tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550460
Tiểu thuyết
12.05.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Phần thứ nhất



I. Chiếc xe hơi cũ kỹ dừng lại ngay trước cửa bệnh viện thành phố. Từ trên xe bước xuống là một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi, vận bộ đồ ka ki giản dị, đi đôi giày vải, tóc húi cua. Anh nhìn lên cổng bệnh viện để biết chắc đúng là nơi mình cần đến, rồi nhanh nhẹn bước vào, đến bên người gác cổng:



- Tôi là Thân, cán bộ lãnh đạo khởi nghĩa thành phố Huế. Tôi cần gặp  bác sĩ Thắng.



Người gác cổng lộ vẻ kính cẩn:



- Dạ, xin để kính mời ông vào.



Thân cười, vỗ vai bác già thân mật:



- Bác cứ gọi tôi là đồng chí.



Người gác cổng cười sung sướng, lộ cả hai hàm răng khấp khểnh: “ Dạ, vâng, thưa đồng chí”, rồi dẫn Thân vào.



Khi được báo có người của chính quyền mới đến gặp, Thắng cởi áo choàng, ra gương nắn lại cà vạt rồi với dáng điệu hết sức bình thản, anh bước từng bước chậm rãi về phía phòng tiếp khách. Anh đã chờ đón phút giây này, chập nhận sẽ phải chờ đón một người oai quyền tới.



Song, trái với điều dự đoán của Thắng, khi anh bước vào, đã thấy Thân niềm nở đứng dậy, nở một nụ cười rất tươi, bắt tay anh thật chặt:



- Tôi là Thân, trong ban lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế. Đồng chí là bác sĩ Thắng?



Thắng hơi lạ tai khi nghe Thân, vì thói quen, đã gọi anh là “đồng chí”. Anh còn lạ tai cả vì tiếng “bác sĩ”. (Trước đây anh quen nghe người ta gọi anh là “ông đốc Thắng” hay “quan đốc Thắng”). Nay là bác sĩ Thắng…



- Vâng, tôi là Thắng. Tôi đang tạm trông coi công việc ở Viện này từ khi bác sĩ người Pháp bị người Nhật bắt phải thôi việc…



Vô tình Thắng cũng dùng chữ “bác sĩ”.



Thân vui vẻ nói ngay:



- Tôi đã biết việc ấy. Bệnh viện bây giờ là của ta, của chúng ta.



Thắng để ý nhìn Thân. Anh nhận thấy ở người đang ngồi trước mặt mình một vẻ tinh nhanh đặc biệt, một vẻ tinh nhanh khong phải như của những người trí thức xưa nay anh vẫn quen biết, cũng không phải vẻ tinh nhanh có pha chút láu lỉnh, hay thạo đời. Không, con người ngồi trước mặt anh có vẻ sáng suốt, nhưng điềm đạm, có vẻ nhiều hiểu biết, nhưng không phải chỉ là học trong sách vở, mà có lẽ chính ở trường đời. Và cũng lúc ấy, Thắng mới nhận ra Thân ăn mặc rất giản dị, tương phản hẳn với trang phục anh đang mặc…



Thắng bắt đầu vào chuyện với giọng nói còn khá ngập ngừng:



- Đã ba bốn hôm nay chúng tôi vẫn đợi người của chính phủ mới tới. Mọi công việc như nhận khám hay chữa bệnh cho người ốm đau vẫn làm như thường lệ. Nhưng còn về nhân sự, hành chính thì…  -  Thắng thoáng chút ngập ngừng, rồi tiếp tục – Còn về sổ sách, giấy tờ chúng tôi đã soạn lại cẩn thận để chờ nhân viên chính phủ tới.



Thân điềm đạm nói:



- Chúng tôi có thể nói vắn tắt với bác sĩ rằng, chủ trương của cách mạng là trước đây ai vốn làm việc gì nay vẫn cứ làm việc ấy, lương trước lĩnh như thế nào nay vẫn lĩnh như thế. Chúng ta vẫn phải dùng tiền Đông Dương. Ủy ban nhân dân Trung Bộ và Ủy ban nhân dân lâm thời Thuận Hóa quyết định là bác sĩ vẫn giữ chức giám đốc bệnh viện. Có cần việc gì xin bác sĩ cứ nói với chúng tôi. Chúng tôi mong được sự giúp đõ của bác sĩ để làm cho bệnh viện được tốt hơn, và làm cho công tác y tế nói chung tiến bộ hơn nữa.



Bằng một giọng cởi mở, thân mật, Thân nêu lên nhận xét của anh về tình trạng vệ sinh thấp kém của nhân dân, nhất là ở nông thôn và ở các xóm lao động, về những khó khăn của chính quyền cách mạng đang phải đương đầu với trăm ngàn công việc phức tạp. Anh nói:



- Nhưng chính quyền cách mạng của nhân dân phải và có thể vươt qua được khó khăn, làm cho đời sống của nhân dân khá lên gấp năm, gấp mười lần thời nô lệ. – Anh nói tiếp với giọng hết sức khiêm tốn – Cố nhiên cách mạng mới làm được việc giành chính quyền về tay nhân dân còn làm những công tá như y tế, công chính, giáo dục, chúng tôi cần có sự cộng tác và chỉ  bảo của các nhà trí thức, các nhà chuyên môn, chúng tôi trông đợi rất nhiều ở những người như bác sĩ. Chúng tôi có thể nói hết sức thành thật rằng, chính quyền nhân dân rất coi trọng các nhà trí thức, chúng tôi cho rằng không có trí thức trong hàng ngũ cách mạng là không được.



Giọng nói và điệu bộ của Thân làm bác sĩ Thắng cảm thấy rõ ràng là Thân rất thành thật, không có chút gì là xã giao bề ngoài. Anh băt đầu thấy mến người cán bộ cách mạng thay mặt chính quyền mới tới tiếp quản bệnh viện. Tự nhiên anh cũng bỏ thái độ quá nghiêm trang lúc đầu, cười nói:



- Thế mà tôi cứ nghe nói là Việt Minh không coi trọng trí thức. Tôi cứ tưởng thế nào chính phủ cũng cho cán bộ tới đây để trong nom công việc chung, còn chúng tôi thì rồi chỉ biết mổ xẻ, khám bệnh và tiêm thuốc…



Sợ mình nói hơi quá, Thắng lại nỏi vẻ kiểu cách:



- Xin đồng chí thứ lỗi, đấy là tôi nói cho vui thôi.



Nhưng Thân đã đáp ngay:



- Không, cái điều mà bác sĩ nói, chúng tôi thấy một số người vẫn tưởng lầm là như thế. Nhưng không phải ai cũng nghĩ như thế đâu. Chúng tôi rất lấy làm mừng rằng có Ủy viên nhân dân Trung Bộ, như kỹ sư Truyến, như bác sĩ Thám, như thi sĩ Thư… Nhân đây cũng xin nói rằng trong Ủy ban khởi nghĩa chúng tôi cũng có những thi sĩ…



Câu chuyện càng thêm đậm đà. Thắng đứng rót thêm nước uống. Thân cũng thấy mến người thầy thuốc có thân hình vạm vỡ và có nét mặt yêu đời này, anh chuyển sang nói chuyện văn nghệ lúc nào không hay biết. Anh kể rằng tuy anh vốn ở nông thôn, mới học hết lớp nhì, nhưng nhờ đi theo cách mạng nên có dip được sống với thi sĩ cách mạng nổi tiếng của Huế trong nhà tù, và anh rất yêu thơ. Cuối cùng, anh đứng dậy bắt tay Thắng thật chặt và nói: “ Còn về cái đống giấy tờ mà bác sĩ đã cho soạn lại, mong rằng nó sẽ không bị gói kín, xin cứ mở tung ra, cho công việc đâu lại vào đấy”.



***



Chiều hôm ấy, trên đường về nhà, Thắng cảm thấy thỏa mãn, vui vẻ. Anh không đi xe tay, mà đi bộ. Anh nhìn cảnh vật xung quanh, cảm thấy chiều nay như khác lạ, mọi vật như hớn hở, tươi vui. Anh nhìn những người tự vệ cầm dao, kiếm mà không thấy họ ấu trĩ như hôm qua nữa. Anh đi từng bước một lên cầu Tràng Tiền, thong thả lặng ngắm dòng song Hương trong vắt. Trời đã ngả hẳn về chiều. Một vệt nằng dài chạy loang loáng trên mặt nước. Một vài con đò lững lờ trôi qua. Một giọng hò vẳng lên, và Thắng liếc nhìn thấy chị lái đò đang uốn mình nhấn cả sức nặng lên mái chèo. Xa xa về phía cầu Bạch Hổ, từ những mái nhà tranh thấp thoáng trên cồn Hến, bố lên những làn khói lưa thưa. Một cơn gió nhẹ thoảng qua. Thoáng như có ai vừa mở vung nồi cơm mới thơm dìu dịu, chừng như chả một chiếc đò dọc nòa vừa lướt qua dưới gầm cầu xuôi về phía Đập Đá. Thắng chưa muốn về nhà vội. Anh đứng lại trên lan can cầu, muốn tận hưởng hết cảnh đẹp của sông Hương và luồng gió mát lành của buổi chiều. Quý thật. Cuộc nói chuyện với đồng chí Thân đã cởi bỏ cho anh khá nhiều thắc mắc. Anh nghĩ về cuộc đời của mình và của giáo sư Hanh, anh ruột của anh. Xưa nay, anh vẫn thường tự hào răng hai anh em anh đã không tiếp tục con đường làm quan của ông cụ thân sinh. Phải, bố anh đã làm quan, từ Bang tá lên Tri huyện, Tri phủ, rồi Thị lang ở Bộ hộ của triều đình Huế. Cụ thị Trần, lúc bố anh còn sống người ta vẫn gọi như thế, là một nhà Nho cổ, tính tình nghiêm khắc, sống với những giáo lý Khổng Mạnh, mà cụ luôn miệng nhắc. Cụ có hơn chục mẫu ruộng cho cấy rẽ ở quê nhà, nhưng khi cụ về hưu đã bán mất quá nửa để lo cho hai anh em Hanh, Thắng ăn học. Ý muốn của cụ là hai người con phải học luật để rồi sẽ lại ra làm quan. Nhưng không hiểu run rủi làm sao một người lại vào trường sư phạm rồi ra làm giáo sư, một người vào tường thuốc rồi ra làm bác sĩ. Họ vẫn cho như thế là những nghề tự do, không bị lệ thuộc vào bậc thang danh vọng của quan trường. Nhưng nhà chỉ có hai anh em, mà tính tình mỗi người mỗi khác. Hanh là anh cả, năm ấy đã gần bốn mươi tuổi, tính tình cũng có chiều khắc khổ như bố, cũng ít thích giao du, ưa nói đạo lý. Qua gần mười năm dạy trường trung học Khải Định, Hanh đã chuộc lại được số ruộng đã bán xưa kia. Ngoài ra còn tậu thêm được năm, sáu mẫu nữa. Còn trẻ tuổi, Hanh đã nghĩ tới lúc tuổi già về hưu, sẽ về sinh sống với số ruộng phát canh, thu tô ấy và sẽ mở mang nó ra thành một đồn điền. Trái lại, Thắng là một người ưa hoạt động. Anh thường mặc bộ đồ soọc trắng, thích đi đánh quần vợt những ngày chủ nhật, và mặc dù đã ba mươi tuổi, đã có bốn con, anh vẫn thích khoác tay vợ đi chơi các vườn hoa, y như người phương Tây. Anh còn thích văn chương thơ phú, và có lúc anh đã nói đùa: “Trời sinh ra tôi giá để cầm bút làm thơ, viết văn có lẽ đúng hơn là cầm dao mổ, kim tiêm”. Ngược lại với thân hình khô khan, gầy yếu, thích thú trà lá và nghiền truyện cổ, kim của Hanh, Thắng có thân hình vạm vỡ của một người ham thích vận động và không có buổi đá bóng nào là vắng mặt anh trên sân. Cũng khéo cặp nào đôi ấy. Phương, vợ của Hanh là môt người đàn bà chí thú làm ăn, lo thu vén trong gia đình, còn Ngọc, vợ Thắng, lại thích sống phóng khoáng như chồng.



Thắng về tới nhà lúc nào không biết. Anh muốn tìm gặp Hanh để kể lại câu chuyện gặp Thân, và để bày tỏ ý nghĩ của mình đối với những người cách mạng, cũng như ý muốn đóng góp cho phong trào cách mạng vừa mới thành công. Anh trèo lên gác, định gõ cửa vào buồng Hanh, thì người đầy tớ già cho biết là Hanh đang ở dưới phòng khách bận tiếp một ông khách lạ từ Hà Nội vào…



Đó là một người ăn mặc chải chuốt, đầu chải bóng lật ngược về phía sau, mũi nhỏ, miệng nhỏ, mặt dài, trông không có gì đặc biệt. Riêng nét mặt có vẻ láu lỉnh, đôi mắt thoắt trông lên lại nhìn xuống, thoắt liếc chỗ này lại nhìn sang hướng kia và thói quen hay đưa tay quệt ngang mũi khịt khịt. Lúc ấy cả chủ lẫn khách đang giở hết những câu lịch sự nhất trong nghệ thuật xã giao của những nhà trí thức:



- Dạ, tôi hân hạnh…



- Dạ, dạ, xin mời ngài ngồi ạ…



- Thưa, ngài là giáo sư Trần Công Hanh, giáo sư khoa triết học trường Khải Định?



- Vâng, thưa ngài, chính tôi. Thưa ngài, xin phép ngài cho biết tôi đang hân hạnh được tiếp ai đây ạ?



- Vâng, thưa ngài, tôi là Nguyễn Hoan, giáo sư khoa toán, lý, hóa trường Thăng Long ở Hà Nội. Hèm… dạ tôi rất hân hạnh được…



- À, thế ra tôi với ngài là bạn đồng nghiệp. Trường Thăng Long là một trường có tiếng.



- Dạ, ngài dạy quá lời. Ở Hà Nội, giới thượng lưu trí thước rất hâm mộ danh tiếng của ngài và rất khâm phục cuốn Triết học phương Đông của ngài. Dạ, tôi rất hân hạnh được…



- Dạ, xin phép ngài để khoan cho chút. Bếp Hải đâu, nói bà cho ấm trà và gói thuốc lá ra đây đi!



- Dạ, xin ngài cứ để tự nhiên cho…



Sau khi đã “tự nhiên” như thế với nhau chán rồi. họ mới chịu ngồi yên vị, nhấp chén trà, hút điều thuốc và mới chính thức đi vào câu chuyện. Khách lên tiếng trước. Ông ta nói rằng giới thượng lưu trí thức ở Hà Nội rất quan tâm tới thời cuộc nhà nước, thấy rằng trước những biến chuyển mới của tình hình, giới trí thức cần giữ vai trò xứng đáng, nhưng tiếc rằng chưa có sự tập hợp để trao đổi ý kiến, bàn bạc với nhau. Vì vậy mà trong giới trí thức có sự lộn xộn, người thì cộng tác với chính quyền cách mạng, số đông thì chờ thời, một số tỏ ra không tán thành lắm. Ông ta dè dặt nói: Tôi thấy nhiều người bàn với nhau rằng Việt Minh chủ trương thành lập chính quyền độc tài vô sản, họ sẽ không cần tới trí thức, cũng có người thì nói khác. Chính vì vậy mà ông ta đã đi bộ từ Hà Nội vào Huế để “gặp giáo sư Hanh”. Một trí thức có danh vọng “để tham khảo ý kiến”. Ông ta cho biết là định vào Huế. Nguyễn Hoan nói thêm: “Tôi đã đọc kỹ cuốn Triết học phương Đông của ngài. Những đoạn ngài bàn về người quân tử, làm tôi rất thích thú. Có thể nói đấy cũng là đoạn rất đúng về vai trò của người trí thức trong xã hội”.



Chính giáo sư Hanh cũng không nhớ là mình đã viết về người quân tử như thế nào. Nhưng cách tâng bốc của khách đã có hiệu quả. Hơn nữa, vấn đề khách nêu ra gãi đúng vào chỗ ngữa của Hanh.



- Ông nói rất đúng. – Hanh nói – Giới trí thức phải đứng ra đảm nhiệm công việc phục hung quốc gia trong giai đoạn rối loạn này. Nhưng xem chừng Việt Minh họ chỉ làm theo quyền lợi đảng phái của họ. Giữa bạn đồng nghiệp với nhau, tôi nói thật: dù ông có là người của Việt Minh đi nữa, ông cũng thấy đấy, ở Quảng Ngãi, họ khủng bố lan tràn. Có một ông bạn quen của tôi làm chủ sự nhà đoan ở trong đấy đã bị giết. Ông ta là người có tài. Còn ở Huế này, cụ thượng thư đã bị bắt. Tôi không có cảm tình gì với cụ về mặt cụ làm thượng thư đâu, nhưng cụ là nhà báo, nhà văn, đáng lẽ họ phải đối xử với cụ khác với những người khác. Nhiều người nổi tiếng nghe đâu cũng không được họ trọng dụng, chỉ vì các ông này đã đứng ra lập nội các khi vua Bảo Đại mời. Cũng ở ngya trong thành phố Huế này, quanh khu phố tôi ở, đã có nhiều việc chướng tai gai mắt xảy ra. Nhà tôi là một nhà có nền nếp nên chưa xảy ra việc gì, nhưng đã có nhà đầy tớ lại đòi bình đẳng với chủ nhà, con sen đi họp khuya về bị chủ mắng đã mắng trả lại là chủ không có quyền mắng chưởi nó khi nó đi họp. Mấy anh học trò nhãi con học với tôi ngày xưa nay cũng gọi nhau bằng đồng chí, ra đường gặp tôi lại giơ nắm đấm lên mang tai như thế này (Hạnh nhại lại điệu bộ chào quả đấm) để chào tôi. Nghe đâu ở Quảng Ngãi, đến anh phu xe cũng gọi những người trong giới thượng lưu bằng bạn, bằng đồng chí. Tôi thấy không thể chịu được…



- Vâng, đúng như thế, thưa ngài. – Sau một lúc khịt khịt mũi, khách tiếp tục – Việt Minh họ chủ trương theo Đệ tam quốc tế. Còn số đông các nhà trí thức thấy nên làm cách mạng quốc gia. Ý ngài thế nào?



- Theo tôi thì Đệ tam hay Đệ tứ cũng đều hỏng. – Hanh phất tay – Vì như thế là mình chịu để người nước ngoài điều khiển. Tại sao lại không nghĩ rằng người Việt Nam ta cái cốt yếu là giành lại độc lập cho người Việt Nam. Tôi nói thật, trước sau tôi đã và sẽ chỉ là người quốc gia chân chính.



Khách lộ vẻ mừng rỡ trên nét mặt. Ông ta nói rằng hoàn toàn nhất trí với những ý kiến xác đáng của giáo sư Hanh. Ông ta được Trung ương Việt Nam Quốc dân Đảng phái vào để bắt liên lạc với giới thượng lưu trí thức đứng ra đảm nhiệm vai trò chính trong thời cuộc nước nhà, “như lời ngài đã nói”.



Khách tiếp tục:



- Chắc ngài đã biết Việt Nam Quốc dân Đảng với các đấng tiên liệt anh hung như Nguyễn Thái Học, Ký Con, đã từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Ngày nay, những chiến sĩ Yên Bái đã tập hợp lại và thành lập một chính đảng rất có thế lực, hiện đã có cả chiến khu và lực lượng võ trang. Trong số những người lãnh đạo có cụ chí sĩ Nguyễn Hải Thần là bạn chiến đấu gần gũi của Nguyễn Thái Học. Có nhà văn Nguyễn Tường Tam, tức Nhất Linh nổi tiếng. Hầu hết các nhà trí thức tiếng tăm ở Hà Nội đã gia nhập Đảng.



Khách trình bày kế hoạch hoạt động ở thành phố Huế. Ông ta khẳng định rằng, ông ta tới gặp giáo sư Hanh trước tiên, và theo ông ta, giáo sư là người duy nhất có thể đứng ra làm lãnh tụ của phong trào ở Huế. Tiếng tăm và danh vọng của giáo sư sẽ tập họp được đông đảo trí thức và nhân dân. Việt Minh sẽ phải nể nang. Vả lại, ông ta nói tiếp: “ Tôi tin chắc rằng người trí thức chân chính như ngài sẽ không ngại bất cứ một sự đe dọa nào của một đảng phái độc tài mà không dám hoạt động”.



Khách nói tiếp rằng theo kế hoạch đã dự định, thì chỉ nay mai, Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ ra hoạt động công khai ở Hà Nội, nhân dịp quân đội Đồng minh vào giải giáp quân Nhật ở Đông Dương. Khi đó Việt Minh có giở trò gì cũng không được. Chừng đó, ở Hà Nội chúng ta sẽ đòi giải tán chính phủ lâm thời của Việt Minh, đòi lập chính phủ liên hiệp rồi tiến lên giành lại chính quyền trong tay bọn độc tài đỏ. Khách cao hứng khua tay nói rằng Trung ương Quốc dân Đảng có ý định mời giáo sư Hanh tham gia chính quyền quốc gia sau này, giữ một ghế bộ trưởng. Còn ở Huế thì đến khi quân đội Đồng minh vào sẽ cho xuất bản một tờ báo và giáo sư Hanh sẽ công khai đăng đàn diễn thuyết. Công việc sẽ tiến hành rất thuận lợi, chỉ vài tháng nữa, kế hoạch sẽ hoàn thành và tình hình sẽ thay đổi.



Khách nói tiếp:



- Chúng tôi sẵn sang giúp việc ngài và chịu sự lãnh đào của ngài, bởi một là chúng tôi lạ nước, lạ cái, hai là vì ngài là người có danh vọng ở Huế, và ba nữa là vì kiến thức của ngài rõ ràng là sâu sắc hơn một giáo sư chuyên về toán, lý, hóa như tôi.



Cuộc nói chuyện kéo dài suốt từ chiều đến tối. Cho đến khi khách ra về rồi, Hanh vẫn một mình đờ đẫn trong phòng khách. Việc Hanh nhận lời hoạt động với ông khách lạ khiến từ nay, cuộc đời Hanh như có một bước ngoặt. Hanh tự hào rằng giới trí thức trong toàn quốc đã biết danh tiếng của mình. Hanh lấy làm thích thú với những chữ lãnh tụ, với cái ghế bột rưởng tương lai. Hừ, cờ đến tay ai người ấy phất. Lãnh tụ Quốc dân Đảng ở Huế, bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam… Hanh mơ màng như cảm thấy mình đang thực sự đảm nhiệm những chức vụ danh tiếng ấy. Và rồi Hanh điểm lại những người quen mà Hanh tính có thể liên lạc được để kết nạp họ vào Đảng. Trước hết là các giáo sư trường Khải Định bạn Hanh. Chẳng hiểu lúc này họ thế nào, người thì ngày trước xem chừng cũng khong thấy nói năng gì về chính trị, người thì dạy học về chỉ thấy lo chuyện gia đình vợ con, người thì có vẻ dút dát. Chỉ có Thức và Giang may ra là được, nhưng khong biết nay bọn hắng theo hay chống Việt Minh? Quả không dễ. Vả lại, mình cũng phải cẩn thận, lộ gì ra lúc này cũng đều là chưa được. Hanh chợt nhớ lại cách vào đề của ông bạn đồng nghiệp vừa từ Hà Nội vào. Phải, đấy là một cách hay. Muốn nhắm vào ai thì trước hết hãy nói xa, nói gần về thời cuộc, dò xem họ nghĩ như thế nào đã. Hanh chợt nghĩ đến Thắng, em mình. Ừ, tại sao lại không kết nạp ngay Thắng?  Thắng là bác sĩ, hắn quen biết nhiều, kể cả trong giới bác sĩ của hắn, kể cả các bạn văn nghệ sĩ của hắn. Vả cả các bạn quần vợt của hắn nữa. Nhưng, Thắng đối với thời cuộc như thế nào? Hanh chợt nhận ra là hai an hem mình tuy ở chung một nhà từ ngày bố chết, nhưng vì tính tình mỗi người mỗi khác nên ít chú ý đến nhau, ít hiểu quan điểm của nhau. Thậm chí mấy ngày gần đây xảy ra những việc long trời lở đất như Cách mạng tháng Tám, nhân dân biểu tình đầy đường, đầy phố, rồi chính quyền mới lập nên, rồi người người cầm gươm, cầm sung, Hanh cũng không biết Thắng làm những gì, đi đâu, có tham gia, có tiếp xúc gì với Việt Minh hay không? Nhưng hắn là em mình, Hanh nghĩ, mình nói chắc hắn phải nghe. Nếu không đồng ý đi nữa thì hắn cũng không thể đi tố cáo mình được. Và cả Long – đứa cháu họ và cũng là học trò của Hanh nữa. Với Long ta có thể năm được giới học sinh. Long lại có người yêu là Vân, hai đứa đã hẹn lấy nhau khi học xong đại học. Con bé Vân đẹp người, đẹp nết, lại học trường Đồng Khánh, ta mà kết nạp Long thì Vân cũng sẽ phải nghe theo, và như vậy là ta nắm được học sinh cả hai trường lớn nhất của thành phố Huế. Cố nhiên là lúc này ở Hà Nội, Trung ương Đảng cũng chưa ra công khai, thì ta vẫn phải hành động cẩn thận. Phải, ta sẽ làm như giáo sư Hoan đã làm… Với những suy nghĩ như thế trong đầu, Hanh uống thêm một chén trà thật đặc, hút một điếu thuốc lá thơm, rồi về buồng riêng, nằm trằn trọc suốt đêm…



***



Cũng đêm ấy, tại buồng riêng của vợ chồng Thắng, Thắng đã vui vẻ kể cho vợ nghe về cuộc tiếp xúc với Thân, về việc anh chính thức được làm quản đốc bệnh viện và lương vẫn như cũ.



- Chiều nay anh đi bộ về nhà đấy. – Thắng khoe – Đứng trên cầu Tràng Tiền nhìn xuống, mới thấy Huế mình đẹp thật. Xưa nay, mình cứ đi làm về bằng xe tay, thành ra không được thưởng thức. Chủ nhật này mình đem cả bốn đứa nhỏ đi chơi nhỉ? Ngoài đường phố bây giờ nhiều cái rất lạ. Anh thấy trong cuộc cách mạng hiện nay có những điều rất mới em ạ. Trước hết là bây giờ nước ta mới độc lập thật sự. Hồi đó tuy Nhật cho anh làm quản đốc, nhưng cứ ngồi đấy chẳng biết làm gì, và nghe đâu cả Bộ Y tế cũng không biết làm gì nếu không có ý kiến của Nhật. Bây giờ thì anh Thân bảo bao nhiêu sổ sách giấy tờ cứ để ở bệnh viện, anh tiếp tục công việc quản đốc. Anh ấy còn bảo anh vạch ra một kế hoạch làm cho công việc của bệnh viện tốt hơn, và có ý kiến gì về y tế nói chung thì cứ đề ra, bên Ủy ban nhân dân sẽ họp và xét. Khi họp đương nhiên sẽ mời anh đến. Họ làm như thế là tốt, có phải không em?



Hồng Ngọc âu yếm trả lời chồng:



- Anh thấy tốt là em cũng thấy tốt. Miễn là chúng mình cứ được sống như thế này. Các con ngủ cả rồi. Chúng mình cũng ngủ đi …



Thắng với tay tắt ngọn đèn. Ngoài đường,  trời lất phất mưa. Những đội tự vệ chiến đấu vẫn đi tuần đêm, từng lớp. Họ như nghe tỏa ra từ những căn nhà ấm áp những giấc ngủ ngon lành …



Gần một tháng trôi qua mà Hanh vẫn chưa nói chuyện được với Thắng. Bởi từ sau hôm gặp Thân, Thắng bị lao vào các cuộc họp liên miên. Hôm nay là cuộc họp của các các bộ, hôm khác lại là cuộc họp của toàn thể nhân viên bệnh viện để nghe phổ biến về chủ trương chính sách của chính quyền mới, một hôm khác là cuộc họp để thành lập công đoàn bệnh viện, người ta khẩn khoản mời họp, y tế Thừa Thiên mời họp, rồi cả những bạn quần vợt của anh cũng mời họp để bàn việc tổ chức đoàn thể. Cuối cùng là cuộc họp thành lập chi hội Văn hóa cứu quốc Thuận Hóa. Chính Thân đã nói miệng với Thắng về việc này. Thân đã giới thiệu Thắng với các thi sĩ nhà văn, nhà báo, với các giáo sư mà có lẽ Hanh quen nhiều hơn là Thắng. Thắng nhận lời dự đại hội và trong đại hội anh được bầu vào ban chấp hành. Hồng Ngọc và cả Phương, vợ Hanh cũng được mời đi họp và ghi tên vào Hội phụ nữ cứu quốc.



Tất cả những sự việc ấy, Hanh không hề biết. Một, hai tuần nay, Hanh phải đi dạy học vì trường Khải Định đã khai giảng. Hanh cũng phải dự những cuộc họp giáo sư ở trường để nghe về chương trình giảng dạy mới, về chính sách giáo dục của chính quyền mới, những buổi họp mà Hanh hoàn toàn không thích và cảm thấy bị trói buộc. Tuy vậy, Hanh cũng chưa dám phát biểu những lời chống đối trong các buổi họp đó …



Một buổi tối, bỗng lại thấy “Tư trán nhẵn” đến. Hắn báo cho Hanh biết là quân Đồng minh đã vào đến Hà Nội và Sài Gòn, chỉ nay mai là đến Huế. Ở dưới vĩ tuyến 16 là quân đội Anh, ở ngoài này là quân Tàu. Ở Hà Nội,  Việt Nam Quốc dân Đảng đã ra công khai một tờ báo lấy tên là “Việt Nam”. Hắn đưa cho Hanh một tờ Việt Nam và giục Hanh tìm thêm người mới để mở rộng vây cánh. Hắn nói: “Bây giờ là lúc cần hoạt động mạnh hơn trước. Một mặt ngài nên tìm thêm người mới, mặt khác trong các cuộc họp bất kỳ mà ở đâu người ta mời ngài đến, ngài cứ việc mạnh bạo chỉ trích chính quyền. Nếu họ cãi lại, ngài sẽ buộc cho họ là không có dân chủ, là đàn áp ý kiến của người trí thức”.



Thế là Hanh quyết định nói ngay với Thắng. Nhưng ông đã quên không áp dụng cái phương pháp của ông bạn Hà Nội. Nghĩ rằng Thắng là em mình, Hanh đã nói tuột cho Thắng biết rằng ông đang làm lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng ở Huế, rằng Thắng nên theo ông gia nhập Quốc dân Đảng chống lại Việt Minh. Hanh nói: “Chú hiểu rõ rằng Việt Minh là độc tài và coi rẻ trí thức rồi chứ?”.



Thắng hết sức ngạc nhiên khi thấy Hanh tự xưng là lãnh tụ Quốc dân Đảng thành phố Huế. Xưa nay anh coi Hanh là người trí thức có phần hơi cũ, chỉ biết miệt mài với mấy cuốn sách cổ, vui thú gia đình, nuôi mộng lập đồn điền, có ngờ đâu Hanh lại đã nhảy ra làm chính trị từ lúc nào thế này. Từ lúc nào nhỉ? Thắng tự hỏi như thế. Và cũng như Hanh, Thắng chợt nhận ra rằng, tuy ở cùng với anh một mái nhà của bố để lại, nhưng Thắng chẳng biết gì về mọi công việc cũng như tâm tư, chính kiến của Hanh cả. Và anh không trả lời câu hỏi của Hanh, anh hỏi lại Hanh: “Anh làm lãnh tụ Quốc dân Đảng ở Huế này từ bao giờ thế? Trước đến nay, em có nghe nói tới Quốc dân Đảng bao giờ đâu, nghe đâu Đảng ấy đã không còn nữa từ sau khởi nghĩa Yên Bái thất bại rồi kia mà?”.



Hanh đã kể lại cho Thắng nghe về việc gặp giáo sư Nguyễn Hoan ở Hà Nội vào, câu chuyện trao đổi giữa hai người và tin mới đây nhất: Quân Đồng minh sắp và đến Huế, và Quốc dân Đảng đã ra công khai ở Hà Nội. Hanh nói tiếp: “Anh chắc rằng chú cũng như anh, chúng ta là những người trong giới thượng lưu, trí thức, chúng ta không thể sống mãi dưới chế độ của Việt Minh được”.



Trong một thoáng, Thắng đã thấy ngờ ngợ. Người ưa nói đạo đức như Hanh mà chống lại Việt Minh thì chắc là có chuyện thế nào đây. Hanh nói đúng hay sai? Hanh nói đúng sự thật hay là chuyện do ai bịa đặt ra để lừa Hanh. Không, Thắng nghĩ, Hanh không phải là hạn người bịa đặt ra những chuyện tầm bậy được. Thế thì câu chuyện Việt Minh coi rẻ trí thức là có thật hay sao? Thắng chợt nhớ tới Thân, tới buổi gặp gỡ đầu tiên giữa anh và Thân ở bệnh viện, tới lúc Thân đem đi giới thiệu với các nhà trí thức đi theo cách mạng. Anh nhớ lại buổi họp đại hội thành lập Hội văn hóa cứu quốc trong đó anh đã thấy rất đông các nhà trí thức có tiếng tham gia và anh đã nghe được bài nói chuyện sôi nổi, đầy nhiệt huyết và rất sâu sắc của Thân, thay mặt Việt Minh nói về vấn đề văn hóa cách mạng. Không, anh nghĩ, cán bộ Việt Minh mà như Thân thì sao bảo là độc tài, là coi rẻ trí thức được. Anh thận trọng từng lời trả lời Hanh:



- Em chưa biết Quốc dân Đảng của anh theo đường lối như thế nào, nhưng theo em thấy thì Việt Minh không phải là những người coi rẻ trí thức.



- Sao chú biết họ không coi rẻ? Chú không nghe chuyện con sen nhà anh Tham Nghị đi họp tự vệ về mắng lại cả anh chị ấy sao? Thế mà Long nó có can thiệp, lại bị chính quyền gọi ra cảnh báo.



- Có, em có biết. Em còn biết nhiều chuyện không hay khác. Nhưng em cho rằng trong một cuộc cách mạng có đông đảo dân chúng tham gia thì tránh sao được những lệch lạc nhỏ.



- Nhỏ! Những việc như thế mà chú cho là nhỏ! Thế việc họ bắt giam cụ thượng thư và đối xử như bất cứ một tên dân đen nào khác, có là nhỏ không?



- Anh kể trường hợp ai thì được chứ trường hợp đó thì em không chịu. Đó chẳng qua chỉ là một quan lại của triều đình cũ …



- Hừ, quan lại, quan lại … Chú quên mất rằng thầy chúng ta cũng đã làm quan!



- Là em nói rằng cụ ấy là quan lại … nghĩa là không phải là trí thức … như anh với em chẳng hạn …



- Chú nói thế không được! Thế anh hỏi chú, Việt Minh không coi rẻ trí thức, thế sao không có người trí thức có danh tiếng nào theo Việt Minh cả. Đấy ở Hà Nội, ông Hoan ông ấy bảo gần hết các nhà tri thức đều theo Quốc dân Đảng còn ở Huế thì chú cho tôi biết có ai là trí thức theo Việt Minh nào?



- Thì em xin hỏi anh rằng ở Huế có những ai là trí thức có tiếng mà theo Quốc dân Đảng không đã?



- Hanh thấy nóng mặt trước câu hỏi vặn lại của Thắng mà Hanh cho là hỗn. Thì ra nó cho ngay cả mình cũng không phải là trí thức chăng? Nhưng, quả thật thì Hanh cũng thấy chút bối rối. Thật ra thì ngoài giáo sư Nguyễn Hoan ở Hà Nội vào, Hanh chưa kết nạp thêm được một người nào khác.



II



Làng Nam Phổ nằm dọc ngay bên bờ một con sông nhỏ, một con sông hình như sinh ra chỉ đủ nước cho trâu đằm và trẻ con bơi lội đùa nghịch. Từ trên quốc lộ 1 đi vào làng, có một con đường lát gạch ngắn, không biết do viên chánh tổng hay lý trưởng nào của làng đứng ra quyên góp làm tự bao giờ. Còn các con đường khác chạy vào làng đều là những con đưòng sống trâu, mùa mưa thì lội bì bõm, còn tạnh mưa là trâu đi giẫm nát đưòng và tạo nên những rãnh nhỏ mấp mô. Trong làng chỉ dăm ba mái nhà ngói, còn hầu hết là những nóc nhà tranh thấp, bé. Làng nghèo, ngoài cây lúa, dân làng còn trồng thuốc lá, phần lớn là để vấn hút. Vì vậy khi bước chân vào làng, sẽ thấy mùi hăng hăng, nồng nồng của những lá thuốc đang phơi trong các nhà. Lảng có thói quen dậy rất sớm lúc còn đang nhọ mặt người, ăn cơm không đèn, rồi sờ soạng trong bóng tối đánh trâu đi làm ruộng. Nhiều khi người này cách người kia vài bước chân, nghe cả hơi thở của nhau nhưng lại không nhìn rõ mặt nhau.



Sáng hôm ấy, chị Ngạc cũng dậy rất sớm như mọi người. Mấy hôm nay, chị bận rộn lo đám cưới của chị với Thân. Chị luôn rạo rực, bồi hồi với hạnh phúc sắp tới, niềm hạnh phúc đến với chị tuy không đột ngột, nhưng cũng là không ngờ. Bởi chị và Thân đã hứa hẹn với nhau từ ngày chị mới qua tuổi dậy thì, nhưng rồi họ đã phải xa nhau đằng đẵng bảy, tám năm trời, những tưởng rằng trong kiếp này không còn được gặp nhau mà xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Có ai ngờ cuộc cách mạng lại nổ ra sớm như thế...



Thế mà, đám cưới đã gần đến nơi, chú rể thì ở ngay trên tỉnh cũng không thèm đảo về làng lấy một tý, chỉ nhắn về rằng: “Bận lắm”. Thì có dễ mình rỗi - Chị Ngạc nghĩ - chị cũng bận tối mắt, nào là công tác phụ nữ huyện, nào là vận động tăng gia sản xuất, nào là vận động lập hũ gạo tiết kiệm để cứu đồng bào Bắc Bộ bị đói, nào là... Chao ôi, hàng trăm thứ việc, kể sao cho hết. Có dễ chỉ mình anh ấy bận! Bận, bận rồi cứ ở trên ấy chờ người ta làm cho xong hết cả mọi việc rồi về mà hưởng. Chị chợt đỏ mặt thẹn một mình. Hưởng gì? Anh ấy hưởng cái gì? Còn gì nữa, là hưởng hạnh phúc của đám cưới mà chị chính là nguồn của hạnh phúc đó, và cũng là người được cùng anh hưởng...



Chị Ngạc lắc đầu, quyết nghĩ sang việc khác để gạt cơn mơ mộng khỏi đầu. Chị lẩm bẩm: “Người gì mà lạ...”. Cũng may mà mấy bác, mấy chú và các đồng chí trong xã đã giúp cho những việc khó nhất. Chị nhìn ra ngoài sân. Cái rạp bằng nứa để làm đám cưới đã dựng xong, trên có che cót cẩn thận. Cái buồng bà mẹ Thân dành cho vợ chồng chị đêm tân hôn cũng đã dọn dẹp xong, bên ngoài cửa buồng có một tấm vải làm màn che. Mâm, bát, đĩa để làm đám cưới cũng đã đủ cả. Chị Ngạc tự hào trong việc chuẩn bị những thứ linh tinh mà phức tạp ấy, chị đã không để cho bà cụ mẹ Thân phải mó tay vào bất cứ cái gì. Bà cụ đã già rồi, lưng đã còng, má đã hóp, tóc đã bạc phơ. Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, chị Ngạc tuy chưa chính thức làm lễ cưới với Thân nhưng đã về ở với cụ. Cụ coi chị không phải như con dâu mà như con đẻ.



Ngồi cuộn những lá thuốc đã phơi khô và đã ủ lên màu nâu nhạt để chuẩn bị thái ra cho khách dự cưới hút, chị Ngạc lại đắm mình trong cơn mơ màng suy nghĩ. Chị nhớ lại quãng đời đã qua của Thân và của chị. Hai người quê cùng một làng, ở cùng một xóm. Thân là con một nhà làm ruộng nghèo. Bố mẹ Thân có năm con mà cả nhà chỉ có hai mảnh ruộng cộng được hai sào bảy thước. Hai anh của Thân bị chết bệnh vào một năm đói nào đã xa lắm. Lớn lên khoảng mưòi lăm tuổi, Thân đã thành con cả trong gia đình. Thế mà nhờ có một ông chú giúp đỡ thêm, Thân cũng được đi học với cụ hương sư trong làng rồi lên học trường huyện đến lớp nhì thì thôi. Đến hai em Thân, một trai một gái thì không được đi học nữa, hai người ấy biết chữ là do Thân dạy lại. Vừa đi học, Thân vừa phải giúp bố mẹ làm ruộng. Bố mẹ Thân lo làm những thửa ruộng công do xã quan cấp và mấy thửa ruộng lĩnh canh của Lý cựu Đang, tay nhà giàu bậc nhì trong làng. Thân và hai em làm hai mảnh ruộng nhà, mưòi bốn tuổi anh đã phải cầm cày, vác bừa đi theo trâu. Đi học về rồi, Thân phải cho trâu đi ăn cỏ, con trâu mà bố mẹ Thân chỉ có một chân, ba chân kia là của ông chú là một nhà trung nông không sung túc lắm nhưng khá hơn nhà Thân một chút. Chính vì đi chăn trâu mà Thân biết Ngạc. Từ lúc mới lên chín, chị đã phải đi chăn trâu, con trâu mộng to béo của Lý cựu Đang. Anh con trai mười lăm và cô bé con lên chín ấy chơi với nhau thân thiết lắm. Hai đứa thường chờ nhau cùng dắt trâu đi một lúc, cùng cho trâu xuống đằm ở con sông nhỏ sau làng và cùng bơi lội đùa nghịch. Một lần Ngạc cho trâu xuông đằm còn mình xuống tắm, lúc ấy cô bé đã lên mười, bỗng bị hụt trôi vào một vực nước sâu và xoáy. Cô kêu lên hoảng hốt, hai tay chới với và mồm đã nuốt phải mấy ngụm nước đục ngầu, chất hăng xè bốc lên mũi, ngạt cả óc. Thân đã nhanh nhẹn bơi lại, khẽ cầm tay cô kéo lên và thế là thoát. Thật hú hồn hú vía. Tuy uống phải ngụm nước, hai đứa vẫn cười. Ngạc đã dặn Thân về đừng nói cho ai biết mà phải đòn oan. Nhà Ngạc cũng nghèo như nhà Thân nhưng vì không có con trai, chị phải đi ở cho Lý cựu Đang từ năm lên tám. Năm cô mười sáu tuổi, bố mẹ cô lần lượt qua đời trong cùng một năm. Từ đấy, cô tứ cố vô thân, nhưng cô không ở với Lý cựu Đang nữa mà về ở nhờ ngay nhà Thân, coi Thân như anh ruột và coi mẹ Thân (lúc này bố Thân cũng đã chết) như mẹ đẻ của mình. Thân không hiểu nghe ai, mà cuối năm có mặt trận bình dân bên Pháp, một hôm đã lên tận huyện nghe ông Hải Triều diễn thuyết. Năm ấy có lẽ Thân khoảng hai ba, hai tư tuổi, anh thôi học đã lâu và phải ở nhà chuyên lo cày bừa, trong khi Ngạc và hai em Thân lo gieo, cấy, làm cỏ, bỏ phân, gặt hái. Không biết Thân đi nghe nói chuyện những gì mà thấy anh có vẻ biết thêm rất nhiều chuyện, những câu những chữ anh dùng có vẻ khác đi, trong làng từ trước đến nay chưa hề thấy ai nói như thế. Thế rồi bà cụ cũng như Ngạc và hai em Thân nhận thấy cứ đến đêm là anh lại đi đâu không biết, Thân đánh bạn với mấy anh trai làng nghèo cùng học trên trường huyện. Rồi một đêm, lúc bà cụ ngủ, Ngạc nằm trong buồng với bà cụ, hé mắt nhìn qua bức vách thấy Thân đang ngồi với mấy người nữa, thầm thì những gì nghe không rõ nhưng trên bức vách trước mặt mấy người, thấy có treo một lá cờ nhỏ xíu, màu đỏ chói, trên có hình một cái liềm và một hình khác như hình cái búa của thợ rèn. Hội kín, anh ấy làm hội kín, Ngạc nghĩ như thế và tự nhiên thấy vô cùng sợ hãi. Anh ấy mà làm hội kín thì chết chứ không chơi, cô nghĩ thế, mặc dù cô cũng không biết hội kín là cái gì và vì sao mà nguy hiểm. Ngạc đã không giữ nổi tính tò mò, cô lựa một hôm chỉ có mình cô với Thân, cô hỏi anh về cái buổi họp tốì hôm ấy và cái lá cờ lạ lùng ấy. Cô vừa hỏi vừa rơm rớm “anh làm cái gì mà không cho em biết, em sợ cho anh lắm”. Trong giọng nói của cô, trên nét mặt của cô, và trong dòng nước mắt bất ngờ của cô, Thân vụt đọc thấy tất cả tình yêu thắm thiết của Ngạc đối với mình. Hai người yêu nhau từ đấy, Thân dạy cho cô học chữ, giảng cho cô nghe về lá cờ đỏ búa liềm, về con đường cách mạng mà anh đã quyết đi theo. Ngạc nhận giúp Thân trong công tác cách mạng, cô đi liên lạc, đem theo thư từ bí mật của chi bộ lên huyện ủy và từ huyện ủy về chi bộ, cô lại đứng ra lập hội phụ nữ bí mật trong xã. Thân đã dẫn dắt cô theo con đường cách mạng và từ một cố nông đi ở cho địa chủ, Ngạc trở thành một cán bộ có nhiều kinh nghiệm đấu tranh. Họ đã sắp làm lễ cưới thì cuối năm 1939, Thân bị bắt. Anh bị giam ở Lao Bảo, ở Đắc Tô. Anh đã hai lần vượt ngục nhưng không dám về làng. Ở làng, Ngạc cũng bị đứt liên lạc với cấp trên vì huyện ủy trước đã bị vỡ, chị phải ngừng hoạt động và nằm chờ đến hơn một năm. Năm 1942, chị liên lạc lại được với phong trào nhờ một bức thư  bí mật của Thân lúc này vừa vượt ngục gửi về cho tỉnh ủy Thừa Thiên. Tỉnh ủy bố trí cho chị vào làm ở sở vôi Long Thọ, để cho chị tránh được sự rình mò của bọn phản động ở làng, vừa để cho chị có thể hoạt động trong số nữ công nhân của sở vôi. Chị chỉ biết tin tức của Thân có mỗi một lần ấy, ngoài ra là hoàn toàn mù tịt. Nhưng chị vẫn đợi chờ mặc dù theo lệ ở làng Nam Phổ, con gái lấy chồng rất sớm và chị đã quá tuổi hai mươi. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, chị thấy Thân xuất hiện trong buổi biểu tình hôm ấy, Ngạc vừa sung sướng vì cách mạng thành công nhanh chóng, vừa sung sướng vì rõ ràng chị thấy Thân đứng trên máy phát thanh nói chuyện với đồng bào. Buổi tối hôm cướp chính quyền ấy, chị đã tới trụ sở ủy ban Việt Minh tỉnh tìm và chị đã gặp Thân, cũng là lúc Thân đang ngập đầu trong công việc rối bời. Hai người chỉ kịp nói: “Anh Thân”, “Ngạc” nỗi vui mừng chưa kịp giãi tỏ với nhau thì Thân đã bị giục đi họp gấp ủy ban khởi nghĩa để bàn việc cho ủy ban nhân dân lâm thời ra mắt. Và Thân chỉ kịp báo cho Ngạc biết là tỉnh ủy quyết định điều chị về làm công tác phụ nữ huyện Quảng Điền. Vài hôm sau, nhân một buổi tối Thân về Nam Phổ thăm mẹ, bà cụ ôm anh khóc và giục anh phải làm lễ cưới Ngạc ngay “để nếu tau có chết tau nhắm mắt mới yên tâm”. Thân kêu là cách mạng mới thành công, anh bận lắm, nhưng bà cụ đã mắng át đi và dọa bỏ nhà đi biệt nếu anh không vâng lời mẹ. Thế là anh quyết định, đám cưới được tổ chức một tháng sau khi cướp chính quyền…



Ngạc vừa cuộn thuổc lá vừa mỉm cưòi một mình. Chị không ngờ mười mấy năm trời lại trôi qua nhanh như vậy. Chị mường tượng như mới hôm qua đây, Thân và chị lần đầu tiên ngỏ ý yêu nhau. Lúc ấy họ chưa biết ôm hôn nhau, mãi sau này vào thành phố Huế chị mới được biết người ta lặm chuyện ấy - họ chỉ nắm lấy tay nhau, nhìn vào mắt nhau và cả hai bên đều thẹn, cố nhiên Thân có bạo dạn hơn và sau đó đã chủ động hơn. Ấy thế mà từ ngày ấy đến nay trên mười năm trời đã trôi qua. Đã bao đêm chị nằm mê thấy Thân bị tra tấn, bị bỏ đói trong ngục tối, bị lạc trong rừng sâu và có lần thấy Thân chết, thế mà lưu lạc bao nhiêu năm, may mà anh ấy về vẫn mạnh khoẻ, tuy nước da có hơi tai tái màu sốt rét rừng nhưng nét mặt anh lại rắn rỏi hơn và đôi mắt thì lại như có vẻ tinh nhanh, thạo đòi hơn trước. Anh ấy bây giờ không có dáng dân cày cuốc nữa rồi - chị thầm nghĩ như vậy.



Bà cụ Thân tới đằng sau lưng Ngạc lúc nào không hay, lên tiếng phàn nàn:



- Cái thằng lạ! Mai cưới rồi mà hôm nay chưa thấy về!



Chị Ngạc nói đỡ cho Thân: “Anh ấy bận lắm mẹ ạ. Ngày làm việc đêm họp, chủ nhật cũng không nghỉ. Con nghe có người nói sau cách mạng, anh nào anh nấy gày sọm đi, còn mệt hơn cả hồi hoạt động bí mật phải trốn tránh Tây nó lùng sục”. Nói vậy nhưng chính chị cũng sốt ruột không kém bà cụ, nếu không muốn nói là sốt ruột hơn. Ba hôm nay được huyện ủy cho về xã để lo lễ cưới, trong tâm trạng chờ đợi Thân, chị thấy thời gian đi quá chậm.



Buổi sáng trôi qua, buổi chiều rồi cũng hết. Mãi đến chập choạng tối hôm ấy Thân mới về. Cùng đi với anh mấy đồng chí trong ủy ban Việt Minh tỉnh. Bà cụ mừng quá, quên cả những điều cụ đã dành mắng Thân lúc sáng. Thân cũng biết là mẹ và Ngạc sốt ruột chờ anh. Anh dịu dàng nói khéo với bà cụ và xin lỗi Ngạc. Anh hỏi công việc chuẩn bị đã xong chưa và khi nghe Ngạc nói đã xong hết cả, anh đề nghị để anh đi cảm ơn các đồng chí trong xã đã giúp đỡ gia đình anh trong việc dựng rạp, chuẩn bị lễ cưới. Anh nói: “Nhân tiện cũng để bố trí cho các đồng chí về chơi ngủ tối nay”.



 Ngạc nói: “Anh cứ đi đi, mọi việc thật là xong cả rồi”.



Nhưng anh không phải đi đâu cả. Các đồng chí trong xã nghe tin anh về đã kéo tới chật nhà. Không thấy ai nói với anh những lời chúc mừng khách sáo, họ quây lấy anh hỏi về công việc. Bởi vì cũng như khắp mọi nơi trong tỉnh, từ ngày cách mạng thành công đến nay, công việc của họ thật là rốì tinh rối mù lên. Thân đã chăm chú nghe các đồng chí trong xã kể lại tình hình công tác và anh đã góp ý kiến tỉ mỉ với họ về các công việc cần làm, từ việc vận động tăng gia sản xuất , việc xin tách số đảng viên của làng nam phổ ra khỏi chi bộ ghép để lập chi bộ riêng , cho đến việc chia lại công điền và việc vận động bình dân học vụ. Mãi đến khuya họ mới giải tán và mấy đồng chí trong làng mời các đồng chí trên tỉnh về ngủ nhà mình.



Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, khi lễ cưới sắp sửa bắt đầu thì trên quốc lộ 1 bỗng nghe có tiếng còi ô-tô và một lát sau thấy Thắng và Hồng Ngọc theo con đường lát gạch bước vào cổng làng. Lũ trẻ con trông thấy “ông mặc đồ Tây và bà mặc áo dài “ trước tiên . Nghe chúng chạy tới báo, Thân bước vộ ra đón, mừng rỡ. Lũ trẻ con thập thò sau những bụi chuối, giậu găng trố mắt nhìn Thân đi với hai ông bà sang trọng mà chúng chưa thấy bao giờ. Cả các đồng chí trong xã , trong những bộ áo cánh nâu quần trắng – có lẽ là mới nhất và sạch nhất của họ - và có những cán bộ Việt Minh tỉnh trong những bộ đồ kaki không còn nếp gấp, cũng quay mặt ra nhìn vợ chồng Thắng. Có lẽ họ hơi là lạ khi gặp một người bạn của Thân mà có dáng diệu sang trọng như thế.



Thắng cũng cảm thấy ngay là vợ chồng anh hơi lạc lõng với bộ đồ âu phục có đeo cà vạt đàng hoàng của anh và bộ áo dài quần trắng sang trọng của Hồng Ngọc. Trước đây nữa tiếng, thật ra vợ chồng anh không phải không bàn với nhau về cách ăn mặc khi về đây ăn cưới . Nhưng chính Thắng đã bảo Hồng Ngọc phải ăn mặc chỉnh tề vì “ đám cưới là một nghi lễ hạnh phúc của người ta. Mình ăn mặc chỉnh tề là tỏ ra tôn trong và vui mừng cho hạnh phúc của người ta”. Thật ra thì Thắng đã tưởng tượng hoàn toàn khác hẳn những cảnh anh thấy tận mắt ở đây. Khi nhận lời mời tới dự đám cưới Thân, anh nghĩ rằng nhà Thân chắc hẳn phải là một nhà ngói không năm gian thì cũng phải ba gian, có sân gạch, bể nưóc, có giàn thiên lý, và dưới giàn thiên lý râm mát, thế nào chẳng có đôi ghế tràng kỷ và cái bàn gỗ gụ để mời khách ngồi chơi xơi nước. Bây giờ thì anh ngập ngừng nhìn thấy những tấm ván kê lên làm bàn, ba bốn thanh bương dài kê lên làm ghế và cái rạp bằng nứa trên che mấy tấm cót dài.



Nhưng Thân như không để ý đến sự bối rối của Thắng, anh chạy vào trong nhà kéo Ngạc ra và giới thiệu với Hồng Ngọc: “Đây là Ngạc vợ tôi”.



Hồng Ngọc hơi ngạc nhiên. Trước mặt chị là một người con gái mặc áo cánh ngắn và không hể đánh phấn, mặc dù đã sắp làm lễ cưới. Chị đã tưỏng vợ Thân chắc phải là một người sắc sảo, không phải người thành phố thì cũng là người phố huyện. Nhưng nhìn kỹ, chị nhận thấy ngay là Ngạc không xấu, hơn nữa, chị ta rất có duyên, người chị thon nhỏ mà rắn chắc, nước da rám nắng nhưng vẫn mịn màng dễ trông, tóc búi sau gáy mà không quấn lên đầu, khuôn mặt thon thon mà bầu bĩnh và đặc biệt cặp mắt mới đậm đà và tình tứ làm sao, cặp mắt làm người ta mới nhìn qua đã không thể không chú ý được. Và Hồng Ngọc còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy người con gái nhà quê mới thoạt trông có vẻ hơi nhút nhát khi đứng trước người sang trọng của tỉnh thành, đã rất tự nhiên không chút ngượng ngùng mời chị vào chơi trong nhà với bà cụ và vui vẻ hỏi chị về gia đình và việc học hành của các con chị.



Chẳng mấy chốc, vẻ xa lạ đầu tiên của Thắng và Hồng Ngọc đã tiêu tan hết, vợ chồng anh hầu như quên mất sự ăn mặc quá cách biệt của mình với những người chung quanh và họ ngồi quây quần với nhau chuyện trò vui vẻ.



(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »