tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376831
Truyện ngắn
03.02.2015
Vũ Bằng
Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu

Tiết tháng Bảy, mưa dầm sùi sụt


Toát hơi may, lạnh buốt xương khô!


Não người thay, buổi chiều thu!


Hoa lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.


Văn tế thập loại cúng sinh - Nguyễn Du

 


Đến đêm thứ sáu, sư Phổ Giác yên trí mình không thể nào lầm được.


Xen vào tiếng gió thổi vi vu ở lưng chừng núi, quả là có một tiếng gì nhỏ bé, tựa như tiếng thở dài của một đứa trẻ con, nổi lên ở đàng sau dãy cửa “bức bàn”.


Sư Phổ Giác thoạt tiên không để ý. Nhưng đến đêm thứ tư, quay lại, lúc tiếng thở dài đó nổi lên thì thoáng thấy có một bóng trắng biến vào sau phương trượng.


Cây phướn rủ từ trên mái chùa xuống giữa Phật đài rung khe khẽ… Không còn gì hết… Chỉ có tiếng gió rì rào trong kẽ lá ở ngoài hiên.


Vì thế, đêm nay, sư Phổ Giác quyết định phải xem cho biết cái bóng trắng ấy ít lâu nay cứ hiện lên ở chỗ tu hành để làm gì. Đó là một linh hồn mồ côi? Một hồn oan của kẻ chìm sông lạc suối? Hay là một con ma?


Ngài không phải là người mê tín dị đoan.


Cách đây mười bảy năm, ai từng theo dõi báo chí ở Sài Thành hẳn còn nhớ vụ bác sĩ Lê tự nhiên bỏ nhà ra đi mất tích. Họ hàng bác sĩ đổ đi tìm. Ngót hai năm sau mới thấy bác sĩ ở một trái núi cách ngọn Thanh Long, Bạch Hổ ở Bà Đen chừng hai mươi cây số.


Lúc đó, bác sĩ Lê không còn như trước nữa: ông đã trút những bộ Âu phục đắt tiền để đổi lấy bộ cà sa.


Thì ra ông đã đem hết của cải trong nhà để mua vật dụng tự cất lấy một căn chùa gọi là chùa Dâu; ông tu lối Tiểu Thừa; tự làm lấy mọi công việc, không quản gian nguy, khó nhọc; suốt cả trong căn chùa ở chốn thâm sơn cùng cốc đó không có lấy một chú tiểu đỡ đần ông.


Sư Phổ Giác chính là bác sĩ Lê đã bỏ nơi đô thị để xuất gia đầu Phật. Hồi đó, có nhiều báo đặt giả thuyết ông chán cảnh sống xa hoa, muốn lấy Phật làm lòng để quên lãng  “giai không vạn cảnh“; có người cho rằng ông được hưởng phép màu, cảnh giác, nên quy y với tin tưởng muốn đức Phật từ bi “giải oan, cứu khổ, độ về Tây phương”, nhưng lại cũng có người bảo ông thất tình với cô Ba Trành nên mượn “giọt nước cành dương để tưới tắt tình duyên tục lụy”.


Sự thực không phải thế. Ông tu chỉ là vì đã hé thấy tất cả sự cao siêu trong cái đạo nhiệm mầu của đức Phật từ bi.


Cố nhiên người đã đậu hai bằng tiến sĩ như ông, lại tinh thông Hán học, không thể hiểu đạo Phật một cách tầm thường, thấp kém… Ông tu là vì nhận thấy có một nỗi buồn mênh mông trên trái đất; ông tu để tự giác và cũng vì thương xót những người ở chung quanh mình. Nát Bàn ở đâu? Nại Hà ở đâu? Thế giới chúng sinh ba ngàn nước mắt ở đâu?


Giả thử một nhà sư khác mà thắp ngọn đèn dầu ngồi tụng kinh ban đêm như thế thì tập trung hết cả tư tưởng để mà tụng niệm, chớ không chịu để trí óc loãng ra vì những sự việc diễn ra ở chung quanh, nhưng sư Phổ Giác thì không thế.


Đêm nay, vừa tụng kinh, sư Phổ Giác vừa lắng tai nghe tiếng gió đập ở ngoài hiên để canh chừng xem có cái gì lạ thì quay lại, may ra bất chợt được chính cái bóng trắng mấy đêm nay vẫn thường hiện lên. 


Cả vũ trụ đều im lặng. Từ tầu tiêu ở cạnh cửa xuống vườn, thỉnh thoảng lại rỉ rả tiếng sương rơi lộp bộp. Gian chùa tối mù mù; một ngọn đèn dầu nhỏ bé leo lét soi vào quyển kinh và cái mõ. Giọng sư Phổ Giác niệm Phật đều đều, rầu rầu, trong đêm khuya.


Thương thay thập loại chúng sinh,


Hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người.


Hương lửa đã không nơi nương tựa,


Hồn mồ côi lần lữa bấy niên!


Quả như sư dự đoán, đến cuối trang thứ hai mươi bảy kinh Tiểu Nhã thì tiếng thở dài ở bên cái cửa bức bàn nổi lên.


Sư Phổ Giác quay lưng lại. Lần này cái bóng trắng không kịp biến như những lần trước đây. Sư bình tĩnh đứng lên, tiến về phía cái bóng trắng thì vừa lúc đó gió lạnh thổi qua kẽ cửa, làm cho ánh đèn dầu lạc chao đi.


Một con thạch sùng tắc lưỡi trong bóng tối.


Con tim đèn lụi dầu soi lờ mờ bóng đức Phật Bà Quan Âm ẵm Thiện Tài Đồng Tử chiếu xuống cái bục cây ở trước Phật  đài.


Sư Phổ Giác trông rõ cái bóng trắng ấy ra sao vì một phần lớn của bóng chìm trong đêm tăm đặc quánh, nhưng Ngài cảm thấy rằng đó không phải là một đứa trẻ như đã ước đoán trước đây, mà lại là một người con gái nhẹ nhàng như hơi sương, mông lung như khói núi.


Nhà tu hành lại gần cái bóng trắng hơn chút nữa. Vừa khi ấy, người con gái cũng ngẩng mặt lên. Tuy không trông rõ, sư Phổ Giác cảm thấy người con gái ấy gần như liễu, hai mắt to, tròn và đẫm lệ. Ngài bèn hỏi:


- Nếu bần tăng không lầm thì mấy đêm nay con vẫn tìm đến am thanh cảnh vắng này. Chẳng hay có việc chi? Nếu có điều gì oan ức, không siêu thoát được, con cứ nói, bần tăng xin tụng kinh phổ độ cho.


Hoa dạ lý hương tiết ra trong đêm khuya vắng lạnh một mùi thơm hắc. Xa xa, trên nền trời cao tít, có tiếng chim kêu đìu hiu.


Nàng con gái cúi đầu xuống cái bục gỗ ở trước Phật đài một giây lâu. Ý chừng là nàng khóc vì hai vai rung động.


Trong chùa, vẳng lặng như tờ. Một lát sau, sư Phổ Giác nghe thấy một tiếng nói nhẹ như hơi gió:


- Bạch lạy sư, con xét mình có tội nhiều vì đã mạo muội đến đây làm kinh động nhà chùa. Nhưng bạch lạy sư tha tội cho con vì hoàn cảnh của con khổ quá… con không còn biết trông cậy vào đâu được nữa…


Nói đến đấy, người con gái khóc nức lên. Nhà tu hành thấy lòng thắt lại. Ngài nói:


- Bần tăng đã biết… Nơi đây xa chốn phồn hoa cát bụi, mà tuổi con là tuổi thanh xuân, con phải lặn ngòi noi nước[1] đến chốn này, ắt hẳn là có điều gì oan khổ lắm, muốn tìm phương giải thoát. Bần tăng ăn mày cửa Phật, đạo hạnh còn non, đức độ lại không có gì; nhưng nếu có thể giúp cho con được phần nào, bần tăng xin nguyện đem hết tim óc ra giúp đỡ…


Nàng con gái chần chừ một lát rồi mới nói:


- Bạch lạy sư nói đúng. Con không còn là một người sống nữa. Con từ trần đã được hai mươi mốt năm nay rồi, nhưng hai mươi mốt năm nay linh hồn con không được siêu thoát vì có một nỗi oan khổ không thể tiêu tan đi được.


“Sinh thời con tên là Chi, Mai Chi, ở trên bờ một con sông nhỏ nước xanh ở miền Trung. Cha mẹ con cho con vào học ở miền Nam. Lên đến Đại học, có một chàng thanh niên người Bắc thương yêu con. Chàng tên là Thạch. Chúng con yêu thương nhau như non thương nước, như nước thương trăng, như trăng thương gió.


“Được sự chấp thuận của đôi bên cha mẹ, chúng con sắp định lấy nhau và đang bàn tính cái mộng xây nhà bên suối thì chiến tranh tàn khốc lan vào trong Nam. Miền Bắc của Thạch chìm trong điêu tàn, tang tóc. Khói lửa bùng lên khắp mọi nơi, tiếng ta oán vang lên đến trời. Nghe theo tiếng gọi từ phương Bắc vọng về, Thạch xếp bút nghiên lại để đi theo tiếng gọi của non sông. “Em ơi, đất nước còn bị chà đạp thì sao mà đành yên vui với hạnh phúc vị kỷ của mình. Anh đi, nhưng anh sẽ về và anh quyết phải về để cho em xứng đáng là vợ của một thanh niên đã làm tròn bổn phận”.


“Bạch lạy sư, con nhờ ơn cha mẹ cũng biết đôi ba chữ thánh hiền nên không những không ngăn cản mà còn khuyến khích Thạch lên đường nữa…“ Anh đi đi và khi nào diệt hết ngoại xâm thì trở về với em”.


“Đêm từ biệt, con đưa Thạch ra đến chân một trái đồi ở Vàm Cả, uống một ly rượu với nhau và cùng khóc với nhau một chút. Thạch nói với con: “Đôi đứa mình dù chết cũng không quên nhau, em nhé!”.


“Rồi chia tay. Đêm cuối cùng buồn quá. Lưu luyến nhau thế nào rồi cũng có lúc phải phân ly. Con quay về thành nội; còn chàng bước xuống thuyền đi vào bến nước đìu hiu.


“Mùa xuân đi, có trở lại cũng bằng thừa. Mùa hạ đến, rền rền tiếng đỗ quyên nhỏ máu, nhưng từ bến nước đìu hiu buổi ấy vẫn không có âm vang gì dội lại của người hôn phu nơi tiền tuyến, mà ở nhà thì lại chết người vị hôn thê chờ đợi tin xa.


“Một buổi chiều, một đoàn phi cơ bay tới vùng con ở, gieo tang tóc, không chừa một mảnh vườn, một căn nhà. Con không thoát khỏi bom đạn của lũ xâm lăng man rợ. Trong lúc trút linh hồn, con cố kêu Thạch nhưng không thấy chàng đâu hết. Từ đó, linh hồn con nặng nề, rầu rĩ lang thang khắp đó đây để kiếm chàng, nhưng vẫn chẳng thấy chàng đâu.


“Con đã đi hỏi tất cả những oan hồn ở những nơi bị bom đạn réo lúc bấy giờ thì có người quả quyết đã gặp chàng, nhưng hiện giờ ở đâu, ở Bến Hải hay Cà Mau, ở Bạch Hổ hay Kinh Câu, tuyệt nhiên không có người nào biết cả.


“Tìm chàng ở cõi dương, ở cõi âm, con đã đi khắp các nẻo đường đất nước, mà vẫn không tài nào thấy, cho nên chỉ còn cách trông vào Trời, Phật thương con mà chỉ bảo cho. Vì vậy, mấy đêm nay con đến đây để trộm nghe kinh và cầu nguyện Phật, Trời thương xót một linh hồn đau khổ… vạch đường chỉ lối cho con tìm được người thương…”.


Gió mưa sấm sét đùng đùng,


Dãi thây trăm họ làm công một người.


Khi thất thế, tên rơi đạn lạc,


Bãi sa trường thịt nát máu rơi.


Mênh mông góc bể bên trời,


Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?


Khi sầm sầm, mưa gào gió thét,


Khi âm huyền mờ mịt trước sau.


Ngàn cây, nội cỏ rầu rầu,


Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?


Sư Phổ Giác trầm ngâm một giây lâu rồi nói:


- Vận nước không may, mọi người đều khổ. Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc, quỷ không đầu đứng khóc nhiều hơn là cát sông Hằng. Hàng triệu gia đình tan tác phân ly chớ không phải riêng con. Thôi thì cũng đành chịu vậy, chớ biết làm sao bây giờ?


- Bạch lạy sư, con cũng trộm biết như thế. Nhưng riêng con nghĩ thì tình cảnh của con khác hẳn người ta. Lòng con trong trắng, tình con thiết tha, con không làm gì nên tội… Con cảm thấy nếu con không được gặp Thạch để nối lời thề cũ thì…


Nói đến đây, Chi khóc nức nở và phục xuống dưới chân sư Phổ Giác.


- Bạch lạy sư, xin thương xót chúng con, xin ngài lấy đức cả của ngài ra tìm kiếm Thạch cho con. Để cho chúng con được nối lời thề cũ. Xin ngài thương lấy một linh hồn cô trích, lang thang …


Sư Phổ Giác cúi đầu, không nói gì.


Mà biết nói gì bây giờ?


Đến khi có tiếng gà gáy, bóng trắng Mai Chi vẫn còn gục trước Phật đài.


Không biết làm thế nào khác được, nhà tu hành bèn bảo:


- Việc con vừa nói là việc của Phật, Trời; điều con mong ước là thuộc về thiên mệnh. Hơn ai, bần tăng biết là cảnh của con thật xót xa, nhưng với tài đức của bần tăng, bần tăng chỉ biết cám cảnh và quả tình không biết làm cách gì để cứu giúp con được.


“Tuy nhiên, bần tăng cứ xin tụng kinh, cầu Trời khấn Phật thương lấy chúng sinh oan khổ… Biết đâu rồi đây con chẳng gặp người thương như điều con mong muốn?


“Duy có một điều bần tăng biết chắc là làm một công việc như thế bần tăng đã đi quá phạm vi của mình về đạo – và chắc chắn là đạo nào cũng cấm làm như thế – nhưng nghĩ cho cùng thì đã là kẻ tu hành, mình có phải tội chăng nữa mà cứu được một linh hồn thì cũng vẫn còn hơn là xây mấy đợt phù đồ…


“Bần tăng xin hứa sẽ giúp cho con trong phạm vi thế lực của bần tăng…”.


Một tiếng chim rơi trong đêm dài thăm thẳm. Bóng trắng mờ dần… mờ dần… rồi biến mất theo khói núi…


Lạy Trời đất Thánh thần! Lạy đức Phật từ bi cứu khổ cứu nạn!


Đất nước này trong mấy chục năm nay đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc biến thiên đứt ruột nát lòng: người chết như rạ, máu tuôn lai láng, cửa nhà tan nát, thân thích lìa tan. Lạy Trời, Phật, Thánh, Thần, lạy đức Phật từ bi cứu khổ cứu nạn, thương xót chúng sinh thập loại, chiếu ánh sáng thiên thần để đem lại hòa khí cho quần chu tứ hải, trút sạch não phiền, rửa không thù oán để cho những người còn sống yêu thương nhau, trút bỏ hết nỗi ghen ghét, uất hận mà những người chết cũng được an vui nơi chín suối, không phải lang thang nay đó mai đây ở đầu khe ngọn suối, ở điếm cỏ bóng cây, ở cuối sông đầu chợ.


Từ đêm hôm đó, sư Phổ Giác suốt đêm tụng kinh gõ mõ; có nhiều khi đến tận sáng bạch, ngài vẫn còn quỳ lạy trước Phật đài cầu nguyện cho linh hồn của một người con gái bơ vơ và xin Trời, Phật linh thiêng run rủi cho u hồn của chàng thanh niên người Bắc tên là Thạch ở đâu thì về để cho ngài được gặp.


Ngày rằm tháng Chạp năm ấy, có việc đi qua Vàm Cả, ngài lưu lại đó một đêm và lân la hỏi thăm hết cả mọi người xem trước đây có ai biết Thạch không.


Một bô lão ở trong làng, năm ấy kém hai tuổi đầy một trăm, kể chuyện rằng cụ có một người con trai chơi với một người tên ấy, tuổi ấy, đúng như hình dáng mà nhà sư đã tả. Ông cụ nói:


- Tôi có ba người con trai cùng chết cả trong trận chiến tranh giành độc lập. Người thứ nhì có biết Thạch, nhưng sau này tôi nghe nói anh ta đã bị chết vì bom giữa một chiều rằm tháng Bảy ở chính nơi đây, nhưng chưa chết.


“Người ta chở anh ấy về quân y Đồng Tháp: ở đây, người ta cắt một chân anh, nhưng không khỏi; chiến tranh lan đến đấy, người ta chở anh vào chiến khu “D” và anh lại bị cắt một tay; máy bay lại ném bom khu này, rồi không ai biết anh ấy trút linh hồn ở đâu…”.


Một người mà chôn ở ba nơi như thế thì biết phụ lên ở đâu bây giờ?


Sư Phổ Giác không biết làm thế nào hơn là lập một đàn tràng ở gần Vàm Cả, cúi lạy các đấng tối cao che chở, xót thương những người bị bom đạn ở nơi đây và nếu có thể, thì run rủi cho u hồn của Thạch về phối hưởng chén nước lạnh, nén nhang thơm.


Khấn như vậy, nước mắt nhà sư chảy ròng ròng.


Nước sông ở gần đấy réo lên, cảnh trời mù sương tối sẫm hẳn lại. Xa xa, có tiếng quạ kêu réo rắt.


Nước khe cơm vắt gian nan,


Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.


Buổi chiến trận, mạng người như rác,


Phận đã đành, đạn lạc tên rơi!


Lập lòe ngọn lửa ma trơi,


Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.


Hai đêm sau, về đến chùa Dâu, sư Phổ Giác lúc giở kinh ra tụng, cảm thấy có một cái gì nặng nề, bức bối ở trong không khí.


Đến nửa đêm trời mưa phùn, gió lạnh đập vào cành phướn, nhà sư khêu ngọn đèn lụi bấc, vừa giở sang trang kinh khác thì thấy có một bóng trắng phủ phục ở bên cạnh ngài.


Sư Phổ Giác ngừng tay mõ, đứng lên nâng cái bóng trắng dậy thì là một thanh niên. Thanh niên nói:


- Bạch sư, con tên là Thạch. Mới đây, con đương lang thang đi từ đồn Linh Cảm qua Thường Sơn để về đồn Phố Châu có việc thì con gặp một oan hồn báo cho con biết là hôm rằm tháng Chạp ngài có lập một đàn tràng cúng cho những oan hồn cơ khổ ở Vàm Cả, và trong khi cúng ngài có nhắc đến tên con. Vậy con vội về đây để xem đại đức chỉ bảo điều gì.


Sư Phổ Giác bỗng thấy toàn thân ớn lạnh. Không phải vì sợ cái bóng ma con trai phủ phục bên ngài, nhưng sợ… sợ đạo Phật rất mầu, sợ đức Phật “thần thông quảng đại, chuyển pháp luân tam giới thập phương”. Giọng ngài run lên một lát. Ngài muốn ôm  lấy bóng ma của Thạch nhưng chỉ ôm lấy rỗng không, mà nhìn kỹ thì cái bóng vẫn phủ phục ở trên bục, bên cái mõ và ngọn đèn dầu hiu hắt.


Ngài bèn nói (và chính ngài cũng nghe thấy giọng nói của ngài run run):


- Phải, bần tăng có ý tìm con. Bần tăng đã cầu Trời khấn Phật run rủi cho con về nơi đây. Quả là bần tăng không ngờ ý chí của kẻ đức bạc này lại thấu đến cửu trùng mà được gặp con ngày hôm nay.


- Bạch sư, con chết đi lúc hãy còn trẻ lắm, mà sư năm nay thì đã cao niên. Không biết Phật huệ gì đã cho con được cái hân hạnh ngài thương mà nhắc nhở đến tên con như vậy?


- A di đà Phật! Bần tăng thực quả là không biết con lúc sống, mà con mất đi rồi bần tăng cũng chẳng hay. Nhưng… một sự tình cờ mới đây…


Sư Phổ Giác chắp hai tay lại, cúi đầu suy nghĩ một giây lâu rồi tiếp:


- Bần tăng tìm con vì một người… Người đó là một u hồn vất vưởng đi tìm con hai mươi mốt năm nay mà không gặp… Tìm ở ngang bờ dọc bụi, tìm ở quán nọ cầu này, tìm ở đầu chợ cuối sông, tìm ở chân mây ngọn suối, tìm ở gò đống, lau tre… Vậy trong thời gian đó con ở đâu ta?


- Bạch sư, thời gian đó con vất vưởng không có nơi nào ở nhất định: lúc sống đời con đã lang thang thì lúc chết con cũng chỉ là một u hồn vô định, ăn nhờ hớp cháo lá đa “nghe gà gáy, kiếm đường lánh ẩn, lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra”.


“Ở Hương Sơn đi về đồn Phố Châu có sông La chảy một dòng về Bến Thủy, nước độc vô cùng. Vì nhiều người đi qua sông về nhiễm độc bị chết, dân vùng đó cho là con sông thiêng lắm bèn lập một cái miếu con lên ở hữu ngạn bờ sông để thờ các cô hồn; con vẫn sống nhờ tại đó và ngày rằm mồng một thường được người ta thí bỏ cho bát cháo, nắm xôi, có khi lại có cả thoi vàng, manh áo”.


- Tại sao con không ở một nơi nào nhất định, lại cứ kéo dài mãi một cuộc đời lang thang như vậy?


Bóng trắng chàng trai rung động.


  Phổ Giác cảm thấy nước mắt của Thạch rơi xuống bục; nhưng không phải, đó là tiếng mưa rơi trên giàn đậu lên chùa. Thạch nói:


- Bạch sư, con ở yên một chỗ làm sao cho được? Con đi, đi mãi là vì con có một lời thề chưa giải được, bao giờ con cởi được oan tình mới thôi.


- Lời thề gì vậy hả con?


- Lúc sống, con có yêu một người con gái…


“Đêm cuối cùng ở trên bến biệt ly chúng con có nguyện chết cũng không quên nhau, lúc sống không lấy được nhau thì về cõi âm cũng phải tìm nhau để mà nối lại lời thề ở cõi dương. Hai mươi mốt năm nay, con đi tìm người thương ấy… U hồn con lang thang các khe suối ngọn nguồn, hết thị thành thiên hạ đua tươi đến những chỗ ma thiêng nước độc, nhưng con vẫn không thấy bóng dáng người thương. Hai mươi mốt năm nay rồi…”.


Sư Phổ Giác chắp hai tay lại niệm ”A di đà Phật”, một giây lâu, nói:


- Người ta sanh ra đời khổ từ khi cất tiếng khóc sơ sinh. Thế gian là vô thường. Vũ trụ có bao nhiêu đại dương là có bấy nhiêu nước mắt. Nhưng con ơi, chính cái đau, cái khổ ấy nâng cao ý nghĩa kiếp sống của con người ta lên.


“Làm thế nào mà trút được hết tục lụy? Nếu chưa hết tục lụy thì đau khổ vẫn còn, duy có một cách làm cho lòng được lâng lâng, trong sáng là đạo lý cao siêu, là tư tưởng. Đời thực rộng, nhưng quanh đi quẩn lại vẫn gặp nhau, ở hiền lại gặp lành, ở phúc lại gặp đức, hết bĩ cực rồi phải tới thái lai, không ai lại gối đầu tay cho tới sáng…


“Con ơi, bần tăng muốn gặp con có lẽ cũng vì một túc trái, tiền duyên qua một người khác đối với con có lẽ hãy còn nặng nợ…“.


- Người ấy là ai vậy, bạch sư?


- Là một người con gái tên Chi. Mai Chi. Mai Chi.


Ở cạnh cửa bức bàn, một tiếng thở dài khe khẽ nổi lên. Sư Phổ Giác quay lại thì thấy cái bóng trắng quen thuộc, gầy như cành liễu, đương gục đầu xuống đất lễ với tất cả niềm thành kính nhất trên đời.


Sư Phổ Giác chỉ vào bóng đó và nhìn Thạch, nước mắt chảy ròng ròng trên má.


Mười loài là những loài nào?


Gái, trai, già, trẻ, đều vào nghe kinh,


Kiếp phù sinh, như  hình  như  ảnh,


Có chữ rằng “Vạn cảnh giai không”.


Ai ai lấy Phật làm lòng


Tự nhiên siêu thoát, khỏi trong luân hồi.


Đêm nay, hai mươi tám Tết, cảnh chùa Dâu lại êm tịnh, vắng lặng hơn cả bao giờ. Các oan hồn, phảng phất u minh, nghe thấy tiếng mõ trong trời đất tối tăm tụ tập chung quanh chùa để nghe kinh: Có những kẻ trước đây lăm le thay đổi non sông nhưng gặp phải vận cùng thế khuất; có những kẻ màn lan trướng huệ gặp phen thay đổi sơn hà chỉ còn mảnh lá che thân; có những kẻ lâu đài phượng các bây giờ không còn ai bát nước chén nhang; có những kẻ vào sông ra bể, đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê; có những kẻ mắc đoàn tù rạc, gửi mình vào chiếu xác một manh; có những kẻ chìm sông lạc suối, có những người gieo giếng, thắt dây; có những đứa trẻ lỗi giờ sinh phải lìa mẹ cha từ tấm bé, không có ai bồng bế xót xa… Các thổ thần, thổ đại hình như nhân dịp đôi mùa giao tiễn nhau cũng tìm đến đấy để nghe kinh Phật và nhân dịp để tìm những linh hồn quen thuộc hầu nương dựa nhau ba ngày Tết sắp tới cho đỡ phần hiu quạnh.


Chiều vừa đổ xuống thì khí núi bốc lên che kín cả ngôi chùa.


Sương thấm lạnh qua mái lá, chân tường, làm cho ngôi chùa huyền ảo như chìm trong một khối pha lê mờ; tượng Phật, nhà sư, chuông mõ đều như là không có.


Nhà tu hành tụng kinh với một giọng trầm trầm, buồn buồn. Tiếng mõ rơi vào đêm tối như ra hiệu cho thời gian ngừng đọng lại.


Hai cái bóng trắng của Thạch và Chi gục xuống lễ trên nền đất. Sang đến canh ba có tiếng gà rừng, ở trên một cái đồi xa, gáy te te.


Sư Phổ Giác quay lại bảo hai cái bóng:


- Hai con lại gần đây. Vậy là đến đêm nay, bần tăng đã tụng được bảy pho kinh cho hai con rồi. Hai con lễ tạ đi. Rồi bần tăng có điều nhắn nhủ.


Thạch và Chi phủ phục trước Phật đài, sát lại với nhau như sợ lạnh, mà cũng như muốn để cho Trời Phật trông thấy họ yêu nhau, nương dựa vào nhau mà thương xót họ hơn. Sư Phổ Giác thỉnh một hồi chuông, đứng dậy xếp lại mấy đĩa hoa trên bàn thờ rồi quay lại phía Chi và Thạch, nói:


- Ở đời, khổ nhất là sinh ly, tử  biệt. Thảm thương thay cho những người lúc sống mến yêu nhau mà bị chia rẽ, những người đương chung sống với nhau mà bị tình thế làm cho lìa tan, những người nguyện ước được ở bên nhau mà bị sóng gió cuộc đời làm tan rã đi muôn ngả…


“Người ta vẫn bảo đời là bể khổ, mà âm cảnh mới là quê hương yên ổn cuối cùng của con người. Hai con đã chỉ cho bần tăng thấy rằng âm cảnh cũng như dương thế không có nơi nào sung sướng, vui vẻ, nếu người ta còn chất chứa những thống khổ trong lòng, nếu còn những ý nguyện chưa thành tựu, những hoa mộng chưa kết nhụy…


“Khổ thay cho những người lúc sống đã bị chia lìa, mà đến khi nương nhờ cõi âm vẫn không được gặp nhau!


“Cảm thông nỗi khổ đó, bần tăng đã liều vi phạm Phật pháp mà làm cái việc bần tăng đã làm, dẫu rằng về sau đây có bị tội lỗi, bần tăng cũng xin cám cảnh mà chịu vậy.


“Chỉ có tình thương yêu ở đời này rửa được hết mọi nhơ bẩn mà thôi”.


Sư Phổ Giác ngừng lại một giây, khêu to ngọn đèn dầu và đốt thêm nhang trên bàn thờ Phật. Khói trầm bốc lên nghi ngút, quyện với hơi sương và tỏa ra trong bầu không khí một mùi đạo hạnh tôn nghiêm. Sư Phổ Giác tiếp:


- Hai con, năm sắp tàn rồi. Các con không thể ở đây lâu hơn nữa vì dù sao các con cũng nên tìm sự giải thoát trước khi bước sang năm mới. Lại gần đây, hai con.


“Hôm nay, tụng xong bảy pho kinh cho các con rồi, bần tăng cảm thấy đã làm tròn nhiệm vụ. Bây giờ, bần tăng xin khấn Trời khấn Phật cho hai con được chung sống với nhau, không còn bao giờ bị lìa tan như trước nữa. Bần tăng xin chúc cho hai con được an vui, sung sướng”.


Hai bóng trắng phủ phục xuống chân sư Phổ Giác. Vũ trụ im lặng y như thuở hồng hoang. Tiếng nhà sư nhỏ yếu rơi vào trong bóng đêm đặc quánh như là từng hạt trong một chuỗi tràng hạt chạm vào nhau.


- Hai con lại đây!


Sư Phổ Giác cầm một bó nhang vái trước bàn thờ Phật rồi quay lại giơ cao trên đầu hai cái bóng đang quỳ. Ngài nói:


- Lúc sống, hai con không được ở với nhau, thì lúc chết không có lý gì hai con cứ phải chia lìa. Đêm nay, trước Phật đài, bần tăng xin chịu tội với các đấng tối cao, làm lễ cưới cho hai con… Bần tăng xin chịu hết các tội lỗi sau này bởi vì bần tăng không thể nào sống mà trông thấy hai linh hồn lưu lạc, chơi vơi, đắm chìm trong nước mắt.


Trong bóng đêm người con gái thở dài. Một lát, có tiếng khóc rưng rức của người con trai.


Sư Phổ Giác giơ bó nhang lên làm lễ. Đôi mắt bức tượng Phật Quan Âm bồng Thiện Tài Đồng Tử dường như có một lúc sáng ngời lên. Nhà tu hành chắp hai tay lại lễ, như từ trước tới nay chưa từng lễ như thế bao giờ.


Sư Phổ Giác cảm thấy mình nhẹ như hơi khói. Ngài nói:


- Hai con lễ tất đi.


Bóng người con trai và người con gái sát lại với nhau hơn nữa. Mùi trầm hương mỗi lúc ngát hơn. Sư Phổ Giác cầm một chùm bông trang, nhúng vào bình nước ở dưới bàn thờ vẩy lên đầu Chi và Thạch. Hai bóng trắng đưa mắt nhìn nhau. Nhà tu hành chắp tay trước ngực:


- Bần tăng xin chúc cho hai con yêu thương nhau mãi; quân giặc muốn dùng độc kế hay võ khí gì cũng không chia lìa được hai con. Ở âm cảnh cũng như dương trần, sự ly biệt chia lìa còn khổ hơn là cái chết. Đạo Phật chỉ hợp nhau lại, chứ không bao giờ chia nhau ra.


Sư Phổ Giác mỉm cười với Chi và Thạch, nhưng nước mắt ngài chảy ròng ròng xuống má.


Chi và Thạch lại quỳ xuống đất, cảm tạ nhà sư một lần chót rồi dắt nhau đi. Cánh cửa bức bàn đóng kín, nhưng hai cái bóng thanh niên ấy đi qua dễ dàng như thể đi trên một bãi cỏ mênh mông.


Cả hai vẫn còn khóc nức nở.


Nhà sư đứng trước hiên chùa nhìn theo mà tưởng như hãy còn nghe thấy nước mắt họ rơi tí tách.


Không. Đó là sương khuya. Sư Phổ Giác chụm hai bàn tay lại ngửa lên trời hứng lấy và đưa lên miệng. Nước sương khuya uống vào mát như là nước suối Ngọc Tuyền.


VB.


Nguồn: Rút từ Tuyển tập Vũ Bằng, Tập III, NXB Văn học, năm 2000. Vũ Bằng Toàn tập, 4 quyển khổ lớn 16 x 24 cm, NXB Văn học, 2006. Cả hai bộ sách này do Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu.


www.trieuxuan.info








[1] Thành ngLn ngòi noi nước: ít thông dụng, chỉ có ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình. Truyện này tác giả dùng tới 7 lần. Bản in Tuyển tập Vũ Bằng năm 2000, và Toàn tập Vũ Bằng năm 2006, vì trân trọng người quá cố, tôi giữ nguyên cách dùng từ của tác giả. Thế nhưng, trong lòng tôi vẫn ngờ ngợ… Cố nhà văn Vũ Bằng cùng quê với tôi, ở quê tôi, bà con nói: Lội ngòi ngoi nước. Lội với lặn thì gần nghĩa, nhưng noi với ngoi thì sao? Có thể là biến âm chăng? Tôi đã cất công hỏi nhiều đồng nghiệp, nhưng đến nay, sau 15 năm kể từ khi in Tuyển tập Vũ Bằng, tôi vẫn chưa tìm được giải đáp làm yên dạ! – Nhà văn Triệu Xuân.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »