các dáng Ấm Tử Sa phổ biến



25/09/2014



Ấm Tử Sa là một loại trà cụ thân thuộc với người uống trà, là một thành phần không thể thiếu được trong bộ trà cụ của người sành trà chẳng thế mà các cụ nhà ta đã có câu:”Nhất nước – Nhì trà – Tam Pha – Tứ ấm”. Ở Trung Hoa đất tử sa đã được tìm thấy và được chế tạo thành những chiếc Ấm Tử Sa đầu tiên và khoảng hơn 1000 năm trước. Càng về sau Ấm Tử Sa ngày càng được những người yêu trà tin dùng do những đặc tính rất đặc biệt của đất tử sa mà chỉ vùng Nghi Hưng mới có.



Đó là đặc tính thẩm thấu hương trà,càng dùng lâu thì pha trà càng ngon nhất là nếu chỉ dùng một ấm pha duy nhất một loại trà , ngoài ra Ấm Tử Sa còn có khả năng giữ trà lâu bị mốc nếu quên không đổ trà trong ấm. Ấm Tử Sa còn có những đặc tính quan trọng khác nhưng là do các nghệ nhân làm ấm tạo nên như: dòng chảy tốt và mềm như lụa, nắp ấm khít không làm bay hương trà và nước trà không bị nhỏ ra khỏi miệng ấm, nhiều kiểu dáng phong phú phục vụ tốt cho nhiều sở thích thẩm mỹ khác nhau.



Trong bài viết này Trà Thuần Việt xin được chỉ mạn đàm về các hình dáng của ấm tử sa và những người đã sáng tạo ra những dáng ấm đó.



Ấm Tử Sa có vô vàn kiểu dáng khác nhau, và mỗi kiểu dáng khi được nghệ nhân khắc hoa văn,thơ phú lên thì biến thành những tác phẩm nghệ thuật thực sự (Ấm Tử Sa đắt tiền hơn các loại ấm đất khác có lẽ là do chúng ta mua một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là một chiếc ấm pha trà bình thường ).



Chúng tôi không có ý định thống kê tất cả các loại hình dáng của Ấm Tử Sa , Vì đến bản thân chúng tôi sau một thời gian dài dùng ấm,tiếp xúc với nhiều loại kiểu dáng khác nhau nhưng vẫn chưa thể nhớ hết được tên và kiểu dáng ấm vì sức sáng tạo của các nghệ nhân làm ấm là vô hạn. Cũng một phần là tên là tiếng Trung được phiên ấm ra Hán Việt khá là khó nhớ nhưng phần lớn là do quá nhiều dáng ấm. Có dáng ấm rất nổi tiếng và có những kiểu dáng ấm rất hiếm khi gặp …



Hôm nay chúng ta chỉ bàn đến các kiểu dáng ấm nổi tiếng và phổ dụng (cũng có những dáng ấm biến tấu từ những dáng ấm phổ biến nhưng vẫn được gọi chung một tên ):



1, Ấm xuyết cầu (Chuyết cầu)



Ấm tử sa xuyết cầu



Ấm tử sa xuyết cầu



Ấm xuyết cầu là loại ấm điển hình trong các loại ấm có hình tròn truyền thống,cũng là 1 trong những kiểu dáng đặc biệt ưu tú của ấm tử sa.



Tạo hình cơ bản là núm,nắp ấm và thân ấm là 3 hình tròn theo trình tự từ bé đến lớn mà hợp thành ấm xuyết cầu.Bụng ấm là hình tròn lớn,nắp ấm là hình tròn nhỏ hơn,tròn nhỏ nằm trongvòng tròn lớn,ven miệng và ven nắp xuyết cầu có đều có 1 viền đắp nổi. Viền trên nắp lớn dày và nổi hơn viền ven miệng ấm,trên lớn dưới nhỏ,khi đậy nắp sẽ hợp thành 2 viền, thường gọi là “thiên áp địa”hay “viền văn võ”hoặc “viền mẫu tử”.



Vào thời Dân quốc,ấm Xuyết cầu của nghệ nhân Trình Thọ Trân được xem là xuất sắc trong mẫu ấm xuyết cầu.



Tạo hình ấm tử sa xuyết cầu



Tạo hình ấm tử sa xuyết cầu



Tạo hình của ấm xuyết cầu,đúng theo nghĩa sáng tác của ấm,các vòng tròn đan chuyết với nhau,đặt tên theo đặc điểm kết cấu tạo hình nên gọi là “ấm chuyết cầu”có vẻ chính xác hơn.



Ấm xuyết cầu (Chuyết cầu ) của Trình Thọ Trân



Ấm xuyết cầu (Chuyết cầu ) của Trình Thọ Trân



Đây là mẫu ấm chuyết cầu. Nghệ nhân đời Thanh tên Trình Thọ Trân,lúc chế ấm nghệ nhân đã bước sang tuổi 80,và mẫu ấm này đạt giải khuyến khích tại cuộc triển lãm Ấm Tử Sa tại Panama.



Ấm Xuyết Cầu đất tử sa



Ấm Xuyết Cầu đất tử sa



2 , Ấm Văn Đán



Ấm Tử Sa văn đán



Ấm Tử Sa văn đán



Nguồn gốc tên Ấm Văn Đán



Ấm Văn Đán được sáng tác vào cuối đời Minh đầu đời Thanh,có hình dáng gần giống ấm”Tây Thi”và ấm”Quý Phi”.(hai kiểu ấm này được sáng tác sau này ,vào khoảng giữa đời Thanh,hình dáng lung linh,nguy nga thanh tú.) Còn ấm văn đán trọng vẻ cổ điển mộc mạc,đó là đặc điểm thẩm mĩ nghệ thuật tương đối được chú trọng lúc đương thời.



Văn Đán được giải theo nghĩa là: “văn”chỉ sự dịu dàng nho nhã,ngoại hình tư thái ung dung.”Đán”là chỉ nữ diễn viên trong hài kịch bấy giờ.



Ấm Văn đán được xem là danh ấm và có bài thơ tụng rằng:



“Hà tất Phượng Hoàng khuyếch ngự danh, Hoản nữ từ tiền lạc nhật trần, Tùng Trúc Mai dĩ khai tam kính.hoa lạc điểu đề thủy tự lưu.”



Cũng có sử ký ghi lại rằng rằng, Văn đán là tên một loại quả, tức là quả bưởi ngày nay,tức được mô phỏng theo sinh thái.thời bấy giờ. Ấm Tử Sa được mô phỏng theo sinh thái phải thể hiện được cái nữ tính thời cổ , phải dịu dàng,nho nhã ,mỹ lệ.



Hiện nay, ấm Văn đán,Tây Thi,quý phi biến hóa đa dạng, tùy theo phong cách của thợ gốm mà thành,cao thấp phì ốm, muôn màu muôn vẻ.khiến việc gọi tên. có khi cũng có sự nhầm lẫn, tuy vậy,vẫn còn giữ được hình thể nguyên thủy của ấm Văn Đán.



Ấm Tử Sa Văn Đán mới



Ấm Tử Sa Văn Đán mới



Văn nhân đời Thanh Ngô Mai Đỉnh khen ấm văn đán rằng: về mô phỏng hình tượng, nhã nhặn tựa vai mĩ nhân,cốt cách cao tựa Tây Tử (Tây Thi nhũ ),



Thực vậy ,ấm văn đán trong con mắt của các văn nhân thời xưa là thế, phong cách nhã nhặn dịu dàng tựa vai mĩ nhân,nhu nhược vô cốt, lại tựa đường cong của Tây Thi.phong mãn tuấn tiêu thiên thành.



Ấm Tử Sa dáng Văn Đán



Ấm Tử Sa dáng Văn Đán



3, Ấm Tây Thi



Ấm Tử Sa Tây Thi



Ấm Tử Sa Tây Thi



Nguồn gốc ấm “Tây Thi Quai Ngược ”



Ấm Tây Thi vốn có tên gọi là ấm Văn Đán. Ấm Văn Đán cách điệu cao nhã nên có thêm”Tây thi Nhũ.”Tức nói lên hình tượng ấm tựa như bầu ngực bầu bĩnh phong mãn của nàng Tây Thi. Đích thực là vậy,núm nắp tựa nhũ đầu, vòi ngắn xinh xinh, quai ngược (quai lớn dần từ trên xuống dưới), nắp ấm được cắt ngang từ thân ấm,đáy ấm bằng phẳng với nền,trung tâm đáy thu vào trong.



Ấm Tây Thi đất chu sa



Ấm Tây Thi đất chu sa



Người đời sau thấy tên ”Tây Thi Nhũ”hơi khiếm nhã, nên được sửa lại là “Tây Thi Quai Ngược”.



Người làm ấm tây thi quai ngược là nghệ nhân rất nổi tiếng Đời Thanh tên “Từ Hữu Tuyền”.



4, Ấm Châu Bàn



Ấm Tử Sa Châu Bàn



Ấm Tử Sa Châu Bàn



Nguồn gốc ấm”Châu Bàn”



Trần Mạn Sanh có sở thích đọc sách về đêm, mỗi lần cầm kiện cho đến đêm khuya mệt mỏi thì lại phẩm trà cho ấm lòng, đôi lúc nhắm mắt tịnh tư suy nghĩ:



“Thập niên hàn xướng vô nhân hiểu



Nhất cử thành danh thiên hả tri”



Mà trong sự cam khổ ấy chỉ có tự mình mới thấu hiểu được,huống hồ phận làm quan xử thế đôi lúc vì tự toàn mà tự miễn cưỡng làm khó mình.Suy tư bất miễn ảo não thất vọng dâng trào,bèn đứng dậy bước chậm vài bước,tình cờ thấy chiếc la bàn trên chiếc bàn nhỏ, tùy hứng tiện tay cầm chơi, thấy kim chỉ nam của la bàn quay thì ông cũng quay theo,nhưng sau cùng như một,chỉ theo một hướng.



Mạn Sanh cảm thán: tuy la bàn ngoại hình tròn nhưng kim kiên chỉ hướng,khúc trực hợp nhất đó cũng là đạo làm người. Nên Mạn Sanh lấy la bàn làm ý tưởng để vẽ ấm và đặt tên là “Châu bàn”. Ấm tròn nhưng chứa tính cương, ẩn ý thái cực,hữu hình mà vô tận,hào phóng vững vàng.



Cổ nghiêng miệng ấm bằng,nắp bằng khúc cạnh núm dẹp,trong cương có nhu, tiêu nhiên thoát tục. Ngụ ý rằng trong đối nhân xử thế, khoan dung độ lượng,năng khuất năng triển, tam tư mà hành sự,vuông tròn như một.



Ấm Tử Sa dáng Châu Bàn



Ấm Tử Sa dáng Châu Bàn



5, Ấm Thủy Bình



Ấm Thủy Bình đất Chu



Câu chuyện về ấm “Thủy Bình”



Vào giữa đời nhà Minh,Đại Minh rất thịnh hành về phẩm trà,nên các loại ấm nhỏ mới được sử dụng rộng rãi,vậy là ấm thủy bình ra đời nhưng cũng chỉ trong 1 trình độ kĩ thuật nhất định.Cũng vào lúc đó,tại Phúc Kiến Quảng Đông cũng rất thịnh hành”Công Phu Trà”, mỗi khi uống trà,bên trong ấm bỏ rất nhiều lá trà, chỉ dùng nước sôi để pha.Lá trà nở,vòi bị nghẹn,nước trà không chảy ra được.nên cần phải để ấm trong 1 cái tô lớn,dùng nước sôi tôi lên ấm,đến khi sắp đầy tô thì ấm trà nổi lềnh bềnh trên nước nóng.như thế nước trà mơí rót dc ra.Để được như vậy thì kĩ thuật làm ấm phải cực kì tinh xảo.nguyên liệu đất làm quai và vòi ấm có trọng lượng và kích thước tương ứng.



Ấm Tử Sa Thủy Bình



Ấm Tử Sa Thủy Bình



Ấm nỗi lênh đênh trên mặt nước mà không bị nghiêng ngã,đó là lí do tại sao người ta đặt tên ấm là Thủy Bình. Ấm Thủy Bình được xem là tiêu biểu nhất của ngày xưa phải nhắc đến ấm Thủy bình của Huệ Mạnh Thần.  Tuy nhiên hiện nay có nhiều ấm không nổi thăng bằng nhưng vẫn được gọi là ấm dáng thủy bình do có những đặc điểm về hình dáng của ấm thủy bình.



ấm tử sa dáng thủy bình



ấm tử sa thủy bình



Ấm thủy bình cao



6, Ấm Thạch Biều



Ấm Tử Sa Thạch Biều



Câu chuyện về ấm”Thạch Biều”



Ấm Thạch Biều xưa được gọi là Thạch Điều, chữ Điều trong biển từ vựng trung hoa được chú thích là dụng cụ có vòi ,có quai xách được treo để đun nước sôi.(còn người miền bắc bộ thường gọi là cái Siêu).Điều nguyên thủy là vật dụng kim loại biến thành vật dụng gốm.được thấy sớm nhất vào thời Bắc Tống,đại học sĩ Tô Thức (tức Tô Đông Pha) viết bài “Thí viện chiên tề “trong thơ có câu:



“Thả học công gia tác danh ẩm



Chuyên lư thạch điều hành tương tùy”.



Công gia: chỉ người làm quan



(Chuyên là: gạch và Lư là: cái lò )



Tô Thức đã sửa Điều chất liệu kim loại thành Điều chất liệu gốmn,nguyên do là có quan hệ mật thiết với trà. Thời trung niên Tô Đông Pha đang làm quan,ông từ quan về Nghi Hưng Thục Sơn dạy học, phát hiện ra nồi đất gốm tử sa của vùng đất này nấu nước pha trà rất ngon tốt hơn hẳn nồi đồng nồi sắt,vậy là Ông lấy nguyên liệu tử sa mô phỏng Điều kim loại(Siêu).thiết kế có vòi,có “đề lương”,tức quai xách ngang để dùng tay nắm để rót. Và Điều gốm này,người đời sau thường gọi là “ấm đề lương Tô Đông Pha”. Đó là ấm “Thạch điều”tử sa ra đời đầu tiên.



Ấm Thạch Điều được lưu truyền đời sau ,đến thời Trần Mạn Sanh và Dương Bành Niên thì đã có sự biến hóa rất lớn,có khuynh hướng văn nhân và nghệ thuật hóa nhiều hơn.



Đặc sắc về Ấm Thạch Điều của Trần Mạn Sanh là trên nhỏ dưới lớn,trọng tâm hướng xuống,vững vàng,vòi ống thẳng và ngắn,lực ra nước mạnh và suôn thuận,thân ấm có hình tựa Kim Tự Tháp.



Vậy Ấm Thạch Điều được sửa tên thành Thạch Biều là từ khi nào ? Đây phải nói đến thời kỳ của Đại sư Cố Cảnh Chu,Ông đã dẫn dụng một câu nói thời cổ xưa đó là:



“Nhược thủy tam thiên



Duy ẩm nhất biều”



Câu này là chỉ tình yêu nam nữ,xuất hiện trong chuyện “Hồng Lâu Mộng”



Nhược thủy: là chỉ tình cảm yêu thương bao la tựa sông tựa biển



Tam thiên: chỉ ngoài ấy có rất nhiều sự lựa chọn.



Duy ẩm nhất biều: nghĩa là chỉ chọn một và duy nhất



Cố cảnh chu là người đặc biệt yêu thích ấm Thạch Biều.ông đã dẫn dụ câu nói trên để thể hiện sự yêu thích ấy. Và từ “Biều”chữ cuối cùng của câu dẫn cũng dần dần được gọi quen thuộc sau này.nên nay ta thường gọi là ấm Thạch Biều



Ấm Thạch Điều Của Trần Mạn Sanh



Ấm Thạch Điều Của Trần Mạn Sanh



Ấm thạch Điều của Trần mạn sanh thiết kế.



Hầu hết các ấm của Tần Mạnh Sanh thiết kế đều do 2 anh em nghệ nhân chế tác, đó là Dương Bành Niên và Dương Phụng Niên.



Ấm Tử SaThạch Điều Của Trần Mạn Sanh



Ấm Tử Sa Thạch Điều khác của Trần Mạn Sanh



Kiểu dáng thạch điều khác của Trần Mạn sanh.



Ấm Thạch Biều của Dương Bành Niên



Ấm Thạch Biều của Dương Bành Niên



Một kiểu ấm thạch biều khác cũng là Dương Bành Niên chế tác, người khắc họa tên “Cù Ứng Thiệu”. Tên hiệu là “Tử Dã”.thuộc thế hệ điêu khắc họa ấm kế Trần Mạn Sanh và Thạch Mai (nghệ nhân khắc ấm khác ). Tên ấm được đặt theo tên hiệu của Cù Ứng Thiệu. Nay thường gọi là “Thạch Biều tử dã”



Ấm Thạc Biều tử dã của Cố Cảnh Chu



Ấm Thạch Biều Tử Dã của Đại sư Cố Cảnh Chu chế tác.



Kết cấu tạo hình của ấm Thạch Biều



Kết cấu tạo hình của thạch biều tử dã theo 3 tam giác



Ấm Tử Sa Thạc Biều đất Lam Chu



Ấm Thạch Biều Tử Dã (mới)



 



Ấm Thạch Biều Tử Dã (mới)



7 , Ấm Báo Xuân



Ấm Báo Xuân



Báo Xuân: vào thời cổ xưa,vào ngày lập xuân hay là trước một ngày lập xuân,nhiều người thường hóa trang thành hình dạng những viên quan xuân hoặc thần xuân, đi khắp phố phường và lớn tiếng hô hoán “xuân đến rồi, xuân đến rồi”.báo tin cho hương thân láng giềng biết rằng mùa xuân đã đến. Phong tục.Báo xuân còn một dụng ý khác là đón xuân và thần Câu Long về.(thần Câu Long: trong thời cổ trung Hoa.thần Câu Long hay còn gọi là thần Câu Mang,thần mộc,thần mùa xuân.vị thần mang sự xanh tươi và sức sống cho đại ngàn thiên nhiên).



Các công nghệ sư dựa vào phong tục cổ truyền này , thêm sức tưởng tượng và sự thiết kế cao siêu,các nghệ nhân xưa đã chế tác ra ấm Báo xuân.nắp, vòi và quai ấm báo xuân đều có hình dạng cành cây.thân ấm hình tròn,trên bầu đáy thon,càng làm cho ấm báo xuân thêm mỹ lệ. Đặc biệt là phần vòi ấm,dưới cong hướng lên,ngạo nghễ tựa cây Tùng,tượng trưng cho sức sống ngoan cường và tinh thần bất khuất bất phục.Đồng thời cũng đại biểu cho mùa xuân sắp đến và sự hồi sinh nảy nở của thiên nhiên.



Từ xưa đến nay,ấm Báo Xuân luôn được  các nhà sưu tầm yêu thích.nhất là các văn nhân mặc khách.Hai biến thể phổ biến nhất của Ấm Báo Xuân mà chúng ta hay gặp là Báo Xuân Mai và Báo Xuân Đào.



Ấm Báo Xuân Mai của Cố Cảnh Chu



Ấm Tử Sa dáng báo xuân độc ẩm



 



8, Ấm Ngư Hóa Long



Ấm Ngư Hóa Long



 



Ấm Ngư Hóa Long



Câu chuyện về Ấm “Ngư Hóa Long”



Ấm Ngư Hóa Long là loại ấm truyền thống điển hình,có ý “Ngư vượt long môn”.



Mỗi nghệ nhân chế ấm Ngư Hóa Long đều có 1 phong cách và cách nhìn riêng. Như Nghệ nhân”Đường Phụng Chỉ “chế ấm tiểu Ngư Hóa Long vào thời dân quốc thì núm nắp tạo hình quyển vân,thân ấm đắp gợn sóng nhẹ,đầu rồng vươn ra ngoài sóng,đuôi rồng cuốn vòng về phía sau tạo thành quai ấm. Quai ấm có vảy rồng được khắc tinh tế.



Còn”Thiệu Đại Hanh”,đại sư chế ấm đời Thanh thì đắp thân ấm gợn sóng theo từng lớp từng lớp. Nghiêng về tính lập thể mạnh,đầu rồng vươn ra trong sóng cuồn cuộn nhưng không có long chảo (chân rồng),núm nắp đắp hình sóng. Đầu rồng con ngắn và to được bọc trong nắp,có thể dịch chuyển ra vào.



Còn nghệ nhân”Hoàng Ngọc lân “cũng có phong cách riêng của mình,ông chế thân ấm gợn sóng,không mạnh về lập thể,nửa thân rồng vươn ra ngoài sóng,long chảo được đắp khắc hiện rõ.núm nắp thì có hình quyển vân (cuốn mây),đầu rồng con lộng trong nắp thì nhỏ hơn.



Ấm Ngư Hóa Long đất Lam Chu



Ấm Ngư Hóa long được các nghệ nhân nổi tiếng chế tác theo phong cách khác nhau. Đặc điểm mỗi người mỗi ý.nhưng đều cực kì công phu và tinh xảo,sức sống mạnh liệt,sinh khí cuồn cuộn.



9, Ấm mô phỏng các hình dáng tự nhiên của các loại trái cây và hoa



Ấm Hình Quả Bí



Ngoài các dáng ấm trên thì cũng có một dòng Ấm Tử Sa rất nổi tiếng là ấm mô phỏng theo hình dạng của các loại trái cây , hoa quả … như: quả bí , trái hồng , đài sen, xoài …



Ấm Tử sa hình quả bí đất lục sa



Ấm Tử sa hình quả bí đất lục sa của Tượng Dung



Nghệ nhân nổi tiếng nhất về dòng ấm này là Tượng Dung cùng thời và nổi tiếng không kém Cố Cảnh Chu. Hiện nay còn có Tưởng Nghệ Hoa là con gái nuôi của Tượng Dung cũng có các dáng ấm rất đẹp về đề tài này.



Ấm Tử Sa Sen Ếch



Ấm Tử Sa Trái Hồng



Ấm Tử Sa hình Quả Xoài



 10, Ấm Tử Sa dáng long đán



Ấm Tử Sa dáng Long Đán



Long đán được dịch nghĩa là: Trứng rồng , đúng như tên gọi thân ấm có hình dáng giống như quả trứng, ngoài ra đặc điểm nỗi bật khác là có phần vòi ngắn rót thẳng quai ấm ngược rất giống với ấm dáng tây thi. Đây là một trong những dáng ấm tử sa kinh điển được nhiều người chơi ấm yêu thích.



 



Về  tên gọi Ấm Long Đán khời nguồn: cách tạo hình ấm Long Đán dựa vào dáng hình quả trứng, trong thi kinh”Tì hưu xuất thế ”có ghi chép: Tì Hưu là thái tử của rồng  từ trong trứng rồng đập vỡ đi ra, con trong dân gian Tì Hưu còn có ý nghĩa phong thủy,”Nhà có Tì Hưu vạn sự đều tốt”là hàm ý trong đó, còn trong văn hóa đông phương thì rồng là cao nhất trong các hình ảnh về cát tường,dựa vào trứng rồng đặt tên gọi cho dáng ấm là cách gọi cho sự viên mãn và cát tường.



 11. Ấm Tần Quyền



ấm tử sa tần quyền



Tần Quyền ở đây có nghĩa ám chỉ nhà Tần với quyền lực và sức mạnh thống nhất trung hoa. Ấm có vòi ngắn, tổng thể toát lên vẻ mạnh mẽ ngắn gọn nhưng đơn giản rộng rãi. Sách vở không ghi lại chính xác ai là người đầu tiên làm ra dáng ấm tần quyền chỉ biết là từ cuối đời nhà Thanh có Mai Hữu Trúc cùng Vận Thành chế tạo nhưng trước đây quai ấm tròn đơn giản như vành tai sau này được biến tấu thành hình rồng cách điệu , và tạo thành dáng ấm Tần Quyền như ngày nay ta thấy.



12. Ấm Chuyết Chỉ



ấm tử sa chuyết chỉ



ấm chuyết chỉ



Hình dạng đặc thù của Ấm Tử Sa Chuyết Chỉ tạo tác đơn giản không cầu kỳ như có nhiều hình cầu và bán cầu xếp chồng lên nhau và cái tên chuyết chỉ có nghĩa là trùng trùng điệp điệp xếp chồng lên nhau. Trong cuốn tạp chí huyện Nghi Hưng có nhắc đến chiếc ấm tử sa đáng giá ngàn vàng đó chính là chiếc ấm chuyết chỉ này nhưng một phần là do người sáng tạo ra dáng ấm này là đại sư ở nghi hưng là Thiệu Đại Hanh.



13. Ấm Cà Đoạn



Ấm Tử Sa Cà Đoạn



Tên ấm phản ánh chính xác hình dáng ấm như quả cà tím chín trên cây. Chất đất để làm nên dáng ấm này chuẩn nhất là đất tử sa màu tím sẫm, khi đó sẽ thể hiện hết được vẻ đẹp tự nhiên và tính sinh động của ấm. Ngoài ra đặc điểm nổi trội nhất của dáng ấm này là dòng nước rót ra mịn và tĩnh rất đẹp.



14. Ấm Hư Biến



Ấm Hư Biến được sáng tạo từ cuối đời nhà Minh, có rất nhiều nghệ nhân nổi tiếng đã phỏng lại dáng ấm này trong lịch sử ấm tử sa và loại ấm hư biến làm bằng đất tử sa màu tím sậm là quý hiếm nhất. Về mặt chế tác ấm hư biến là dáng ấm tử sa khó chế tạo thủ công nhất,đầu tiên phải làm phần thân ấm trước rồi từ từ vỗ cho thành hình dạng dẹt, dẹt nhưng không được hỏng vì vậy cần một lực chính xác nếu không sẽ phải làm lại từ đầu. Ấm hư biến được coi là đỉnh cao của nghệ thuật làm ấm tử sa thủ công và là dáng ấm để các nghệ nhân thi thố trình độ làm ấm. Có người đã từng nói: “Làm ấm thấp đi một phân thì độ khó tăng lên một bậc ”.



15. Ấm Tiêu Anh



Ấm Tử Sa Tiêu Anh



Được sáng tạo từ cuối triều đại nhà Minh,toàn dáng ấm toát lên vẻ mạnh mẽ sắc nét và kiên quyết nên còn gọi là ấm anh hùng lãng tử như vẻ bề ngoài nồng nhiệt ở bên trong và đầy hào sảng.



16. Ấm Đức Trung



Đức Chung Là ấm kiểu chuông, ấm có hình dáng trang nghiêm ổn định tỉ lệ và cấu trúc cân đối, phong cách thoải mái đơn giản và mộc mạc. Ấm thể hiện kỹ năng chế tạo đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật sản xuất ấm tử sa cơ bản và truyền thống. Nghệ nhân nổi tiếng nhất làm dáng ấm Đức Trung là Thiệu Đại Hanh, ấm của ông đa phần là ấm trơn hình khí nặng nề, họa tiết cường điệu,kết cấu nghiêm túc và thường làm bằng chu sa nhuận sắc.



17. Ấm Phan Hồ



Ấm dáng phan hồ được làm từ triều đại nhà Thanh ở Quảng Đông, bắt nguồn từ nhà họ Phan làm nghề buôn muối cung cấp cho 2 tỉnh Quảng đông và Quảng tây do yêu thích trà nên họ đặt các nghệ nhân Nghi hưng làm ra dáng ấm độc quyền cho riêng họ và chỉ sử dụng trong gia đình. Họ Phan đặt cố định dáng ấm như vậy nên lạc khoản sẽ nằm ở mép ấm đáy là quai ấm không có lạc khoản và lạc khoản là: Dương Văn Hào Tự (Phan ). Do sự nổi tiếng của dòng họ Phan và dáng ấm của họ nên dân gian gọi dáng ấm này là Phan Hồ và ấm phan hồ thường là các ấm nhỏ có chất liệu chủ yếu là chu sa. Trong dáng ấm Phan Hồ được chia thành 3 dáng chính là: Cao Phan (dáng gần như trái lê ), Vĩ Phan (thân ấm dẹt gần như đi ngang ) và Trung Phan (Thân ấm cao ).



Ở một số nơi ấm Phan Hồ còn được dùng làm của hồi môn cho con gái đi lấy chồng với dụng ý sau này sẽ trở thành người vợ người mẹ mẫu mực như người trong dòng họ Phan và ngoài ra ý nghĩa sâu xa nhất là  giáo dục ý nghĩa của tình đoàn kết gia đình dòng họ.



18. Ấm Gà Gô Quai Xách



Ấm do đại sư Cố Cảnh Chu sáng tạo , ấm tạo hình cột cao chạc ba nhìn tổng thể như con chim đang bay với vòi là đầu.,thân ấm tròn và bằng phẳng. Cố Cảnh Chu kết hôm rất muộn với người vợ nhỏ hơn mình 11 tuổi là Hứa Nghĩa Bảo, sống với nhau được gần 20 năm thì vợ ông bị ung thư vòm họm không thể qua khỏi. Cố Cảnh Chu đau buồn nghe tiếng gà gô kêu não nề như tiếng than khóc nên mới sáng tạo ra dáng ấm này là vậy.



 19. Ấm Hoa Dĩnh



Ấm dáng Hoa Dĩnh được Cố Cảnh Chu phát triển từ dáng ấm tử sa Chuyết Cầu truyền thống. Ấm có quai tròn, nắp tròn, thân ấm tròn trên cơ sở ba vòng tròn xếp trồng lên nhau nhìn tổng thể như bông hoa đang nở vì vậy mới có tên là Hoa Dĩnh.



 20. Ấm Dung Thiên



Ấm dáng Dung Thiên lấy hình ảnh từ phật giáo là cái bụng của phật Di Lặc, tên dung thiên có nghĩa là: “Bụng to chứa được mọi việc trong thiện hạ”. Dáng ấm này do đại sư Lã Dao Thần sáng tạo, hình dáng khỏi thủy của ấm dẹt sau này được làm cao hơn, việc chế tạo ấm để cho tổng thể cân đối đòi hỏi tay nghề rất cao của người làm ấm.



Tổng thể dáng ấm có cổ ngắn,nắp ấm hình bán cầu, bụng ấm tròn lớn và đặc biệt là dòng nước xuất sắc, dáng ấm này sử dụng rất thuận tiện và thoải mái.



 21. Ấm Đại Bân Quai Xách



Đối với những người chơi ấm tử sa hiện nay những chiếc ấm có chiều cao 20,5 cm đường kính 9,4 cm thực sự là những chiếc ấm lớn không có công năng sử dụng trong thực tế nhưng ở thế kỷ thứ 17 tại Trung hoa đây vẫn là những chiếc ấm nhỏ. Nhưng chiếc ấm lớn  này đánh dấu một bước chuyển biến từ những chiếc ấm to sang nhỏ, từ ấm thô lậu sang tinh xảo và là chiếc ấm đặt nền móng cơ bản cho khuynh hướng chế tạo những ấm trà có tính thẩm mỹ cao sau này,đưa ấm tử sa vào đời sống sinh hoạt hàng ngày và trở thành một thú chơi mang tính văn hóa.



Tổng thể dáng ấm Đại Bân Quai Xách là thân ấm tròn phẳng, quai ấm cao tròn và dày,vòi ấm hình lục giác. Vòng tròn quai ấm úp lên vòng tròn vai ấm tạo thành hai vòng cung úp lên nhau cho ta cảm giác của sự cân bằng tinh tế,tổng thể toát lên vẻ mạnh mẽ liền mạch.



22. Ấm Ngõa Đương



Ấm dáng Ngõa Đương mô phỏng các cổ vật từ thời Hán trên thân ấm thường in nổi các văn tự cổ trông như một món đồ cổ có giá trị. Tổng thể dáng ấm đơn giản với thân hình bán cầu,cách chế tác cũng không phức tạp.



23. Ấm Hợp Hoan



Hợp Hoan ở đây có nghĩa là sum họp vui vẻ,tạo hình tổng thể của ấm như 2 cái chũm chọe úp vào nhau tạo nên thứ âm thanh vui vẻ ngày lễ hội. Ấm Hợp Hoan thường được làm bằng đất chu sa màu đỏ mang ý nghĩa tốt lành giàu có và hạnh phúc. Một chiếc ấm trà chứa đầy những niềm vui, hạnh phúc của những ngày lễ hội,những buổi đoàn viên còn gì có ý nghĩa hơn.



 24. Ấm Dương Đồng (Thống )



Ấm dáng Dương Đồng là một dáng ấm tử sa rất phổ biến và thực dụng, ấm có dạng tròn cao như cái thùng rất giống với dáng ấm tích thông dụng tại Việt Nam. Dáng ấm Dương Đồng được sáng tạo ra cuối đời nhà Thanh , với dáng ấm đơn giản,dễ dùng,rất thiết thực khi pha trà nên đã nhanh chóng được những người yêu thích trà sử dụng phổ biến và trở thành một trong những dáng ấm truyền thống kinh điển.



Các nghệ nhân như Quốc Lương, Vương Bảo Căn, Cố Cảnh Đan, Hà Đạo Hồng … và rất nhiều nghệ nhân đều có những sản phẩm nổi tiếng với dáng ấm này.



25. Ấm Tư Đình



Trong những ấm tử sa đất chu nê thì ấm do các nghệ nhân làm ấm: Huệ Mạnh Thần, Huệ Dật Công, Lu Tư Đình là những nghệ nhân làm ấm giỏi nhất thời Thanh. Ấm Tư Đình thời kỳ đầu có miệng ấm nhỏ, vòi cong nhỏ gọn. Ấm thời kỳ đầu thường khắc chữ tên tác giả bằng dao tre dọc theo viền nắp hoặc khắc ở đáy ấm, mãi sau này mới thay bằng triện đóng ở đáy ấm và vòi ấm thường là một lỗ không có lưới lọc.



Ấm Tư Đình tồn tại trong một thời gian khá ngắn nhưng được đánh giá cao hơn ấm Mạnh Thần do dáng ấm thanh lịch và tinh xảo hơn,đây là một trong những dáng ấm nổi tiếng nhất trong lịch sử tồn tại của ấm tử sa.



 26. Ấm Biển Phúc



Ấm bụng phẳng hoặc bụng trống, người Nhật rất yếu thích dáng ấm này bởi vì ấm bụng lớn,thành mỏng, miệng rộng rất dễ tháo trà rất thích hợp dùng để pha các loại lục trà của nhật. Ngoài ra ưu điểm nữa được yêu thích của dáng ấm này là dòng nước dài và tròn như một sợi dây, tổng thể ấm rất đối xứng và mạnh mẽ và cân bằng. Nếu nhìn từ trên xuống thì thấy núm, đường tròn của nắp,viền miệng và thân ấm như những đường gợn sóng đồng tâm rất đẹp. Đây thực sự là một dáng ấm kinh điển.



 27. Ấm Hán Ngõa



Ấm Hán Ngõa là một dáng ấm cực kỳ nổi tiếng và có rất nhiều nghệ nhân đã làm lại dáng ấm này. Trong số các nghệ nhân làm ấm hán ngõa thì ấm của Dương Bành Niên là nổi tiếng nhất. Tổng thể dáng ấm Hán Ngõa có hình trụ như một chiếc nồi,dáng ấm ngạo nghễ,vòi ấm ngắn cho dòng chảy thẳng,nắp ấm gần như phẳng,núm hình cung cong nhẹ,thân ấm thường được khắc họa tiết.



28. Ấm Hồ Lô



Ấm Hình Trái Bầu Hồ Lô là một trong các dáng ấm được người chơi ầm tử sa rất yêu thích và luôn luôn mong muốn sưu tầm. Trong đó Ấm Hồ Lô của Dương Bành Niên được đánh giá cao nhất. Vòi ấm Hồ Lô thường thẳng vuông góc với thân ấm và hơi chếch lên, quai ấm có hình nửa vòng tròn,nắp hình núm trái bầu. Tổng thể thân ấm được làm tròn hơi chiết eo rất thanh thoát.



29. Ấm Mỹ Nhân Kiên



Ấm Mỹ Nhân Kiên tạo hình như bờ vai của người thiếu nữ yêu kiều nhưng trang nghiêm,dáng vẻ thanh lịch,quý phái  rất mê hoặc. Tổng thể của ấm mền mại uyển chuyển điểm nhấn là phần tiếp giáp giữa nắp ấm và thân ấm không có gờ, khi vuốt từ nắp ấm xuống thân ấm phải cảm thấy sự liền mạch không bị gợn như được tạo thành từ một khối. Đây cũng là phần khó nhất trong việc chế tạo ấm mỹ nhân kiên toàn thủ công.



30. Ấm Trụ Sở (Chân Trụ Đá )



Ấm Trụ Sở do Mạn Sinh sáng tạo ra,hình dáng chắc chắn và hào sảng. Lấy hình ảnh của chân trụ đá của hệ thống cột gỗ chống đỡ trong ngôi nhà, được dùng để gia tăng mức độ chịu lực của cột nhà,cách ly cột gỗ với mặt đất để gỗ không bị mối mọt và ẩm thấp làm cho bị mục.Theo thời gian ngoài công dụng chống đỡ thì chân trụ đá còn được trang trí hoa văn rất tinh tế tô điểm cho ngôi nhà. Lấy hình ảnh chân trụ đá để làm ấm có ý nghĩa tượng trưng cho sự chắc chắn,vững vàng và bền vững với thời gian.



 31. Ấm Nhất Lạp Châu



Ấm Nhất Lạp Châu tạo hình tròn đơn giản,cổ kính, trang nghiêm nhưng không nặng nề, thanh lịch nhưng trông rất đáng yêu. Ấm hình tròn nhìn như một trái dưa hấu tròn, ấm hình tròn khiến ta khi nhìn vào thấy tâm hồn thư thái,loại bỏ ưu phiền. Tổng thể Ấm Nhất Lạp Châu gồm hình tròn của thân ấm như một viên ngọc trai lớn và hình tròn của núm nắp ấm như một viên ngọc trai nhỏ,phần nắp ấm và thân ấm như liền thành một khối tạo cho cảm giác 2 viên ngọc đi với nhau như tình mẫu tử không thể tách rời. Về cách chế tạo nắp ấm và thân ấm còn khó hơn dáng ấm Mỹ Nhân Kiên một bậc.



 32. Ấm Mạnh Thần (Lê Hình Hồ )



Trên sách “Gốm Sứ Cổ Trung Quốc” có viết rằng ấm có dáng quả lê đầu tiên được làm ra là từ thời đại nhà Nguyên và rất phổ biến trong triều đại nhà Minh, ấm được đặt tên là Lê Hình Hồ là vì có hình dạng như một quả lê. Huệ Mạnh Thần là người đầu tiên làm ra dáng ấm quả lê nên dáng ấm này nên những dáng ấm phỏng theo sau này đều được gọi là Ấm Mạnh Thần. Ấm Mạnh Thần thường là các dáng ấm nhỏ,chế tác tinh xảo có triện Mạnh Thần ở đáy. Ấm Thường được dùng rất phổ biến trong Công Phu Trà Trung quốc.



33. Ấm Thang Bà



Ấm Thang Bà được phỏng dáng theo các ấm dùng để đun nước sôi bằng đồng  hay gốm dùng trong gia đình hàng ngày thường được đặt trên bếp lò để giữ nhiệt. Chính vì vậy ấm thang bà có hình dáng rất đơn giản và thực dụng với quan điểm là đơn giản chính là nét đẹp thẩm mỹ cao nhất. Thân ấm tròn hơi dẹt,miệng cao rất cổ kính,vòi ấm thanh thoát dòng nước tốt.



34. Ấm Đường Vũ



Hình dáng của ấm xuất phát từ triều đại nhà Đường,tay cầm do  Lục Vũ sáng tạo ra đó là lý do của cái tên Đường Vũ. Ấm Đường Vũ được làm ra với phù hợp với yêu cầu uống trà của người xưa,thời đó người ta dùng chủ yếu là các loại trà bánh và trà nén. Trà được nghiền nhỏ cho vào trong ấm rồi đun sôi trên bếp than (gọi là nấu trà ) vì vậy nên ấm có chiếc tay dài làm quai để dễ dàng cầm ấm trên bếp mà không bị bỏng, rất thực dụng. Tay ấm nhìn như cánh chim rất đẹp, tổng thể ấm đơn giản mà cổ kính như lịch sử của nó vậy.



 35. Ấm Tuyến Viên



Đúng như tên gọi điểm đặc trưng nhất của Ấm Tuyến Viên là đường tròn nổi giữa thân ấm và chạy vòng quanh thân ấm. Ấm Tuyến Viên có rất nhiều biến thể nhưng đặc điểm chung và chuẩn dáng nhất vẫn là đường tròn giữa thân ấm như phần nối giữa 2 hình bán cầu hợp lại. Tổng thể thân ấm là các hình cầu dẹt từ thân,nắp,vòi và quai ấm, nhìn trông rất liền mạch và thống nhất. Vòi ấm cho dòng chảy tốt, ấm thường được chế tạo bằng đất tử sa màu tím.



36. Ấm Tập Ngọc



Ấm lấy phong cách của các đồ dùng bằng ngọc làm chủ đề chế tác. Thân âm dạng hình trụ bằng nhìn giống như ép 2 miếng ngọc lại với nhau với đường nối là đường gân giữa thâm ấm. Đáy ấm là một hình trụ ấm nhỏ hơn co lại vuông góc với thân ấm. Tông thể thân ấm khí cốt thần tình, vòi ấm và quai ấm tạo dáng vuông bo tròn góc có thêm các hoa văn như cổ ngọc. Nắp ấm có núm cung tròn tạo tác hình cá có khuyên tròn như chiếc vòng ngọc bích. Toàn thân ấm toát lên cách trang trí hài hòa,phong cách thanh lịch,có vẻ đẹp quyến rũ vượt thời gian.



 



Ấm Tập Ngọc là do Cao Hải Đường,Châu Quế Trân sáng tạo ra vào năm 1978, ấm thể hiện vẻ đẹp pha trộn giữa văn hóa truyền thống với các hoa văn cổ ngọc với nét đẹp thẩm mỹ hiện đại. Ấm Tập Ngọc được nhà nước Trung Hoa chọn làm lễ phẩm ngoại giao.



 37. Ấm Tuyền Lô (Lư )



Ấm Tuyền Lô (hay Lư ) được làm phỏng dáng như chiếc lư đốt trầm bằng đồng, với phong cách đơn giản,hơi nặng nề,với những đường cong mạnh mẽ. Tổng thể ấm vuông tròn nghĩa là trong vuông có tròn.Từ xa xưa rất nhiều nghệ nhân đã là lại dáng ấm Tuyền Lô nhưng đây vẫn là một dáng ấm rất khó làm,khó nung nên ngoài thị trường không lưu hành phổ biến. Hiện nay dáng ấm Tuyền lô có nhiều biến thể nhưng vẫn giữ dáng đỉnh truyền thống phần núm nắp ấm được biến tấu thành đường cong nhẹ như hình cây cầu, phần quai và vòi cũng được làm theo dáng vuông vuốt cong nhẹ các góc nhìn mạnh mẽ hơn.



38. Ấm Tăng Mao



Một chiếc ấm mang nặng phong cách phật giáo,phần miệng ấm cao nhìn như chiếc mũ của nhà sư trong các buổi đại lễ phật giáo. Ấm Tăng Mao ban đầu chủ yếu được sử dụng trong giới tu hành và được làm bằng chất liệu sứ Cảnh Đức Trấn sau đó mới được làm bằng chất liệu tử sa. Ấm tăng mao xuất hiện sớm nhất vào thời nhà thanh sau này không chỉ lưu hành trong giới tu hành mà cả trong dân chúng cũng được yêu thích.



Tổng thể ấm Tăng Mao có viền miệng cao phía 2 bên và phía sau, phần vòi ấm ngắn và như mỏ của con thú mở vịt, lỗ vòi hếch hẳn lên, phần cổ ấm chiết eo,bụng ấm lớn ở giữa và thu lại phần dưới chân. Hình thái ấm nặng nề và đây thường là những ấm có dung tích lớn từ 300cc trở lên.



 39. Ấm Lăng Hình Tứ Phương



Lăng Hình Tứ Phương là một dáng ấm khó,khó ở chỗ là tổng thể ấm như hình kim tự tháp, bốn điểm gồm: đỉnh nắp ấm,nắp ấm,vai ấm và đáy ấm phải nằm trên một đường thẳng tượng trưng cho thời gian luân chuyển vô tận.



Một chiếc ấm trà dáng Lăng Hình Tứ Phương tốt phải có các đường thẳng tắp ở bốn góc, ấm không bị bẹt hay vẹo, vòi ấm thẳng dòng nước mạnh mẽ,quai ấm cứng cáp,vuông vắn dễ cầm. Tổng thể thân ấm phải toát ra được sự hài hòa và chính xác tuyệt đối của các đường nét góc cạnh. Người ta thường ra dùng 2 mặt bên của ấm để khắc hoa văn,đây là một dáng ấm đẹp,được đánh giá cao đáng đưa vào bộ sưa tập của người chơi ấm tử sa.



40. Ấm Tứ Phương



 Dáng ấm Tứ Phương là một trong những dáng ấm có nhiều biến thể,nhưng phiên bản chuẩn nhất thì như 2 hình kim tự tháp úp phần dưới lại với nhau tạo thành đường sống thẳng ở giữa. tất cả các mặt của kim tự tháp đều rất phẳng tạo đất sáng tác cho rất nhiều thư pháp gia và họa sĩ.Tổng thể ấm có đến 8 mặt chia trên dưới và bốn phía. Thân ấm là vậy nhưng vòi,núm,quai ấm lại có hình cung vừa mạnh mẽ vừa uyển chuyển.



41. Ấm Á Minh Tứ Phương



Ấm Á Minh Tứ Phương có tổng thể cứng cáp, mạnh mẽ, dáng vuông thân ấm thẳng đứng. Hai bên mặt ấm là khoảng không gian rất rộng rãi cho các nghệ sĩ đề thơ vẽ tranh. Có thể nói đây là một chiếc ấm vuông toàn bộ từ vòi,thân,miệng,nắp,núm … đến cả dòng chảy cũng cực kỳ cứng nhắc như dáng ấm. Dáng ấm vuông là một trong những dáng ấm khó làm nhất thể hiện tay nghề công phu của người nghệ nhân vì thế những ấm dáng vuông chuẩn có giá rất cao kể cả là ấm mới.



42. Ấm Tuyết Hoa



Ấm Long Đầu Nhất Khổn Trúc là do thợ làm gốm nổi tiếng Thiệu Đại Đình sáng tạo ra, dựa trên câu truyện dân gian rất cảm động về Long Vương.Chuyện kể rằng Đông Hải Long Vương đi tuần trà,qua một vùng mà dân cư rất nghèo nhưng rất lương thiện, nên sai con trai đem đến cho người dân vùng đó cái gì đó vừa có thể ăn được mà vừa có thể dùng được. Con trai của Long Vương bèn đem một loại thực vật sống ở vùng gần biển gọi là trúc đem bó lại đem đến cho người dân. Đó là lời giải thích về dáng ấm bó trúc có quai và vòi cách điệu đầu rồng,trên nắp ấm còn có hình âm dương,càn khôn thể hiện mỗi quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.



44. Ấm Long Đới



Nguyên nhân của tên gọi Long Đới là do hình chiếc đai như chiếc đai quanh bụng của nhà vua. Vòng đai ôm từ trên miệng ấm qua thân ấm xuống tận đáy ấm,tổng thể bụng hình cầu có vòng đai ôm bên ngoài,vòi ấm dài và cong,lỗ vòi lật ngược. Nắp hình mái vòm,núm bầu dục rất hòa hợp với tổng thể, tạo nên chiếc ấm ngắn gọn,hào phóng,đơn giản và thanh lịch.



Tổng Kết



 



 Bài viết được viết theo ý kiến riêng của Trà Thuần Việt và sưu tầm trên internet nên có thể có nhiều thiếu sót ,nhưng chúng tôi hy vọng bài viết này sẽ giúp được các bạn yêu trà mới tập chơi Ấm Tử Sa có thêm tư liệu tham khảo. Chúng tôi rất  vui mừng nếu bạn đọc nào đóng góp thêm tài liệu hoặc ý kiến đóng góp về đề tài Ấm Tử Sa để xây dựng nên một nguồn tư liệu tham khảo đầy đủ hơn về ấm tử sa dành cho người Việt.



Phoco.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một Năm: Ngoại giao của Trump - Jonathan Freedland 20.11.2017
Cách tự sát của một siêu cường - RICHARD Javad Heydarian 20.11.2017
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
xem thêm »