tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20220163
Tiểu thuyết
15.05.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Tin điện của huyện ủy Phú Lộc đánh tới đã làm cho ban lãnh đạo kháng chiến tỉnh bối rối: Tàu chiến Pháp đã đem quân đổ bộ lên cửa Tư Hiền, cách thành phố Huế khoảng 60 cây số. Tin cho biết rằng du kích làng Phù Ngãi đã chiến đấu anh dũng nhưng quân Pháp cũng đã lập được một đầu cầu trên đất liền, chúng đang vừa đánh rộng ra vừa củng cố cái đầu cầu ấy. Trong cuộc họp của ban lãnh đạo kháng chiến, người ta bàn cãi sôi nổi: quân Pháp ở ngay tại Huế thì vây đã lâu mà chưa tiêu diệt nổi, nay chúng lại đổ bộ lên thì làm thế nào? Lân là người phát biểu nhiều ý kiến nhất trong hội nghị. Theo anh thì phải dùng kế nghi binh: ở Huế chỉ để lại chừng một, hai đại đội, còn thì bố trí toàn tự vệ chiến đấu cho bắn nhiều hơn trước và thỉnh thoảng đốt cả pháo nữa cho đỡ phí đạn.



Anh trình bày tiếp kế hoạch của anh:



- Theo tôi, ta phải tổ chức những chiến tuyến theo làn sóng, nghĩa là làm những công sự dài ngăn các đường giao thông chính để chặn bước tiến của quân giặc thành nhiều đợt. - Anh chỉ lên bản đồ toàn tỉnh - Cụ thể là ngay tại vùng cửa Tư Hiền. Nơi hiện nay quân địch mới chiếm được mấy làng, ta điều tiểu đoàn 1, có dân quân du kích huyện Phú Lộc trợ lực, dàn thành một trận tuyến chặn không cho địch phát triển cái đầu cầu của chúng. Có thể chúng ta tổ chức đào công sự. Hầm nổi theo hình vòng cung như thế này - Anh lấy ngón tay vạch một vạch lên bản đồ. - Trong khi ấy tiểu đoàn 2 chuẩn bị lập một chiến tuyến đại khái ở vùng này - Anh lại vạch một vạch nữa. - Ớ đây là gần địa phận huyện Hương Thuỷ, cầu Điền Vân quân du kích huyện này trợ lực. Còn ở đây, ven con sông này, không biết con sông gì đây nhỉ? - Anh vừa hỏi vừa dò tên con sông trên bản đồ. - À con sông Nguyệt Biều, ta lại lập chiến tuyến thứ ba bên này sông. Chiến tuyến này do tiểu đoàn 3 phụ trách cùng với dân quân du kích huyện Phú Lộc. Cố nhiên không phải ta dàn chiến tuyến ra hàng mấy chục cây số. Ta chỉ cần chặn ngang những đường giao thông chính đường số 1 và hai con đưòng liên tỉnh này mà địch bắt buộc phải đi qua. Cuối cùng là chiến tuyến bên này sông Hương, chính là nơi chúng ta hiện đang họp đây. Chiến tuyến này sẽ do các đại đội hiện đang vây Tây trong thành phố phụ trách cùng với tự vệ chiến đấu của thành phô. Nhiệm vụ của các đại đội này là ngăn không cho hai cánh quân của chúng gặp nhau và nếu không được thế thì rút sang bên này sông bố trí. Tôi tin rằng cầu Tràng Tiền và cầu Bạch Hổ đã bị đổ, địch có qua được sông Hương cũng còn mệt.



Thân hỏi:





  • Thế nhưng đến lúc ấy thế nào? Các huyện ở phía nam sẽ rơi và tay địch à? Các tiểu đoàn của ta sẽ chiến đấu như thế nào? Phải nhớ rằng đạn đại bác 75 thì đã hết rồi đấy.


    Lân hùng hồn nói tiếp:




  •  Không, chúng ta sẽ không chiến đấu bằng đại bác. Đây chủ yếu là chiến đấu theo hình thức chiến lũy. Quân đội sẽ đào hầm và hào giao thông, cách vài thước lại bố trí một tay súng, cách vài trăm thước lại có một ụ súng máy. Nếu quân địch tiến lên, tất chúng phải đi trên mặt đất không có chỗ ẩn nấp, quân ta ở trong công sự sẽ bắn chúng dễ hơn chúng bắn ta. Nếu quân chúng đông quá, bắn mạnh quá nhiều thì chiến tuyến thứ nhất sẽ để cho chúng một đường đi, chiến tuyến thứ hai sẽ tiếp chiến. - Anh nhấn mạnh với vẻ mặt quan trọng - Chiến tuyến theo làn sóng là như thế. Quân địch cứ phải tiến lên, quân ta thì được đứng yên mà đợi địch, ta sẽ khoẻ khoắn hơn địch. Trong khi chiến tuyến thứ 2 đánh địch trực diện, thì tiểu đoàn sẽ vòng lại đánh sau lưng địch cứ như thế thì tới chiến tuyến thứ 3, quân địch đã bị tiêu hao nhiều, chúng có tiến đến bên kia bờ sông Hương thì đã yếu đi nhiều rồi và chúng ta bên này sông lúc ấy cũng đủ sức cầm cự, rồi sau đó tiến lên giải phóng ba huyện phía nam.


    Lân trình bày kế hoạch tác chiến của anh một cách lưu loát, trôi chảy, như là một tay sành chiến lược chiến thuật và đã có nghiên cứu kỹ từ lâu. Mọi người nhìn anh với vẻ thán phục. Người ta cảm thấy rằng kỳ đại hội Đảng mấy tháng trước bầu anh làm phó bí thư quả là không sai, trong tỉnh ủy mà có người sáng suốt, thông thạo như thế thật là một cái may cho phong trào. Thân cũng thấy kế hoạch của Lân thật là hấp dẫn và đầy hy vọng. Anh như trông thấy trước triển vọng thắng lợi của cuộc kháng chiến tỉnh nhà. Nếu được như thế, mà anh chắc là sẽ được như thế, thì tỉnh Thừa Thiên do anh là người phụ trách chính, sẽ ghi được một kỳ công: Chặn được quân địch, tiêu hao được quân địch, bắt chúng phải dừng lại rồi tiến lên đuổi được chúng chạy ra biển, một việc mà các tỉnh ở Nam Bộ trước đây đã không làm nổi. Nhưng anh vẫn quay sang hỏi các ủy viên quân sự, các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn Cao Vân:




  •  Các đồng chí thấy thế nào. Kế hoạch tác chiến vạch ra như thế đã được chưa? Các đồng chí còn có kế hoạch nào khác không?


    Lương, trung đoàn trưởng và Hải, chính trị viên trung đoàn đều tán thành kế hoạch của Lân. Họ nói: “Không theo kế hoạch ấy thì còn theo kế hoạch nào nữa. Không ngờ thư sinh Văn Lân lại là một nhà quân sự có tài”.


    Câu khen ngợi đã làm Lân sung sướng và tự phụ. Anh đề nghị giải tán ngay cuộc họp sau khi đã chia mỗi người phụ trách lập một chiến tuyến. Anh nói:




  •  Kế hoạch đã có, vấn đề là phải đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện. Tôi đề nghị mỗi một chúng ta phải tận mắt nhìn thấy những công sự mà bộ đội và du kích đào ra nông sâu như thế nào, có tiện chiến đấu hay không.Ta nên điện ngay cho các huyện ủy Phú Lộc, Phú Vang, Hương Thủy, trong khi bộ đội chưa điều tới nơi thì điều dân quân du kích đi đào hầm ngay tối nay.





*



Long cũng bị điều đi đào công sự ở bên này sông Hương. Tự vệ đã vào tất cả các nhà kêu gọi mọi người cùng ra đào công sự. Hanh được miễn vì sức yếu. Lần đầu tiên cầm cái cuốc bổ những nhát mạnh xuống nền đất rắn, Long thấy chối tay. Xưa nay anh vẫn cậy có sức khoẻ, nhưng anh không ngờ việc cuốc đất lại vất vả đến thế. Hơn nữa, không may cho anh, cái cán cuốc lại hơi xù xì. Cuốc được chừng hai chục nhát anh dừng lại. Thấy rát tay, anh giơ lên xem, định nhổ vào đấy một tí nước bọt xoa xoa như có lần đã thấy người ta làm bỗng ngạc nhiên nhận thấy: Ở gan bàn tay anh, mấy bọng nước đã mọc lên. Long cố cuốc thêm vài nhát nữa rồi bỗng cảm thấy đau quá, không chịu nổi, anh dừng lại, tì tay lên cán cuốc nghỉ, trong khi chung quanh mọi ngưòi vẫn hì hục cuốc. Long chợt nhớ lại mọi việc từ khi nổ ra kháng chiến đến nay. Sau cái đêm tên Tòng tới gặp Hanh, một số giáo sư trường Khải Định đã tới khuyên Hanh nên tản cư. Họ cho biết rằng một số giáo sư đã tản cư ra tận Vinh, một số khác lui về mấy huyện Hương Trà hay Quảng Điền, Phong Điền ở phía bắc thành phố . Nhưng Hanh đều từ chối, Hanh nói: “Tôi không đi đâu cả. Xin cảm ơn các ông!”. Nhưng thật ra thì Hanh đã có chủ ý. Hanh cho rằng hoặc là quân Pháp tôn trọng hiệp định, họ chỉ dọa thôi cũng đủ làm cho Việt Minh sợ mà phải điều đình nhượng bộ rồi. Hoặc họ có đánh đi nữa thì cũng chỉ một hai ngày là quét sạch Việt Minh, như quân Nhật đã đánh quân Pháp trong một đêm vậy. Chừng đó thì đâu lại hoàn đấy, chạy đi đâu cho mệt. Vả lại Hanh tin rằng quân Pháp bắn đâu thì bắn chứ  đối với Hanh là một nhà giáo, không phải là người của Việt Minh, nếu không nói là người nổi tiếng chống Việt Minh thì quân Pháp họ bắn vào nhà Hanh làm gì. Như vậy thì việc gì Hanh phải đi đâu. Chính vì thế mà Hanh đã mắng vợ là “hoảng hốt một cách dại dột” khi Phương rụt rè bàn với ông là nên theo người ta ra Vinh, ở đấy có chú Thắng, chắc là yên ổn hơn ở đây sợ Việt Minh người ta cho mình không chịu tản cư là có ý gì chăng. “Cậu đã bị người ta để ý rồi, bây giờ nên theo họ tản cư đi là phải”. Hanh gắt: “Không, mặc chú Thắng ở ngoài ấy. Tôi không thể bỏ cái nhà của bố mẹ tôi để lại mà đi đâu cả. Tôi không phải là Việt gian, mặc ai muốn theo dõi tôi thì cứ theo dõi”. Thế rồi để tỏ ra rằng mình không thèm quan tâm tới bất cứ một việc gì xảy ra chung quanh, Hanh làm bộ ung dung ngồi giở chồng sách cũ ra đọc, không quên bảo vợ pha cho một ấm trà thật đặc. Nhưng Long thì không thể bình chân như vại theo kiểu ấy được. Anh biết rằng chung quanh anh, người ta đang rầm rộ chuẩn bị. Đến đêm, anh nghe rõ những tiếng chân của tự vệ đi tuần. Ngay xế cửa nhà cậu Định chừng vài thước, một ụ chướng ngại to tướng đã mọc lên, nghẽn cả lối đi và Long không còn dùng được chiếc xe đạp của anh vào việc gì nữa. Không có việc gì làm Long đi tha thẩn quanh nhà, cảm thấy tù túng, bứt rứt, nghẹt thở. Anh cảm thấy việc làm của mọi ngươi chung quanh là có phần đúng, bởi vì họ đang chuẩn bị đánh Pháp để cứu nước. Anh không thể cho rằng đánh Pháp là việc riêng của Việt Minh được nữa. Không, rõ ràng là không phải. Long nghe phong thanh các bạn học cũ của anh kẻ thì đã tản cư, nhưng một số khá đông đã vào các đội cứu thương, tự vệ, liên lạc, tuyên truyền. Anh cảm thấy trong những giờ phút sôi nổi như thế mà mình vẫn ngồi không thì cũng đáng ngượng thật. Nhưng làm thế nào được, cậu Hanh của anh đã bảo như thế, anh không có can đảm chống lại ý kiến của Hanh. Thậm chí anh cũng không dám hỏi Hanh về ý kiến của ông đối với thời cuộc, để hiểu xem rồi kháng chiến sẽ như thế nào, Việt Minh liệu có thắng nổi không, Pháp có quay lại không. Chính anh, anh cũng không dám nghĩ một cách triệt để về những câu hỏi ấy. Trong những ngày ấy, anh càng nhớ Vân da diết. Anh còn nhớ như in cái ngày hôm ấy, anh đã mấy lượt đi bộ tới trước cổng đồn Màng Cá để hy vọng gặp mặt Vân. Anh đi như người mất hồn, anh đứng thần người ra trước cổng đồn, chờ đợi. Mắt chăm chăm ngó vào những người qua lại, chỉ sợ nhỡ lúc Vân đi ra mà anh không kịp ngó thấy. Nhưng một lần, hai lần rồi lại ba lần vẫn không thấy Vân đâu cả. Buổi chiều hôm ấy, anh lại tới đồn Mang Cá. Lần này, lúc ra đi, anh nhất định sẽ xin vào trong đồn để gặp Vân. Anh tự nhủ: Người ta xin vào gặp ngưòi nhà cả đấy thôi. Mình xin vào gặp vợ chưa cưới thì có gì mà không được. Nghĩ thế, nhưng đến khi tới trước cổng đồn Mang Cá, anh lại ngần ngừ không dám vào. Anh đang đứng vơ vẩn với những ý nghĩ ngập ngừng thì một cảnh tượng bỗng đập vào mắt anh. Một bà mẹ đã gặp con ở trong trại lính ra, bà mẹ hình như ở nông thôn lên, vai bà đeo một chiếc bị lác, thòi ra vài mảnh quần áo nâu cũ. Bà cụ hình như đợi ở đây đã lâu lắm và cũng như Long đã tuyệt vọng nhiều phen. Nhưng cuối cùng, bà cũng gặp được con ở trong đồn ra. Bà chạy lại níu lấy: “Bớ Thạc ơi! Sao con bỏ đi mà không cho nhà biết lấy một tí nào. Con không thương mẹ hở con ơi! Khổ thân con tròi ơi!”.



Bà mẹ cứ níu lấy vạt áo sau lưng anh bộ đội mà kêu khóc tru tréo, làm mặt anh bộ đội trẻ tuổi bỗng đỏ nhừ. Anh nhìn chung quanh chừng như có vẻ ngượng rồi nói: “Thì mẹ hãy bỏ con ra đã nào”.





  •  Không, tao không bỏ. Tao bỏ để mày chạy đi ấy à. Được, mày đi bộ đội thì được, mẹ nào có cấm, nhưng sao lại cứ lẳng lặng mà đi không nói một tiếng cho mẹ biết.




  •  Con sợ mẹ không cho.




  •  Mà mày đã đến tuổi đâu mà đi...




  •  Khẽ chứ mẹ ạ, mẹ cứ để con đi. Bây giờ người ta ai cũng đi bộ đội cả, mẹ tính con ở nhà sao được.




  •  Nhưng mà tao ở nhà một thân một mình rồi làm ăn thế nào. Ý tao là muốn cưới vợ cho mày đi đã rồi mày muốn đi đâu thì đi, tao ở nhà với con dâu là được.




  •  Kìa, mẹ vừa bảo con chưa đủ tuổi đi bộ đội kia mà, sao lại cưới vợ được? Vả lại, đang lúc như thế này, lo chuyện vợ con ngưòi ta cười cho ấy chứ. Thôi, mẹ đi vào trong này với con.


    Vừa nói anh bộ đội vừa dìu mẹ đi khuất dần vào trong ngôi nhà dành để bộ đội tiếp người nhà đến thăm. Riêng Long vẫn còn đứng im ở đấy. Nhưng câu chuyện giữa hai mẹ con người lính trẻ làm Long suy nghĩ. Thế đấy, người ta lo chuyện đi bộ đội, ngưòi ta chẳng quyến luyến gì gia đình. Mình thì chẳng tham gia gì hết. Anh chợt nảy ra ý nghi ngờ cái chính kiến của Hanh, ông cậu mà xưa nay anh vẫn khâm phục và không mảy may nghi ngò về lòng yêu nước của ông ta. Mải suy nghĩ anh quên khuấy cả mục đích anh tới đây là để làm gì. Một hồi kèn bỗng vang lên và cánh cổng doanh trại bỗng thấy từ từ đóng.


    Long vịn cánh cổng đã đóng, kèn đã thổi, chắc người ta không cho vào nữa. Thật ra, anh không có can đảm đi tìm người yêu trong cái khung cảnh tấp nập của một doanh trại bộ đội sắp đến giờ chiến đấu. Và thế là từ khi ở Hà Nội vào Huế lại cho đến nay, đã gần hai tuần trôi qua mà anh cũng chưa hề được gặp Vân. Mới đó mà đã xa nhau hơn một năm. Vô tình Long nhớ lại cái hôm chia tay bi thảm của họ. Chắc Vân có thể vẫn còn giận mình. Nhớ tới đấy, anh lại nghĩ đến Thiện. Thiện bây giờ ở đâu? Anh nhìn lên bức trường thành cao vút của đồn Mang Cá. Phải, Thiện nói đi bộ đội, biết đâu lại không có trong này. Nhưng nếu Vân lại cũng ở trong này? Long không dám nghĩ thêm nữa. Nhưng từ trong đáy lòng, một mối nghi hoặc vẫn dâng lên, dâng lên mãi và anh không sao nén được. Mình không có ở đấy, còn Thiện thì gặp Vân luôn. Thiện lại đi bộ đội, hợp ý Vân lắm còn mình thì chưa tham gia gì cả. Thiện yêu Vân. Vân cũng không phải là không có cảm tình với Thiện. Từ tình bạn, cứ gần nhau luôn, cùng chung một chí hướng thì nó có thể thành tình... yêu lắm chứ. Với những ý nghĩ nặng trĩu ấy, Long bước từng bước loạng choạng về ngôi nhà của cậu Hanh mà anh bắt đầu thấy không có cảm tình nhiều như trước nữa.





*



Thế rồi đến cái đêm 19 tháng 12 kinh khủng ấy, cái đêm mà tiếng còi báo động cứ như đâm nhói vào gan ruột mọi ngươi. Trong nhà Hanh, Phương là người kinh hoảng thức dậy trước tiên. Phương hoảng hốt lay Hanh: “Cậu, cậu ơi, súng nổ to lắm, đánh nhau thật rồi. Làm thế nào bây giờ. Khổ quá, trời ơi, đã bảo cậu mãi mà cậu vẫn không chịu đi, bây giờ thì đi đâu được!”. Hanh chấp chới mở mắt ra và khi nghe thủng câu chuyện đã gắt: “Thôi mợ im đi, việc gì mà hoảng lên thế. Cứ ở đấy, không đi đâu cả. Người Pháp họ bắn nhau với Việt Minh, họ bắn vào các đồn trại của nhau, việc gì đến mình. Bật đèn lên xem nào”. Đèn điện loé sáng lên chừng được nửa phút thì bỗng một tiếng nổ vang trời và đèn vụt tắt. Phương lại tru tréo: “Chết, tắt điện rồi, thế này thì sống làm sao”.



Hanh lại gắt gỏng: “Đốt nến lên”. Long sờ soạng đi tìm nến. Hanh nói cứng: “Thắp lên một tí nghe ngóng qua xem tình hình ra sao rồi chúng ta lại tắt đi, cứ việc ngủ yên. Mợ không được làm kinh động, việc gì đã có tôi. Tôi đã bảo rằng chúng ta ở đây yên ổn hơn ở đâu hết”...



Nhưng Hanh chưa nói dứt câu thì một viên đạn đại bác do phía quân Pháp bắn sang bỗng rơi đâu gần đấy. Mọi người thấy sàn nhà dưới chân mình rung lên. Cũng lúc ấy, ánh chớp loè của một viên đạn pháo sáng chiếu ánh sáng chói lọi qua cửa sổ vào trong buồng, gây nên một cảm giác sợ hãi là sắp có một viên đạn chui lọt qua cánh cửa sổ ấy mà vào đến tận trong buồng này. Tiếp theo, lại một viên đạn đại bác nữa, lần này nghe như còn gần hơn cả viên trước, nghe như có tiếng cành cây bàng ngay trước cổng nhà gãy răng rắc. Không ai bảo ai, mọi người cùng nằm rạp xuống. Hanh cúi vội vào nấp dưới cái sập gụ và gọi vợ : “Mợ nó vào đây. Thảng hoặc mái nhà có bị đạn bắn phải đổ xuống thì cái sập cũng che được cho ngươi. Long, anh tắt ngay ngọn nến, có lẽ nó thấy sáng nó bắn vào cũng nên”. Vô tình, Hanh đã dùng chữ nó mà không nói chữ người Pháp như trước nữa.





  •  Thế mà cậu cứ bảo nó không bắn vào nhà dân.




  •  Thôi, biết rồi, khổ lắm. Mợ lại còn vặn tôi nữa.


    Trong ngôi nhà vắng lặng, tối om, ba con người nằm dưới gầm cái sập gụ, phập phồng, lo lắng, tim đập từng hồi, lắng nghe tiếng đạn như sợ có viên nào bỗng nhiên bay tới kết liễu đời mình.


    Bỗng nghe dưới nhà có tiếng gọi:




  • Bà giáo có nhà không? Các anh tự vệ đã chỉ lối cho nhà cháu đi tản cư đây. Ông bà có đi thì thu xếp mà đi gấp. Đi theo đường phía sau chợ Đông Ba rồi qua cầu Gia Hội mà đi về các huyện.


    Phương thầm thì với chồng:




  •  Tiếng ai như tiếng bà bán xôi chè vợ ông phó mộc vẫn ở nhờ cái ga ra nhà bác Thí.




  •  Mợ ra một tí mà hỏi cho rõ xem đi đứng thế nào.




  •  Tôi sợ lắm.




  •  Thế thì Long vậy. Anh chịu khó ra hỏi bà ta một tí.


    Long thu hết can đảm bò ra khỏi sập. Anh chạy mau xuống cầu thang, chân vấp một cái rất đau vào một vật gì rắn lắm, nhưng anh cũng không biết đau nữa. Lúc trở lên, anh đã quen hơn với bóng tối và cũng thấy đỡ sợ. Anh nói:




  •  Nhà bà ấy đã thu xếp gần xong, đang sắp đi. Bà ấy bảo tự vệ chiến đấu giục mọi ngưòi đi gấp vì ở lại có thể có tai nạn bất ngờ. Mấy viên đạn vừa rồi nổ cách đây cũng xa, có đến hơn trăm thước. Cậu mợ cứ ra mà thu xếp, không sợ. Ngoài đưòng phố, tự vệ ngưòi ta vẫn đi lại họ đến từng nhà một để báo cho dân biết mà tản cư.




  •  Ta đi đâu bây giờ hả cậu?




  •  Còn đi đâu nữa. Về làng. Đấy là yên ổn nhất. Nhà chú Ba Trương cấy rẽ của nhà ta mấy mẫu, nhà chú ấy cũng rộng, ta tới ở nhờ tạm mấy ngày cũng được.




  •  Mang những thứ gì đi bây giờ hả cậu?




  •  Thôi mang tạm ít áo quần chăn màn thôi. Khổ quá, có bếp Hải thì nó lại vào tự vệ chiến đấu rồi. Bây giờ tìm đâu ra để nó gánh đồ đạc cho mình.


    Long nói:


    - Với lại anh ấy là tự vệ, mình lấy tự vệ đi người ta cũng chả cho.


    Mỗi người lễ mễ vác một bọc gồm chăn màn, quần áo, sau khi đã phải tiếc rẻ để lại mấy chồng sách cổ quý giá, ba người vừa kịp bước theo chân bà bán xôi chè đi ra khỏi thành phố.


    Về tản cư ở làng Nong, nơi Hanh ôm mộng lập đồn điền, cái gia đình của giáo sư Hanh đã phải làm quen dần với cảnh sống không đèn điện, không máy nước, quen dần với nước ao, với những con đưòng lầy lội, bẩn thỉu. Và cũng như mọi ngưòi, họ đã nghe những tin đồn phấn khởi về việc ta vây địch chặt trong thành phố , tin đồn ta đã giết hàng trăm địch, tin đồn quân Pháp phải chặt thân cây đu đủ mà ăn thay bánh mỳ, tin đồn ta sắp đánh trận rơm ớt có thể hun chết tất cả bọn Pháp như một bầy chuột. Chính trong những ngày đó, Long đã hỏi Hanh: “Cậu bảo đánh nhau chẳng qua vài ngày là ngưòi Pháp sẽ quét sạch Việt Minh, sao nay thấy có vẻ như quân Pháp bị vây hẳn mà không làm gì được”.


    Chính Hanh cũng không biết trả lời câu hỏi ấy như thế nào. Nhưng Hanh chưa chịu bỏ ý kiến của mình. Ông chông chế: “À, trong thành phố chỉ có một dúm quân Pháp thì họ làm gì được. Có phải lực lượng của họ chỉ có như thế đâu. Phải nhìn toàn cuộc mới biết được, ở đây Việt Minh họ bịt hết tin tức, chúng ta cứ như người ngồi đáy giếng chẳng biết cái gì”.


    Lẻ tẻ đã có ngưòi quay lại thành phố Huế. Ở làng Nong được gần nửa tháng, thấy tình hình đánh nhau cầm cự đã có vẻ không có những biến động gì lớn, Hanh cũng chủ trương trở về Huế. Hanh nói: “Ở đây lắm cái không tiện. Nhà cửa, đồ đạc, sách vở mình cứ để ở Huế mãi, tôi không thể yên tâm được. Giá có gửi được cho ai trước khi đi thì đã đi một nhẽ. Tôi vẫn tin rằng quân Pháp không bắn vào khu nhà dân ở làm gì. Đêm hôm đầu tiên, có thể họ bắn hơi loạn xạ tí thôi”.


    Thế là Long lại về thành phố Huế. Nhưng không hiểu sao, Long vẫn chưa tham gia được vào việc gì cả, và cũng không gặp được Vân hay Thiện. Cho tới hôm nay, có tin Tây đã đổ bộ ở cửa Tư Hiền, có tiếng đại bác từ xa ở phía nam thành phố vọng lại, Long mới bị điều đi đào công sự.


                                                                                                                             `





VI



 



Đại đội của Thiện được lệnh đi đào công sự dọc bên bờ sông Nguyệt Biểu. Đây là chiến tuyến thứ 2, theo như chiến thuật lập phòng tuyến theo làn sóng của tỉnh. Thiện đang cùng Thạc, Quý, Ngọ hăng hái bổ những nhát cuốc cuối cùng và đang lo tu bổ cho hầm cá nhân của mình thêm trơn tru, thêm đẹp, thì có liên lạc viên tới báo cáo có đồng chí Lân phó bí thư tỉnh ủy tới kiểm tra việc lập phòng tuyến. Thiện nói với ba chiến binh ở gần anh: “Cũng may, thế là đại đội mình làm xong cả rồi”. Một lát sau, bỗng thấy một người mặc quần áo ka ki màu nâu nhạt, chân đi đôi ghệt cứng nhắc cùng đi vói Hùng Minh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2. Thiện biết ngay đấy là đồng chí mà mình đang đợi. Anh nhảy vội khỏi hầm cá nhân, đứng nghiêm, giơ tay lên chào: “Báo cáo các đồng chí, đại đội 3 lập công sự ở đây ạ”.



Hùng Minh mỉm cười, giới thiệu với Lân:



- Đồng chí Thiện, đại đội trưởng đại đội 3. Đỗ tú tài triết học rồi cơ đấy. Chính là con đồng chí Hải là đảng viên ở Liên hiệp công đoàn Huế và về sau công tác ở nhà máy điện.



Lân giơ tay thân mật bắt tay Thiện:





  •  Đồng chí khỏe chứ. Tôi là Lân, trong ban lãnh đạo kháng chiến tỉnh. Các đồng chí làm việc có vất vả không. Các đồng chí đã hiểu rõ ý nghĩa việc lập phòng tuyến rồi đấy chứ.




  •  Báo cáo đồng chí, rõ!


    Lân nói:




  • Việc lập công sự rất quan trọng. Đặc biệt chiến tuyến thứ 2 này chặn ngang đưòng số 1 là đường mà không những bộ binh địch mà cả xe tăng, thiết giáp và đội cơ giới của địch sẽ phải đi qua nên rất quan trọng. Có thể nói giữ vững chiến tuyến này là việc quyết định cả thắng bại. Các đồng chí phải giữ vững phòng tuyến này như lũy thép thành đồng. Bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được rời trận địa, cho đến khi có lệnh mới. Được như vậy chúng ta sẽ chắc chắn thắng địch. - Vừa nói Lân vừa bước tới xem các hố cá nhân vừa đào xong. Anh hỏi - Các đồng chí đào xong chưa thế này?




  •  Báo cáo đồng chí, vừa đào xong. Thừa thì giờ, anh em đang gọt giũa thêm cho đẹp và để tiện cho chỗ đặt súng.




  •  Xong rồi à? Chết, thế này thì nông quá đồng chí ạ. Tôi tưởng các đồng chí phải đào đủ sâu để có thể đứng bắn mà vẫn kín người chứ?


    Thiện hơi bối rối nhìn Hùng Minh rồi lại nhìn Thạc, Quý, Ngọ, ba chiến sĩ mới vừa cùng anh tấm tắc khen chỗ đào đúng quy cách. Thiện chưa kịp nói gì thì Thả đã nói:




  •  Báo cáo đồng chí, đào sâu thì đứng bắn dễ nhưng lên xuống khó, những lúc gấp không xoay trở kịp. Đào nông và dài thế này thì quỳ bắn cũng được, nằm bắn cũng được, nếu muốn chạy lui cũng dễ.




  •  Không được đâu, các đồng chí ơi. Chúng ta phải có tinh thần quyết bám lấy công sự này. Chưa chi đã tính chuyện chạy lui, thế là tinh thần chiến bại. Mang tinh thần ấy mà đánh nhau với địch thì hoàn toàn không được. Anh thấy thế nào, anh Hùng Minh?


    Chính Hùng Minh cũng không hiểu rõ đào như thế nào là đúng. Anh gật đầu bừa: “Vâng chính thế*’. Rồi Hùng Minh ra lệnh: “Đồng chí Thiện, đồng chí bảo toàn đại đội đào công sự sâu hơn nữa cho đúng quy cách”.


    Lân nói tiếp lời:




  •  Và điều quan trọng hơn nữa là phải quán triệt chủ trương lập chiến tuyến theo làn sóng của tỉnh. Có như vậy mới có tinh thần quyết giữ vững phòng tuyến và quyết thắng.


    Lân và Hùng Minh đi rồi, Thiện lại cùng anh em hì hục đào. Họ cũng không biết rõ tại sao phải đào sâu cho gần lút đầu người như lòi Lân dặn, nhưng họ hoàn toàn tin ở chủ trương của tỉnh và họ đào rất hăng hái, chẳng mấy chốc, toàn bộ công sự đã đào xong. Sau khi đã bố trí người canh gác cẩn thận trên suốt dọc chiến tuyến, các cán bộ và chiến sĩ tiểu đoàn 2, vui sướng vì đã làm tròn nhiệm vụ, chui vào các nhà dân ở rải rác gần bên chiến tuyến, ngủ một giấc ngon lành, trong bụng tin tưởng với công sự kiên cố của mình thì địch dù hung hăng đến mấy cũng không đi lọt.


    *


    Tò mờ sáng hôm sau, những loạt đại bác nổ vang làm toàn tiểu đoàn tỉnh giấc. Họ kéo ùa cả ra công sự, và nhanh như chớp người nào người nấy đã nhảy xuống đứng trong hầm cá nhân của mình. Tiếng súng trường lên đạn lách cách. Những khẩu đội súng máy chạy đi chạy lại rộn rịp, vác những thùng đạn đầy ắp. Mắt mọi người căng ra nhìn vào đám sương mù dày đặc bao phủ cả cánh đồng trước mặt, chờ đợi. Nhưng một việc bất ngờ xảy ra, từ trong đám sương mù một lớp người đông đảo chạy ùa về phía họ, hỗn độn, hoảng hốt, tơi tả. Có vài chiến sĩ tì sẵn súng trường lên vai, sẵn sàng nhả đạn. Nhưng một người tinh mắt bỗng kêu to: “Không phải địch, đồng bào ta”. Mọi ngưòi dừng cả lại, tinh thần căng thẳng, nghe ngóng. Rồi việc xảy ra nhanh như chớp nhoáng làm cả tiểu đoàn không còn biết xử trí ra sao nữa; Chạy ùa tới chiến tuyến của họ không phải chỉ là đồng bào mà cả bộ đội, du kích, dân quân, người nào người nấy mặt không còn hột máu, thở không ra hơi. Chẳng mấy chốc, cả đoàn người đông hàng nghìn ấy như ụp cả lên tiểu đoàn 2, hòa với tiểu đoàn 2 thành một khối người loạn xạ, ồn ào, hỗn độn. Các tiểu đội trưởng của tiểu đoàn 2 cũng không còn nắm được tiểu đội của mình nữa. Khắp nơi trên công sự, người ta hỏi nhau:




  •  Chạy đi đâu thế, cái gì mà chạy thế?




  •  Im đã nào, địch ở phía nào?




  •  Ối, sao lại đạp cả lên vai tôi thế này.




  •  Có bỏ cho tôi chạy không. Địch ở sau lưng, ở cả trước mặt, còn hỏi cái gì nữa.




  •  Chết, đồng bào ơi, đứng túm lại thế này, không cho chúng tôi chiến đấu nữa à?




  •  Chiến đấu cái gì. Địch nó vòng ngay sau lưng kia rồi kìa. Chạy đi.


    Tiểu đoàn trưởng Hùng Minh hoảng hốt hạ lệnh cho ba bốn chiến sĩ bắt giữ một hai bộ đội vừa chạy tới:




  •  Các anh ở đơn vị nào?




  •  Báo cáo anh, chúng em thuộc tiểu đoàn 1 của anh Khai.




  •  Ở chiến tuyến 1 à?




  •  Vâng




  •  Các anh có nhiệm vụ chặn địch rồi vòng ra đánh sau lưng địch cơ mà.




  •  Báo cáo anh, nó bắn đại bác 105 ly tung cả người lên khỏi công sự.




  •  Báo cáo anh, địch nó đi đàng nào không biết mà chúng nó vòng sau lưng tiểu đoàn chúng em trước.




  • Chúng nó không đi đường số 1?




  •  Báo cáo anh, có ạ. Nhưng cũng có đơn vị của chúng nó không đi theo đường cái...


    Oàng một tiêng, một phát đạn đại bác rơi, rồi không còn ai trông thấy gì ở chỗ tiểu đoàn trưởng Hùng Minh vừa đứng nói chuyện với mấy chiến sĩ của tiểu đoàn 1, chỉ còn là một hố đất vung lên tung toé. Không ai bảo ai, cả hàng nghìn con người bỗng nằm rạp xuống. Oàng, oàng, oàng những phát đạn đại bác liên tiếp nổ theo. Đất rung chuyển. Nhưng tảng đất to bằng những viên gạch một bắn tung ra, loạn xạ. Những người nằm dưới đất bị giật tung lên như đất ở dưới người họ đánh tung họ lên. Khiếp đảm, người ta lại càng nằm ép xuống, không dám ngẩng đầu lên nhìn, cả tiểu đoàn 2, mất tiểu đoàn trưởng và bị chìm ngập trong dòng người chạy giặc hỗn loạn không còn khả năng chiến đấu nữa. Sau loạt đại bác kinh khủng ấy, họ bỗng nghe trên đầu họ những tiêng chít, viu, tắc bụp của đạn súng máy bắn như mưa. Biết là bộ binh địch đã tiến tói, một vài tiểu đội của tiểu đoàn 2 còn tỉnh táo vội bố trí đội chiến đấu. Họ bắn bừa vào cánh đồng sương mù mênh mông trước mặt. Nhưng bỗng tất cả đều nghe sau lưng họ tiếng súng nổ ran. Một vài người ngoái lại bỗng kêu lên: “Nó đốt nhà ở ngay làng Nhạc Lỗi rồi”. Nhạc Lỗi là một làng ỏ ngay sau lưng về phía bắc dãy công sự của chiến tuyến thứ 2. Không ai bảo ai mà mọi ngươi cùng nháo nhác, nỗi lo sợ càng tăng thêm không biết ngươi nào trong đám đông bỗng kêu to: “Ta bị vây rồi. Chạy đi thôi”.


    Thiện hô đã rát cổ mà không thể nào cản nổi đại đội của anh cùng bỏ chạy với đám đông người hỗn độn ấy. Rồi chính anh cũng hoang mang lo sợ đến tột đỉnh vì biết là trước mặt và sau lưng đều có địch. Thì ra quân địch không phải chỉ đi trên đường cái chúng đã vòng qua công sự của tiểu đoàn anh mà đánh vượt về phía bắc. Thế là Thiện cũng bỏ chạy theo, cùng chạy với anh chỉ còn có Thạc, Quý, Ngọ là ba người còn sót lại của cả đại đội.


    Thạc gọi Thiện:




  •  Chạy theo đường nào đây anh ơi?




  •  Băng đồng mà chạy, đừng theo đưòng cái.


    Từng đoàn ngưòi hoảng hốt chạy như bị ma đuổi. Bỗng từng tràng súng máy bắn đuổi theo họ. Trong cảnh hỗn độn, chính những người chạy trong đoàn người ấy cũng không còn biết là những ai trúng đạn mà chết, bao nhiêu người đã chết. Chạy, họ chỉ còn biết chạy, tìm cái sống trong đôi chân của họ, có người vứt cả súng, cả ba lô mà chạy. Trong đầu óc họ, lúc ấy chỉ còn có một ý nghĩ: chạy sao cho nhanh, cho thoát.





*



Và thế là mặt trận vỡ. Chiến tuyến thứ ba rồi chiến tuyến sông Hương cũng vỡ theo. Trung đoàn Cao Vân vỡ tung thành từng mảng nhỏ, rồi thậm chí cả đến những mảng nhỏ ấy cũng vỡ rơi vào tay quân Pháp. Quân Pháp bị vây trong thành phố cũng đã đánh ra, phối hợp với đoàn quân đổ bộ. Quan tư Cốt-xtơ đã ra đón quan năm Đờ-la Rôc-cơ ngay trên cầu An Cựu. Và ở hai bên dòng sông An Cựu, hai toán quân Pháp đón mừng nhau bằng những tiếng Hua-ra! Hua-ra rầm rĩ. Một chủ trương của bộ chỉ huy Pháp lập tức đưa ra: Cho ngay những toán quân Pháp bị vây hơn một tháng nay được truy kích theo những toán Việt Minh đang chạy tán loạn. Cả toán quân Pháp vừa bị vây nhận được lệnh đã nhảy reo lên mừng rỡ và tên Tây lai Rô-giê La-gác chỉ huy đại đội của hắn lập tức lên đường.



*



Cuộc tiến quân của quân Pháp lên ba huyện phía bắc thành phố cũng không gặp trở lực gì đáng kể. Chúng chỉ việc bắn giết, đốt phá đến sướng tay. Trước mặt chúng là từng đoàn dân chúng tay không chạy nháo nhác, những đàn bà gánh những đứa trẻ con trong thúng, những ông già cõng cháu trên vai. Trên đầu những người dân của ba huyện phía bắc đang nháo nhác chạy loạn, bỗng thấy xưất hiện ba chiếc máy bay trắng loáng. Đang bay theo đưòng thắng bỗng tiếng động cơ máy bay rú lên từng hồi kinh sợ, ba chiếc máy  bay bỗng  chúc xuống và nhả đạn vào những tốp người đang chạy. Nhưng mặc, người ta vẫn cứ chạy. Người ta sợ quân Pháp ở sau lưng hơn là những chiếc máy bay.



Cũng như mọi làng khác, làng Nam Phổ sáng hôm ấy sống trong cảnh kinh hoàng, náo động. Làng ở ngay gần đường cái, lại có một con sông, muốn chạy tránh quân địch người ta phải qua sông bằng đò. Chị Ngạc đã về làng đón bà cụ Thân đi chạy giặc. Nhưng chị nói mấy bà cụ cũng không chịu đi. Cụ nói:





  •  Tau già rồi, sức mô mà chạy nữa. Tây đến, tau có chết cũng được. Mi cứ chạy đi, đừng lo chi cho tau cả. Biết mô nhờ trời nhờ phật tau không can chi cũng có.


    Chị Ngạc năn nỉ:




  •  Mẹ ơi, mẹ đi đi, mẹ nghe con đi, con lo cho mẹ chạy rồi còn phải lo cho các cụ các bà có con mọn chạy nữa. Gấp lắm rồi mẹ ạ. Tây sắp đến nơi rồi.




  •  Tau đã nói với mi cứ lo chạy đi. Mi cứ dềnh dàng ở đó, lại bụng mang dạ chửa nữa, không chạy kịp thì khốn to. Tau đã nói tau không chạy là không chạy.


    Chị Ngạc đành phải bỏ bà cụ Thân ở đó đi giúp các nhà khác tản cư. Chị vào những nhà neo đơn nhất, những nhà mà đàn ông đã đi bộ đội hoặc vào du kích. Chị đi dọn giúp đồ đạc cho những bà già, ông già có cháu nhỏ, có con dại. Đi đến đâu, chị cũng nói:




  •  Bà con cứ bình tĩnh. Mang đi ít thứ đồ đạc cần dùng nhất thôi. Ta chỉ tránh quân giặc lúc chúng còn hung hăng đánh tràn ra, rồi ít bữa lại quay về tổ chức kháng chiến thôi. Có bỏ cả ruộng vườn nhà cửa mà đi biệt đâu mà lo.


    Nói vậy nhưng chính chị cũng chưa hình dung được đồng bào chạy loạn sẽ chạy tới đâu và rồi sau đó sẽ ra sao. Chính chị cũng không biết rồi đây bản thân chị sẽ chạy đến chỗ nào và rồi sẽ làm công việc gì. Trong lúc rối bời ấy, chị bỗng nghĩ tới Thân, chồng chị và cái thai trong bụng chị. Tròi ơi, giá lúc này mà có anh ấy ở đây.


    Anh ấy mà nói thì chắc mẹ phải đi. Bà cụ lạ thật. Cứ như là người không biết sợ là gì ấy. Chẳng biết bây giò mẹ làm gì. Mà trong làng đã chạy được hết chưa không biết. Chị bỗng nhớ tới bà cụ Đán ở cuối làng. Chết thật, suýt nữa quên, còn bà cụ ấy nữa. Anh Đán đã chết ở mặt trận Huế rồi, trong nhà giờ chỉ còn bà cụ mù lòa với cháu nhỏ lên sáu tuổi, con anh Đán. Không biết có đồng chí du kích nào tới giúp bà cụ chưa. Chết thật gia đình liệt sĩ mà mình bỏ quên. Bác Đán lại là bạn cũ của anh Thân, bác ấy đã tới giúp đám cưới cho nhà mình. Ba chân bôn cắng chị cố bước nhanh về phía cuối làng nhưng bụng chị bắt đầu nhô ra đằng trước mặt làm chị không tài nào chạy nhanh hơn thì chợt thấy bà cụ Đán ôm đứa cháu nhỏ. Thằng bé đang khóc thét. Bà cụ cũng đang mếu máo. Cả hai bà cháu đều không biết gì cả. Chết thật! Chết thật! Chị Ngạc càng rảo bước nhanh hơn đến bên bà cụ, chị lên tiếng nói: “Cụ ơi, có cháu đây. Cụ đi ra mau, cháu dắt thằng cu Đản cho”. Bà cụ Đán níu lấy áo chị: “Đi mô rứa! Chạy mô rứa! Súng nổ mô mà gần rứa! Khổ thân tui. Thằng Đán con tui hắn bỏ tui hắn đi trong lúc như ni thì có khổ không trời ơi”. Chị Ngạc nói: “Thôi cụ ơi, bác Đán chết rồi, thì có chúng cháu giúp cụ. Mau lên không có Tây nó đến bây giờ”...


    Như để chứng minh cho lời nói của chị, một tràng tiếng súng máy bỗng nổ giòn, đâu như ở ngay làng bên cạnh. Bà cụ Đán loạng choạng, líu ríu bước đi, tay cầm vạt áo chị Thân, theo sau có thằng cu Đản. Thằng Đản nhất định chỉ cầm lấy váy bà, không chịu cho chị Ngạc dắt. Ba con ngưòi tội nghiệp ấy, một bà cụ mù lòa, một người bụng mang dạ chửa và một thằng bé lên sáu dắt díu nhau theo con đường lát gạch của đưòng Nam Phổ ra đến tận đường số 1 thì gặp một toán quân Pháp đang kéo tới, đi đầu là Rô-giê La-gác. Tên Tây lai nở một nụ cười tàn ác ngắm nhìn cái cảnh tượng lạ đang diễn ra trước mắt hắn. Bỗng hắn thét lên: Ồ, xà lù, mẹc. Giết cho hết cái giống bẩn thỉu ấy đi. Và hắn lia một băng tôm-xơn. Cả ba người gục xuống ngay trên đường số 1.


    Ngay lúc ấy, bỗng thấy trong bụi rậm bên đường có bóng người động đậy. Thiện, phải chính Thiện và ba chiến sĩ của đại đội ấy đã chạy đến đây, nấp trong một bụi rậm ngay bên đưòng cái và đang phập phồng lo sợ cho tính mạng của mình khi biết rằng không thể chạy kịp được nữa. Họ đã trông thấy tận mắt cảnh toán quân Pháp tàn sát những đồng bào tay không vô tội của mình. Thiện đưa mắt nhìn ba bạn đồng đội. Anh hỏi nhỏ:




  • Còn lựu đạn cả đấy chứ?




  •  Còn, anh định chiến đấu à? Liều quá.




  •  Ừ, tôi định liều xem sao. Không thể chịu được, vả lại, chúng nó tới đây thì chúng mình cũng chết cả, chạy không được, mà nấp đây cũng không kín. Còn mấy quả?




  •  Mỗi người còn hai quả. Nhưng mà thế thì liều quá anh ạ, có lẽ cứ nấp may ra...




  •  Không, nấp không được đâu, thà chỗ nào kín kia. Tôi sẽ ném lựu đạn và hô toàn trung đội xung phong. Các anh cũng hô xung phong. Nếu chúng nó lùi chúng ta sẽ chạy tạt vào trong làng, tránh tầm mắt của chúng nó, rồi đợi tối bơi sang sông mà chạy. Trời cũng đã gần tối rồi, chúng nó cũng không dám đuổi mạnh đâu.


    Vừa lúc đó, trong hàng ngũ toán quân Pháp của Rô-giê La-gác bỗng có sự lộn xộn. Đầu đuôi là vì tên lính người Đức Kôt-sơ trông thấy cảnh Rô-giê La-gác bắn hai người đàn bà và đứa trẻ con ngay trên đường cái đã phát bẳn lên nói: “Sao lại bắn thế ông thiếu uý, đây có phải là Việt Minh đâu”. Và Rô-giê La-gác đã quay sang cự nự tên lính đã dám cả gan nói vói cấp trên như thế. Hắn quát: “Mày liệu cái thần hồn. Tao sẽ cho mày một phát đạn chết gục ngay ở đây bây giờ”. Nhưng các bạn đồng đội đã kịp can La-gác. Hắn chỉ còn hậm hực nói: “Về trại sẽ cho mày nếm mùi xà lim”.


    “Toàn trung đội xung phong!”. Tiếng Thiện bỗng thét lên từ trong bụi và anh nhảy lên đường cái. Theo sau anh, một cái bóng nhảy lên, rồi hai cái, rồi ba cái.


    “Xung phong!”. Họ cùng hô lên ầm ĩ và bốn quả lựu đạn bay về phía địch nổ tung lên một lượt. Bị đánh quá bất ngờ, toán lính Pháp rối loạn chạy lùi vài chục bước rồi nằm phục xuống bên đường nhằm về phía bốn người bắn như mưa. Nhưng một sự bất ngờ khác nữa lại đến với chúng, và bất ngờ cả với Thiện nữa: Từ bên cánh trái quân Pháp bỗng có tiếng súng nổ và cũng nghe có tiếng xung phong nổi dậy. Đó là một tiểu đội du kích không hiểu sao còn lạc lại ở đây và khi nghe tiếng lựu đạn nổ và tiếng hô xung phong đã tưởng bộ đội ta nên cũng hô xung phong và bắn để trợ lực. Mấy phát súng trường ấy cũng làm khiếp đảm tinh thần toán lính Pháp đang hùng hổ. Và, sợ bị vây, chúng đã chạy tán loạn. Cũng vừa lúc ấy, trời sẩm tối hẳn...





(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »