tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20563379
Tiểu thuyết
17.02.2015
Triệu Xuân
Trả giá

Từ trong nhà, Út Thơm chạy bổ ra, mặt rạng rỡ, giọng trong trẻo:


- Ba! Anh Hai! Ôi! Anh Hai đã về.


- Chào cô Út! Cô Út vẫn nhận ra tôi à?


- Chứ sao. Làm sao em quên được anh Hai!


- Còn tôi, không nhận ra Út Thơm nữa! Út Thơm lớn nhanh quá trời, và... đẹp ra nữa! - Quay sang ông Tràm, Đước tiếp - Chú Ba! Con mà gặp cô Út ở ngoài đường, chắc là con mê mẩn rồi xáp vô tán tỉnh mất thôi. Út đẹp quá trời, chú Ba!


Thơm đỏ bừng mặt, hối hả, lăng xăng lo nấu đồ nhậu. Ba Tràm nhìn con gái, nhìn Đước rồi mỉm cười. Ông đang mở cờ trong lòng. Không phải chuyện ông được tha. Chuyện vặt của mấy thằng ranh ấy, ông đâu có coi ra gì. Ông vui vì Đước về. Từ nay, ông yên tâm vì Đước sẽ là trụ cột của bà con xứ này; cũng như ngày xưa, cả ấp, cả vùng này nương tựa vào Hai Mắm. Đước về, ông Tràm càng nhớ Hai Mắm. Nhìn con trai của bạn, ông xót xa tự hỏi giờ này bạn ở đâu. “Anh Hai ơi! Có thể nào anh lại bỏ tôi, bỏ xứ, bỏ bà con xóm ấp? Không! Tôi tin là anh Hai vẫn ở đây, không cách gì có thể làm cho anh Hai ngã lòng. Đúng không má con Út?”


Ông Ba Tràm đỡ lấy chiếc mâm bằng cây, trên đó có con cá lóc nướng trui, một con gà mái tơ hấp muối và chai rượu. Ông đặt lên tủ thờ rồi thắp nhang, tiếp tục dòng suy tư. “Đúng không má con Út? Đúng không chị Hai?”. Ông nhớ đến bà vợ của bạn ông, người phụ nữ đẹp nhất, hiền nhất, đảm đang nhất trong số những phụ nữ mà ông gặp trong đời. “Tôi tin là anh Hai của chúng ta vẫn còn ở lại. Hôm nay, có mặt Hai Đước vừa về, cha con tôi làm mâm cơm, bày tỏ niềm vui lớn. Sống khôn chết thiêng, xin chị Hai và má con Út hãy về đây vui với ba cha con tôi”. Ông nhìn lên hai tấm bằng Tổ quốc ghi công. “Ba mời luôn hai con trai của ba - Trần Văn Trung và Trần Văn Tín - hãy về đây mà gặp lại Hai Đước, bạn chiến đấu của các con...”. Ba Tràm sụt sịt khóc. Ông khóc tự nhiên, chả buồn nén lại những giọt nước mắt của lòng mình. Khói nhang nghi ngút. Nén nhang cong vòng. Út Thơm từ dưới bếp lên, hai tay bê cái dĩa to đựng năm, sáu con tôm thiệt bự đỏ au, bốc hơi thơm lừng. Ba Tràm đặt dĩa tôm lên mâm cỗ, rồi kéo tay con gái lại, kéo Đước lại. Hai người hiểu ý ông già. Họ thắp nhang và thành tâm khấn nguyện trước bàn thờ.


Ngồi ở bộ tràng kỷ đen như mun, Ba Tràm tiếp tục khóc và lặng lẽ nhìn con gái, nhìn Đước. Từ nơi sâu kín nhất, trong lòng ông, ông thật sự ước ao cho hai trẻ thành vợ chồng. Được như thế, ông nghĩ, có chết liền, ông cũng cam lòng.


Cả ấp Xẻo Đước đến nhà ông Tràm thăm Hai Đước. Chủ tịch xã cũng đến. Thức sà xuống uống liền một lúc ba ly rượu đế rồi xin phép về vì vợ đang bệnh. Xã đội trưởng Minh thì ở lại đến khuya mới về. Khi mọi người về hết, Đước mới hỏi ông Tràm:


- Chú Ba có tin là ba con đã...


- Đời nào. Cái lũ khốn nó vu cho ông Hai! Trời có mắt. Sẽ có ngày trời trị cái lũ khốn ấy.


- Em cũng nghĩ vậy!


Út Thơm ngồi chếch sau lưng ông Trầm, đối diện với Đước, mắt long lanh nhìn anh. Suốt buổi chiều, Đước đã nhiều lần thấy Út Thơm đỏ bừng mặt mỗi khi bốn mắt họ gặp nhau. Quả là Thơm lớn nhanh, đẹp ra đến mức Đước không ngờ. Ngày nào, chính anh còn ẵm Thơm, tập bơi cho cô. Bao lần cô nhõng nhẽo anh, bắt anh làm ngựa cho cô cưỡi để đánh nhau với Trầm. Luôn luôn, anh phải là trọng tài và phải xử cho cô thắng. Cô nhỏ hơn Trầm năm tuổi, nhưng con gái ưa nhõng nhẽo, để cho cô thắng thì cô cười như nắc nẻ. Đước còn nhớ như in, cô có tật hễ nằm ngủ là co lại như con tôm kho. Ba má cô la hoài, cô cũng không bỏ được tật ấy. Người lớn đi biển hết, bọn trẻ ở nhà với nhau; Đước là người anh có uy nhất, nói gì bọn trẻ phải nghe. Riêng có Út Thơm là không chịu nghe nếu Đước sẵng giọng. Phải ngọt ngào cô mới nghe. Giờ đây, Thơm đã hai mươi ba tuổi, là phó bí thư xã đoàn; cô đẹp như người mẫu trong các tạp chí quảng cáo mỹ phẩm: da ngăm ngăm, chân dài săn chắc, ngực bánh dầy, gương mặt trái xoan, mắt bồ câu mang sắc biển, tóc đen và dài làm mềm mại cả thân hình khỏe mạnh, đầy sinh lực. Đó là người con gái đã từng hàng trăm lần cùng cha đi săn cá mập, từng một mình ra biển cứu nạn khi có tín hiệu ngoài khơi. Người con gái của biển quê hương đang ở trước mắt anh, dáng đi thẳng, ngực đón gió khơi, nụ cười thật mặn mà, hàm răng trắng đều như bắp. Mỗi khi Thơm nhìn anh, Đước cảm thấy niềm vui của những mẻ lưới đầy tôm; vẻ tráng lệ của những chiều hoàng hôn êm ả giữa trùng khơi. Và mỗi khi nghe Thơm nói, Đước như được tắm trong nước biển, khi những con sóng ôm tỏa quanh mình.


Câu chuyện của ba người gợi những kỷ niệm từ lâu đã khắc sâu vào tâm khảm họ. Út Thơm đã mấy lần thêm củi vào hỏa lò. Lửa cháy rần rật. Những ly rượu vơi lại đầy. Đêm càng về khuya, uống rượu càng ngon, bởi câu chuyện của họ là chuyện về những người thân yêu nhất, những năm tháng gian truân nhất. Vừa nói chuyện với ông Tràm, Đước biết rằng Út Thơm đang trìu mến theo dõi từng cử chỉ của anh. Ánh mắt Thơm đang nói với anh những điều môi cô chưa dám nói.


Ba Tràm cầm chai rượu đã cạn, đưa mắt cho con gái. Út Thơm nhanh nhẹn chạy vào nhà trong xách ra một can nhựa loại bốn lít. Ông già rung rung đùi, nghiêng nghiêng mái đầu đã trắng phau, rót rượu ra đầy lòng cái đĩa và bật lửa. Ngọn lửa xanh bùng lên, Đước dùng hai ngón tay cầm lấy con mực khô đưa vào lửa. Mùi mực dậy lên khắp nhà. Anh xé miếng ngon nhất ở giữa con mực đưa mời ông Tràm, miếng tiếp theo đưa cho Thơm, còn mình thì nhâm nhi cái râu mực. Mực to, râu của nó gần bằng cái đũa. Đước thưởng thức hương thơm và vị ngọt của con mực tươi được nắng. Chợt anh giật mình. Trước mắt anh không chỉ có một ông già là Ba Tràm mà là hai ông già. Hai người bạn chí cốt, râu trắng phau, mặt đỏ au và mắt thì thật là nhân từ. Hai người bạn cụng ly rồi cùng khà một tiếng. Cha anh đang nói với ông Tràm về chuyện xin con Út cho thằng Đước! Hai ông già tâm đầu ý hợp. Họ lại cụng ly rồi vừa nhâm nhi miếng mực nướng trên lửa rượu, vừa ca điệu Văn Thiên Tường. Tiếng ca trầm trầm như tiếng biển đêm. Một cơn gió mạnh thổi tới. Cây tọa đăng vụt tắt. Đước tỉnh khỏi giấc mơ. Ông Ba Tràm đã ngủ. Ông ngủ ngồi. Trong phòng, Út Thơm đang thay chiếu mới, và lấy chiếc gối mới ở trong tủ kính ra cho Đước nằm. Chiếc gối thêu đôi chim hải âu đang vờn trên biển.


*


Đước vừa đi biển một chuyến cùng với tàu cào tôm của ông Ba Tràm về tới thì anh có khách: giám đốc Xí nghiệp Đông lạnh 23 tháng 9. Lần đầu tiên Đước gặp mặt ông ta, một người có vẻ mặt khắc khổ, nhưng giọng nói thì tỏ rõ là người quen ra lệnh, quen hạch hỏi:


- Tôi muốn biết, vì lẽ gì xe chúng tôi chờ mười ngày ở Cà Mau rồi mà Công ty Thủy sản Mỏ Tôm chưa giao tôm?


Thực ra, giám đốc Lăng đã biết vì sao rồi. Suốt buổi chiều qua, ngồi nhậu với trưởng phòng thủy sản Trọng Phái ở quán Thanh Tú, đêm qua ngủ lại ở chỗ Phái, giám đốc Lăng đã được Phái kể cho nghe tỏ tường về lý do không có tôm, cũng như lai lịch gốc gác của Đước, phó phòng kiêm giám đốc Công ty Thu mua. Lăng thừa biết rằng, cứ mua theo kiểu hiện nay thì chả ai dại gì mà bán tôm cho Nhà nước. Ví thử Lăng là ngư dân, Lăng cũng đem tôm bán chui cho chủ vựa. Lăng cũng biết rằng, cỡ như Đước, một đại úy chuyển ngành, có nghề biển, từng hoạt động du kích tại chỗ, lẽ ra phải làm trưởng phòng thủy sản. Nhưng vì cha là tư sản vượt biên, làm sao ở địa phương, người ta dám tin dùng Đước? Ở đây, người ta đánh giá con người bằng lý lịch, bằng tóc tai cơ mà. Ngay từ lúc đầu gặp gỡ, Lăng đã nhận rõ: Đước là tay có bản lĩnh. Bởi thế, phải chặn hắn trước.


Nghe câu hỏi lộ rõ vẻ “bề trên” của Lăng, Đước mỉm cười. Anh muốn xem tay giám đốc tiếp quản cơ ngơi của ba anh xoay xở thế nào. Sáu tháng nay, Xí nghiệp 23 tháng 9 sản xuất cầm chừng vì không có tôm. Công nhân, nhân viên tuyển vào ồ ạt, bây giờ không có nguyên liệu thì đói. Đước thấy làm lạ, tại sao người ta mắc bệnh thích làm oai: Ai làm giám đốc cũng muốn dưới tay mình có thật đông công nhân. Ngày mới về nhận chức giám đốc Công ty Thu mua, Đước phát ớn vì bộ máy Công ty kềnh càng quá. Công ty có tất thảy ba trạm thu mua, vậy mà nhân sự lên tới gần một trăm người. Riêng bộ máy Công ty có năm phòng ban, bốn phó giám đốc. Bộ máy lớn như vậy mà mỗi ngày không mua nổi một tấn tôm! Thế thì chết đói chứ sống làm sao. Nhưng không ai chết cả. Người ta vẫn sống, vẫn ăn nhậu đều đều. Chỉ có Nhà nước là chết. Chức giám đốc Công ty cũ do trưởng phòng kiêm nhiệm. Trưởng phòng Phái giao hết cho bốn phó giám đốc. Thành thử, búa xua, ai muốn làm sao thì làm. Chuyến biển mà anh vừa đi về là chuyến rất trúng. Tàu cào đôi của ông Ba Tràm thu được hơn một tấn tôm. Nếu bán cả cho Nhà nước thì số tiền nhận được chỉ vừa đủ mua dầu. Dầu DO do Nhà nước bán chỉ đủ chạy hai, ba chuyến, còn cả tháng ngồi nhà chơi. Phải mua dầu chợ đen, phụ tùng máy, ngư lưới cụ ở chợ đen với giá cắt cổ. Bà con ngư dân nói thẳng nguyện vọng với Đước: Chuyến biển nào chạy bằng dầu của Nhà nước thì xin bán hết tôm cho Nhà nước, nhưng xin được lấy tiền liền. Còn lại, sẽ bán cho chủ vựa. Nếu Nhà nước muốn thu mua thì phải mua với giá sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Phải để cho ngư dân tự do làm ăn, không được bắt bớ, ngăn sông cấm chợ. Nếu không cải tổ ngay cách làm ăn thì dân phải bỏ nghề hoặc bỏ xứ ra đi hết.


Hai Đước mỉm cười khi nghe giám đốc Lăng hạch hỏi, rồi anh kể lại cho Lăng nghe ý kiến của ngư dân. Lăng nghe một cách lơ đãng rồi nhún vai. Ông ta rút gói thuốc ba số năm hút và lim dim mắt tận hưởng khói thơm:


- Tôi chỉ biết nhận tôm của các anh giao. Mọi chuyện, ngoài tầm tay của tôi. Anh cho biết, khi nào xe chúng tôi có tôm để quay về? Nhà máy đang đói nguyên liệu. Ruột gan tôi như lửa thiêu, đâu có thảnh thơi được như các anh ở đây.


- Nếu mọi việc ở ngoài tầm tay của anh, anh chỉ biết đi nhận tôm, thì tôi chẳng có gì để nói với anh cả. Tôm không có! - Đước sẵng giọng, tỏ ý chấm dứt câu chuyện.


- Tôi sẽ gặp chủ tịch huyện ngay bây giờ. Anh phải chịu trách nhiệm. Làm kinh tế chứ không phải ở trại lính mà ẩu tả.


Đước mỉm cười. Một con người trống rỗng, vô trách nhiệm và... Anh nghĩ về tay giám đốc Xí nghiệp Đông lạnh. Có bao giờ hắn ta nghĩ về người dân biển không? Sao mà lúc rút điếu thuốc ba số năm trông mặt hắn ta thỏa mãn vậy?


Một nửa năm đã qua kể từ ngày nhận công tác ở Công ty Thu mua, Đước hiểu rằng, kế hoạch thu mua mà trên giao cho là con số ma. Nhưng nó sẽ chỉ là con số lẻ nếu như thu mua theo cơ chế khác. Anh đã nhiều lần trình bày cặn kẽ mọi lẽ với chủ tịch huyện, tất nhiên với sự có mặt của trưởng phòng thủy sản. Anh đã phát biểu ở cuộc họp mở rộng Ban chấp hành Huyện ủy nhiều lần. Nhưng không ai chịu xoay trở theo ý kiến của anh.


Dầu để chạy máy thì do Công ty Vật tư cấp. Tôm thì do Công ty Thu mua hốt, tiền mặt thì ngân hàng quản, giá mua tôm do Trung ương định đoạt tại Hà Nội. Trong khi đó, cuộc sống của ngư dân thì nổi chìm lênh đênh trên biển giữa trăm bề thiếu thốn. Bệnh tật không có thuốc. Trẻ con không có trường học. Hàng tiêu dùng Nhà nước không có bán. Muốn mua bao xi măng, viên gạch ngói cũng không có. Cần một chiếc tủ thờ phải lên tận Cần Thơ mua, rồi thuê tàu đò chở về. Mua được chiếc ghe tam bản, xin đăng kiểm cả năm chưa xong. Năm năm sau ngày hòa bình, ngư dân vẫn sống phiêu bạt trong làng rừng. Mọi thứ phải trông vào tư thương. Những chiếc tàu đò của tư thương, ghe chèo tay của tiểu thương cung cấp hàng tạp hóa cho ngư dân theo kiểu cho vay nặng lãi và hốt về tôm, cá...


Trong một cuộc họp mở rộng Ban chấp hành Huyện ủy, sau khi nghe Hai Đước phát biểu, trưởng phòng Phái đã đứng bật dậy, gay gắt phản đối ý kiến của Đước. Phái khuyên Đước hãy dừng lại, chớ nên quá bi quan, hoang mang dao động trước những khó khăn nhất thời. Nếu tiếp tục tư duy theo chiều hướng đó, dễ bị kẻ thù lung lạc, nghi ngờ đường lối chính sách của Đảng. “Trong những lúc khó khăn như thế này, - Phái nói - mà khó khăn là tất yếu vì chúng ta vừa từ mấy chục năm chiến tranh bước ra kia mà. Chúng ta phải vững lòng tin vào Đảng, phải tuyệt đối tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng”. Không để Đước được phát biểu tỏ rõ ý kiến mình, cả bí thư lẫn chủ tịch lần lượt đứng dậy nhắc lại y hệt giọng điệu của Phái, và nghiêm khắc phê phán Đước đã bi quan, dao động.


Đước giận sôi lên. Ý thức kỷ luật của người lính đã nhiễm vào máu thịt anh khiến anh nhẫn nhục phục tùng. Nhưng rồi tinh thần trách nhiệm trước dân, tấm lòng của anh đối với những người dân lành như Ba Tràm, Năm Xị khiến anh không thể ngậm tăm. Mỗi tháng anh đi biển một hai chuyến, với hầu hết các xã, các tập đoàn. Những tập đoàn sản xuất do Phái vội vã dựng lên đang tan rã dần. Cuối cùng, nó chỉ còn là cái vỏ. Mạnh ai nấy làm. Ai có tiền mua được dầu của chủ vựa thì đi biển. Ai không có tiền thì gác máy nằm nhà ca vọng cổ và nhậu. Hết đồ nhậu, hết gạo lại còng lưng đi vay nợ lãi của chủ vựa. Giới chủ vựa, chủ biển mà Phái tuyên bố là đã hoàn thành cải tạo một trăm phần trăm, thực chất không hề suy xuyển gì. Có chăng, chỉ là hình thức. Họ hoạt động tế nhị hơn. Tỉ như mẹ con Bảy Tụ, đội lốt bán quán cơm, nhưng Đước biết, thực chất là một chủ vựa kếch xù. Chân rết của Bảy Tụ vươn khắp huyện, lan cả sang huyện khác.


Ông Ba Tràm lại bị bắt. Cùng bị một lượt với ông, còn có mười chiếc tàu cào và hai chục chiếc ghe chèo tay. Lần này, người ta không giữ người mà giữ tàu. Ông Tràm uất quá, vác luôn hai tấm bằng liệt sĩ lên gặp chủ tịch huyện. Nhưng chủ tịch huyện không tiếp ông, viện cớ là đi họp trên tỉnh. Ông Tràm tìm gặp Đước. Khi Đước biết chuyện thì tàu của ông đã bị đưa lên Công an huyện rồi. Họ qui tội ông rất nặng: Bán tôm cho tàu nước ngoài để đổi lấy hàng ngoại quốc. Nếu không tịch thu tàu, có thể móc nối làm gián điệp hoặc vượt biên không chừng.


Đước phải đứng ra bảo lãnh cho ông Tràm. Ông Tràm được nhận tàu về, nhưng số bà con còn lại không được giải quyết. Hai tháng sau, họ phải nộp phạt mỗi người mười ngàn đồng vì tội làm thất thoát hải sản quốc gia! Sau khi nộp phạt, họ mới được nhận tàu.


*


Ở Vũng Tàu, Trầm thường xuyên nhận được thư của Đước. Lá thư Trầm nhận được chiều nay khá dài, kể lại không khí căng thẳng ở Mỏ Tôm. Đước viết:


“Anh muốn qua những bức thư, thông báo cho em hiểu hiện tình ở quê nhà, những mặt trái trong quan hệ xã hội để nếu như khi xa anh, em lỡ có gặp phải những điều tương tự thì em biết cách cư xử cho xứng đáng là con người được ba má sinh ra. Thư trước, anh đã kể em nghe về sự bác bỏ thô bạo của huyện đối với bản kiến nghị của anh. Người ta nói, anh thích quyền hành và có máu độc tài. Chẳng là, anh đã giảm số cán bộ nhân viên của Công ty Thu mua từ chín mươi sáu người xuống còn ba mươi người. Một cuộc chiến đấu thật sự em ạ. Không phải dễ dàng gì cho họ nghỉ việc. Ai cũng có dù che, có thành tích trong kháng chiến, hoặc có người được đảm bảo bằng vàng, bằng tiền, thậm chí bằng sắc đẹp nữa. Khi anh yêu cầu huyện giao khoán tiền mặt và nhiên liệu cho Công ty trực tiếp mua bán với ngư dân theo giá thỏa thuận, tức là bán dầu giá cao - mua tôm giá cao, thì người ta càng cho anh là độc quyền, chạy theo cơ chế của con buôn. Thậm chí, họ còn cho là anh ăn phải bả của bọn tư thương, anh phát ngôn cho nguyện vọng của tiểu chủ ở nông thôn! Trưởng phòng Phái còn công khai kết tội anh là chống lại đường lối cải tạo của Đảng. Nguyên do thế này, có một hợp tác xã do Phái dựng lên, nó chỉ là hợp tác xã ma. Ở đó, ban chủ nhiệm hợp tác xã chỉ là bọn bóc lột đội lốt, bọn ăn chận, cai đầu dài. Khi anh phát hiện ra ban chủ nhiệm là người của giới chủ vựa, thì anh - với tư cách là phó phòng thủy sản - đã đề nghị xóa hợp tác xã này. Thế là Phái qui cho anh tội phá đường đối cải tạo của Đảng. Chưa hết, đứng trước khó khăn thiếu tiền mặt, không thể mua được tôm, anh đã tìm hiểu và lựa được ba người chủ vựa có thiện chí, yêu cầu họ đứng ra làm đại lý mua tôm cho Công ty, trả họ tỷ lệ hoa hồng tương xứng với lãi suất nếu họ để tiền cho vay. Nhờ cách này, sản lượng tôm mua được vọt lên. Nhưng cũng chỉ là nhất thời thôi em ạ. Việc mua bán theo giá Nhà nước hiện hành là việc làm phi đạo lý, bất nhẫn với dân. Anh phát biểu như thế. Và người ta qui cho anh là nói xấu Đảng, chống Đảng, tiếp tay cho giới chủ vựa - tư sản nông thôn ngóc đầu dậy.


Anh đã gặp riêng Phái. Dù sao hắn cũng là một trí thức được đào tạo chính qui. Anh tin rằng, xuất thân như vậy thì hắn sẽ hiểu biết, sẽ chấp nhận chân lý, chuyện hắn cải tạo ba, anh nghĩ rằng có lẽ do cấp trên chứ không hẳn do mình hắn. Vì thế, từ ngày về làm phó phòng thủy sản, anh giữ thái độ tôn trọng hắn và sẵn sàng hiếu hòa để công việc tiến triển tốt đẹp. Anh gặp riêng hắn để thuyết phục hắn ủng hộ bản kiến nghị của anh. Trong đó có nêu cả vấn đề cấp bách như giải tán Xí nghiệp Đánh cá Quốc doanh vì nó làm ăn thua lỗ, để tàu vượt biên quá nhiều. Giải tán nó để đầu tư cho nghề cá của dân... Hắn ở quán nhậu của mẹ con Bảy Tụ bước ra, mặt sần sần, miệng đầy hơi rượu. Anh nhận ra vết son môi đỏ chót trên ngực và vai áo sơ mi trắng của Phái.


- Tôi không thể ủng hộ bản kiến nghị của anh. - Hắn nói, mắt đỏ sọng, có lẽ hắn tức giận vì phải rời khỏi vòng tay người đàn bà.


Anh vẫn nhũn nhặn:


- Về chuyện đổi mới cung cách thu mua, thay đổi cơ chế giá cả, chuyện giải thể Xí nghiệp Đánh cá Quốc doanh, anh không đồng ý. Nhưng còn đề xuất về việc nuôi tôm kết hợp trồng rừng? Anh là kỹ sư thủy sản, tôi nghĩ là anh sẽ đồng ý với đề xuất đó chứ. Nếu cả huyện ta đầu tư nuôi tôm thì sản lượng tôm nuôi sẽ lớn hơn sản lượng tôm đánh bắt được, và quan trọng hơn, diện tích rừng sẽ không bị tàn phá nữa. Trận cháy rừng mùa khô vừa qua là trận không hề thấy bao giờ ở đây.


- Tôi hiểu, - Phái uể oải nói - nhưng tôi không ngây thơ như anh. Anh đánh giặc giỏi, về khoản đó tôi phục, còn làm kinh tế thì, - Phái chỉ lên đầu, giọng tự phụ - phải có cái đầu. Anh thấy được lợi ích của việc nuôi tôm kết hợp trồng rừng, nhưng thấy một mà không thấy mười: Vốn ở đâu? Vài ngàn đồng bạc trả nợ mua tôm của dân còn không có nữa là. Vốn ở đâu?


- Tôi đề nghị liên doanh, vay vốn của Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản của Bộ, thành lập công ty liên doanh.


- Ồ, anh chẳng hiểu gì cả. Ở huyện, các anh ấy nói như thế chẳng khác gì bán đứng tiềm năng của huyện cho người ngoài xơi.


- Cũng có thể huy động vốn của giới chủ vựa? Cùng làm, cùng ăn chia sòng phẳng...


Anh tiếp tục, nhưng hắn cắt ngang:


- Thôi, mất thời gian lắm. Tôi nói thật, anh lo mà giữ cái ghế của anh. Bên công an người ta đặt vấn đề rồi đấy.


Thế đấy em ạ. Quả là có kẻ muốn bắt anh vào tù. Anh đã linh cảm điều đó. Ở đây, chỉ có anh là đi ngược dòng...


Dù sao, anh vẫn tin là mình đúng. Em sẽ hỏi anh căn cứ vào đâu? Vào lòng dân em ạ. Xưa nay, chưa thấy điều gì hợp với lòng dân mà thất bại cả. Chỉ có những điều trái lòng dân là đáng lên án thôi...


Em thế nào? Có khỏe không? Đừng phí sức nghe em. Chuyện vợ con ra sao rồi? Anh nhắc em, không nên vung vít tình cảm như người ta sạ(1) đước. Tuổi em lấy vợ là đúng lúc rồi.


Anh vẫn không bỏ lỡ một dịp nào để dò tìm ba. Cách đây một tuần, anh nhờ mấy người bạn ở lâm nghiệp đi máy bay khảo sát khu rừng bị cháy để tìm ba nhưng vẫn không có tin gì. Chú Ba Tràm và Út Thơm thường nhắc em luôn. Thế nào cũng có dịp anh đưa chú và Út Thơm ra Vũng Tàu thăm em...


Tạm biệt! Ráng làm việc thật tốt và sống cho xứng đáng với ba má.


Anh của em - Hai Đước”.


Đọc thư Đước, Trầm lo cho anh quá! Linh tính báo cho Trầm biết anh mình đang đứng trước một hiểm họa. “Ở đây, chỉ có anh là đi ngược dòng. Dù sao anh vẫn tin là mình đúng... Xưa nay, anh chưa thấy điều gì hợp với lòng dân mà thất bại cả”. Rõ ràng, anh đã và đang đứng trước hiểm họa. Biết đâu, tai họa sẽ còn chụp xuống gia đình. “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”, biết làm sao bây giờ? Anh cương trực và hay quên mình. Ai là người tâm huyết giúp anh, bảo vệ anh?


Trầm viết thư trả lời Đước:


“... Mang trong lòng nỗi đau buồn mất má, mất ba, giờ đây em lại thêm nỗi lo lắng về anh. Em lo và thương anh quá. Anh Hai! Bốn chục tuổi rồi mà anh còn chưa vợ con gì. Tay trắng hoàn tay trắng. Sự nghiệp cũng vậy. Người ta ngăn trở anh, phản bác anh là vì sao? Anh có làm điều gì vụ lợi đâu?


Em chợt nghĩ đến các anh Tư Phương và Hai Trung ở Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản. Anh nên gặp các ảnh, tốt nhất là anh trình bày bản kiến nghị của anh với hai anh ấy. Có thể họ giúp được anh chăng?


Vì lo lắng cho anh, đêm qua em đã nghĩ đến chuyện anh nên bỏ phắt mọi việc ở đó, về Sài Gòn mà sống anh ạ. Căn nhà của ba mua cho, em vẫn gửi bé Tư trông coi. Anh xin về chỗ anh Tư Phương mà làm việc. Anh em gần nhau thêm một chút.


Nhớ lời anh Hai dặn, em vẫn sống và làm việc với tất cả nhiệt tình của mình. Không gì thoải mái bằng được làm việc với những người hiểu mình. Giám đốc Hòa rất thương và tin cậy nơi em. Chỉ tiếc là vẫn có những kẻ đầy lòng đố kỵ. Nhưng ăn nhằm gì phải không anh Hai? Em chỉ biết khẳng định mình bằng lao động của chính mình thì sẽ không một trở lực nào ngăn cản nổi.


Liên hiệp Dịch vụ Biển đang ở vào giai đoạn thịnh đạt. Ngọn cờ phục vụ dầu khí giúp cho cơ quan em nhiều điều kiện thuận lợi. Tháng trước, Nhà nước chính thức cho phép cơ quan em làm công tác cung ứng xuất nhập khẩu. Đây là một thắng lợi lớn, giúp cho Liên hiệp Dịch vụ Biển chủ động hoàn toàn trong việc cân đối vật tư, trang thiết bị phục vụ dầu khí. Ông Hòa có ý định giao cho em phụ trách công tác xuất nhập khẩu nhưng em đã từ chối.


Nói chung, em không mấy ham chức tước, địa vị. Em thường nói chuyện với lão Mật ở khách sạn Hòa Bình. Một ông già đáng kính, có gia đình ba đời làm nghề quét rác. Ổng nói rất tự hào: “Còn gì sung sướng hơn được cầm cây chổi quét sạch rác cho cuộc đời”.


Về chuyện riêng, gần đây em được một cô gái đem lòng thương yêu. Đó là một cô gái đẹp và thông minh. Cô ấy không hề giấu thái độ chủ động tìm đến với em. Đó là một cô gái chỉ có thể kính trọng chứ không thể xem thường. Khi nào ra Vũng Tàu, em sẽ đưa anh Hai tới. Nếu đồng ý, anh Hai ngỏ lời với má của Thiền Lan cho em. Tên cô ấy là Thiền Lan, bà mẹ đi tu anh ạ. Ba cô ấy tập kết, bặt tin từ lâu rồi. Cô ấy giống anh em mình ở điểm: mất ba và khao khát tình cảm thương yêu của ba má. Những người khao khát tình cảm thường là những người đầy lòng vị tha, phải không anh? Có lẽ anh sẽ hỏi em: Còn bé Tư? Em biết nói thế nào với anh đây. Cho đến lúc này, em vẫn coi bé Tư như đứa em gái côi cút, cần phải được giúp đỡ, chăm sóc. Bởi vì, chỉ cần một khoảnh khắc bơ vơ, mất hy vọng, những em gái như bé Tư sẽ sa vào con đường cùng... Ở khu vực Cống Bà Phán, chắc anh đã nghe tiếng, hầu hết là nhà chứa: chứa gái, chứa xì ke, trộm cắp... Những chuyện nghe đau lòng lắm, anh ơi.


Em mong được đón anh ra Vũng Tàu, nhất là có chú Tràm và Út Thơm cùng đi; em sẽ làm “người hướng dẫn” cho anh. Và, em còn mong một điều nữa, lớn hơn, anh biết không? Khi anh em mình gặp nhau, em sẽ nói. Nhớ đưa chị Thơm cùng ra nghe anh!


Cầu chúc cho anh không bị kẻ tiểu nhân hãm hại. Cho em gửi lời chúc sức khỏe chú Ba Tràm và chị Thơm. Em kêu là “chị” cho quen đi là vừa, anh chịu không?


Em trai của anh - Lê Ngọc Trầm”.


*


Đúng vào ngày Đước đi biển cùng ông Tràm săn cá mập thì ở Xí nghiệp Quốc doanh Đánh cá xảy ra vụ cướp con tàu lớn nhất Xí nghiệp để vượt biên. Chỉ mãi về sau này, Đước mới biết vụ cướp đó.


Từ cửa biển Mỏ Tôm, con tàu ba mươi ba mã lực lao thẳng ra khơi. Mũi tàu vẽ cặp mắt cá Ông thật lớn. Mắt là mắt loài cá dữ mà người vẽ lại như truyền hết sự hiền hậu của mình vào đó, thành thử cặp mắt cá Ông lại hiền. Tàu vỏ gỗ mới đóng, máy Nhật mới nhập vào từ đầu năm bảy mươi lăm. Hồi ấy, ông Hai Mắm đặt mua cùng lúc năm chiếc máy thủy loại ba mươi ba mã lực và năm máy loại bốn mươi lăm mã lực. Ông dùng sáu máy, còn lại bốn máy để cho ông Ba Tràm và bà con trong vùng. Chiếc tàu của ông Tràm do Đước cầm lái đang lao vun vút qua vùng biển Côn Đảo. Từ xa, anh đã nhận rõ từng đỉnh núi quen thuộc, sân bay Cỏ Ống, căn cứ truyền tin nổi tiếng của Mỹ. Và kia, nghĩa địa Hàng Dương - nơi bảo tàng tội ác trời đất không dung tha của giặc, nơi ghi dấu những người anh hùng của hai thời kháng chiến. Tàu chạy ngang mũi Chim. Qua cửa kính, Đước nhìn hòn đảo như một con chim khổng lồ đang dang đôi cánh vĩ đại, chuẩn bị bay lên, lao giữa vùng trời biển không cùng. Từ Côn Đảo, Đước cho tàu trực chỉ hướng Nam, chạy thêm tám tiếng đồng hồ nữa thì anh quyết định dừng lại. Ông Ba Tràm đưa mắt tỏ vẻ đồng tình với quyết định của anh. Vùng biển này có nhiều cá mập. Đây chính là mỏ Rồng được Nhà nước ta cho Công ty Powallay của Canađa khoan thăm dò dầu khí. Điểm mà Powallay đang khoan, cách Côn Đảo đúng một trăm chín chục cây số, cách Vũng Tàu ba trăm tám chục cây số. Thời kỳ chưa đi thoát ly, đã nhiều lần Đước theo cha và ông Tràm đi câu cá mập ở vùng biển này.


Phía tây, ngôi sao hôm đã khuất hẳn. Đước nhìn đồng hồ điện tử: hai mươi hai giờ rồi. Ông Tràm ra lệnh thả câu. Giàn câu gồm năm trăm lưỡi, mỗi lưỡi mắc một tảng mồi lớn. Mồi là những con cá lớn cỡ một hai ký lô câu được từ những mồi nhỏ hơn, bằng hai, ba ngón tay. Lưỡi câu mắc vào sợi cước loại ba trăm, dài từ tám đến mười mét, kêu bằng dây thẻo. Những dây thẻo nối liền với nhau bằng dây chuyền cách nhau mười đến mười lăm mét. Từng đoạn dây chuyền có phao neo và cắm cờ hiệu để nhận biết cá cắn câu. Một tiếng đồng hồ sau, giàn câu được thả hết xuống biển. Đây là vùng biển sâu cỡ năm chục mét. Ban ngày, màu trời với màu nước hòa làm một cho ta có cảm giác như con tàu đi trong màu xanh xám vô tận. Ban đêm, giấc ngủ của những người câu cá mập bồng bềnh trên sóng. Những vì sao lấp lánh trên trời và lung linh dưới nước. Gió cấp ba cấp bốn, tàu lắc đều như nhịp võng đưa.


Ông Tràm cầm lái cho Đước ngủ. Nhưng anh không ngủ. Đối với người đi câu cá mập, ngủ là một nhiệm vụ bắt buộc, còn quan trọng hơn ăn. Mỗi chuyến đi câu cá mập thường kéo dài ba đến năm ngày, có khi bảy ngày trên biển. Thời gian ngủ thanh thản nhất là từ sau lúc thả giàn câu, tức là mười một giờ đêm đến năm giờ sáng, lúc phải cuốn câu bắt cá. Đó là một cuộc chiến đấu thực sự. Những con cá mập từ hai trăm ký lô trở lên hung dữ như những con mãnh thú, giằng co với thủy thủ, sợi thẻo bằng cước ba trăm có khi cứa đứt bàn tay vì sự giằng co ấy. Thủy thủ kéo thẻo câu còn cách tàu bốn mét thì thuyền trưởng phóng lao vào con cá mập. Máu cá mập loang đỏ mặt biển. Con thú biển trọng thương, vọt lên khỏi mặt nước bốn năm mét, rồi bất ngờ chụp xuống đáy biển với sức mạnh khủng khiếp. Tàu chao nghiêng. Cùng với sóng biển, sức con cá mập lồng lộn tẩu thoát đã nhiều lần phá tan những thuyền câu nhỏ. Trong trường hợp ấy, xác người và xác cá mập sẽ cùng bị biển cả nhấn chìm. Bình thường, cá mập bị tiêu diệt. Con mập dài năm, sáu mét có khi chịu hai, ba mũi lao có ngạnh như tia sét phăng vào mình nó. Sợi dây cột lao căng như dây đàn. Thuyền trưởng cho tàu chạy theo đà con mãnh thú, chờ cho nó kiệt sức. Người ta dùng móc móc vào mép nó, kéo xác con vật lên và bắt đầu làm thịt. Cuộc chiến đấu nhiều khi kéo dài cả ngày trời. Sau đó là công việc của kẻ chiến thắng: chặt lấy vây. Vây cá mập là hải sản quí. Quí nhất là vây cá mập giống vì cước cá mịn hơn các loại cá mập khác. Đước đã thấy các loại mập trắng, mập đen, nhọn sọc, nhọn mang và cà xà. Cũng có nhiều loại cá lạ cắn câu. Nhưng thường thì người ta trả về biển cả, chỉ lấy vây mập, da, thịt và lòng, đem phơi khô hoặc ướp đá. Vây cá mập mặt đen, mặt trắng. Mặt vây màu trắng lại có đốm đen ở đầu. Cá mập giống chỉ có ba vây chứ không có bốn vây. Làm thịt cá mập xong, ăn uống nghỉ ngơi một lát là vừa kịp đến giờ thả giàn câu. Cứ như thế. Ban đêm thả câu rồi ngủ. Ban ngày kéo câu, làm thịt cá. Bởi vậy, giấc ngủ ở những người săn cá mập là bắt buộc, nếu không, sẽ không đủ sức lực mà chiến thắng cá dữ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần. Sách đã tái bản lần thứ 12 năm 2013.


www.trieuxuan.info  







(1) Sạ: gieo.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »