tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019865
26.02.2015
Vũ Bằng
Miếng lạ miền Nam (4): Cháo cóc & Dơi huyết

CHÁO CÓC


Mùa này, vào những buổi chiều sẫm tối có cơn giông, tôi vẫn thường nhớ đến một căn nhà thấp bé ở phố Hàng Gai, Hà Nội, quanh năm ẩm thấp, hễ có mưa rào thì nước dâng lên mấp mé chân giường.


Nhà ấy là nhà của cụ tôi, sau để lại cho thầy mẹ tôi. Có lẽ vì sợ làm mếch lòng các cụ, thầy tôi không dám sửa lại, thành thử mỗi khi mưa thì nhà dột đất ẩm, nửa đêm chợt tỉnh giấc nồng, cứ nghe ồm ộp bên tai tiếng cóc nhái kêu gào như thể mình đương nằm ở giữa cánh đồng: Ghét quá!


Tôi còn nhớ có đêm, mất ngủ, tôi lén thức dậy thắp một cây nến nhỏ đi soi ở dưới gậm giường, bắt cóc, đem hành phạt. Mẹ tôi mắng: “Bắt nó, phải tội thì chết”. Và mẹ tôi lại bảo: “Mình nó có nhựa, chạm phải, hóa hủi, không thể nào chữa được”.


Con cóc là cậu ông Trời,


Hễ ai đánh cóc thì trời đánh cho.


Từ đó, tôi không dám đánh cóc, giết cóc nữa. Và cũng từ đó, tôi yên trí rằng nhựa cóc sinh ra bịnh hủi cho mãi tới bây giờ… để thú thực rằng tôi đã ngạc nhiên và kinh sợ hết sức khi thấy có người ở đây ăn cháo cóc.


Cóc ai mà lại còn không biết nó? Xấu đến thế là cùng! Nó nặng nề, ì ạch, lúc nào cũng ngồi chồm hỗm, mắt cứ giương ra trừng trừng, mà da thì đen mai mái, lại xù xì, tởm quá. Nhìn bát cháo cóc mà tưởng tượng lại cái thân hình như thế, thực tôi không hiểu sao người ta lại có thể ăn uống “lẩm cẩm” như thế được… Nhưng đến khi liều chết, húp thử vài miếng xem sao thì mình cũng thấy nó có một hương vị lạ, ngon ngọt, thơm thơm, man mát như thể thịt có ướp hoa bưởi vậy.


Thử cho mà biết như thế cũng hay.


Có một thuở nào xa lắm lắm rồi, tôi đã ở trong rừng với người Chàm, lấy lá đu đủ nấu canh, ăn ốc ma leo ở hàng rào ẩm cả tháng mà không làm sao hết, trái lại vẫn còn cứ ngon… Có người sống hàng năm trong rừng ăn kiến, ăn gián còn ghê hơn tôi nữa, mà có làm sao đâu? Còn ở tỉnh thành, ai mà không ăn ốc nhồi, ốc vặn, ai mà không ăn rươi, ăn ếch? Thế thì tại sao lại không thể bắt con chằng hiu nhắm rượu chơi, nướng con dế cơm lên lửa ăn với củ lạc rang và rửa con cóc cho sạch nhớt, lột da, chặt đầu nấu cháo?


Ếch và cóc cùng thuộc loài “lưỡng thể động vật”. Người Tây phương ăn ếch chiên, ếch xào lăn với hành và nuôi ếch “to thế này này” đóng hộp để xuất cảng thì nghĩ cho kỹ, cóc cũng chỉ thế mà thôi. Người ta sợ ăn cóc chỉ là vì có thành kiến về da nó, nhưng có ai đã được xem làm một mẻ cóc rồi mới biết “tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh”, thịt ếch cũng chẳng hơn gì thịt cóc. Cho tới bây giờ chưa có một ai bảo cho tôi biết da cóc có truyền bịnh hủi đích thực hay không, nhưng trông một mẻ cóc chặt đầu, lột da rồi, để trên thớt chờ làm thịt, ta thấy thịt cóc hấp dẫn như thịt “ba dọi” vậy.


Thịt ấy trắng mầu ngà, thớ nhỏ, đanh mà ráo rẻ đáo để. Thử tưởng tượng để cho khô nước, chiên hành tỏi cho dậy mùi rồi bỏ thịt cóc vào mà xào, cái thơm tho tiết ra trong không khí quyến rũ khứu giác của người ta biết chừng nào! Ông nào nhậu, chờ cho thịt chín vàng, xúc ra đĩa, gia thêm sả, hạt tiêu, ớt vào mà nhắm nhọt có thể thấy thích thú hơn là ăn thịt gà mái tơ.


Thịt dê dai lắm, mà thịt thỏ thì xác quá, không thể đem ra so sánh được với thịt cóc, mềm, mà nhai lại sừn sựt, ngọt nhưng ý vị, đậm đà, chớ không trơ trẽn như thịt ngan, thịt ngỗng.


“Bẩm các cụ, chúng tôi xin lỗi, chớ cóc ăn như thế này, ngon nhất món gì?”. Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người sành ăn ở đây thì cóc ăn sướng nhất là món cháo. Thịt cóc luộc với cháo, ăn thanh cảnh mà không ngấy. Nhưng phần đông thích ăn cháo với thịt cóc xào.


Ăn kiểu này, cũng như “cập tầy” hay “kê ạp chúc”, nghĩa là để cháo và thịt riêng ra, duy khác một chút là cá thì để tái, gà thì luộc “lòng đào”, còn thịt cóc thì xào lên trước. Lúc ăn, trút thịt cóc vào cháo, quậy lên. Ai ăn được mà dầu, rẩy một chút cho thêm thơm, thêm béo; nhưng nếu không có thì cũng chẳng sao, bởi vì riêng thịt cóc, cũng đã thơm và ngọt lắm rồi. Vừa húp, vừa ngẫm nghĩ, ta có cảm giác cái thơm, ngọt đó tựa như là cái thơm, ngọt của tôm he và bào ngư hòa hợp với nhau để tạo thành một “lực lượng thơm ngọt thứ ba” vừa lành vừa mát.


Thực thế, nhiều người bảo tôi rằng cháo cóc mát lắm, trẻ con, người lớn ăn vào giải nhiệt; hơn thế có ông lại bảo nó trừ được cả một vài chứng kinh, sũng và chứng khóc “dạ đề” của trẻ mới sinh – chẳng biết có đúng hay không?


Nói nghe thì sướng lắm, nhưng bởi mình mới “tập sự” ăn cháo cóc nên vẫn cứ thấy rờn rợn, sợ một cái gì… Thì ra là mình sợ chết. Chớ sao? Đọc báo hàng ngày, người ta há chẳng thấy đôi khi có đăng tin ăn thịt cóc chết người là gì đấy?!


Một ông bạn bảo tôi:


- Có thế thực, ăn cóc có khi chết người, nhưng chết là tại người ta làm lòng không kỹ.


Lúc làm cóc cần nhất là phải sạch, đừng để cho giập mật, đừng để cho sót trứng vì nếu trứng cóc làm không kỹ, nó dính vào mỡ, ăn vào dễ chết như chơi. Mật lấy không hết cũng vậy. Người ta bảo rằng một nồi cháo cóc mà để sót mươi cái trứng ăn vào chỉ nửa tiếng đồng hồ thấy xây xẩm mặt mày lại, quỵ luôn.


Các ông già, bà cả lại còn nói rằng thịt cóc tối kỵ củi cà và khoai mì. Nấu thịt cóc với rõ cây cà tím phơi khô hay ăn thịt cóc lẫn với khoai mì cũng độc lắm, dễ chết người.


Nghe thấy mà bắt ớn! Song le những người ưa thưởng thức miếng ngon không vì thế mà chịu thôi ăn thịt cóc.


Ờ phải, cứ vào vụ mưa này đây, có ai về chơi thăm những vùng quê Cái Bè, Cần Giuộc, ở lại nghỉ đêm ở Tân Phước hay Chợ Gạo mới thấy người ta ham bắt cóc ăn đến chừng nào. Mấy thằng nhỏ cởi trần trùng trục, đóng khố, lội mưa, xách một cái đèn pin đi lùi lũi vào vườn nhà người ta rón rén tìm đến chỗ cóc kêu lấy xiên xiên từng con hoặc nằm xoài ra để chộp cho vào trong một cái giỏ đeo ở bên sườn. Nhưng đấy chỉ là những tốp người lẻ tẻ đi bắt cóc vô tổ chức. Muốn hiểu thế nào là bắt cóc “chân chính”, ta phải đi ra ngoài, đi quan sát dưới trời mưa, ở ruộng, hay dọc một con đê. Hoàng hôn vừa lả xuống trên nội cỏ, đồng cây từ Lao Dung qua Trà Bến, từ Long Thành đến Lái An từ Cồn Lái đổ về, từ bờ sông cái vọng sang, tiếng cóc ì à ì ộp liên thanh bất chỉ như một bản nhạc thô kệch nhưng súc tích hương cau, mùi lúa.


Từng nhóm người vận áo đen quần cụt, lầm lầm lũi lũi đi ở trên bờ ruộng, vểnh tai lên nghe xem tiếng nhạc cóc tự nơi nào vọng ra. Chỉ một giây, họ biết ngay nơi cóc “hội”. Thường thường, đó là một cái gò cỏ rậm hoặc một lu đất bên cạnh những vũng nước dơ. Chiếu một ánh đèn vào đó mà coi: chúng “bắt cặp” với nhau kỹ lắm; ánh đèn vừa chiếu vào, lóe mắt, cặp nào cặp nấy nhảy đì đà đì đạch, nhưng cấm có cặp nào chịu rời nhau.


Một cuộc bố ráp diễn ra, làm cho kẻ bàng quan tưởng tượng như mình đương chứng kiến một cuộc bố ráp ở Chuồng Chó hay Ngã ba Chú Ía. Mười cặp thì cả mười bị tóm! Người “chuyên viên” thong thả giơ từng cặp bắt được, đưa lên ánh đèn dầu để coi và nở một nụ cười khoái trá khi bắt được một cặp cóc đen và mập. Cái giống cóc bụng đỏ là cóc bịnh, ăn chẳng ra cái chết gì, chỉ để dành ăn trong nhà với nhau, chớ không bán được tiền.


Cóc được ưa chuộng phải là cóc “bự”, có nhiều “mụt” đen ở trên lưng, chân “no” mà mắt sáng. Người ta cho tất cả vào trong một cái vó tre hay thùng thiếc đem về, lột da rồi đưa ra chợ. Các chợ Sài Gòn, Phú Nhuận, Ngã ba Ông Tạ…, thường vẫn có cóc bán cho người Thủ đô mua xài.


Hỡi cô Hai, cô Ba, cô Sáu, cô Bảy… cô Chín, cô Mười ơi! Gà nhúng hèm, ăn mãi bứ; chạo tôm, gỏi sứa, bì cuốn, dùng luôn cũng ngán! Hôm nào thử ra chợ mua một mẻ cóc về làm vài món ăn chơi, các cô sẽ thấy những ông chồng bớt khó tính đi, và các ông sẽ vừa thưởng thức miếng ngon vừa kể những câu chuyện hay hay đáo để:


- Em có biết tại sao về cữ mưa này, người ta bắt được nhiều cóc vậy không? Nguyên giống cóc, cũng như ếch nhái, là một loài động vật vừa ở nước mà vừa ở cạn.


“Cái trứng nở ra một thứ ấu trùng, có mang để thở, ở dưới nước như loài cá. Ít lâu sau, mang đó rụng đi, chân mọc ra, đồng thời cái đuôi lại mất nốt.


“Cứ vào cữ mưa thì cóc con ở dưới nước lên trên bờ ở, nhưng cũng chính vào lúc đó, những cóc dậy thì, cũng như các cóc nạ dòng, lớn tuổi nằm trong những đồng ruộng đầy sao rụng, mơ chuyện ân tình, thi nhau mà làm công việc truyền tử nhược tôn.


“Những tiếng kêu oai oái, có lúc như đau đớn, có lúc như thở dài, có lúc như rên rú, có lúc như nhõng nhẽo, chính là tiếng nói của tình yêu đấy, em thương ạ!


“Vậy mà, tội nghiệp, đang lúc cóc mến thương trao nhịp thở chung tình với nhau trong đêm xanh mát rượi thì loài người từ khắp nơi đổ đến, vơ cả lũ rồi ném cả vào thùng. Hú vía! Có con xây xát cả mình; có con gãy đùi, sứt trán; lại có cặp bị đứt ngang ra, nhưng đa tình thay là giống cóc! Bị sa cơ đến như thế, cặp nào cặp nấy vẫn không chịu rời nhau, nhất thiết khăng khít cho đến chết.


“Yêu là chết ở trong lòng một ít” có phải nhà thi sĩ đã viết như thế không em? Với loài cóc, yêu là chết thực sự, chết đứ đừ, chết “toàn diện”, chết “giãy lên đành đạch”; nhưng không hề gì, ở trong thùng, trong vó, chúng vẫn “song ca” bản nhạc mê ly. Vì thế, đừng tưởng ăn thế này là ta chỉ ăn thịt cóc mà thôi, nhưng chính là ta ăn hương thơm đồng ruộng, ăn… những bản nhạc dân ca, ăn… bao nhiêu cuộc ân tình “ra rít” vào lòng…”.


Người chồng nói tới đó, đưa mắt nhìn vợ, thì thấy long lanh cặp mắt lá khoai, hồng lên đôi má mịn màng…


Đêm ấy, bên chòm dạ lý hương, hai mái đầu xanh sát lại… Đâu đây, có mùi hoa bưởi thơm thơm…


 


DƠI HUYẾT


Quả tình hôm đó, tôi muốn mắc một bịnh gì thật nặng để chết ngay cho rảnh nợ. Ờ, mà đùa cái gì cũng được đi, cớ sao lại đùa ác đến thế bao giờ! Mời người ta đến ăn cơm, sửa soạn đường hoàng, nèo ăn cho phễnh bụng, thế rồi xong xuôi đâu vào đó thì tuyên bố: “Anh vừa ăn dơi đấy, chớ không phải gà lôi đâu!”. Thế thì có… giết mình không?


Phản ứng của con người ta lạ thực. Từ đầu đến cuối bữa ăn hôm đó, ở nhà cô Ba Dung, tôi phải nói thực là tôi ăn “khoái khẩu” lạ lùng, ấy vậy mà vừa nghe thấy cô Ba “tuyên bố lý do” như thế thì tôi lợm giọng liền và cảm thấy mình chưa ăn uống kinh tởm đến thế bao giờ.


Trong một phút, bao nhiêu cái gì là cái ngon lành, thú vị, mùi mẫn vụt tan biến hết để cho từ đáy dạ dày tôi chỉ còn một vị dơ dáy cuồn cuộn lên cuống họng, đắng ra đầu lưỡi, nhạt cả mồm cả miệng, y như thể là mình vừa mới mắc bịnh cúm Hồng Kông!


Từ thuở bé, tôi vẫn sợ con dơi, sợ còn hơn cả các bà, các cô sợ chuột. Không phải sợ dơi nó cắn, dù vẫn biết rằng ở vài nước Nam Mỹ có thứ dơi khổng lồ nhảy đại vào trẻ con để hút máu; nhưng sợ vì cái giống gì hôi quá, không thể nào chịu nổi.


Đọc truyện “Tây Du”, “Phong Thần”, thấy tả cảnh đứa gian thần nào cũng “đầu dơi tai chuột”, tôi đã có thành kiến đó là giống vật xấu xí, nhơ bẩn, đáng ghét nhất trần gian; nhưng thực kinh tởm con dơi, phải đợi đến lúc tôi đi học, một hôm, cùng các bạn đi chùa Trầm, lọt vào một cái hang dơi.


Hôi đâu mà hôi lạ hôi lùng đến thế! Ở trên các nẻo đường Sài Gòn – Chợ Lớn, đôi khi người đi dạo, lang thang hè phố, đã từng gặp những ông gánh hai cái lồng thép bán dơi, hoặc còn đủ cả lông cả cánh, hoặc là đã lột da rồi. Đứng gần lại mà xem, mùi dơi xông ra vừa khai, vừa hôi, vừa thối, vừa tanh, nhức đầu nhức óc không thể nào chịu nổi. Ấy vậy mà mùi đó, so với mùi hôi thối ở hang dơi trong chùa Trầm, chưa có thấm vào đâu hết.


Bởi vì cái hang này chứa có đến hàng mấy mươi vạn con dơi, nên mùi ở mình chúng thoát ra đã buồn nôn, lộn mửa lắm rồi, ấy thế mà, ở dưới đất, ở khe núi, ở lưng chừng trời, ở rễ cây, ở thạch nhũ… lại còn không biết bao nhiêu cứt đái do chúng bài tiết ra và tích lũy không biết mấy ngàn năm nay tại đó…


Phải rồi, có vào một cái hang như thế và cảm thông một mùi có thể làm cho kẻ ngửi thấy lên kinh mà té xỉu, người ta mới có thể quan niệm được loài dơi hôi hám đến chừng nào, kinh tởm loài dơi đến chừng nào. Vậy mà cô Ba lại nhè đúng một anh sợ dơi như thế mà mời đến ăn cơm – nói là ăn thịt gà lôi, rồi đến lúc ăn xong đâu vào đấy rồi, khách sắp từ biệt yêu gia chủ thì chính thức tuyên bố là vừa mới cho mình ăn “dơi huyết”! Làm như cô sợ nói là ăn dơi không thì chưa đủ “khoái tỉ”, phải thêm chữ “huyết” vào nữa cho hoàn toàn!


- Khéo làm bộ thì thôi. Người ta làm cho một bữa dơi ngon như thế, đã chẳng cảm ơn thì chớ, lại còn trách cứ. Ghét chưa?


Thì ra cô Ba Dung không có ý định đầu độc tôi. Cô mời tôi ăn dơi là vì “đầy thiện ý”. Sở dĩ không nói ra cho tôi biết thức ấy, chỉ vì cô biết tôi sợ riêng cái loài có vú này.


- Nếu anh biết trước, anh sẽ từ chối luôn. Mà em không muốn anh từ chối vì phàm đã ăn các món ngon vật lạ ở miền Nam này rồi mà chưa thưởng thức món dơi huyết, tức là còn thiếu thốn rất nhiều. Đó anh coi. Vị nó có phải lạ không? Ăn vào sướng lắm chớ! Nhưng cái đó cũng chưa sướng bằng điểm này: thịt dơi ăn bổ chân thận nhất đấy, anh ạ.


Tôi mê cô Ba vì sáu câu vọng cổ, nhưng thực không ngờ đâu cô lại hát lên nổi một câu nói ý nhị và đa tình đến thế.


Nghĩ cũng lạ kỳ: con dơi hôi là thế mà không hiểu sao đến lúc làm thành món này, món nọ thì tuyệt nhiên lại không có mùi gì tanh hôi. Nếu cô Ba không bảo cho tôi biết, thú thực, đến lúc chết tôi cứ sẽ yên trí đó là thịt gà lôi và có lẽ tôi sẽ cứ ăn mãi, mà lại còn xin cô thỉnh thoảng lại làm cho ăn là khác. Cô bảo:


- Ở đời, chỉ chết vì thành kiến cả. Hồi còn bé, em có theo ba ra Bắc, thấy người ta nói ở miền thượng du ngoài đó, người ta ăn con bọ hung, bọ xít hôi rình; ở phía bắc miền Trung có những người đi rừng thổi cơm nếp với trứng kiến ăn ngon hết sức; lại còn có chỗ bắt phèo, ăn dế nhũi, ăn con chim cú, ăn quạ, ăn chuồn chuồn lem lém. Nếu con bọ xít đem nấu lên rồi mà không hôi nữa, trứng kiến không cay, con bọ hung không nặng mùi… thì dơi huyết cũng y như vậy. Điều cần là phải biết chế hóa; không biết chế hóa thì sơn hào, hải vị quý đến bực nào đi nữa, cũng là dở ẹt…


Làm lươn phải tuốt bằng tro, và mổ ruột bằng dao tre, không đụng đến nước lạnh thì ăn vào không lo đau bụng; làm vịt phải nhớ bỏ hai cục hôi đi, thịt nó mới thơm; thì làm dơi, bỏ mấy cục xạ lớn bằng đầu ngón tay út trẻ con đi, ta có thể chắc chắn là không còn hôi hám mảy may gì nữa. Lột da, bỏ ruột, rồi chặt ra từng miếng ướp muối, hành, tiêu, sả, anh đưa cái tô lên mà ngửi sẽ thấy thơm mát như thịt gà giò.


Dơi có hai loại chính là dơi quạ và dơi sen. Theo lời truyền tụng, dơi quạ hay dơi sen thì cũng xấu như ma mút, nhưng người ta bảo rằng dơi bắt được ngửi càng hôi thì thịt lại càng thơm. Chẳng rõ có đúng như thế hay không?


Chỉ biết rằng người ta thường ăn dơi quạ, có lẽ vì dơi quạ to con, lợi thịt, nhiều huyết. Căng một con dơi quạ lớn ra, từ đầu cánh này sang đầu cánh kia, có thể dài đến một sải tay. Mình nó thui lông đi rồi, to chừng con gà mái tơ.


Dơi sen là giống dơi mà ta vẫn thường thấy chiều chiều bay chập chờn trên thành phố hay đồng quê bắt muỗi. Giống này nhỏ, chỉ hơn con chim sẻ một chút và có tiếng là hôi hơn dơi quạ nhiều. Nhưng dầu là dơi sen hay dơi quạ, một khi làm thịt mà bỏ mấy cục xạ đi rồi, thịt cũng thơm phưng phức, hấp dẫn “con nhà người ta” đáo để.


Mấy hôm nay, trời nóng, ăn không được, anh muốn đổi món cho lạ miệng thì bảo làm bát cháo mà ăn, mát ruột mà lành, hạ đờm mà lại thông tiểu tiện. Nhưng người cầu kỳ không ăn thế. Có dơi thì phải có rượu, cũng như có bướm phải có hoa, có trăng thì có gió.


Theo lời dạy bảo của các ông bợm nhậu, thịt dơi kẹp lại nướng than tàu vừa nóng, nhắm với rượu, đậm hơn thịt gà, xương nó mềm hơn, nhai giập ra ngọt lạ lùng, mà lại thơm, thoang thoảng cái vị chim se sẻ. Nướng được gắp nào, nhắm ngay gắp đó, điểm mấy cánh ngò và một tí hành hoa chấm muối, tiêu, chanh, ớt, anh sẽ cảm thấy rằng ông thánh tổ nào nghĩ ra cách ăn dơi quả đã là người… thông suốt! Thích thú nhất là thịt nó mềm mà không bã, hơi bùi bùi, nhưng không vì thế mà thô.


Ăn với cơm, dơi có thể làm thành nhiều thứ, nhưng được hoan nghênh nhiều là hai món xào lăn và băm viên; nhưng dù là nướng chả, băm viên hay xào lăn, tất cả các thứ đó cũng không quý bằng món huyết – một “siêu phẩm” của dơi mà có người đã dám quả quyết với tôi còn quý hơn cả tiết dê và tiết chim se sẻ nữa.


Ai đã từng pha tiết dê với rượu uống để bổ cho con thận tất đã nhận thấy cái rượu tiết dê dù pha tài cách mấy cũng cứ là có cục, mà uống vào nó nhạt phèo mà lại có vị tanh như nước lạnh có nhiều chất sắt và thuốc khử trùng. Rượu pha với tiết ba ba cũng vậy; còn rượu hòa với huyết chim sẻ thì không tanh, nhưng chẳng có gì đặc biệt cho lắm, bởi vì độ mạnh của rượu đánh tan mất mùi huyết chim đi.


Đến rượu pha với huyết dơi thì khác hẳn. Hồi còn mồ ma cái Quán Dơi ở Xóm Gà, người ta cũng bán thứ rượu này và kêu đó là “món đặc biệt của nhà hàng”, nhưng người thực muốn thưởng thức rượu huyết dơi không thể dễ tính như thế được.


Theo họ thì dơi đem thui riêng hai đầu cánh nó đi, vặt lông măng cho thật sạch rồi chính tay mình phải cắt tiết ở hai đầu cánh ấy, hứng vào rượu, khoắng lên cho đều mà uống ngay mới tốt; chớ cắt huyết cho vào rượu, đóng chai như nhà hàng, nó mất cái tươi đi, dù là đã bịt nút chai thật kín. Cầu kỳ hơn một chút thì lúc cắt nên bỏ đi tí huyết đầu, tí huyết đuôi, chỉ dùng cái huyết giữa mà thôi. Như thế, mới bổ và mới mát.


Là vì, vẫn theo lời các tay bợm rượu, huyết dơi mát lắm.


Hỏi: Tại sao lại biết là mát? Thì họ trả lời:


- Trời ơi, bố không biết hay sao? Cái giống dơi này, thuộc vào loài có vú, ban ngày thì ngủ, đêm mới chui ở tổ ra bay lượn và kiếm mồi để ăn; vì thế nó “thụ được nhiều khí âm”; lại chỉ toàn ăn hoa lá, cây trái và sâu bọ, không có ăn thịt, nên huyết nó mát, uống vào hạ hỏa, sáng mắt, nhưng không vì thế mà “hàn” khả dĩ làm cho ta “lãnh tính”, trái lại, lại làm cho ta “hăng đì” là khác. Là bởi vì nó bổ toàn thân ta như cao hổ cốt, hay tuyết nhung chớ không kích thích một vài bộ phận nào đó như tống cú hay tôm hùm. Ấy cái hồng sâm của Cao ly thế nào thì huyết dơi cũng vậy. Bồ uống sâm có thấy nó nóng đâu mà sao mạnh và “bền” thế? Nhiều người cứ tưởng là một thức gì muốn cho bổ chân thận thì cần phải nóng; quả thực là lầm to!


Đó là lần đầu tôi được một nhà “tiến sĩ danh dự” giảng về “huyết dơi trị liệu học” cho nghe mà không phải trả tiền. Thực là một khám phá vô cùng quan trọng. Theo sự hiểu biết nghèo nàn của tôi thì cho tới nay, các nhà động vật học chưa có đem phân chất huyết dơi để rút lấy một kết luận nào; chỉ biết rằng loài “biển bức”(1) đó, tựa như loài chuột cơm nhưng có khi còn tinh khôn, ma mãnh hơn loài chuột nữa.


Chúng thường không làm tổ như các loài có vú khác sống ở ngoài thiên nhiên, nhưng ở các kèo nhà, các hang hốc, các đền đài bỏ phế, các kẽ cây dừa nước, thốt nốt và có khi ở luôn trên những cành cây sao.


Ai đi bộ từ Trà Vinh qua quận Tiểu Cần, chắc đã có lần để ý đến một cây sao ở trong một ngôi chùa nọ, có những lùm đen rủ từ trên ngọn xuống đất y như là những bất định căn khổng lồ! Ủa, cây sao gì mà lạ vậy?


Không phải đâu: dơi đấy. Phải nói là có hàng vạn con dơi họp nhau tại đó, đêm thì bay đi kiếm mồi, đến sáng kéo nhau về kêu chí cha chí chóe, làm ồn cả một vùng lên. Chúng bám vào thân cây mà ngủ, treo đầu xuống đất như thể ta “trồng cây chuối” theo thuật du-già, con nọ dựa vào con kia, có khi cắn đuôi, cắn cánh nhau liền thành một chuỗi dài thằng lẵng ở trên những cành sao tại Tiểu Cần chính là những chuỗi dơi đang ngủ vậy. Dơi cái cũng đẻ theo kiểu treo chân lên trời như thế.


Có một lần tôi được đọc một tập văn của một ký giả người Âu nhan đề là “Bạch phu nhân”(1). Phu nhân họ Bạch này là một con dơi cái trắng. Ký giả nuôi nó từ lúc nó mới sanh, thỉnh thoảng đem về nhà chơi dăm bữa, rồi lại đem trả lại nó cho bầy. Vì tiếp xúc với nhiều dơi, ông đã nhận xét được nhiều điều mới mẻ. Trước khi đậu, bao giờ con dơi cũng bay lượn nhiều lần; và bao giờ cũng thế, con nào cũng chỉ đậu vào một nơi nhất định của con ấy, ít khi “vi phạm lãnh thổ ngoại bang”. Sở dĩ thế không phải là vì mắt nó tinh, nhưng chính vì loài dơi có một thứ “ra-đa” thiên nhiên giúp cho nó “không nhìn mà thấy”. Từ nơi miệng, con dơi phát ra một thứ tiếng nhỏ siêu thanh; thứ tiếng đó gặp cản trở nào thì dội lại tai nó với tốc độ 1.200 cây số chia đôi, 600 một giờ; cho nên nếu một sự kiện gì trục trặc xảy ra, nó biết trước và tránh được dễ dàng.


Ký giả nói trên đã có lần bắt Bạch phu nhân đem về nhà, đóng kín cửa lại, vặn quạt trần rất mạnh rồi thả dơi ra. Con dơi bay vào trong cánh quạt đang xoay, nhưng không hề bị cánh quạt chạm tới mình. Một lần khác, ký giả nọ lại đem dơi lên xe hơi đi đến một tỉnh khác xa ngót bốn trăm cây số rồi thả nó lên trời. Con dơi bay mất. Ký giả lái xe về, yên trí nó không thể biết đường về được, thì kỳ lạ, đến nhà xem lại tổ, con dơi trắng đã đậu lù lù ở chỗ của nó tự bao giờ rồi.


Nhưng, muốn khôn đến chừng nào thì khôn, dơi cũng vẫn bị thua mưu mẹo của loài người ma mãnh. Vì thịt của nó ngon, vì mỡ của nó béo mà không ngấy, vì huyết của nó ngọt lại có tiếng là bổ thận, trừ lao, người ta tìm đủ mọi cách để bắt nó đem bán để ăn và nhậu.


Ở Bắc Việt, cứ vào cữ nước lên như dạo này, những người đi bẻ nhãn thường phải luân phiên thức để canh dơi. Họ căng những cái lưới như lưới cá, rất lớn, lên trên cây rồi dùng sào nứa chẻ ở đầu ra đập. Tiếng nứa chạm vào nhau kêu lách cách làm cho dơi hoảng sợ, chạy vào lưới; do đó, có đêm ở một khu vườn nhãn, người ta có thể bắt được hàng trăm con.


Bắt dơi ở trong hang có ý dễ hơn một chút: người ta tìm lối dơi bay ra bay vào, đặt lưới; dơi đâm vào lưới cả đống; càng giãy, càng húc đầu thì vào trong lưới càng sâu vì chúng không biết lùi lại để tìm miệng lưới.


Ở một vài nơi biết là có dơi hay đậu, người ta lại đặt những cái thùng bằng cây thông hay kết bằng dạ để cho dơi đến ở, rồi đợi đến khi được nhiều thì bịt cửa, bắt không trệu một con nào.


Tội nghiệp, có ai đã từng dự một cuộc vét dơi ở trong lưới ra để xẻ vào lồng đem bán, hoặc xem người ta bắt chúng đem ra để lột da mới cảm thấy cái giống dơi nó thông minh đến chừng nào. Tiếng kêu i í của chúng y như là tiếng trẻ con bị mắng mỏ và nhốt vào trong buồng kín. Những con bị lột da giãy giụa và chảy nước mắt ra như khóc thực; có con chưa bị lột, nhưng biết là sắp đến phiên mình rồi, giấu đầu vào trong cánh và tìm cách bò trốn vào một nơi kín đáo.


Tôi còn nhớ mãi câu chuyện của ký giả Hilton(1) nói về óc thông minh và lòng bác ái của loài dơi.


Nhân một dịp nghỉ hè, Hilton cùng một đoàn leo núi đi vào thăm một hang nọ ở chót vót lưng chừng trời, có tiếng là hiểm trở nhứt vùng Mễ Tây Cơ. Đoàn này có một chương trình nhất định, không muốn đi sâu hơn vào những cái hang đã vạch sẵn trong kế hoạch; nhưng Hilton lại không muốn thế, ông muốn đi xa hơn nữa. Vì thế, chuẩn bị đèn bấm và dây thừng để đánh dấu lối ra, phòng ngừa đi về một mình mà không tìm được lối ra chăng.


Kế hoạch của Hilton được thực thi đúng như ý định: ông bỏ đoàn leo núi nọ, một mình thám hiểm sâu hơn, sâu hơn nữa, thì bỗng đâu trong bóng tối mịt mùng, dày đặc, ông chạm phải một đống gì… biết nói!


Thì ra đó là một người đã bị lạc vào hang này bốn năm rồi. Hỏi, mới biết đó là một giáo sư Đại học đường Yale đi tìm cổ tích, vào trong hang, rồi không nhận được lối ra. Quần áo của ông ta rách hết; mắt ông ta mù vì bốn năm không nhìn thấy ánh sáng; ông gần như quên mất cả ngôn ngữ của loài người. Thế thì tại làm sao ông sống được? Ông ăn gì? Uống gì? Giáo sư Glassier cho biết ông ta sống được là nhờ vì loài dơi ở trong hang kiếm trái cây, rau cỏ và sâu bọ về nuôi ông.


Hilton, theo đường thừng đánh dấu sẵn, đưa giáo sư Glassier về thành và giữ giáo sư ở lại nhà mình để đi thăm dò tin tức vợ con cho giáo sư – vì bây giờ bà đã dọn đi nơi khác. Tin tức lượm được không lấy gì làm phấn khởi: bà giáo sư đã đi lấy chồng khác, con cái mỗi người đi một xứ, tha phương cầu thực…


Biết là không thể giấu mãi được câu chuyện đau lòng, Hilton nói thực cho giáo sư nghe, thì ông ta cười như không có chuyện gì xảy ra. Ông bảo: “Vợ tôi đi lấy chồng khác như vậy là phải lắm”. Nhưng tối hôm ấy, Hilton đi dự một bữa tiệc về nhà thì không thấy ông giáo sư mù đâu nữa. Chờ mãi không thấy ông ta về, Hilton bèn đi dò la, thăm hỏi thì biết rằng ông ta đã chống gậy đi một mình về phía hang dơi. Nhưng đến một khách sạn gần chân núi chừng năm cây số, ông mệt quá phải vào thuê tạm một căn phòng khách sạn để nghỉ đêm và cũng đêm ấy, ông đã chết trên giường, môi còn mỉm nụ cười.


Ông chủ khách sạn cho Hilton hay rằng lúc ông già mù đó lên phòng thì các cửa đều đóng kín, nhưng đến sáng, biết tin ông chết, người quản lý khách sạn lên coi thì các cửa đều mở rộng và có hàng vạn con dơi lượn ở chung quanh giường ông ta rồi bay cả về phía núi. Ký giả Hilton kết luận rằng dơi ở trong hang đã tìm được ông nên rủ nhau đến để tiếp đón người về; nhưng vì sức yếu, ông không chịu nổi một niềm vui quá mức, nên đã tắt thở giữa những bạn thủy chung như nhứt.


Sau bữa thưởng thức món dơi ở nhà cô Ba Dung, tôi bận công việc nên không năng đi lại. Ngày rằm tháng Bảy mới đây, nhân lễ xá tội vong nhân, tôi đến thăm cô Ba, định rằng thừa dịp ăn cỗ để kể cho cô nghe câu chuyện “Ông vua dơi” vừa được đọc thì hoa vàng rơi lả tả trên rêu xanh, vài con én liệng trên cái lầu cửa đóng. Hỏi những người hàng xóm thì nghe đâu cô Ba đã bỏ đi lên ở một cái am vắng xa xôi nào rồi…


Biết nhau từ khi còn nhỏ, đôi bên cha mẹ không chiều lòng, nhưng rồi lớn lên lại gặp nhau rồi thương yêu nhau trong một bữa ăn dơi huyết; đến khi biết thưởng thức món quà ngon đồng nội thì người cũ đã bạt ngàn mây khói mất rồi!… Thực tình, chưa bao giờ tôi lại buồn như bữa ấy, mà cũng thèm ăn dơi đến như hôm đó; nhưng bây giờ, biết còn ai làm được một bữa dơi ý nhị và hữu tình như thế nữa?


Thương yêu nhau, người ta thường ước mơ lắm cái lạ kỳ. Có người muốn làm chim để hót ru cho người yêu ngủ; có người muốn làm bướm để đậu lên mái tóc người tình trao một miếng hôn thương.


Ước gì em hóa ra dưa,


Để anh đem tắm nước mưa chậu đồng.


Ước gì em hóa ra hồng,


Để cho anh bế, anh bồng lên tay…


Lại nghe thấy nói: Thức ăn thường trực tiếp giúp ích cho cơ quan suy kém tương đương ở trong người; vì thế ai đau gan mà ăn nhiều gan thì tốt; yếu tim, ăn tim nhiều thì tim mạnh; làm việc bằng óc, ăn óc gia súc nhiều thì óc mình sẽ minh mẫn hơn lên. Ước làm sao tôi ăn thịt dơi rồi cũng hóa ra dơi để bay đi khắp hải giác thiên nhai, dùng “ra-đa” như dơi trong động Mễ Tây Cơ để tìm người thương mến bây giờ không biết ở đâu…


Vui biết chừng nào, sướng biết bao nhiêu nếu làm cho người trông mưa nhớ nhà biết được đôi chuyện vui buồn nơi cố lý; nhắn được cho người vợ cô trích biết được tin nhạn cá của chồng; hay an ủi những tình nhân bằng cách trao cho họ một lời thương của tình nhân xa cách vạn nhịp cầu mây nước!


(còn tiếp)


Nguồn: Miếng lạ miền Nam. Ký của Vũ Bằng. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Biển bức: Chiroptère.




(1) Madame blanche.




(1) James Hilton: The King of the bats.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »