tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994671
Truyện ngắn
30.01.2015
Vũ Bằng
Người chứng

Vừa trông thấy người đưa giấy đi xe đạp đến, ông Phú linh cảm ngay có một cái gì bất thường xảy ra đây. Ông chộp lấy tờ giấy có đóng hai dấu xanh. Đó là một tờ giấy trắng, in sẵn mà người ta chưa thêm tên họ và chỗ ở của ông Trần Minh Phú lên trên đầu.


Thoạt tiên, ông Phú hoa cả mắt. May mà bà ấy lại đi chợ vắng, chứ không có thì đến tưởng là ông bị cảm, chớ không chơi. Ông gấp tờ giấy cho vào túi. Những thứ giấy này không làm cho ai yên tâm bao giờ. Nó đến bất thình lình như một sự đe dọa và làm cho bất cứ ai cũng phải xỉu người ra. Người ta nghĩ đến vỡ óc ra xem mình đã có làm gì phạm tội không; ức thuyết lộn xộn ở trong đầu như thể những con gián hôm dở trời. Ờ, ờ, hay mình bị bắt thì... bỏ mẹ! Sau này, ngồi nhớ lại cái tai nạn này, từ lúc nhận thư cho đến lúc vỡ được câu chuyện, có đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ không ăn, không ngủ được, mà ông vẫn như thường, không mệt quả cũng là sự lạ.


Cứ kể ra thì bức thư ấy cũng không có câu gì dữ tợn đâu. Trái lại, lại nhã lắm. Người ta mời ông đến một công sở "có việc cần". Ấy thế mà ông tưởng như có thể chết ngay đi được vì sợ quá. Cái lối làm việc nhà nước xưa nay chúa là hay rầy rà. Ờ, gọi thì gọi, nhưng gọi ngay "tắp lự" đi có được không? Đưa giấy hôm nay, mãi tận chiều mai mới đến hầu, chỉ nghĩ vớ va vớ vẩn thế này hay thế nọ mà chết óc. Ông Phú thở dài lên ba tiếng thật to. Tiếng thứ nhất để trút một cái gì cồm cộm ở trong lồng ngực. Tiếng thứ hai để mình lại thương cho mình hết nạn này đến nạn kia, chả được yên thân bao giờ. Tiếng thứ ba có ý nhẹ hơn một chút: bà Phú đi chợ về, và ông tự nhiên thấy yên tâm hơn vì có người ở bên cạnh mình. Ông cố làm ra vẻ tự nhiên, vứt cái thư bé nhỏ xuống bàn, và bảo vợ trống không: Chả hiểu "họ" gọi mình ra làm gì?


Bà Phú thấy cái tên công sở đề trên mặt giấy, không cần phải xem lâu la xuống quá dưới làm gì nữa. Cả hai vợ chồng, mặt  cứ chảy ra như bị. Quái nhỉ, gọi ra để làm gì? Người vợ kết luận: "Chốc nữa, tôi phải sang hỏi bác cả Sung mới được".


Không hiểu vì lẽ gì, người chồng ngăn lại, và lại thân chinh đi hỏi ông Tham Tòng.


Rút lại cũng chả có ma nào biết cả. "Có việc cần" là cần cái việc gì? Người vợ bày mưu kế tầm vơ tầm váo. Người chồng dặn dò úy lạo vợ như một người lính thú đi lên cõi Bắc, thập phần tử, nhất phần sinh. Nhưng rồi cái kì hẹn kia cũng đã tới: Ông Phú đi tới cái công sở có thư gọi mình, trước một tiếng đồng hồ, trong khi bà vợ ở nhà hương đăng hoa quả lễ xì xà xì xụp ở trước bàn thờ quan tướng.


 


Cái phòng ông ngồi đợi, trông có thể rợn tóc gáy lên. Nó cũng như cái phòng khác vì chả có một tí ti đồ đạc. Trơ ra chỉ có hai cái ghế dài, và hai cái ghế dài ra thì... hết. Ông Phú ngồi đờ mặt ra nhìn, mà chả nhìn cái quái gì. Biết nói ra làm sao bây giờ? Cái sở ấy, sao mà lắm điều khó hiểu! Tự nhiên có một tiếng quát rất to ở bên tường bên kia rồi lại lặng im. Ba người đeo súng lục đi ra cùng một lúc, rồi hai người quay lại và một người đi thẳng. Một người mặc áo sơ mi trần hăm hở đi vào hành lang một lúc rồi ra, cắm đầu cắm cổ chạy ra ngoài vườn.


Cái ghế ông Phú ngồi đợi trông thẳng vào một cái buồng đóng kín. Người ta làm cái gì ở trong ấy mà thỉnh thoảng lại nói ầm ầm lên? Ông Phú rất muốn, nhân lúc có ai ở trong buồng đi ra, nhìn trộm vào trong xem có cái gì; nhưng lần nào cũng vậy, ông cũng không nhìn được. Ông Phú lại ngồi kẹp hai tay vào đùi. Ông không muốn nhìn gì nữa để tỏ rằng mình sợ lắm. Ông đợi, và đến lúc đó vẫn chưa biết là có cái gì sẽ xảy ra.


Chính cái gì đó xảy ra ngay lúc ấy. Ông Phú không thể lầm được. Bởi nó lù lù trước mặt ông. Nó xảy ra như thế này:


Cái cửa gỗ ở cuối hành lang mở rộng ra. Một người lính bồng súng dẫn ba người đàn ông mặc áo nhà pha tiến lại phía cái buồng đóng kín. Họ đi qua trước mặt Phú để vào buồng. Chỉ một tí nữa thì ông Phú kêu lên, nếu ngay lúc đó người lính bồng súng không lườm một cái. Người mặc áo số đi sau rốt là "bác Tuấn", lạ không! Phú nghĩ như thế và nói thầm:


- Lạ không, người đi sau rốt là bác Tuấn!


Rồi lại ngồi im trên ghế. Hừ, bác Tuấn không trông thấy mình, thì tội gì mà mình trông thấy bác ấy làm gì? Gọi, có khi thêm rầy rà. Cái cửa buồng hé ra một lúc, vừa để cho bốn người lọt vào rồi lại khép lại kín như bưng. À. Phú không thể suy nghĩ được tất cả, những điều mà ông suy nghĩ ngay lúc đó bảo cho ông biết đừng nên suy nghĩ hơn làm gì. Bắt đầu, ông suy nghĩ thế này: "Bác Tuấn, bạn mình, bị bắt!". Sau khi định sự suy nghĩ đó rồi, ông tìm lấy nguyên gốc biện chứng của sự bị bắt và nghĩ thêm: "Bác Tuấn, bạn mình, có tội - Mà chắc không phải là khinh tội! Không khinh thì là trọng. Mà giời đất này, trọng tội còn gì nữa, nếu không phải là cái... tội kia?". Không cần phải có cái trí óc suy nghĩ bao quát lắm, ông Phú cũng có thể biết rằng cái buồng đóng kín kia là buồng thẩm vấn các phạm nhân phát truyền đơn, buôn bán, giao dịch với bên ngoài, lựu đạn, súng, trong nhà trong cửa có chứa đồ quốc cấm.


Hẳn thế rồi, không sai.


 


Cái tư tưởng thứ nhất đến ở trong đầu ông Phú là việc này không có chút mật thiết gì đến ông. Khổ công suy nghĩ, thật quả là lố bịch. Ông tự nhủ thêm một câu, như để kết luận với mình:


“Chả ra gì thì mình cũng nửa đời người rồi. Trong sáu năm, sống năm cuộc đổi thay, ta còn thứ gì mà không biết là việc đâu mặc đấy, đúng là tổ dại. Sấm cụ Trạng chả bảo rằng khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống, đấy ư? Ta biết, nhưng cứ làm như không biết là ổn nhất”.


Ông Trần Minh Phú, đánh đùng một cái, bỗng hiểu tất cả cái gì đã xảy ra. Gớm thật. Bố đứa nào còn dám giao thiệp chơi bời với ai từ giờ trở đi. Này nhé: bác Tuấn, đối với nhà ông Phú, không phải là người xa lạ. Ngoài cái tình họ hàng ra, hai người này còn là đôi bạn chí thân từ bé, khác nghề, nhưng chung một lòng. Trước hồi chiến tranh, ở với nhau một nhà. Loạn, cùng tản cư. Bây giờ về, mỗi người một chốn, nhưng chả tối nào là không gặp nhau nói chuyện về cựu hoàng, lương lậu lên xuống và bàn chung tiền nhau mua cái kèn hát để tiêu khiển. Ấy thế mà... bây giờ thì thế! Tuấn "dây" vào một việc gì đây. Người ta bắt ra tra hỏi. Khốn nạn thế thì thôi! Anh ta viện mình ra làm chứng: thế là cái con khẹc gì! Không chịu chết một mình, lại lôi cả mình vào cùng chết. Lớ ngớ người ta hỏi, mà mình nhận là bạn hay nói một câu gì hớ để cho người ta ngờ mình, gọi là cứ bỏ mẹ, chứ không phải đùa.


À, được. Ta cần phải định rõ ngay thái độ của ta. Ông Trần Minh Phú tự nhủ thầm. Chả việc gì mà đem dây buộc cổ. “Tôi hồi cư về, tôi sợ lắm, tôi đi làm nuôi vợ nuôi con. Vợ tôi là Ma đam Phú. Con tôi là con ông Phú. Mà tôi là Trần Minh Phú, thư ký hạng nhì sở Khoáng chất của chính phủ Việt Nam, trước không làm tự vệ, mà bây giờ về đi làm thì được mỗi tháng ba nghìn hai trăm đồng, kể cả phụ cấp vợ con. Thế thôi. Ngoài ra, cái gì tôi cũng không biết, tôi chả trông thấy cái gì, tôi chả chơi bời, quen thuộc người nào cả. Tuyệt không!”.


Ông Trần Minh Phú nhắc đi nhắc lại câu đó. Sau một lúc, ông cố khắc nó vào đầu, khắc như là khắc dấu đồng, tin tưởng vào những câu nói đó, và không tin tưởng vào cái gì khác nữa. Ông cố gắng, nhưng vô ích.


Điều đó làm ông lo sợ, không phải là mình từ chối không nhận thì có khi chết Tuấn. Ông không nghĩ rằng bạn bè chơi với nhau hơn ruột thịt hai ba chục năm trời, mà bây giờ thì biến đi thì... đểu quá. Ông Phú chỉ nghĩ rằng mình mà làm chứng cho Tuấn thì, chả biết gì, mình bỏ mẹ mình. Tù thì mất việc. Mất việc thì làm gì ra tiền để đóng nốt bát họ nhà bà cả hàng sơn? Ông nghĩ thế rồi mới nghĩ rằng: "Mình mà mất việc thì cứ là cả nhà chết đói đứ đừ ra. Cái ngữ vợ  con mình thì đến đi ăn mày. Mà chính mình cũng chết rã xương trong ngục".


Đương nghĩ như thế, ông Phú bỗng giật bắn cả người lên. Có một tiếng moóc chê vừa mới nổ.


- Ai là Trần Minh Phú?


À, ra người ta gọi mình. Khiếp, nghe như là tiếng súng. Ông Phú cố thu mình cho thật bé lại để  cho người thư ký vừa gọi tên ông thương hại.


* * *


Phút ghê gớm bắt đầu. Người vừa mở cửa, đẩy ông vào trước một ông ngồi thẩm vấn. Ba người tội ngồi trên mặt đất. Trần Minh Phú lậy dài một cái, đánh rơi mũ dạ xuống đất, nhặt đánh thót lên một lèo. Ông lợi dụng dịp ấy để liếc nhìn ông thẩm vấn. Ơ kìa, ra ông thẩm vấn này cũng như mọi người khác mà thôi: Ông ta có một mũi, hai mắt, một mồm và một bộ ria đen và lông trắng vàng chứ không trắng cả.


Ông tự nhủ:


- Thế mới là đáng sợ đấy nhé. Cứ thường như thế, mà nói một câu đủ làm cho người ta chết như chơi.


Ông có ria chỉ tay cho Phú ngồi xuống ghế, thế rồi thôi! Bởi ông không nói gì nữa: ông giở hết tờ giấy này đến tờ giấy nọ lại đến tờ giấy kia ra, đọc lầm bầm trong cuống họng. Trần Minh Phú cám ơn thầm rằng ông không quát tháo mà cũng không hò hét. Tuy vậy, Phú cũng thấy rờn rợn cả người lên và chỉ một suýt nữa thì Phú nói:


- Bẩm ngài, quả thực tôi không có tội.


Ông thẩm vấn không nói: "Anh có quen biết người tội kia tên là Trương Văn Tuấn hay không?". Ta phải viết một chữ rùng rợn: ông biết tỏng cả ra. Ông nhìn thẳng mặt Phú mà rằng:


- Ông là bạn thân của người tội ngồi kia. Ông nên nói thật. Ngày hai mươi mốt tháng này, ông có biết người ấy ở đâu, khoảng từ sáu đến tám giờ chiều không?


Ông thẩm vấn nói thế rồi chỉ tay vào Tuấn. Tuấn nhìn Phú. Phú nhìn Tuấn. Ngày hai mươi mốt à? Phú nhớ rất nhanh. Thì hôm ấy là ngày giỗ ông nội Phú. Phú có làm cơm cúng, và Tuấn, Phú và vợ con ăn cơm từ năm giờ đến tám giờ. Ăn xong, cả nhà quây quần lại nói chuyện với nhau. Chín giờ rưỡi, có tiếng nổ rung trời chuyển đất. Vợ chồng Phú giữ Tuấn lại ngủ đêm, sợ đi về nguy hiểm. Tuấn ngủ lại nhà Phú đến trưa ngày hôm sau mới về.


Công việc rõ rành rành như thế! Không thể nhầm được. Chắc chắn là anh cu Tuấn, bị bắt kết vào trọng tội, đã tự bào chữa bằng cách viện Phú ra làm chứng, để Phú nhận cho rằng ngày ấy, giờ ấy anh ta ở nhà một người bạn thân, chứ không phải một chỗ nào khác khả dĩ nghi ngờ được.


Ông thẩm vấn đợi cho Phú nhìn Tuấn xong rồi lại nói. Tiếng nói của ông trong. Ông nói không trợn mắt, không lè lưỡi. Mà ông cũng chả ngậm một điếu xì gà ở một bên mép, gác chéo hai chân lên trên bàn và đội tớn cái mũ dạ lên đỉnh đầu, như là Phú vẫn thấy như thế ở trên màn chiếu bóng. Không, ông thẩm vấn trầm mặc, để cho Phú nhìn người tội thật kỹ; và nói rằng:


- Người tội này khai rằng ngày ấy, giờ ấy ở chơi đằng nhà ông. Có thế không?


Chao ôi. Thực quả là ông Phú không muốn nói một câu gì cả. Ông tự thấy mình không còn đủ sức để mà nói một câu nói không run. Nhưng ông thẩm vấn đã hỏi; im đi thì chết. Phú nhìn Tuấn một lần nữa, quay lại ông thẩm vấn, lắc đầu một cái mạnh như một con trâu lắc đầu để đuổi ruồi. Rồi nói (cố ra vẻ lạ lùng hết sức):


- Thưa ngài, không, không.


- Không thế nào?


- Không, ngày hai mốt tháng này, từ sáu đến tám giờ, người này có đến nhà tôi đâu. Mà sao lại đến nhà tôi?


- Người ấy khai là bạn thân của ông và được ông mời đến ăn cơm thường.


Phú nghĩ ngay rằng mình càng phải làm ra vẻ ngạc nhiên hết sức để cho ông thẩm vấn kia không thể nghi ngờ một tí gì. Cứ lờ mờ như thế, mà hỏi mẹo ra phết đấy. Cái gì cũng chối bừa đi, không nhận tí ti ông cụ là xong. Phú nhìn vào mặt Tuấn một lần nữa rồi nói với ông thẩm vấn như là ta thề độc:


- Thưa ngài, không. Tôi không bao giờ quen biết người đàn ông ấy. Tôi chả biết tên người ta là gì. Lần này tôi trông thấy người ta là lần thứ nhất.


Nói xong rồi, Phú thấy mệt đứt hơi đứt ruột. Công việc, khó như đi vào đất Ba Thục, đã làm xong; bây giờ Phú ngồi im lặng, không nói nữa. Mắt Phú lúng liếng nhìn người này, nhìn người nọ làm ra vẻ tự nhiên không sợ. "Bởi vì người thực thà, vô tội, không tâu man khai dối thì không sợ gì ai cả". Phú bảo với mình như thế. Nhưng chính ra thì ở trong lòng cứ run bần bật lên:


- Khốn nạn thân tôi thế này là cùng. Cứ hỏi mãi thì tôi đến chết. Bao giờ thì xong đây, hở giời?


Phú nhìn vào môi ông thẩm vấn đương cúi xuống biên lia lịa vào tờ giấy rồi gọi Tuấn đứng dậy đối diện Phú một lần nữa cho thật chắc:


- Ông Trần Minh Phú, vậy là ông chắc chắn không nhận ra người này? Ông không bao giờ biết hắn bao giờ cả?


Phú gật đầu luôn ba cái:


- Vâng.


Làm thế nào để tả sự ngạc nhiên của Tuấn lúc nghe thấy thế? Thoạt đầu, anh ta không tin ở tai mình. Anh ta tưởng mình mê ngủ. Nhưng đến lần này, vẫn thấy Phú quả quyết trả lời như vậy, anh ta muốn mắc ngay một cái bệnh gì nguy hiểm để nôn ngay ra một đống rồi lăn ra đấy chết ngay đi cho rảnh. Anh ta lắp bắp hai môi. Thôi, không nói nữa. Phú trông ông thẩm phán mà rằng:


- Vâng ạ. Không, không biết. Tôi không biết ông ấy bao giờ cả.


Thế là xong! Ông Phú, ông ký vào cái giấy này. Người tội kia khai láo. Tội y đã nặng, lại càng nặng thêm lên. Ông thẩm vấn cám ơn ông Phú. Phú lậy ông thẩm vấn, không nhìn Tuấn, không nhìn ai, không nhìn gì cả, đi ra cửa về. Thoạt tiên ông đi từ từ, ra dáng mình không sợ. Tý nữa thì ông huýt còi để mình có vẻ thản nhiên. Nhưng ra đến cửa, thoát chết! Ông giận mình không có cánh để bay về nhà một nước. Chết đi mà lại sống lại cũng không hả cái vong linh bằng.


Không việc gì cả! Mà còn được ông thẩm vấn cám ơn! À, phải biết rằng là mình khôn chảy máu mắt ra mới được thế, chứ không thì bây giờ đã vào ngồi xà lim rồi, đâu lại có được đi lại thong dong như thế này.


* * *


Chiều hôm ấy, vợ chồng ăn cơm xong, ông Phú đi nằm sớm. Mấy đứa con đùa to, ông gắt om tỏi cả lên. Vợ hỏi lôi thôi quá, ông cũng cự. Ông tắt đèn đi nằm thẳng cẳng, quàng hai tay xuống gáy và giương to mắt lên trần nhà và nói một mình:


"Ờ, thế nhưng mà ta cũng phải nhận là ta hèn quá. Việc ta làm thực đáng khinh. Mình cứ tưởng không can gì, nhưng chính thực là mình đã vô tình giết một người vô tội, nhờ mình làm chứng cho người ta là vô tội. Ôi dà dà. Khổ thân tôi thế này. Tôi có một vợ và bốn đứa con nhỏ tuổi. Nếu bây giờ chúng khổ sở, tôi không còn có quyền gì mà kêu ca. Tôi xứng với tội ác do tôi đã gây nên".


Mãi đến mấy hôm sau, ông Phú lại mới nghĩ ra một điều nữa: "Ờ mà mình cũng ngu như con cầy. Bác Tuấn, đêm hai mốt, bác ấy ăn cơm nhà mình; mình cứ như thế mà khai. Đã chết ai mà sợ. Chả lẽ mỗi lúc lại phải tù vì có bạn ăn uống ở trong nhà hay sao? Bậy thật. Mình là con mèo tầu. Nhưng mà bây giờ thì còn làm thế nào được nữa?”.


Phú đã vâng lời tội ác như người ta vâng lời chủ nhân ông. Lại một lần nữa, một người lương thiện bị thua sự đớn hèn, độc ác. Tư tưởng độc nhất của Phú là thế này:


- Ta sợ quá!


Từ hôm ấy, cơm ăn không ngon, giấc ngủ không yên. Phú lúc nào cũng vẩn vơ nghĩ  đến chuyện làm chứng cho bác Tuấn. Thỉnh thoảng ngồi trong sở, Phú lại lấy bút chì vẽ người lính bồng súng dắt ba người tù. Bạn bè hỏi về công việc giấy má, có khi nghe mãi mà không hiểu. Tai ù ù, mắt sâu hoắm, xương cốt đau như dần. Có thể nào ông ta bám riết lấy cái tư tưởng này:


"Ta không thể nào làm khác được. Nhận Tuấn là bạn thì mình chết lây, và ngay lúc đó có thể bị giữ luôn lại, để đưa sang nhà đá".


Ông Phú tự nhắc mình:


"Bây giờ pháp luật nghiêm hơn cả khi nào hết. Thời bình, còn trường hợp giảm được, chứ bây giờ phải biết là chết ngay đứ đừ".


Ông Phú nghĩ như thế và cứ đi làm hai buổi. Tất cả nhân cách của ông là, trước sau, ông không nói một câu gì cho vợ biết về cái việc từ chối, không nhận chơi với bác Tuấn  bao giờ. Ông sợ vợ khinh bỉ. Ông âm thầm nhai cái sỉ nhục một mình như nhai kẹo cao su. Có hôm, đi làm về, ông như đứt hơi đứt ruột, không cất chân được nữa. Bèn tự nhủ mình rằng:


"Đi đi chứ, đồ khốn nạn!".


Khi nào đương ăn cơm mà sực nhớ đến bữa cỗ chiều ngày hai mươi mốt, ông lại bảo mình:


"Ăn đi chứ, ngồi ì ra làm gì thế kia, hở thằng hèn?".


Ông ăn vội rồi đứng dậy. Ông lục cả nhà, tìm có thư từ bút tích gì của bác Tuấn thì đem đốt tiệt. Xong, lên giường nằm.


Trần Minh Phú, "thư ký hạng nhì sở Khoáng chất của chính phủ Việt Nam lâm thời, trước không làm tự vệ, mà bây giờ về đi làm được mỗi tháng ba nghìn hai trăm đồng, kể cả phụ cấp vợ con" chỉ tìm thấy sự che chở trong giấc ngủ mà thôi. Ông ngủ suốt đêm, ông ngủ trưa, ông ngủ cả ngày chủ nhật. Và thấy rằng cứ ngủ liền tù tì như thế thì người ta quên hẳn được cõi đời này - một cõi đời có Tội ác, có Nhục nhã và Nhát hèn ngự trị.


 


Nguồn: Rút từ Vũ Bằng Toàn Tập. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxua.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »