tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18411547
Những bài báo
01.02.2015
Nhiều tác giả
Tôn vinh đồng nghiệp: Những bài viết về nhà thơ Nguyễn Kim Ngân


Nhà văn Triệu Xuân: Tôi rất thích khi được tôn vinh đồng nghiệp!





Tiểu sử Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân


 


Nguyễn Kim Ngân và ký ức về một thời tranh đấu




Nguyễn Kim Ngân thời sinh viên


Ông cứ rơm rớm nước mắt khi nhớ lại những năm tháng mà ông bảo là không làm sao quên được. Có lẽ như đã lâu lắm rồi, chưa lúc nào những ký ức của một thời trai trẻ cùng đồng bào miền Nam ruột thịt kiên cường tranh đấu khiến ông xúc động đến thế. Thầm thì trong tiếng gió lùa những rặng dừa quê xao xác, ông bồi hồi kể lại câu chuyện Người mẹ Bàn Cờ như từng được xem là một mạch nguồn hy vọng: … Đường Việt Nam Bàn Cờ/Tình Việt Nam như tơ/Đồng Việt Nam lầy lội/Giặc đợi chết từng giờ.


Nhiệt huyết tuổi thanh xuân


37 năm về trước, không ít người đã nén lòng dõi nghe lời bài hát Người mẹ Bàn Cờ liên tục phát trên sóng phát thanh của nhiều tỉnh thành và vùng giải phóng. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của một bạn học cùng ý chí tranh đấu, đó là anh sinh viên (SV) trường Văn khoa Sài Gòn Nguyễn Kim Ngân. Ngay sau khi ra đời vào khoảng giữa năm 1970, Người mẹ Bàn Cờ nhanh chóng lan truyền trong giới học sinh, SV và để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống đồng bào đi theo cách mạng. Nhiều người thuộc nằm lòng, xem như một ngọn nến thắp sáng niềm tin. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, người mẹ, người chị miền Nam can trường, thầm lặng hy sinh đã được chàng SV xuất thân từ quê nghèo miền Trung khắc tạc vào thi ca bằng chính tình cảm tri ân hết sức chân thành.


 


Một ngày tháng tư, chúng tôi tìm về thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Cái nắng đầu hạ bỏng rát cả những ngọn đồi lúp xúp tiếp nối ven quốc lộ 1A. Loáng mấy phút len qua một con đường đất nhỏ phủ bóng dừa xanh, cậu học sinh lớp 6 nhanh nhảu đưa chúng tôi đến nhà thầy Nguyễn Kim Ngân. Tấm áo thun sờn cũ che khuất chiếc quần cộc nổi rõ nhiều vết nhăn ngắn hủn, người đàn ông ngăm đen trông rất tảo tần xăm xăm đôi dép lê mỏng dính vồn vã mời khách vào nhà. Những mường tượng về sự “hoành tráng” của một nhà thơ, nhà giáo kỳ cựu suốt trên đường đi bỗng tan biến trong mỗi chúng tôi. Ông mộc mạc, chất phác trong từng lời hồi tưởng của mình.


Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân luôn rất mực trân trọng những ngày ở miền Nam. Nơi ấy, ông đã trải qua những tháng ngày chông chênh nhưng lẫm liệt nhất trong đời. Nơi ấy, tấm lòng của những người mẹ, người chị đã không biết bao nhiêu lần chở che, cưu mang ông và những người bạn tranh đấu thoát chết trong gang tấc từ vòng vây tầng tầng lớp lớp của kẻ thù. Sau khi người bố anh dũng hy sinh, năm 1960, bà ngoại bán ruộng vườn lấy tiền cho ông vào Sài Gòn ăn học, chàng trai mới tròn tuổi 16 ngay lập tức hòa mình vào những đoàn người tranh đấu và những đêm nhạc “hát cho dân tôi nghe” trên khắp mọi ngả đường. Cho đến giờ, ông vẫn chưa thể nguôi ngoai ký ức xưa cũ.


Đôi mắt già từng trải rưng rưng rớm lệ khi ông nhắc đến thời khắc đầu tiên sống trên đất Sài Gòn: “Tôi vào ở trọ nhà của người bà con ở khu xóm Chùa – Tân Định. Trong đợt Nguyễn Chánh Thi chỉ huy lực lượng dù đảo chính bao vây Dinh Độc Lập, dòng người lũ lượt đổ xuống đường. Tưởng như cuộc đảo chính thành công, nào ngờ mấy hôm sau, được sự yểm trợ của thuộc cấp thân cận, Ngô Đình Diệm từ việc cố thủ chuyển sang phản công một mất một còn. Đạn đại liên từ trong Dinh Độc Lập bắn ra liên hồi về bốn phía. Đoàn người xuống đường chết như ngả rạ. Các nhà thương đều bị quá tải. Rất nhiều nạn nhân la liệt nằm dưới sàn nhà vì không đủ giường bệnh…”.


Những năm 1960, 1970, đồng bào miền Nam tiếp tục dâng cao làn sóng biểu tình chống chiến tranh, đặc biệt là giới học sinh, SV. Những thủ lĩnh phong trào như Nguyễn Thiện Tứ, Lê Quang Lộc, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Quỳ… với sự gan dạ, kiên trung đã tiếp thêm sức mạnh cho lực lượng thanh niên. Ông kể: “Hồi đó, ngày nào anh em không xuống đường biểu tình thì trong người thấy đứng ngồi không yên. Ăn cơm cũng không thấy ngon. Dù trong các đợt đấu tranh có người đã ngã xuống, nhưng anh em chẳng ai sờn lòng”.


Ông bảo ngoài thời gian học hành, ông chỉ biết tham gia đấu tranh. Khi còn đang học ở trường Pétrus Ký, rất nhiều học sinh có biểu hiện chống đối chính quyền đã bị đuổi học. Ông may mắn không bị xếp vào nhóm “cần phải quan tâm xử lý” vì có người quen làm giám học trong trường. “Hôm 9/1/1965, anh em tổ chức tưởng nhớ liệt sĩ Trần Văn Ơn để nhân dịp này sẽ kêu gọi bãi khóa toàn trường. Tôi được giao nhiệm vụ đốt pháo hiệu triệu, rải truyền đơn. Vào giữa giờ học buổi sáng, tôi ra nhà xe châm lửa đốt phong pháo. Ngay sau đó, học sinh từ các phòng túa ra sân trường, lấy đá ba lát ném vào các trụ sở, nha cảnh sát…”.


Ký ức Người mẹ Bàn Cờ


Những năm ấy, Bàn Cờ là khu vực xảy ra nhiều biến cố sống còn đối với cuộc đời nhà thơ Nguyễn Kim Ngân. Hai lần ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Ông kể: “VN quốc tự hồi đó là nơi anh em trong giới tranh đấu thường hay lui tới, họp bàn kế hoạch xuống đường biểu tình. Sau khi tên mật thám Kiều Công Hai bị giết chết, VN quốc tự bị bố ráp ngày đêm, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nhiều anh em, trong đó có tôi bị mắc kẹt bên trong nhiều ngày liền, không còn gì để lót dạ. Do phải dự kỳ thi tú tài 2 ở trường Pétrus Ký nên tôi quyết tìm cách thoát ra ngoài. Lợi dụng lúc bọn lính thay ca, tôi lẻn qua hàng rào thép gai. Bọn lính lăm lăm cầm súng dí theo. Tôi chạy thục mạng, lách vào một nhà dân thì thấy có cô gái đang ủi áo quần. Mưu trí của cô gái mà tôi chẳng quen biết kia đã vô hiệu hóa sự truy sát của bọn lính”.


Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân trở về nhà an toàn trước sự ngỡ ngàng của những người trong xóm trọ. Ông thi đỗ tú tài và tiếp tục theo học phân khoa Triết ở Đại học Văn khoa, và lại gắn bó với phong trào. Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Người mẹ Bàn Cờ, ông chậm rãi: “Khoảng tháng 4/1970, SV các phân khoa đổ về trường Đại học Khoa học rất đông, khí thế dâng tràn như nước vỡ bờ, tổ chức “Đêm uất hận” nhằm phản đối việc tàn sát Việt kiều bên Campuchia. Sau đó, anh em kéo đến đập phá, chiếm lĩnh Tòa đại sứ Lonnon. Ngay cả bọn cảnh sát cũng không ngờ tới. Khuya, còn khoảng hơn 30 SV tình nguyện ở lại trấn thủ. Hai hôm sau, tôi thấy nhớ anh em nên muốn vào bên trong xem thử tình hình ra sao. Đến khu Bàn Cờ, tôi được một em nhỏ dẫn vào ngôi nhà có căn gác xép kế sân sau tòa đại sứ. Tôi thấy cảnh một bà cụ tóc bạc phơ đang gấp rút chuyển nồi cơm còn nóng hổi vào cho anh em ăn. Sau khi vào gặp thủ lĩnh Nguyễn Văn Thắng, tôi quay ra thì bị lộ. Trước tình thế dầu sôi lửa bỏng, con gái của bà cụ nhận tôi làm chồng để qua mắt bọn lính hằn học đứng canh trước cửa. Cô gái thản nhiên dẫn tôi đi ra ngoài, khi về đến đầu ngõ, tôi hỏi danh tánh, thì được biết cô ấy tên là Thu. Khoảng nửa tháng sau, nhóm SV làm Tập san Tin Tưởng bảo tôi viết bài gì đó để đăng cho số tới. Thế là tôi viết lại Người mẹ Bàn Cờ. Báo đăng, anh em chuyền tay nhau đọc. Thấy nhiều người thích, nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã phổ nhạc hát cổ vũ phong trào. Rồi kế đó, nhà thơ Chế Lan Viên bình về bài thơ ấy trên Đài Hà Nội…”.


 


Sau những biến cố trong đời, ông quay về quê cũ với cuộc sống quá đỗi bình dị và không mấy suôn sẻ như đã có lần ông nhắc trong thơ: Về vườn xưa cứ thương nhớ hoa cau/Sau chiến tranh mẹ không trồng lại nữa/…Ngôi nhà mình trống dột cả trước sau/Bữa cơm chiều một mình ngồi trên đất. Dường như mọi sự may mắn đã không đến với ông. Ông vừa dạy học vừa làm lụng đủ thứ việc để nuôi vợ và 3 đứa con ăn học. Dù đã có hàng chục năm làm hiệu trưởng của một trường trung học, sự khó nghèo vẫn cứ bám riết đời ông. Vì thích, ông lên núi săn tìm lan, cây cảnh về giăng đầy trong vườn. Ông chăm cây như chăm con nhỏ. Có cây ông muốn bán thì người ta không mua. Những cây khách muốn mua thì ông lại không nỡ bán.


Trong ngôi nhà vách đất tĩnh mịch, ông loay hoay mãi cũng chỉ tìm được 3 chiếc ghế gỗ xuềnh xoàng. Mấy năm trước, ông vay vốn cật lực đào hồ nuôi tôm mong xây đắp cuộc sống cho vợ con bớt phần khó khăn. Ước vọng ấp ủ cuối đời này của ông cứ gặp trắc trở bởi liên tiếp những mùa tôm chết trắng hồ vì dịch bệnh. Tập thơ chép tay hơn 100 bài được ông sáng tác từ thời tranh đấu đến nay vẫn còn bỏ quên trong tủ vì không có tiền để in. Khổ là thế, nhưng chẳng thấy ông than phiền điều gì. Ông bảo sống được đến giờ đã là quá may lắm rồi!


Niềm vui bên hoa lan, cây cảnh


    Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân sinh ngày 13/7/1946, tại Sông Cầu, Phú Yên. Tốt nghiệp Cử nhân Triết phương Tây – Đại học Văn khoa Sài Gòn. Tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, SV Sài Gòn – Gia Định từ 1960 đến 1972, đến năm 1972 ông bị bắt. Sau giải phóng, ông về dạy học tại Phú Yên. Có thơ đăng trên các báo, tạp chí, tuyển tập từ năm 1964 như: Ngày Nay, Tia Sáng, SV, Đối Diện, Thơ Máu, Thơ miền Trung thế kỷ XX…


Ngọc Toàn – Đình Phú


thanhnien.com.vn


Tập thơ đầu tay của tác giả "Người mẹ bàn cờ"


Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân trưởng thành trong phong trào sinh viên đấu tranh đô thị ở miền Nam trước năm 1975. Minh chứng rõ nhất cho tháng ngày dấn thân của ông là bài thơ “Người mẹ Bàn Cờ” được nhạc sĩ Trần Long Ẩn phổ nhạc, ghi dấu trong lòng công chúng gần 40 năm qua. Thế nhưng, mãi khi ngoài 60 tuổi, tác giả Nguyễn Kim Ngân mới ra mắt tập thơ đầu tay có tên gọi “Sông chảy bên trời”.


Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân ngại nói về bản thân. Ông đã quen sống khiêm nhường và lặng lẽ. Ngay tập thơ “Sông chảy bên trời” cũng do bạn bè thương tình gom góp in cho. Tuy nhiên, chỉ cần đọc thơ Nguyễn Kim Ngân cũng ít nhiều thấy được hành trình qua năm tháng của ông.


Thơ Nguyễn Kim Ngân bất đầu giục giã lên, bởi nỗi đau quê hương bị giày xéo. Ngày gặp lại “Vườn hoang” xót xa: “Ai trả lại tôi, quê hương vô tội/ Tôi trả lại người nửa kiếp si mê”. Vào học khoa Triết – ĐH Văn Khoa Sài Gòn, chàng sinh viên Nguyễn Kim Ngân tham gia xuống đường đòi hòa bình và công lý.


Nhiều đồng môn bị bắt, bị kết án, bị lưu đày, Nguyễn Kim Ngân đã nhặt được ở ranh giới sinh tử cao đẹp ấy những câu thơ giản dị mà xúc động viết nên bài thơ “Chiếc còng sắt”: “Đừng cho biết, mẹ già anh sẽ khóc/ Nếu có hỏi, bảo anh còn đi học/ Vẫn bình yên và đỗ đạt như xưa/ Thôi giã từ các bạn giữa đêm mưa/ Tôi đã nếm đủ mùi trong ngục thất…”. Thơ Nguyễn Kim Ngân giai đoạn này là những tiếng gào xé ruột xé gan: “Ta lạc tay ngã xuống giữa mơ hồ/ Làm cầu gãy trên dòng sông tuyệt vọng… Người đi đi, ta ở lại một mình/ Trọn một kiếp chỉ mơ ngày chiến thắng”. Chính vì niềm tin mãnh liệt ấy, con- người- thi- sĩ dễ dàng nhận ra nét đẹp “Người mẹ Bàn Cờ”: “Đường Việt Nam Bàn Cờ/ Tình Việt Nam như tơ/ Đồng Việt Nam lầy lội/ Giặc đợi chết từng giờ”.


Từ tâm trạng một người dân mất nước dằn vặt “Đêm nay trời chắc còn mưa/ Mình về cho gió bớt lùa vết thương”, nhà thơ Nguyễn Kim Ngân đón chờ ngày quê hương giải phóng để chạy về miền Trung ở với mẹ già: “Xin mẹ chớ buồn đau/ Với lều tranh đạm bạc/ Giếng chưa bao giờ đục/ Lòng mẹ vẫn trong xanh”.


Nguyễn Kim Ngân bỏ lại sau lưng Sài Gòn đô hội và những tuổi trẻ hào hùng, ông chọn nghề dạy học ở thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên và mở lòng ra với miền quê nghèo “Về đây sống với núi rừng/ Nỗi đau trên đá, nỗi mừng trên cây”. Làm Hiệu trưởng một trường cấp 2 hơn mười năm, nhưng nhà giáo – nhà thơ Nguyễn Kim Ngân vẫn ở nhà tranh vách đất. Để kiếm thêm tiền nuôi vợ và ba con, ông cũng học nghề nuôi tôm nhưng có lẽ vận làm giàu chưa đến, nên chuyện làm ăn cứ thất bát luôn. Vượt lên tất cả, nguồn thơ trong Nguyễn Kim Ngân vẫn âm mạch ngầm tuôn chảy. Không chỉ thao thiết thương người, trái tim ông cũng khắc khoải “Thương rừng” bị tàn phá: “Một ngày lửa đốt lời chim/ Chỉ còn ngơ ngác mắt em mảnh rừng”. Hai câu thơ chầm chậm mà ray rức như một tiếng thở dài.


Bây giờ nhà thơ Nguyễn Kim Ngân đã trở thành một nhà giáo về hưu. Ông để lại trường lớp “Phía sau lưng gió” trong hồi hộp trang nghiêm: “Trên bảng đen, hay trên bầu trời có những dòng kẻ ngang song cửa/ Em hãy để trống một dòng cho tôi nhớ về em”. Cuộc nuôi tôm của Nguyễn Kim Ngân vẫn còn tiếp diễn, được thua thế nào chưa ai biết. Dù ông nghĩ “Được thì kẻ bại khiến buồn lây/ Thua thì kẻ thắng làm ta nhục”, nhưng lối nhỏ ông chọn vẫn nằm phía trắc ẩn nhân sinh: “Đi qua ngôi đền các triết gia/ Đi qua nhà rách các nhà thơ/ Gặp trái tim người ta sững lại/ Không biết đường nào đứng ước mơ”.


Chàng sinh viên đấu tranh đô thị khí phách với bài thơ nổi danh “Người mẹ Bàn Cờ” đã trở thành một lão nông bên đìa tôm quạnh vắng. Số phận an bài như thế, và Nguyễn Kim Ngân thanh thản sống, thanh thản nghĩ, rồi thanh thản viết: “Có giận hờn, oán trách gì đâu/ Đời một người chưa bao giờ dễ hiểu/ Hãy thoảng qua đủ lay từng cánh liễu/ Để cho người ngồi lặng thấy phong ba”.


Vâng, cứ thoảng qua thôi. “Sông chảy bên trời” thoảng qua ký ức cuộc đời Nguyễn Kim Ngân, dù mỗi ngày ông “ngồi lặng” vẫn phải “thấy phong ba”!


Tuy Hòa


Nguồn: Báo NNVN


Nguyễn Kim Ngân - thơ và đời


Dưới tiết trời se lạnh cuối năm, một người đàn ông thấp đậm, tuổi quá lục tuần đang tỉa cành, săm soi vườn cây cảnh trước nhà ở khu phố Triều Sơn (phường Xuân Đài, TX Sông Cầu). Đó là nghệ nhân cây cảnh - nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Kim Ngân, cựu sinh viên tranh đấu trong lòng đô thị miền Nam trước đây.


Tuy về hưu đã mấy năm nay nhưng mỗi khi đến Ngày Học sinh - Sinh viên 9/1, được mời họp mặt gặp gỡ, anh cựu sinh viên Văn khoa Nguyễn Kim Ngân như sống lại với bao kỷ niệm của thời trai trẻ hào hùng giữa trận địa lựu đạn cay, dùi cui, còng xích của kẻ thù để đòi độc lập, tự do, hòa bình và thống nhất Tổ quốc. Và cũng từ thực tiễn hoàn cảnh lịch sử ấy, những bài thơ đầy nhiệt huyết của anh đã ra đời, trong đó có bài Người mẹ Bàn Cờ “đóng đinh” trên thi đàn Việt vùng tạm chiếm 21 năm ở miền Nam. Bài thơ là niềm tự hào của thế hệ học sinh - sinh viên kế tiếp.


Vừa làm thơ vừa dạy học, ở lĩnh vực nào người cựu sinh viên Nguyễn Kim Ngân năm xưa cũng để lại trong lòng học trò, đồng nghiệp và bạn bè niềm yêu mến, quý trọng… Quả vậy, Nguyễn Kim Ngân luôn tiên phong trong các lĩnh vực mình tham gia hoạt động. Lúc cầm bút sáng tác, anh đầy trách nhiệm trước lịch sử, trước đồng bào. Khi dạy học, anh rất tâm huyết với học trò, trường lớp, với thế hệ trẻ. Kể cả việc chơi cây cảnh anh cũng không giống nhiều người khác. Anh chủ trương và kêu gọi mọi người phải tự trồng cây cảnh, chăm sóc, trao đổi để thưởng lãm, không xâm hại môi trường, bứng phá rừng đồi, hủy hoại cảnh vật thiên nhiên. Vì vậy, sau nửa thế kỷ cầm bút với hàng trăm sáng tác, thơ Nguyễn Kim Ngân như một quá trình tư duy sáng tạo nhất quán, hài hòa giữa cảm xúc thẩm mỹ và lý trí trách nhiệm của một công dân. Khi quê hương bị xâm lược, dày xéo, thơ anh một lòng tin tưởng:


“…Tình Việt Nam như tơ


Đồng Việt Nam lầy lội


Giặc đợi chết từng giờ”


(Người mẹ Bàn Cờ - 1970)


Giờ đây thơ anh tiếp tục đồng hành với nhân dân làm sống dậy những bản sắc văn hóa đậm đà của dân tộc, bảo vệ thiên nhiên môi trường cảnh quan… Cho nên người đọc sẽ không lấy làm lạ khi thấy hình ảnh mưa lũ trong thơ Nguyễn Kim Ngân không dữ dội tai ương, mà hiền hòa quen thuộc, thấm đẫm tình quê:


“…Cây lụt hàng năm cứ đúng ngay giỗ ngoại


Tôi theo mẹ về Bờ Cao đứng gọi


Cậu tôi bơi thuyền qua lũy tre


Cậu chở tuổi thơ tôi bằng tình yêu thương


Và chở cả một vùng quê


Về neo trước ngõ…”


(Những mùa mưa hiền lành - 2010)


Sự điềm đạm, thẳng thắn, cởi mở và da diết với quê hương Phú Yên của một cựu sinh viên tranh đấu năm xưa, đã làm cho thơ Nguyễn Kim Ngân cắm sâu, bám rễ trong lòng bạn đọc trước cuộc sống đổi mới tươi đẹp hôm nay. Có thể nói như nhạc sĩ Trần Long Ẩn - Phó chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam - người bạn cùng thời sinh viên tranh đấu với tác giả Người mẹ Bàn Cờ, rằng: “Thơ Nguyễn Kim Ngân đã góp phần làm cho cuộc sống này vốn dĩ đầy rẫy thi ca và âm nhạc, nhưng đồng thời cũng đầy rẫy những bất trắc, tai ương sẽ trở nên đáng yêu. Anh luôn luôn tư duy bằng trái tim và cảm xúc bằng trí tuệ”. Hy vọng những thi phẩm do Nguyễn Kim Ngân sáng tạo sẽ mãi đồng hành với tuổi trẻ, với giới yêu thơ chân chính giữa cuộc đời này.


Nguyễn Tường Văn


Tác giả Người mẹ Bàn Cờ bây giờ ra sao?


Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ của Nguyễn Kim Ngân (được nhạc sĩ Trần Long Ẩn phổ nhạc) gắn liền với phong trào đấu tranh ở đô thị của học sinh – sinh viên miền Nam trước năm 1975. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn thì ai cũng biết, còn Nguyễn Kim Ngân sống rất lặng lẽ bằng nghề dạy học cho đến lúc nhận sổ hưu


Nguyễn Kim Ngân sống thanh bần đến độ muốn in một tập thơ riêng cho cả cuộc đời cũng không đủ tiền. Và thật may mắn, doanh nhân Nguyễn Tiến Toàn (chủ doanh nghiệp xe lăn Kiến Tường) vừa tài trợ cho ông ra mắt tập thơ Sông chảy bên trời . NXB Văn học, 2007. Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân\.


Một thời để nhớ


Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước (cha là liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp, gia đình là căn cứ cách mạng), cậu sinh viên khoa triết Tây – ĐH Văn Khoa Sài Gòn - Nguyễn Kim Ngân nhanh chóng hòa nhập cùng phong trào yêu nước và tầng lớp tiến bộ xuống đường đòi hòa bình, độc lập. Một trong những lần xuống đường, sau khi bị cảnh sát dã chiến đàn áp, Nguyễn Kim Ngân cùng bao bè bạn khác lánh vào nhà dân.


Ở trong nhà dân, ông được các má nhận làm con, các chị nhận làm chồng để tránh sự truy bắt. Và bài thơ Người mẹ Bàn Cờ ra đời từ đấy như một lời tri ân những bà má đã che chở Nguyễn Kim Ngân và cả phong trào sinh viên tranh đấu. Nhà thơ cho biết: “Tôi viết rất ít, tới giờ tôi cũng chỉ có gần 100 bài thơ.


Thường thì tôi viết khi nào cuộc đời mình có sự kiện gì, không thì thôi. Nhưng dường như tôi viết nhiều về phụ nữ, những người đã chịu thiệt thòi rất nhiều bất kể thời nào”. Người mẹ Bàn Cờ ra đời năm 1970, sang năm 1971 đã cất cánh bay trên khung nhạc của Trần Long Ẩn hòa vào không khí tranh đấu của thế hệ trẻ đô thị một thời bằng những ca từ rừng rực: “Người Việt Nam Bàn Cờ/ Tình Việt Nam như tơ/ Đồng Việt Nam lầy lội/ Giặc đợi chết từng giờ”. Nhắc về một thời hào khí tuổi trẻ rần rật chảy trong huyết quản, người đàn ông da đã nhàu, trán đã nhăn, tóc đã bạc... Nguyễn Kim Ngân cứ như sắp bật khóc vì thương nhớ bạn bè, những người đã ngã xuống.


Bạn bè không ai quên ông, những dịp kỷ niệm ngày Sinh viên học sinh (9 -1), ông thường được bè bạn ưu ái dành cho ngồi ghế đại biểu dù ông không quyền chức, không danh tiếng như nhiều người đồng trang lứa.


Sau giải phóng, ông về Phú Yên dạy học ở Trường THPT Nguyễn Huệ. Nhưng chắc vì số ông lận đận, nên dạy học cũng không yên thân. Ngành giáo dục địa phương không chấp nhận bằng cử nhân triết Tây, vì vậy mà tuy ông là cử nhân nhưng chỉ hưởng lương tú tài. Thế rồi, địa phương mở thêm một trường cấp 3 mới, ông được điều về “xây móng xây nền” trường này. Tưởng rằng yên ổn, nhưng lại cũng vì cái tính ông hay “đấu tranh”, thích “trắng đen rõ ràng” và vì cái bằng triết Tây nên năm 1980 ông chính thức về làm giáo viên cấp 2 ở làng (huyện Sông Cầu – Phú Yên) cho đến tháng 9 – 2006 về hưu.


Hai vai gánh đất cất nhà


Căn nhà vách đất hiện gia đình Nguyễn Kim Ngân vẫn sinh sống tại quê nhà do một tay ông xây dựng năm 1987. Không thể tưởng tượng ông nhà thơ nhỏ người này lại gánh từng gánh đất đổ nền nhà, chặt từng cây tre, vác từng khúc gỗ dựng kèo dựng cột. Nhìn quanh xóm, chỉ mỗi nhà ông còn vách đất. Thời buổi kinh tế thị trường và đô thị hóa, nhà nhà lo làm giàu, những gia đình hàng xóm quanh ông đã xây nhà xi măng hoặc cất lầu, nhà nào cũng quay ra mặt lộ. Riêng ông nhà thơ, nhà giáo được nhiều người trong huyện, tỉnh biết danh vẫn cứ ở nhà đất.


Nhưng nhà đất vẫn chưa bằng cái cách xây ngôi nhà quay lưng ra mặt đường. Hỏi hướng nhà sao tréo ngoe thế này? Ông thật thà: “Trước mặt nhà có con rạch nhỏ, hướng Nam gió mát. Gió từ rạch thổi lên chẳng sướng sao mà phải quay mặt ra đường tù mù, bụi bặm”. Chúng tôi để ý thấy ngôi nhà sáng sủa tự nhiên dù ngoài trời lúc đó mù mịt sắp mưa, nhà sáng nhờ nhiều cửa sổ.


Mái ấm thanh bần của nhà thơ Nguyễn Kim Ngân xuất phát từ đồng lương nhà giáo quá eo hẹp. Những đồng lương của ông không đủ gởi cho cậu con cả hiện đang học đại học tại TPHCM thì lấy đâu mà xây nhà mới trong khi ông còn hai con nhỏ nữa (ngoài 40 tuổi ông mới cưới vợ). Vì sinh kế gia đình, Nguyễn Kim Ngân đã mấy phen “âm mưu” làm giàu bằng cách đi nuôi tôm trong 3 tháng hè. Khổ nỗi, đời ông dạy học, làm thơ đều được tiếng nhưng chuyển sang làm kinh tế thì chẳng được miếng nào, lại còn mang nợ.


Nông dân vùng duyên hải Phú Yên mấy năm nay nuôi tôm đều mất mùa, tôm chết người cũng muốn chết theo, nhiều gia đình tan nát vì tôm. Ấy thế, ông lại tự nhận mình rất giàu, vì theo ông: “Tất cả mọi thứ tôi đều có trong đầu”. Ông vẽ cho chúng tôi thấy mơ ước của mình rằng sẽ xây một căn nhà mới bên cạnh căn nhà đất cho vợ con.


Ông không thể bỏ căn nhà đất vì đó là kỷ vật của đời ông, nhiều bè bạn khuyên ông nên giữ ngôi nhà đất như một loại bảo tàng nông thôn. Ông “chơi rất sang” với vườn cây cảnh do ông tạo dựng khiến các đại gia săn cây cảnh đi ô tô đến ngả giá. Vậy mà ông không bán nhưng lại tặng nếu gặp người biết quý trọng cây như mạng con người.


Trong cuốn sách Tiếng hát những người đi tới -NXB Trẻ, Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên phối hợp xuất bản năm 1993, giới thiệu thơ, văn, nhạc, họa của phong trào sinh viên - học sinh miền Nam chống Mỹ từ năm 1960 đến 1975; có giới thiệu vài dòng về Nguyễn Kim Ngân kèm bức hình ông chụp thời ấy. Nhìn bức hình tuổi trẻ Nguyễn Kim Ngân và so sánh với ông bây giờ, vẫn một con người mà thời gian chỉ có thể làm cho cũ đi mà thôi.


Gặp tác giả bài thơ Người mẹ Bàn Cờ


Bài hát Người mẹ Bàn Cờ của nhạc sĩ Trần Long Ẩn gắn liền với phong trào sinh viên tranh đấu ở các Đô thị miền Nam một thời còn vang vọng đến hôm nay.


Bài hát Người mẹ Bàn Cờ của nhạc sĩ Trần Long Ẩn gắn liền với phong trào sinh viên tranh đấu ở các Đô thị miền Nam một thời còn vang vọng đến hôm nay. Thế nhưng, tác giả lời thơ của bài hát này vẫn ít được người đời biết tới. Nguyễn Kim Ngân, tác giả bài thơ Người mẹ Bàn Cờ đã sống một cuộc đời trầm lặng tại quê nhà Phú Yên.


Người mẹ Bàn Cờ


Có người mẹ Bàn Cờ


Tay gầy tóc bạc phơ


Chuyền cơm qua vách cấm Khi ngoài trời đã thưa


 


Có người chị Bàn Cờ


Lính ngồi canh trước cửa


Nhận sinh viên là chồng


Để đưa về khỏi ngõ


 


Có người em Bàn Cờ


Tảo tần trao tin thơ


Đưa từng người qua hẻm


Rồi nhìn theo bơ vơ


 


Đường Việt Nam Bàn Cờ


Tình Việt Nam như tơ


Đồng Việt Nam lầy lội


Giặc đợi chết từng giờ


Nguyễn Kim Ngân sinh năm 1946 tại huyện Sông Cầu, Phú Yên,nơi giao hòa một bên núi và một bên biển với rừng dừa xanh ngút ngàn. Ai có dịp thiên lý Bắc Nam ngang qua địa phương này đều phải công nhận thiên nhiên nơi đây cực kỳ hữu tình. Chính vì nét đẹp quê nhà đã khiến Nguyễn Kim Ngân dù đi đâu rồi cũng trở về nơi chôn nhau cắt rốn. Cuối những năm 1960, Nguyễn Kim Ngân vào Sài Gòn học môn triết học phương Tây (Triết Tây) - ĐH Văn Khoa (nay là ĐH KHXH&NV TP.HCM). Cũng như bao nhiêu người tuổi trẻ khác đang tìm kiếm tri thức trên ghế giảng đường lúc đó, Nguyễn Kim Ngân không thể đứng ngoài cuộc tranh đấu đòi hòa bình cho dân tộc trước sự kìm kẹp của ngoại bang. Hơn nữa, ông có gen của người cha là liệt sĩ trong 9 năm kháng Pháp nên những “ngày xuống đường”, những “đêm không ngủ” đều ít khi thiếu vắng sự có mặt của ông.


Năm 1970, trong một lần xuống đường biểu tình gần Đại sứ quán Campuchia (nay là UBND Q.3 TP.HCM), bị cảnh sát chế độ cũ đàn áp, để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Kim Ngân cùng nhiều bè bạn tránh vào nhà dân. Thời đó, người dân rất quý sinh viên dám đứng lên đấu tranh đòi hòa bình. Ở trong nhà dân, Nguyễn Kim Ngân và bè bạn được các má nhận làm con, các chị nhận làm chồng để không bị cảnh sát truy bắt. Sự đùm bọc ân tình ấy của những người phụ nữ không họ hàng thân thích đã khiến trái tim nhà thơ rung lên thành vần điệu. Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ ra đời ngay trong lúc nguy nan ấy. Nguyễn Kim Ngân cho biết: “Tôi viết Người mẹ Bàn Cờ như những dòng nhật ký bằng thơ, diễn tả trung thực nhất những gì đã diễn ra xung quanh cũng như bày tỏ lòng biết ơn với những mẹ, những chị đã bao che, thương yêu mình như người ruột thịt”.


Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ được truyền tay nhau, được đọc cho nhau nghe trong giới sinh viên tranh đấu. Năm 1971, nhạc sĩ Trần Long Ẩn - một người bạn của Nguyễn Kim Ngân trong phong trào đã chắp cánh giai điệu cho bài thơ thêm lan tỏa đến nhiều người hơn. Từ ngày bài thơ và âm nhạc hòa quyện cho đến nay, nó gần như trở thành một bài hát sinh hoạt truyền thống của giới sinh viên học sinh với những câu ca rực lửa: “Người Việt Nam Bàn Cờ/ Tình Việt Nam như tơ/ Đồng Việt Nam lầy lội/ Giặc đợi chết từng giờ”.


Nhà thơ, ông giáo làng và ngôi nhà vách đất


Sau năm 1975, thay vì ở lại Sài Gòn tiếp tục hoạt động văn nghệ như nhiều bè bạn khác Nguyễn Kim Ngân lại nhất quyết về quê. Vì ở quê nhà, ông còn người mẹ già góa bụa cần bàn tay chăm sóc của đứa con trai xa cách bao năm. Hơn thế, ông có một ao ước đã thể hiện trong thơ: “Ngày hòa bình đi bộ về quê hương”. Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân tâm sự: “Không nơi đâu trên quả đất này bằng nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời”. Về quê, trong những ngày đầu sau giải phóng, ông công tác giảng dạy ở trường THPT Nguyễn Huệ - trường cấp 3 duy nhất của tỉnh Phú Yên lúc đó. Nhưng vì suy nghĩ lạc hậu của một số vị lãnh đạo trường này nên dù đỗ cử nhân ông chỉ được nhận lương tú tài, vì bằng cử nhân Triết không được chấp nhận. Mọi việc chưa yên, một thời gian sau tỉnh mở thêm một trường THPT mới, thế là ông bị điều chuyển đi. Ở trường mới cũng chưa yên thân, vì nhiều lý do, trong đó có tính khí cứ thích “đấu tranh” cho mọi việc “trắng đen rõ ràng” của ông. Thế là trong vài năm đầu về quê nhà, Nguyễn Kim Ngân bị “đì sát ván”. Nhiều bạn bè của ông ở Sài Gòn viết thư ra khuyên “bỏ quách” xứ sở mà vô Nam sinh sống. Nhưng dù ai nói ngả nói nghiêng, Nguyễn Kim Ngân vẫn nhất mực “sống chết” cùng quê nhà. Năm 1980, ông chính thức được “phân công” xuống làm hiệu trưởng cấp 2 trường làng cho đến ngày về hưu. Ông nhà thơ thành thầy giáo làng với đúng nghĩa đen vì trường nằm ngay tại làng ông.


Làm giáo làng được gần gũi chăm sóc mẹ già là hạnh phúc lớn nhất đời ông dù cuộc sống quá đỗi thanh bần. Không biết có phải muốn “ở vậy” phụng dưỡng mẹ hay không mà đến ngoài 40 tuổi Nguyễn Kim Ngân mới chịu lấy vợ. Lập gia đình xong ông mới bắt đầu xây dựng tổ ấm cho riêng mình. Việc trước tiên là cất nhà trên mảnh đất vườn của tổ tiên. Thật kinh ngạc, ông nhà thơ, nhà giáo nhỏ thó lại một thân một mình lên núi chặt cây, dựng kèo cột, gánh đất đổ nền làm nên ngôi nhà mái tôn vách đất tồn tại từ năm 1987 đến nay. Ngạc nhiên hơn, những ngôi nhà chòm xóm đều quay lưng ra mặt lộ thì nhà ông lại “quay mông” ra đường. Chắc là ông nhà thơ “lập dị”?! Không phải vậy, ông giải thích rằng phía trước nhà có con lạch nước mát trong xanh, lại đúng hướng Nam gió thổi quanh năm, tại sao cứ hùa nhau quay mặt ra đường bụi bặm.


“Tỷ phú không tiền”


Đó là câu nói đùa bạn bè hay trêu ông. Nguyễn Kim Ngân có lối sống hào sảng mà chưa chắc người thừa tiền nào “dám chơi” như vậy. Ông có một vườn cây cảnh khiến nhiều đại gia trong và ngoài tỉnh nhìn “rỏ dãi”. Những cây cảnh này do ông vác ba lô lên núi săn lùng trong nhiều năm, ông quý cây như mạng người. Một số cây cảnh của ông có đại gia ngã giá đến trăm triệu đồng nhưng ông không bán mà chỉ... tặng nếu người đó biết thương cây như ông. Nhiều người bảo ông “không bình thường” vì gia cảnh có khấm khá hơn ai đâu. Ông lại đang có con nhỏ do lập gia đình muộn, đứa lớn chưa tốt nghiệp đại học. Nói vậy, nhưng ông vẫn là một người cha, người chồng được kính trọng, người hàng xóm được yêu thương. Dẫu mang danh phận nhà thơ, nhà giáo nhưng trong nhiều năm liền, tranh thủ ba tháng nghỉ Hè là ông trở thành một nông dân chính hiệu trên đìa tôm của mình. Ông nuôi tôm sú trong vịnh Vũng Lắm gần nhà, người khác nuôi có “lên” có “xuống” còn ông nuôi tôm từ hòa vốn đến lỗ. Dự định làm kinh tế để “đổi đời” của ông xem như phá sản, đến độ muốn in một tập thơ cho riêng mình cũng không thành. Mãi đến năm 2007, bạn bè thời sinh viên tranh đấu mới giúp in tác phẩm đầu tay của Nguyễn Kim Ngân, tập thơ Sông chảy bên trời. Tập thơ này gần như bao gồm tất cả sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Kim Ngân. Ông viết rất ít, chỉ khoảng 100 bài trong chừng ấy năm, và chỉ viết khi có dấu ấn đặc biệt nào đó trong cuộc đời. Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân thơ không nhiều, bạc tiền không nhiều, danh vọng không nhiều... nhưng ông vẫn cứ là “tỷ phú” ở cõi riêng mình như dòng sông chơi vơi mãi chảy bên trời.


Trần Hoàng Nhân


thethaovanhoa.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »