tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18435471
30.03.2015
Tư liệu
Nhà văn cần biết về Kinh tuyến, Vĩ tuyến, Tọa độ địa lý, Hải lý…



 


Nhà văn Triệu Xuân thăm Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich, nơi đánh dấu kinh tuyến gốc của trái đất. Tại đây hiển thị tên thành phố Sài Gòn: Kinh độ 106 độ 40’55’’ Đ


Kinh tuyến là một nửa vòng tròn trên bề mặt Trái Đất, nối liền hai Địa cực, có độ dài khoảng 20.000 km, chỉ hướng bắc-nam và cắt thẳng góc với đường xích đạo. Mặt phẳng của kinh tuyến 0° (chạy qua đài quan sát thiên văn tại Greenwich thuộc Luân Đôn) và kinh tuyến 180°, chia Trái Đất ra làm hai bán cầu – Bán cầu đông và Bán cầu tây.


 


 


 


 



Các kinh tuyến nối liền các cực từ là các kinh tuyến từ, những kinh tuyến nối liền các Địa cực thì gọi là các kinh tuyến địa lý, còn các đường kinh tuyến vẽ trên bản đồ – là các kinh tuyến họa đồ.



Kinh tuyến này còn được gọi là kinh tuyến địa lý, để phân biệt với kinh tuyến địa từ là giao tuyến giữa bề mặt Trái Đất và mặt phẳng đi qua đường thẳng nối các cực địa từ bắc và nam



Kinh tuyến gốc, còn gọi là kinh tuyến số không là kinh tuyến có kinh độ bằng 0°, đi ngang qua đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Luân Đôn, nước Anh.



Trong nhiều thế kỉ trước, El Hierro (còn được gọi là "Đảo Kinh tuyến") của Tây Ban Nha vẫn được coi là điểm mà "kinh tuyến số 0" chạy qua. Ngay từ thế kỉ 2 chính Ptôlêmê đã vận dụng điểm "cực viễn Tây" của lục địa châu Âu để đặt kinh tuyến "mốc 0", nhờ đó mà tất cả mọi điểm trên thế giới, đã được biết đến, đều có tọa độ (kinh độ) Đông và theo qui ước này thì đều dương.



Người ta dùng "kinh tuyến số 0" làm mốc để vẽ bản đồ và để tính toán tọa độ địa lí, nhất là đối với các nhà hàng hải và địa lí của Anh.



Greenwich (Anh phát /ɡrɪnɪdʒ/ GRIN-ij;[1][2][3] Mỹ /ɡrɛnɪtʃ/ GREN-ich hay /ɡrɛnɪdʒ/ GREN-ij)[4][5][6] là một quận nằm ở Nam Luân Đôn, Anh, thuộc Khu Greenwich của Luân Đôn.



Greenwich nổi tiếng nhất về lịch sử hàng hải và tên gọi "kinh tuyến Greenwich" ((kinh tuyến gốc) 0° độ) và "giờ trung bình Greenwich" (GMT). Kinh tuyến gốc đi ngang qua Đài thiên văn Hoàng gia tại đây. Đây là nơi toạ lạc lâu đài hoàng gia, lâu đài Placentia từ thế kỷ 15, là nơi ra đời của nhiều vị vua trong triều đại Tudor, bao gồm Henry VIII và Elizabeth I. Lâu đài rơi vào tình trạng đổ nát trong Nội chiến Anh và được xây dựng lại thành Bệnh viện Greenwich. Sau đó trở thành Cao đẳng Hải quân Hoàng gia vào năm 1873, và tiếp tục là nơi đào tạo quân sự cho đến năm 1998 khi thuộc quản lý của Greenwich Foundation. Những căn phòng lịch sử trong lâu đài mở cửa cho công chúng tham quan, các công trình khác được Đại học Greenwich và Cao đẳng âm nhạc Trinity sử dụng.



Greenwich là một phần của hạt Kent cho tới khi Hạt của Luân Đôn thành lập vào năm 1889.



Vĩ tuyến



Năm đường vĩ tuyến đặc biệt của Địa Cầu



Trên Trái Đất hay các hành tinh hoặc thiên thể hình cầu, vĩ tuyến là một vòng tròn tưởng tượng nối tất cả các điểm có cùng vĩ độ. Trên Trái Đất, vòng tròn này có hướng từ đông sang tây. Vị trí trên vĩ tuyến được xác định bằng kinh độ. Một vĩ tuyến luôn vuông góc với một kinh tuyến tại giao điểm giữa chúng. Các vĩ tuyến ở gần cực Trái Đất có đường kính nhỏ hơn.



Có 5 vĩ tuyến đặc biệt trên Trái Đất. Bốn vĩ tuyến được định nghĩa dựa vào mối liên hệ giữa góc nghiêng của Trái Đất so với mặt phẳng quỹ đạo của nó quanh Mặt Trời. Vĩ tuyến thứ năm, xích đạo, nằm giữa hai cực. Chúng là:



    Vòng Bắc cực (66° 33' 38" vĩ bắc)



    Hạ chí tuyến (23° 26' 22" vĩ bắc)



    Xích đạo (0° vĩ bắc)



    Đông chí tuyến (23° 26' 22" vĩ nam)



    Vòng Nam Cực (66° 33' 38" vĩ nam)



Hạ chí tuyến và đông chí tuyến là các ranh giới phía bắc và phía nam của vùng đất trên Trái Đất có thể thấy được Mặt Trời đi qua đỉnh đầu trong ít nhất một thời điểm trong năm. Vòng cực bắc và vòng cực nam là ranh giới của vùng xung quanh cực Trái Đất, nơi có thể nhìn thấy Mặt Trời trong suốt ít nhất một ngày giữa mùa hè trong năm.



Các vĩ tuyến là các đường tà hành, nhưng ngoại trừ xích đạo, chúng không phải là vòng tròn lớn, và do đó không chứa các cung là quãng đường ngắn nhất giữa các điểm, ngược với những gì nhìn thấy trên một số bản đồ nơi chúng được vẽ bằng các đường thẳng. Các chuyến bay trên bắc bán cầu giữa các điểm có cùng vĩ độ sẽ đi theo đường ngắn nhất trông giống một đường cong lệch về phía bắc trên các bản đồ như trên.



Các cung trên vĩ tuyến trên Trái Đất đôi khi được dùng làm biên giới giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Một vài vĩ tuyến được dùng như biên giới:



    Biên giới giữa Canada và Hoa Kỳ hầu như hoàn toàn nằm trên vĩ tuyến 49° bắc, ngoại trừ phần giữa Québec và Vermont nằm trên vĩ tuyến 45° bắc.



    Vĩ tuyến 38° bắc được dùng để phân chia Triều Tiên và Hàn Quốc.



    Vĩ tuyến 17° bắc được dùng để phân chia Việt Nam theo hiệp ước Genève.



    Vĩ tuyến 60° nam được dùng để phân định biên giới cho châu Nam Cực



Hệ tọa độ địa lý



Bản đồ Trái Đất cho thấy các vĩ tuyến (ngang) và kinh tuyến (dọc), phép chiếu Eckert VI; phiên bản lớn (pdf, 1.8MB)



Hệ tọa độ địa lý cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng ba tọa độ của hệ tọa độ cầu tương ứng với trục quay của Trái Đất.



Chiều thứ nhất và thứ hai: vĩ độ và kinh độ



Dựa theo lý thuyết của những người Babylon cổ đại, rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếng người Hy Lạp Ptolemy mở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được chia thành 360 độ (360°).



Vĩ độ phi(φ) và Kinh độ lambda (λ)



    Vĩ độ (ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng (phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa độ-chính là trọng tâm của địa cầu) tại điểm đó và mặt phẳng tạo bởi xích đạo. Đường tạo bởi các điểm có cùng vĩ độ gọi là vĩ tuyến, và chúng là những đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất. Mỗi cực là 90 độ: cực bắc là 90° B; cực nam là 90° N. Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán cầu bắc và Bán cầu nam.



    Kinh độ (ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt Trái Đất là góc tạo ra giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc. Kinh độ có thể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất và mặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nối hai cực bắc nam địa lý. Những đường thẳng tạo bởi các điểm có cùng kinh độ gọi là kinh tuyến. Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, và không song song với nhau: theo định nghĩa, chúng hội tụ tại hai cực bắc và nam. Đường thẳng đi qua Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich (gần London ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) là đường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giới hay còn gọi là kinh tuyến gốc. Kinh tuyến đối cực của Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.



 



Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất.



Ví dụ, Baltimore, Maryland (ở Hoa Kỳ) có vĩ độ 39,3° Bắc, và kinh độ là 76,6° Tây (39.3° B 76.6° T). Do đó, một vector vẽ từ tâm Trái Đất đến điểm 39,3° phía bắc xích đạo và 76,6° phía tây đường Greenwich sẽ đi qua Baltimore.



"Mạng" vĩ độ/kinh độ này gọi là lưới địa lý. Cũng có một lưới ngang bổ sung (có nghĩa là bộ lưới được dịch chuyển một góc 90°, sao cho địa cực trở thành đường xích đạo ngang), trên đó tất cả các lượng giác cầu đều dựa vào.



Từ trước đến nay, độ được chia thành phút (1 phần 60 độ, ký hiệu là ′ hoặc "m") và giây (1 phần 60 phút, ký hiệu là ″ hoặc "s"). Có nhiều các viết độ, tất cả chúng đều xuất hiện theo cùng thứ tự Vĩ độ - Kinh độ:



    DMS (Degree:Minute:Second) Độ:Phút:Giây (Ví dụ: 49°30'00"-123d30m00s)



    DM (Degree:Minute) Độ:Phút (Ví dụ: 49°30.0'-123d30.0m)



    DD (Decimal Degree) Độ thập phân (Ví dụ: 49.5000°-123.5000d), thường với 4 số thập phân.



Để chuyển từ DM hoặc DMS sang DD, độ thập phân = số độ cộng với số phút chia cho 60, cộng với số giây chia cho 3600. DMS là định dạng phổ biến nhất, và là tiêu chuẩn trên tất cả các biểu đồ và bản đồ, cũng như hệ định vị toàn cầu và hệ thông tin địa lý.



Trên mặt cầu tại mực nước biển, một giây vĩ độ bằng 30.82 mét và một phút vĩ độ bằng 1849 mét. Các vĩ tuyến cách nhau 110,9 kilômét. Các kinh tuyến gặp nhau tại cực địa lý, với độ rộng một giây về phía đông-tây phụ thuộc vào vĩ độ. Trên bề mặt cầu tại mực nước biển, một giây kinh độ bằng 30,92 mét trên xích đạo, 26,76 mét trên vĩ tuyến thứ 30, 19,22 mét tại Greenwich (51° 28' 38" B) và 15,42 mét trên vĩ tuyến thứ 60.



Chiều rộng của một độ kinh độ tại vĩ độ \scriptstyle{\phi}\,\! có thể được tính toán bằng công thức sau (để có được chiều rộng theo phút và giây, lần lượt chia cho 60 và 3600):



                    \frac{\pi}{180^{\circ}}\cos(\phi)M_r,\,\!



trong đó bán kính độ kinh trung bình của Trái Đất \scriptstyle{M_r}\,\! xấp xỉ bằng 6.367.449 m. Do sử dụng giá trị bán kính trung bình, công thức này dĩ nhiên không chính xác do độ dẹt của Trái Đất. Bạn có thể có được độ rộng thực của một độ kinh độ tại vĩ độ \scriptstyle{\phi}\,\! bằng:



        \frac{\pi}{180^{\circ}}\cos(\phi)\sqrt{\frac{a^4\cos(\phi)^2+b^4\sin(\phi)^2}{(a\cos(\phi))^2+(b\sin(\phi))^2}},\,\!



trong đó các bán kính xích đạo và cực của Trái Đất, \scriptstyle{a,b}\,\! lần lượt bằng 6.378.137 m, 6.356.752,3 m.



Xích đạo là mặt phẳng cơ bản của tất cả các hệ tọa độ địa lý. Tất cả các hệ tọa độ cầu đều định nghĩa một mặt phẳng cơ bản như vậy.



Giá trị vĩ độ và kinh độ có thể dựa trên vài hệ đo đạc hoặc mốc tính toán khác nhau, phương pháp phổ biến nhất là WGS 84 mà tất cả các thiết bị GPS đều dùng. Nói một cách nôm na, một điểm trên bề mặt Trái Đất có thể được mô tả bởi nhiều giá trị vĩ độ và kinh độ khác nhau tùy thuộc vào mốc tính toán đang dùng.



Trong phần mềm GIS phổ biến, mốc được chiếu theo vĩ độ/kinh độ thường được xác định thông qua 'Hệ tọa độ địa lý'. Ví dụ, mốc theo vĩ độ/kinh độ theo như Mốc Bắc Mỹ năm 1983 được chỉ ra trong 'GCS_North_American_1983'.



Chiều thứ ba: độ cao, chiều cao, chiều sâu



Yếu tố độ cao, chiều cao AB, chiều sâu BC và các yếu tố khác trong Hệ toạ độ địa lý



Để xác định hoàn toàn một vị trí nằm trên, ở trong hoặc ở phía trên Trái Đất, ta cần phải xác định độ cao của điểm, được định nghĩa bằng vị trí của điểm theo chiều thẳng đứng so với trung tâm của hệ thống tham chiếu hoặc một vài định nghĩa bề mặt Trái Đất. Điều này được mô tả theo thuật ngữ khoảng cách theo chiều thẳng đứng đến Trái Đất bên dưới, nhưng, do sự nhập nhằng của chữ "bề mặt" và "chiều thẳng đứng", nó thường được mô tả phổ biến hơn bằng cách so sánh với những mốc được định nghĩa chính xác hơn như mặt nước biển trung bình (chính xác hơn nữa là geoid, một mặt có thế năng trọng trường không đổi). Khoảng cách đến trung tâm Trái Đất có thể được dùng cho cả vị trí rất sâu hoặc một nơi nào đó trên không gian.



Những thuật ngữ khác được dùng tương ứng với khoảng của một điểm từ mặt đất hoặc một cột mốc khác là độ cao, chiều cao, và độ sâu.



Tọa độ địa tĩnh



Vệ tinh địa tĩnh (như vệ tinh truyền hình) nằm ở phía trên xích đạo. Do đó, vị trí của nó so với Trái Đất được biểu diễn bằng độ vĩ. Độ vĩ của chúng không thay đổi, và luôn luôn là zero đối với xích đạo.



Hải lý



1 Hải lý = Đơn vị quốc tế



1.852 m            1,852 km



1,852×106 mm 18,52×1012 Å



12,37986×10−9 AU        195,75655×10−15 ly



Kiểu Mỹ / Kiểu Anh



72,91339×103 in            6.076,11549 ft



2.025,37183 yd 1,15078 mi



 



Hải lý (ký hiệu M, NM hoặc dặm biển) là một đơn vị chiều dài hàng hải, là khoảng một phút cung của vĩ độ cùng kinh tuyến bất kỳ, nhưng khoảng một phút của vòng cung kinh độ tại đường xích đạo. Theo quy ước quốc tế, 1 hải lý = 1.852 m (khoảng 6.076 feet).



Nó là một đơn vị tổ chức phi SI (mặc dù được chấp nhận cho sử dụng trong hệ thống quốc tế của các đơn vị BIPM) được sử dụng đặc biệt là hoa trong ngành công nghiệp vận chuyển và hàng không,[1] và cũng trong thăm dò cực. Nó thường được sử dụng trong luật pháp quốc tế và điều ước, đặc biệt là về các giới hạn của vùng biển. Nó phát triển từ dặm biển và liên quan dặm địa lý.



Hải lý vẫn còn trong sử dụng bằng đường biển và hàng không trên toàn thế giới vì sự tiện lợi của nó khi làm việc với các bảng xếp hạng. Hầu hết các bảng xếp hạng hải lý được xây dựng trên Mercator chiếu có quy mô khác nhau theo từng yếu tố một khoảng sáu từ xích đạo đến 80° vĩ độ bắc hay phía nam. Đó là, do đó, không thể hiển thị quy mô tuyến tính để sử dụng trên các bảng xếp hạng trên quy mô nhỏ hơn khoảng 1/80, 000 đơn [2] Kể từ khi một hải lý, thực tế chuyển hướng, như là một phút vĩ độ, nó rất dễ dàng để đo khoảng cách trên một biểu đồ sử dụng dải phân, sử dụng quy mô vĩ độ ở phía bên của bảng xếp hạng trực tiếp đến phía đông hay phía tây của khoảng cách được đo.



Định nghĩa



Hải lý quốc tế được xác định bởi Hội nghị Thủy văn bất thường quốc tế đầu tiên, Monaco (1929) là chính xác 1852 mét.[1] Đây là định nghĩa duy nhất trong hiện trạng sử dụng rộng rãi, và là một trong những được chấp nhận bởi Tổ chức Thủy văn quốc tế và Văn phòng quốc tế về Cân nặng và Đo lường (BIPM). Trước năm 1929, các quốc gia khác nhau có định nghĩa khác nhau, và Liên Xô, Anh Quốc và Hoa Kỳ đã không chấp nhận các giá trị quốc tế.



Định nghĩa hải lý của cả Anh và Mỹ được dựa trên hình tự cầu Clarke (1866): đặc biệt, họ đã xấp xỉ khác nhau với độ dài một phút hồ quang dọc theo một vòng tròn của một giả thuyết lĩnh vực có diện tích bề mặt tương tự như hình tự cầu Clarke [3] hải lý Hoa Kỳ đã được định nghĩa như 1853.248 mét (6.080,20 phít Mỹ, dựa vào định nghĩa của phít) Mendenhall Đặt hàng của 1893 nó đã bị bỏ rơi trong lợi của hải lý quốc tế năm 1954 [4] hải lý Anh, còn được gọi là dặm Admiraltyđược quy định tại các điều khoản của các nút là một trong những hải lý chính xác là 6080 phít (1.853,184 m):[5] nó đã bị bỏ rơi trong 1970 [5], và cho các mục đích quy phạm pháp luật, tài liệu tham khảo cũ cho đơn vị đã lỗi thời hiện nay chuyển đổi chính xác sang 1853 mét. tên [6]



Dặm biển



Trong việc sử dụng tiếng Anh, hải lý, đối với bất kỳ vĩ độ, độ dài một phút vĩ độ ở vĩ độ đó. Nó thay đổi từ khoảng 1.842,9 mét (6.046 ft) tại đường xích đạo khoảng 1.861,7 mét (6.108 ft) tại các cực, với một giá trị trung bình của 1.852,3 mét (6.077 ft) [5] dặm hải lý của quốc tế đã được lựa chọn là số nguyên mét gần nhất với những dặm nước biển trung bình.



Mỹ sử dụng đã thay đổi gần đây. Các thuật ngữ trong các ấn bản năm 1966 của Bowditch của Mỹ Bowditch [7] định nghĩa một "hải lý" như là một "hải lý" Trong ấn bản năm 2002, thuật ngữ nói: "Một có nghĩa là giá trị gần đúng của hải lý bằng 6.080 phít theo chiều dài của một phút hồ quang dọc theo kinh tuyến tại vĩ độ 48° [8].



Hải lý cũng đã được định nghĩa là 6000 phít hoặc 1000 sải, ví dụ trong các đơn vị "Dresner của" Đo lường. Dresner bao gồm một nhận xét tác dụng này không được nhầm lẫn với hải lý.



Dặm địa lý



Dặm địa lý là chiều dài của một phút kinh độ dọc theo đường xích đạo, khoảng 1.855,4 m Quốc tế (1924) hình tự cầu tên [5] hoặc về 1855.325 m WGS 84 ellipsoid. Bowditch định nghĩa nó như là 6,087.08 phít, là 1,855.34 mét.[8] Thuật ngữ "dặm địa lý" cũng đã được sử dụng để tham khảo dặm biển có nghĩa là, sau này sẽ trở thành hải lý quốc tế.[3]



Không nên nhầm lẫn điều này với đơn vị tương tự như nghe geografische Meile, nhìn thấy trong các phép đo lịch sử của Đức. Đơn vị này đã được dự định được chiều dài của phút của vòng cung dọc theo đường xích đạo và tiêu chuẩn hóa là 7.421,6 mét. Tại Đức, "Mile", "UHR" hoặc "Stunde" thường đề cập đến 24.000 phít địa phương. Đây là khoảng cách người ta có thể đi bộ trong một giờ (Stunde).



Dặm điện báo



Một dặm điện báo là chiều dài tròn một phút hồ quang dọc theo đường xích đạo.



Dặm chiến thuật hoặc dặm dữ liệu



Một xấp xỉ, các nhà thiết kế của các hệ thống radar cho tên lửa đạn đạo, hành trình và tên lửa chống tàu được sử dụng bởi NATO lực lượng hải quân sử dụng 6.000 feet (1,828.8 m) là tương đương của một hải lý. Trong Hải quân Hoàng gia, điều này còn được gọi là một dặm dữ liệu.



Dặm Radar



Trong lý thuyết radar, những dặm dữ liệu (6.000 phít) là đơn vị chiều dài. Dặm radar là thời gian cần một xung radar đi du lịch một dặm dữ liệu ra và một dặm dữ liệu trở lại một lần nữa, tương đương với 12,277 ms. Giá trị này tương ứng với tốc độ ánh sáng (khoảng 3 ×108 m/s). Phạm vi của một radar có thể được xác định bằng cách chia thời gian lắng nghe (xung lặp đi lặp lại thời gian trừ đi độ rộng xung) bởi một dặm radar.



Ký hiệu đơn vị



Tổ chức Thủy văn Quốc tế, thành viên cơ bản bao gồm tất cả các quốc gia đi biển, và Văn phòng quốc tế về Cân nặng và Đo lường sử dụng M là chữ viết tắt cho hải lý [1].[9] viết tắt ưa thích của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế NM.[10] Các chữ viết tắt nm, mặc dù xung đột với các hệ thống quốc tế của các đơn vị SI ký hiệu cho nanomet, cũng được sử dụng rộng rãi. Các biểu tượng SI niutơn mét là Nm (với một không gian) hoặc N·m,Nm, bởi vì tiền tố chỉ có thể giáp một ký hiệu đơn vị [11]



Lịch sử



Định nghĩa lịch sử - 1 hải lý



Hải lý lịch sử đã được định nghĩa là một phút cung cùng một kinh tuyến của Trái Đất (bắc-nam), làm cho một kinh tuyến chính xác 180 × 60 = 10800 hải lý lịch sử [4]. Vì vậy có thể được sử dụng cho các biện pháp gần đúng trên một kinh tuyến như là thay đổi của vĩ độ trên hải lý biểu đồ. Định nghĩa ban đầu dự định của đồng hồ là 10−7 của một nửa vòng cung kinh tuyến làm cho có ý nghĩa lịch sử hải lý chính xác (2 ×107)/10.800 = 1,851.851851... mét lịch sử. Căn cứ vào hiện tại IUGG kinh tuyến của 20,003,931.4585 (tiêu chuẩn) mét hải lý lịch sử trung bình là 1,852.216 m.



Định nghĩa lịch sử khác nhau từ các tiêu chuẩn dựa trên chiều dài trong một phút của vòng cung, và do đó một dặm hải lý, không phải là một chiều dài không đổi ở bề mặt của Trái Đất nhưng dần dần kéo dài theo hướng bắc-nam với khoảng cách từ đường xích đạo, như một hệ quả tất yếu của tính dẹt của Trái Đất, vì vậy cần phải "trung bình" trong câu cuối của đoạn trước. Độ dài này bằng 1.861 mét tại các cực và 1.843 mét tại đường xích đạo [12].



Các quốc gia khác đã có định nghĩa khác nhau của hải lý. Điều này đa dạng trong kết hợp với sự phức tạp của đo góc mô tả ở trên cùng với sự không chắc chắn nội tại của các đơn vị có nguồn gốc geodetically giảm nhẹ so với định nghĩa còn tồn tại trong lợi của một đơn vị đơn giản chiều dài tinh khiết. Thỏa thuận quốc tế đã đạt được vào năm 1929 khi Hội nghị bất thường Thủy văn quốc tế được tổ chức tại Monaco thông qua một định nghĩa của một dặm hải lý quốc tế là bằng 1,852 mét chính xác, trong hợp đồng xuất sắc (cho một số nguyên) với các giá trị nói trên của 1,851.851 mét lịch sử và 1,852.216 mét tiêu chuẩn.



Sử dụng các góc dựa trên chiều dài lần đầu tiên được đề xuất bởi E. Gunter (của chuỗi Gunter nổi tiếng).[13] Trong thế kỷ 18, mối quan hệ của một dặm 6000 (hình học) bàn chân, hay một phút của vòng cung trên bề mặt Trái Đất đã được nâng cao như một biện pháp phổ quát đối với đất và biển. Km số liệu đã được chọn để đại diện cho một phút centisimal của vòng cung, trên cơ sở tương tự, với các vòng tròn được chia thành 400 độ 100 phút.



Chuyển đổi cho các đơn vị khác



Một hải lý quốc tế chuyển đổi thành:



    1,852 m (chính xác)



    1.150779 dặm (quy ước) (chính xác: 57.875/50.292 dặm)



    2,025.372 lát (chính xác: 2315000/1143 lát)



    6,076.1155 phít (chính xác: 2315000/381 phít hoặc 1822831/300 phít đo đạc)



    1,012.6859 sải (chính xác: 1157500/1143 sải)



    10 cáp quốc tế (chính xác)



    10.126859 cáp Anh (100 sải) (chính xác: 11575/1143 cáp Anh)



    8.439049 cáp Mỹ (120 sải) (chính xác: 57.875/6.858 cáp Mỹ)



    0.998383 phút cung xích đạo (dặm địa lý truyền thống)



    0.9998834 phút cung kinh tuyến trung bình (hải lý lịch sử trung bình)



Đơn vị phối hợp



Các đơn vị có nguồn gốc của tốc độ nút, được định nghĩa như một hải lý mỗi giờ. Thuật ngữ "đăng nhập" được sử dụng để đo khoảng cách một tàu đã di chuyển thông qua các nước. Thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng để đo tốc độ thông qua các nước (xem con chip đăng nhập), như tốc độ và khoảng cách trực tiếp liên quan.



Các điều khoản "nút" và "đăng nhập" được bắt nguồn từ việc thực hành bằng cách sử dụng "đăng nhập" gắn với một sợi dây thừng thắt nút như một phương pháp đo tốc độ của một con tàu. Một đăng nhập gắn liền với một sợi dây thắt nút đã được ném vào trong nước, sau phía sau tàu. Số lượng hải lý đi ra khỏi tàu và vào nước trong một thời gian nhất định sẽ xác định tốc độ bằng "nút thắt". Đo lường ngày hiện tại của hải lý và đăng nhập được xác định bằng cách sử dụng một kéo cơ khí, điện tử kéo, thân tàu gắn trên đơn vị (mà có thể hoặc có thể không được thu vào), Doppler (hoặc siêu âm hoặc radar), hoặc GPS.[14][15] Tốc độ đo bằng GPS có sự khác biệt từ những người được đo bằng các phương tiện khác trong đó Tốc độ trên mặt đất (kế toán cho các hiệu ứng của hiện tại) trong khi những người khác là tốc độ Thông qua các nước, không cho hiện tại.



_____



    ^ a ă â Bản mẫu:SIbrochure



    ^ Bowditch, Nathaniel, LLD; et al, The American Practical Navigator (ấn bản 2002), Washington: National Imagery and Mapping Agency, tr. 34–35



    ^ a ă Glazebrook, Richard (1922), “Measurement, Units of”, Dictionary of Applied Physics 1, tr. 580–88.



    ^ a ă National Bureau of Standards (tháng 8 năm 1954), “Adoption of International Nautical Mile”, Technical News Bulletin.



    ^ a ă â b Ministry Of Defence, Gran Bretaña (1987), Admiralty Manual of Navigation, London: HMSO, tr. 6–7, ISBN 0117728802.



    ^ “The Units of Measurement Regulations 1995”. The National Archives. Truy cập tháng 2 năm 2011.



    ^ Bowditch, Nathaniel, LLD; et al (1966 - Corrected Print), The American Practical Navigator, Washington: U.S. Navy Hydrographic Office, tr. 945



    ^ a ă Bowditch, Nathaniel, LLD; et al, The American Practical Navigator (ấn bản 2002), Washington: National Imagery and Mapping Agency, tr. 716–854



    ^ Chart No. 1, Positions, Distances, Directions, Compass, Jointly by NOAA and Department of Commerce, USA The cited book incorporates IHO Chart INT 1 and therefore represents the practice of the members of the IHO, most of the seafaring nations.



    ^ NOTIFICATION OF ANNEX DIFFERENCES (Presented by Australia), International Civil Aviation Organisation, Sixth Meeting of CNS/MET Sub Group of APANPIRG, Bangkok, Thailand, 15–ngày 19 tháng 7 năm 2002.



    ^ SI unit symbols



    ^ "For a point on the spheroid of the IAU System at geodetic latitude (Φ): 1 degree of latitude [=] (110.575 + 1.110 sin2Φ) km." Seidelmann, P. K. (Ed.), (1992), Explanatory supplement to the Astronomical almanac, Sausalito, CA: University Science Books, 700.



    ^ W. Waters, The Art of Navigation in England in Elizabethan and Stuart Times, (London, 1958)



    ^ Origin of Naval Terminology, Naval Historical Center, US Naval Dept. Library, truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2006



    ^ Fairhall, David (2005), Pass your day skipper (ấn bản 2), A&C Black, ISBN 0713674008.



 



    Moritz, H. (1980), “Geodetic Reference System”, Bulletin Geodesique 54 (3). (IUGG/WGS-84 data)



    Taff, Laurence G. (1981), Computational Spherical Astronomy, John Wiley and Sons (IAU data)



wikipedia


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
Người Trung Quốc viết về nạn diệt chủng của Khmer Đỏ - Nguyễn Hải Hoành 19.03.2017
xem thêm »