tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525952
Tiểu thuyết
22.01.2015
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Pông-sông lấy tờ tạp chí trong cặp ra nâng hai tay cầm đặt vào tay Tú Chiểu. Ông thản nhiên đặt xuống giường:


- Cuốn truyện quê mùa của tôi đâu có đáng gì mà các ông quan tâm đến như vậy?


- Ồ không, chúng tôi coi tác phẩm của cụ là một tấm gương, phản chiếu tâm hồn của người dân bổn xứ mà chúng tôi rất muốn tìm hiểu để kết tình thân thiện. Qua bản dịch tôi rất lấy làm hâm mộ văn chương của cụ, nhưng còn e rằng khi dịch ông Ô-ba-rê đã sử dụng một bản sao chép không đúng với nguyên tác và chưa thực hoàn chỉnh. Do đó, tôi đem đến một bản Lục Vân Tiên nôm in ở Chợ Lớn và sẽ nhờ người đọc lên cho cụ nghe, cụ sửa thế nào người ấy sẽ chép lại chúng tôi dịch ra tiếng Lang-Sa cho người bên bổn quốc được thưởng thức.


- Nói thiệt với ông tôi còn bị điếc nên không nghe đặng. Vừa rồi ông nói, tôi cũng chỉ nghe câu được câu chăng, rồi đoán ý mà trả lời thôi. Thêm nữa sức khỏe và trí nhớ tôi đã giảm, khó lòng có thể làm công việc ấy được.


- Nhưng chắc cũng có đôi ba người quen gần cụ có thể nói cho cụ nghe hiểu chớ. Tôi thấy cụ nên để cho người đã quen với chính thính quan của cụ ngâm Lục Vân Tiên rồi cụ chỉ những câu thừa nên bỏ, câu trật nên sửa và câu bị bớt nên thêm vào.


- Xin hỏi thăm ông, ông Ô-ba-rê dịch sách của tôi có phải cũng là ông Ô-ba-rê đã sang gặp ông Phan Thanh Giản, bàn việc sửa chữa hòa ước Nhâm Tuất([1]) không?


- Thưa cụ, chính ông đó.


- Tôi nhớ trong những điều khoản sửa đổi có vệc người Lang-Sa cho triều đình Huế chuộc ba tỉnh miền Đông nhưng hiệp ước vừa ký xong thì nhà nước Lang-Sa lại trở mặt nuốt lời không công nhận bản hợp ước mới mà cứ giữ nguyên như hòa ước Nhâm Tuất. Như vậy sự sửa chữa nào có hại cho Lang-Sa thì Lang-Sa khước từ, còn sự sửa chữa nào có lợi cho Lang-Sa thì Lang-Sa mới công nhận. Nếu bây giờ tôi sửa lại Lục Vân Tiên mà thêm vào những đoạn có hại cho Lang-Sa thì ông tính sao?


- Cụ tính sửa như thế nào?


- Tôi muốn thêm vào một đoạn vạch tội Lang-Sa hết dùng vũ lực lại dùng mẹo cướp đất đai của người khác…


Pông-sông đỏ bừng mặt, lúng túng:


- Chúng tôi chỉ sang bảo hộ chứ đâu có cướp đất?


- Nếu vậy đất cát do tôi đứng bộ ở Tân Khánh thì ai cướp?


Pông-sông chưng hửng, bẽ mặt:


- Vậy à? Tôi đâu có biết. Xin cụ tha lỗi, chắc chuyện đó là do kẻ dưới làm tàng. Tôi xin can thiệp với nhà chức trách ở Sài Gòn, trả lại đất cát cho cụ.


Tú Chiểu cười, cái cười chua chát và khinh bỉ:


- Nói vậy thôi chớ đất chung đã mất, đất riêng của tôi nào đáng kể gì. Tôi sở dĩ nhắc chuyện đó là để cho rạch ròi về cái điều ông vừa nói là nước Lang-Sa rất tôn trọng các nước khác…


- Về vật chất thì chưa dám nói, nhưng về giá trị tinh thần thì tôi cam đoan với cụ là nước Lang-Sa rất tôn trọng… Đó cụ coi, đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật vẫn được duy trì ở xứ này, chúng tôi đâu có cấm đoán…


- Vậy à? - Tú Chiểu nhếch cười. - Tôi có chuyện này không biết ông có thuận cho được không?


- Chuyện gì vậy, thưa cụ?


- Nước tôi có tục lệ cứ đến rằm tháng bảy thì làm lễ xá tội vong nhân cho những oan hồn được mát mẻ nơi chín suối. Ngày trước cụ Nguyễn Du, nhà đại thi gia của chúng tôi đã soạn bài Văn tế thập loại chúng sinh. Sau mỗi trận đánh lớn, nước tôi đều có cuộc tế trận vong tướng sĩ. Hai chục năm qua binh đao xảy ra, nước tôi không có biết bao nhiêu người chết trận mà chưa ai làm lễ tế, ắt hẳn những vong hồn ấy sẽ lang thang vất vưởng không được siêu sinh tịnh độ. Vì vậy, tôi muốn được điếu tế một tuần những vong hồn người Việt tử trận, không biết ông có chấp thuận cho không?


Pông-sông ngẫm nghĩ một hồi thấy chuyện này cũng không quan trọng gì cho lắm. Cứ chấp thuận để lấy lòng Tú Chiểu, biết đâu sau chuyện này Tú Chiểu chẳng cảm kích lòng tốt của mình mà đổi ý. Y tỏ vẻ sốt sắng:


- Ồ chuyện đó không khó gì. Nhưng muốn cho cuộc tế được trọng thể, tôi sẽ đem cờ xí và lễ vật từ dinh tham biện xuống để dân chúng thấy người Lang-Sa rất tôn trọng phong tục của nước Nam. Ngày mai thì gấp quá, tôi hẹn với cụ sáng ngày mốt, lễ tế sẽ được cử hành tại đây. Cụ bằng lòng chớ?


- Ngài chấp thuận cho như vậy thiệt là quý!


- Thôi xin phép cụ tôi về, đúng hẹn tôi sẽ tới dự lễ.


Thấy Tú Chiểu toan đứng dậy, y xua tay:


- Thôi, cụ đang mệt không cần phải giữ lễ. Tôi không dám làm phiền cụ điều chi hơn là xin cụ đối đãi với tôi như một bậc lão thành thông thái tiếp một người bạn ngoại quốc rất hâm mộ cụ.


Pông-sông đi khỏi, Tú Chiểu kêu tất cả học trò lại:


- Vừa rồi thầy nói khích nên nó đành phải nhận lời cho cử hành cuộc điếu tế vong hồn mộ nghĩa. Nhưng nó lại đòi dự lễ. Nó hẹn đến sáng ngày mốt, âu là ngay sáng mai, ta tổ chức cuộc lễ ở chợ Ba Tri, để khi nó biết thì sự đã rồi. Giờ các con đi báo các nhóm nghĩa quân huy động dân chúng khắp vùng đến dự lễ cho thiệt đông, nhưng chớ để cho bọn Lang-Sa hay đặng.


 


XIV


Sáng hôm sau, trên các ngả đường đổ về chợ Ba Tri, người đông nườm nượp. Những trai tráng khỏe mạnh, những cô gái duyên dáng, những phụ nữ mộc mạc, lại có những ông già quắc thước, mặt vuông, râu ngắn, da đỏ như bánh mật, đầu quấn một vành khăn vải, bước đi nhanh nhẹn, thiệt xứng với cái tên “già Ba Tri”. Nhưng nếu nhìn kỹ, người ta còn thấy những người dáng lực lưỡng, bước đi hùng dũng như con nhà võ, dưới lần áo hơi nổi cộm lên như có giắt binh khí. Đó là những nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Quản Hớn ở Hốc Môn…


Khi tới nhà lồng chợ, mọi người đã thấy chính giữa bày một bàn thờ trên chỉ có một bình nhang lớn, ngoài ra không có một vật chi hết. Rồi ông Tú Chiểu tiến ra cầm một bó nhang thắp lên cắm vô bình. Một người học trò bưng một bát nước lã, một người khác cầm hai bao nhỏ đựng gạo và muối đặt lên rồi kính cẩn lui ra.


Trong đám dân chúng có tiếng xì xào:


- Bác Quản nè, cụ Tú trông đẹp thiệt, in tuồng tiên ông giáng hạ phàm trần…


Quản Hớn gật đầu:


- Coi bộ cụ còn mạnh lắm! Phải chi mà mắt cụ sáng thì phương phi quắc thước biết bao!


Một người khác nói lời:


- Hồi này cụ ốm da mét hơn hồi trước. Thương cụ quá!


Lại một người nữa tiếp:


- Cụ mà thọ thêm vài chục tuổi nữa thì dân được nhờ biết mấy! Bác Quản à, hay là ta rước cụ về Hốc Môn…


Quản Hớn nhìn quanh rồi vội suỵt. Chung quanh người chen chật vòng trong vòng ngoài, muốn xô những người đứng trong cùng, để được nhìn rõ ông Tú.


Tú Chiểu nghiêm trang tiến vào giữa chiếu trải trên mặt đất, chắp tay xá dài về bốn hướng cám ơn bà con đến dự. Rồi ông quỳ lạy bốn lạy trước bàn thờ. Một người học trò hai tay nâng bản chúc văn trao cho ông một cách tượng trưng. Ông nâng cao bản chúc văn rồi bắt đầu giọng đọc bài Văn tế Lục tỉnh nghĩa sĩ trận vong, mà ông mới soạn.


Giọng Tú Chiểu mỗi lúc một thiết tha, bi phẫn:


Khá thương thay: Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu không dứt.


Đành những kẻ cha thù anh oán, vô vòng báo ứng đã cam,


Cực cho người vợ yếu con cô, gây đoạn thảm sầu không dứt.


Mọi người đứng chung quanh không ai cầm được nước mắt. Mấy chục năm nay, nhà nào chẳng có người chết vì tay lũ giặc. Cuộc điếu tế không phải chỉ riêng ông Tú cử hành, mà trở thành ngày giỗ lớn của chung bà con khắp chốn.


Học trò ông Tú lắng nghe những lời thầy đọc. Không hiểu sao những đoạn kể tội ác giặc phảng phất cái hơi Bình Ngô đại cáo mà thầy đã giảng. Cũng những lời như máu chảy, vừa xót xa vừa căm giận tột cùng. Nghe lời văn mà người ta thấy máu sôi trong huyết quản chỉ muốn xông ra chiến địa giết hết kẻ thù.


Giọng đọc văn bỗng chuyển sang một cung bậc khác vừa lâm ly vừa bi tráng:


Trời Gia Định ngày chiều rạng sáng, cô hồn theo cơn bóng ác dật dờ,


Đất Biên Hòa đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn thần hiu hắt,


An Hà quận đang khi bạch trú, cát bụi bay con trốt dậy bên thành.


Long Tường Giang mỗi lúc hoàng hôn, khói nước xông mù, lửa đóm nháng binh ma chèo dưới vực.


Những tàn nhang trên bàn thờ bị gió tạt bay lác đác như sao sa. Trong làn khói nhang huyền ảo, mọi người tưởng chừng trông thấy hình bóng Trương Định, Nguyễn Văn Lịch, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân… cùng bao nhiêu liệt sĩ bỏ mình vì nước đều trở về dự hội. Những người rơi đầu giữa tháp trường cũng về đây. Những người bỏ nắm xương tàn khi bị lưu đày Đại hải cũng về đây… Và ai kia, có phải đó là Phan Ngọc Tòng đã trở về thăm lại bà con làng xóm, với vết máu còn in trên mặt như một dấu hiệu vinh quang của người anh hùng nghĩa sĩ. Giọng Tú Chiểu càng thêm réo rắt:


Ngày gió thổi lao xao tinh dã mã, thoạt nhóm, thoạt tan, thoạt lui, thoạt tới, như tuồng rạng bóng tinh binh.


Đêm trăng lờ réo rắt tiếng đề quyên, dường hờn, dường mếu, dường khóc, dường than, đòi đoạn tỏ tình oan khuất.


Đọc tới đó, Tú Chiểu kiệt sức té xỉu trên mặt đất. Những tiếng tấm tức, nức nở lúc nãy cố nén giờ bỗng oà lên thành tiếng khóc vang. Học trò vội xúm lại gọi thầy tỉnh. Tú Chiểu từ từ hé mắt cảm thấy bà con đứng chung quanh ông khóc, ông phác một nụ cười:


- Bà con cô bác cứ yên tâm, tôi chưa có làm sao đâu…


Từ sau cuộc tế ở chợ Ba Tri, bệnh Tú Chiểu ngày một nặng. Ông phải nằm liệt trong giường không bước nổi ra ngoài. Vốn là thầy thuốc, Tú Chiểu biết rất rõ căn bịnh mình. Ông mắc chứng đau bụng kéo dài từng cơn, mà trong người chân hỏa đã kiệt rồi, dầu có thuốc thang cũng khó lòng chữa nổi. Ông chết đi cũng chẳng tiếc tấm thân chỉ thương bà con làng xóm bịnh tật thiếu người chạy chữa. Đất nước chưa quét sạch quân thù, ông ra đi mà nỗi niềm còn canh cánh.


Bao nhiêu bạn bè, đồng chí của ông từ Đỗ Trình Thoại, Trương Định, Nguyễn Văn Lịch, Võ Duy Dương, Phan Ngọc Tòng, Âu Dương Lân cho đến Nguyễn Hữu Huân đều lần lượt ngậm hờn mà thác, chỉ còn mình ông sống sót cho tới hôm nay. Gần bảy chục năm của đời ông là gần bảy chục năm đầy bão táp. Khi ông thi đỗ Tú tài cũng là năm giặc bắt đầu bắn phá cửa Đà Nẵng, khi đó ông mới hai mươi hai tuổi. Rồi suốt từ đó đến nay, ông lần lượt nhìn thấy bao lần ta mất đất, bao lần các nghĩa sĩ rơi đầu… không sao đếm xuể. Nợ máu đối với kẻ thù cứ ngày một chồng chất mà vẫn chưa trả cho rồi. Cũng từ đó, đôi mắt ông bi dìm vào bóng tối dày dặc giữa cái lúc con đường gấm hoa tưởng chừng mở ra trước mặt. Thiệt là trớ trêu! Đã đui mù còn phải bao phen chạy giặc, cảnh ngộ hết sức long đong. Làm văn, làm thuốc mà thiếu cặp mắt cũng bao khó khăn, phiền phức. Nhưng ông đã ráng vượt qua ngàn vạn gieo neo. Bù vào cặp mắt bị đui, ông vẫn giữ được tấm lòng trong sáng, đó chính là cặp mắt tinh tường của tâm trí để nhìn thấu suốt tình đời, tình người, phân biệt rõ ràng trắng, đen, thiện, ác.


Gần năm chục năm qua, với những áng thơ văn yêu nước ông soạn, ông trở thành linh hồn của phong trào chống giặc. Ông chết đi nhưng thơ văn của ông vẫn sống như vậy đủ mãn nguyện rồi. Mỗi khi nghe thấy nói thơ Vân Tiên, ông lại cảm động đến rơi nước mắt. Lục Vân Tiên đâu phải của riêng ông mà đã thành tài sản chung của mọi người. Người nào kiên cường chống giặc đó la một Vân Tiên, người nào chung thủy cùng chồng thì đó là một Nguyệt Nga… Vân Tiên, Nguyệt Nga đã tan biến vào hàng triệu con người vô danh khắp nơi.


Vậy mà bọn Lang-Sa ngu xuẩn lại tưởng ông hám cái vinh dự hão huyền mà chúng gán cho ông. Hết hứa trả đất lại hứa cấp tiền dưỡng lão. Chúng định đem những món tiền vơ vét từ hầu bao của dân nghèo để mua chuộc ông. Nhưng ông đâu phải là món hàng cho chúng mặc cả. Điều ông sung sướng nhất là thấy thơ văn mình có thể nung sôi bầu máu nóng của mọi người, quyết đuổi hết giặc để đòi lại đất nước, đòi một khoảng trời tự do trong sạch cho những câu thơ kia cất lên hồn nhiên như câu ca dao bao đời còn văng vẳng trên ruộng đồng, sông nước…


Tưởng tượng ra vẻ tiu nghỉu như con mèo bị cắt tai của tên Pông-sông, khi mang cờ xí lễ vật tới nơi thì cuộc lễ đã xong tữ hồi nào, Tú Chiểu khẽ cười. Đáng kiếp cho tên quan cai trị ngông nghênh tự mãn! Về phần ông, công việc vậy là xong, ông có thể yên tâm đã làm một điều hữu ích cho dân cho nước.


Bỗng ông cảm thấy bồn chồn. Mấy năm nay dường như phong trào hơi lắng xuống, chưa có cuộc khởi nghĩa nào thiệt lớn và kéo dài nhiều ngày. Hay là… lòng người đã nguội lạnh rồi? Ông thấy lo lắng hơn cả khi thấy chân mình đã bắt đầu lạnh toát. Nếu như còn chút sinh khí nào, ông quyết phải thổi cho ngọn lửa yêu nước chống giặc lại bùng lên…


Bỗng hai người học trò từ ngoài chạy vào. Một người nói hấp tấp:


- Thưa thầy, có tin mới.


Tú Chiểu khẽ ngước đầu lên:


- Tin gì vậy, các con?


- Thưa thầy, chúng con mới được tin, ở Hốc Môn, Quản cơ Phan Văn Hớn nổi lên khởi nghĩa giết vợ chồng Đốc phủ Trần Tử Ca giữa đêm hăm chín Tết, bêu đầu nó lên cột đèn thế cây nêu đón xuân. Ở Gò Công nguyên soái Hiền cùng nghĩa binh đánh đồn Long Hựu, giết chết một tên chỉ huy Lang-Sa. Hiện giờ kế hoạch của nhóm khởi nghĩa tập trung đánh vô Sài Gòn. Người cầm đầu nghĩa quân là Nguyễn Văn Bường đã vào sâu lòng địch để dò xét tin tức. Điều hay nhứt là trong các cánh nghĩa quân ấy có rất nhiều người đã dự cuộc tế nghĩa sĩ trận vong của thầy bửa trước…


Khuôn mặt hốc hác của Tú Chiểu như bỗng tươi lên và trong đôi mắt đục lờ dường lấp lánh những tia sáng. Có thế chứ. Than hồng bao ngày âm ỉ dưới tro giờ đã bùng lên thành ngọn lửa. Tú Chiểu vui mừng thấy mình đã góp vào ngọn gió thổi cho nó mau bén. Ông lẩm bẩm:


- Vậy ra mấy câu thơ mà người ta thác danh là Thủ khoa Huân, hóa ra đúng. Thùy tri đông khứ tất xuân hồi. Ai biết đông qua ắt xuân sẽ tới!


Sau khi Thủ khoa Huân bị giặc xử tử bêu đầu bên cầu Cai Lộc làng Tịnh Hà, ở Mỹ Tho và Bến Tre thường xuất hiện nhiều đàn cơ “cầu tiên Nguyễn Hữu Huân giáng bút” để dự đoán thế thái nhân tình. Tuy bề ngoài có tính chất mê tín nhưng chẳng qua chỉ là để che đậy dụng ý của các nhà yêu nước thác danh vị Thủ khoa để kêu gọi lòng căm thù giặc và dắt dẫn người ta vào con đường bền chí quyết tâm chống giặc.


Mải nghĩ nhiều đến Thủ Khoa Huân, đêm đó vừa chợp mắt, Tú Chiều bỗng nằm mộng thấy một cảnh lạ. Ông thấy mình đang đi trên một con đường tối tăm sâu hun hút, gió buốt thấu xương. Bỗng ông kinh ngạc nhận thấy mắt mình đã sáng ra vì ông nhìn rõ thấy phía trước có một người đi tới. Đó là một người đàn ông mặc đồ trắng đầu trùm một mảnh vải đỏ, nhìn kỹ Tú Chiểu nhận ra là Thủ Khoa Huân. Có một giọng nói mơ hồ cất lên hình như từ một nơi xa xôi nào:


- Có phải bác Tú Chiểu đấy không? Tôi là Nguyễn Hữu Huân đây. Tôi tuy nửa đường sa cơ bị giặc giết hại, nhưng lòng vẫn còn đau đáu vì tiền đồ của đất nước. Tôi biết rằng mệnh nước ta còn dài, con cháu ta thế nào cũng có ngày mở mặt. Bác cứ bền dạ vững lòng đứng ra dìu dắt lớp sau đi tiếp con đường mà chúng ta đã đi từ trước…


Rồi Thủ Khoa Huân quay mình từ từ đi trước, một tay cầm bó đuốc giơ cao cho Tú Chiểu đi. Hai người cùng bước lần từng bước lên một ngọn núi. Mỗi bước lại thấy lối đi càng thêm quang đãng. Mải bước, Tú Chiểu không để ý đến lúc ngẩng lên nhìn thì không thấy Thủ Khoa Huân đâu nữa mà mình đã đứng ở trên đỉnh núi cao. Ông kêu lên mấy tiếng không thấy Thủ Khoa Huân thưa. Ông toát mồ hôi tỉnh dậy thì té ra là một giấc chiêm bao.


Nhớ lại cơn mộng vừa rồi ông tự nhủ: Đó là do mình vẫn luôn luôn tâm niệm rằng nước mình không thể nào đắm chìm mãi được, thế nào cũng có phen quật khởi quét sạch quân thù.


Cũng chính vì niềm tin ấy mà ông đã có đủ sức chống đỡ cơn bệnh. Bệnh ông cứ kéo dài hết ngày này sang ngày khác, có lúc đã tưởng nguy nhưng rồi sau lại giảm bớt. Tuy không dứt được bệnh nhưng cũng chưa tới nỗi tàn lực. Phải chăng ông đã lấy hết sức cầm cự với cái chết để cố sống, chờ đợi đến một ngày sáng sủa hơn.


Gần đây, Tú Chiểu lại nhận được thêm nhiều tin tức mới từ khắp nơi đưa đến. Khi giặc Lang-Sa mang quân ra đánh Hà Nội lần thứ hai, tên quan ba Ri-vi-e đã bị nghĩa quân giết chết ở Cầu Giấy cùng chung số phận với tên quan ba Gác-nhe mười năm trước. Trong triều đình Huế thì cánh chủ chiến trong đó có Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, ngày càng mạnh thế, những vị này đang ngày đêm sửa soạn việc giao chiến với giặc. Nhiều vị quan khác như Ông Ích Khiêm, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện… cũng là những người hăng hái lo mưu chống giặc, Tú Chiểu thầm nghĩ: Dầu mình qua đời cũng còn biết bao nhiêu người có tâm huyết đứng lên cứu vớt non sông.


*


Bệnh Tú Chiểu cữ này lại chuyển thành nặng. Bà Tú, các con và học trò luôn túc trực bên giường bệnh để săn sóc ông. Cô Xuyến đang ẩn náu một nơi chờ thời cơ chống giặc, tuy không về được cũng nhắn người chuyển lời thăm hỏi.


Đêm vào sâu, gió từ phía biển thổi vào càng thêm rong ngọn. Gió mang theo làn hơi ẩm ướt của biển cả vào đây. Tú Chiểu tưởng chừng có tiếng sóng biển kêu quanh giường ông nằm. Thì nơi này hàng vạn năm trước cũng chỉ là biển, nơi trú ngụ của các loài thủy tộc mà thôi. Nhờ sông Cửu Long mang phù sa về bồi đắp cho nên mới tạo nên hai cù lao Bảo và Minh thành một vùng phì nhiêu, cây trái sum xuê. Sự sống quả là vô cùng mãnh liệt. Bất chấp sự đe dọa và phá phách của bọn Lang-Sa, bà con ở đây vẫn tiếp tục trồng dâu trên những khoảnh ruộng vườn trước đây bị giặc dày xéo, triệt hạ. Dâu trồi lối ba bốn tháng, cây lên cao gần ba thước ta đã có thể hái lá… Giọng Tú Chiểu bỗng cảm khái:


- Các con có nghe lời đồng dao mà bà con thường hát không:


Khoan khoan bớ chị hái dâu,


Chị đừng ngắt ngọn để dâu đâm chồi.


Thôi thôi tôi lỡ ngắt rồi,


Còn da lên mụt, còn chồi lên cây.


Cảnh nước mình nay cũng giống như vậy. Ông Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân tỷ như những thân cây bị giặc đốn rồi nhưng từ gốc vẫn còn chồi non đâm lên và ngày càng nảy nở. Ông Trương Định mất thì cậu Hai Quyền lại đứng lên, cậu Hai Quyền phải tạm lui binh khi bị con chó săn Trần Tử Ca theo lịnh quan thầy lùng sục thì tới nay ông Quản Hớn lại nổi dậy trừ diệt tên Ca để trả thù cho nghĩa quân và trăm họ. Chỉ tiếc rằng thầy không được nhìn thấy cái cảnh ngày toàn thắng…


Người trưởng tràng vội thưa:


- Xin thầy đừng nói gở như vậy… Con chắc bịnh thầy mai mốt sẽ thuyên giảm.


- Thầy biết bịnh thầy lắm. Chứng thương hàn đau bụng mà uống một thang quế chi, thược dược gia địa hoàng không chuyển, lại uống thêm một thang thừa khí cũng không công hiệu. Như vậy là đã biến thành âm ế rồi, dầu có bổ hỏa cũng không ích gì nữa…


Mọi người đều nín lặng. Ông Tú là bậc danh y đã chữa khỏi bao nhiêu người, nay ông phải bó tay trước bệnh của mình như vậy không còn cách nào cứu vãn. Tú Chiểu lại nói:


- Suốt đời thầy chỉ mong mỏi một điều: “Bao giờ trời đất an ngôi cũ, mừng thấy non sông bặt gió Tây” mà chưa thực hiện được. Nhưng dầu sao lúc này ra đi thầy cũng tạm yên lòng…


Bà Tú từ ngoài vào, òa khóc. Ông dịu dàng cầm lấy tay bà:


- Thôi bà đừng khóc nữa. Bà thương tôi không quản tôi đui mù, sống với nhau mấy chục năm trời, bà âm thầm chịu cực, một vai gánh vác giang sơn nhà chồng, nuôi các con khôn lớn, đỡ tôi việc nhà để tôi góp phần lo việc nước. Tấm lòng bà chung thủy không khác Nguyệt Nga xưa, mà tôi không làm được như Vân Tiên, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, thiệt có lỗi với bà. Bà có nhớ hồi mới gặp nhau tôi đang đặt thơ Vân Tiên đã mượn mấy câu trong đó để gởi gắm ý tình: “Hữu tình càng tưởng càng thâm, muốn pha khó lợt muốn dầm khôn phai”.


Bà Tú cứ nức nở khóc ròng. Ông Tú lại tiếp:


- Sau khi tôi đi rồi, bà ráng thay tôi dạy bảo các con. Con trai không cho làm việc với Tây, con gái không lấy chồng người theo giặc. Nếu chúng làm đưọc điều chi lợi dân ích nước thì nên khuyến khích chúng. Con Khuê nó có khiếu làm thơ, chắc sau cũng có phen mở mặt với đời…


Gió biển từ phía bãi Ngao thổi vô mỗi lúc một mạnh, khiến ngọn đèn cầy lả lay chỉ chực tắt. Con cái và học trò quây quần chung quanh ông đều có cảm giác sự sống ông leo lắt như ngọn đèn, thỉnh thoảng lại bừng sáng lên một lúc. Nhìn các con, ông thiết tha căn dặn:


- Các con phải nhớ đói cho sạch rách cho thơm, đừng làm điều chi có hại cho gia thanh nhà ta.


Rồi quay sang các học trò, ông tiếp:


- Sau khi thầy qua đời các anh không cần để tang thầy mà hãy để tang cho nước. Minh tinh đối trướng hãy thay bằng cờ nghĩa, xe đòn chấp phất hãy thay bằng gươm sắt súng đồng, giết hết giặc để thầy được ngậm cười nơi chín suối. Bao giờ thu phục xong đất nước, các con hãy cúng thầy và khấn cho thầy hay tin để thầy chia vui với bà con. Thầy còn nhớ bác Quản Lịch từng nói: “Bao giờ Tháp Mười hết cỏ thì nước Nam mới hết người chống Tây”. Có những con người dũng cảm kiên cường, kết lại như lũy sắt thành đồng, thì đất nước này sớm muộn sẽ giành lại được…


Đêm hôm sau, Nhiêu Bổn tới nhà Tú Chiểu giữa lúc ông vừa mới thiếp đi. Đợi ông lần lần tỉnh lại, Nhiêu Bổn báo cho ông biết một tin vui:


- Tôi vừa ở ngoài Huế vô, tới thăm thầy liền để báo cho thầy hay: Bài văn tế của thầy truyền ra tới ngoải, được những người yêu nước chép cho làm nhiều bổn, gởi đi khắp các tỉnh. Không chỉ các nghĩa sĩ nghĩa dân tán thưởng bài văn tế mà cả các vị trong hoàng phái như Đức ông Tùng Thiện Vương, cũng hết sức khen ngợi. Người có làm thơ cảm đề bài văn gởi tôi mang vào tặng thầy đây.


Nhiêu Bổn lấy ở trong bọc ra một viên sáp lớn, bửa viên sáp ra, ở trong có tờ giấy bản được gấp nhỏ lại, giở ra vuốt thẳng đọc. Tú Chiểu ráng hết sức ngồi dậy, trân trọng lắng nghe bài thơ. Nghe xong ông cảm động nói:


- Trong thơ, Đức ông Tùng Thiện quá thương, đem sánh tôi với Tả Khâu Minh và Khuất Nguyên([2]) khiến tôi vô cùng hổ thẹn. Tôi học thiển tài sơ đâu dám ví với các bậc đại gia đó. Nhưng đến hai câu: Chí cánh thư sinh không bút trận. Báo quân chỉ thử, diệc bi tai([3]) thì quả là đã thấu đến gan ruột tôi!


Nhiêu Bổn nói:


- Tùng Thiện Vương là bậc thi bá đời nay đến nỗi nhà vua còn phải khen: Thi đáoTùng Tuy thất Thịnh Đường([4]). Đức ông mà đã khen văn chương thầy là sự không vừa. Từ trước đến nay người mới chỉ chịu khen thơ của ông Cao Bá Quát mà thôi.


Tú Chiểu khiêm tốn:


- Tôi nghĩ, Tùng Thiện Vương khen thơ ông Chu Thần trước hết là khen chí khí ông bộc lộ trong thơ chớ đâu phải chỉ khen văn chương Thánh Quát mà thôi. Còn tôi tự biết văn chương mình nhiều đoạn còn vụng về, nếu Đức ông có khen thì chắc là đã xét đến tấm lòng của tôi đối với đất nước. Khi soạn Lục Vân Tiên tôi còn mong mỏi: “Hỡi ơi, lưu thủy cao sơn. Ngày nào nghe đạng tiếng đờn tri âm, thì nay tôi đã được cái vinh hạnh không ngờ là sự tri âm của một thi bá. Bên cạnh Đức ông Tùng Thiện, tôi chắc rằng cũng còn nhiều kẻ tri âm là những người chung lòng giết giặc. Giờ đây tôi đã có biết bao bạn tri âm ở khắp đất nước, như vậy có chết cũng vui lòng nhắm mắt. - Ông hơi mỉm cười - Kể ra tôi “nhắm mắt” từ lâu rồi, từ cái ngày mới bắt đầu bị đui mù kia, nhưng tôi gắng gượng mà sống vì tin rằng dầu tàn nhưng không chịu phế, tôi vẫn có thể làm được chút gì cho dân cho nước. Lời Tùng Thiện Vương quý ở chỗ không chỉ khen riêng tôi mà còn biểu dương những người cầm sào làm cờ, chặt gỗ làm gươm, những người dóng lên khúc nhạc “tiếng sắt tiếng vàng chen nhau” để giết giặc ngoài chiến trường. Tôi sung sướng được là tri âm khúc nhạc hùng tráng diệu kỳ do tay những tri âm của đất nước cùng hòa điệu…


Ông mệt quá phải nghỉ một lát lấy hơi. Rồi ông tiếp:


- Chỉ có những thằng như thằng Tường mới tai ngơ mặt lấp trước khúc nhạc đầy chính khí đó mà trơ tráo ca ngợi “hăm hở nhạc Tây hơi trỗi mạnh”. Kẻ tri âm của tiếng kèn “ la vầy”, “mủ dích” như chúng mới chính là những kẻ tai điếc, mắt đui. Chúng không biết rằng sớm muộn khúc nhạc của quê hương sẽ trỗi mạnh đè bẹp khúc nhạc lố lăng man rợ của bọn cướp nước. Ở dưới mồ chắc là tôi cũng sẽ được nghe khúc khải hoàn của ngày toàn thắng…


Đôi mắt đục lờ của ông như sáng lên hướng về một nơi nào đó rất xa… Dường như phía đó có tiếng đuốc lá dừa cháy bập bùng, tiếng cờ bay phần phật, tiếng reo hò tở mở của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Ngọc Tòng… những Lục Vân Tiên lẫy lừng lịch sử, của những người dân ấp, dân lân, những ông Tiều, ông Ngư, ông Quán, lớp lớp anh hùng bình thường, không tên cầm mác thông, giáo gỗ nườm nượp xông lên, bước chân không đạp bằng đồn giặc… cho cái ngày “bốn phương đều ngợi chữ thăng bình”([5]).


Nhiêu Bổn cúi đầu ngẫm nghĩ về những câu nói đầy ý vị sâu xa của nhà thơ mù yêu nước. Phải chăng ông cũng ví như cây dừa suốt đời đứng thẳng mang tâm ngọt cho dân lành, trước lúc từ giã còn thâu góp những tàu lá cuối cùng làm bó đuốc gởi tấc lòng hải đăng cho lớp người sau…


Hết.


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








[1] Năm 1863.




[2] Tả Khâu Minh bị mù viết Tả truyện, Khuất Nguyên thi hào nước Sở đời Chiến quốc từng làm văn điếu trận vong tướng sĩ.




[3] Thư sinh giết giặc bằng ngòi bút. Báo nưóc ngần này cũng đáng thương.




[4] Thơ của Tùng Thiện Vương. Tuy Lý Vương hay đến nỗi đời Thịnh Đường coi như không có (tục truyền là lời Tự Đức)




[5] Trích bài “Hịch bắt chuột” của Nguyễn Đình Chiểu.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »