tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23575723
Tiểu thuyết
15.01.2015
Ngũ Hà Miên
Bão

Chàng kéo Tế về nhà.


Ăn ở với nhau đã năm mụn con, vợ khá hiểu chồng có lòng hiếu khách, nên gượng dậy nấu nướng chiên xào, thoắt một cái đã sẵn cơm canh. Chàng đề nghị trước khi ăn, thắp nén hương cúng vọng ông ngoại lũ nhỏ, nhân đó cho chúng biết tin, chờ khi má nó về ngoải vô rồi hãy làm lễ chịu tang. Thấy chồng chu đáo, biết nghĩ, vợ khá cảm động. Thành ra bữa cơm đãi cố tri cũng khá thịnh soạn. Tế cho biết miền Trung đang biến động lớn:


– Phe Phật giáo của sư Thích Trí Quang cướp được chính quyền ở Quảng Nam và Huế chống nhau với Thiệu – Kỳ. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, người Công giáo, thị trưởng Đà Nẵng cùng với đại tá Đàm Quang Yêu, Phật giáo, đang cố thủ Đà Nẵng.


Từ Quảng Ngãi, Phật tử đã thành lập Sư đoàn Dân quân quyết tử Trần Hưng Đạo kéo ra tăng viện, thì bị chặn lại ở cầu Tam Kỳ. Nồi da xáo thịt, mấy ông Cộng sản ngư ông đắc lợi tiếu hi hi. Tui làm Dân Ý vụ, Mỹ nó kêu vào, chắc để hỏi tình hình. Cái đau nhất là phe Quốc dân đảng chúng tôi chia làm hai, ở Quảng Nam, Trịnh Thể – Phan Thiệp cực lực theo chính phủ chống phản loạn. Nghe đâu cánh Phan Thuyết, trong số có anh Diễn ở Hội An lại ngả về Phật giáo thiên Cộng. Tui và Lê Nguyên Long thì nhất định xem Phật giáo Thích Trí Quang là đám nối giáo cho giặc, không thể dung tha.


Từ 1953, sau khi cha bị đấu tố ở sân đình về nhà đau rồi chết, Tế nuôi một mối thù sâu sắc. Mỗi lần giỗ cha, anh khóc, mười hai năm rồi, oán oán chập chùng. Thấy thái độ Tế cực đoan quá, chàng chẳng dám nói gì. Nghỉ trưa xong, Tế khoác áo vội vã ra đi, hẹn sáng ngày mai sẽ đến đón vợ chàng cùng về. Vắng vẻ, vợ lại khóc. Kêu thằng Văn đến bên giường, nàng nói:


– Hèn gì, tối hôm kia má nằm mơ thấy ngồi xỉa răng, có một cái rớt ra và vấy máu. Đúng là điềm có người thân mất. Ở nhà, con và chị Đính phải coi các em, dạo này nghỉ hè rồi, chớ đi đâu. Ngày mốt, ba phải đi coi thi ở Biên Hòa, chiều ba về.


Tối hôm đó, chàng yêu vợ dữ dội, nàng sung sướng tột độ, tạm quên cái tang trên đầu, quằn quại rên xiết vì khoái lạc. Chàng nhớ chuyện vua Dục Đức vì bị bịa cho cái tội vua cha mới mất mà dám tửu sắc phải mất mạng, phần cảm thấy mình hơi có lỗi, phần thấm thía điều Bình nói trước đây, mỉm cười một mình. Sáng hôm sau, nàng an tâm lên đường, chia tay các con:


– Ông già rồi, ông mất cũng phải thôi. Chỉ tiếc một nỗi, má chưa kịp mời ông vô chơi một chuyến cho biết Sài Gòn. Chờ mở cửa mả và qua cái thất bảy ngày đầu của ông, má mới về được.


Đau khổ và khoái lạc đan xen vào nhau, dẫn dắt con người lang thang trong cuộc sống. Càng ít học, càng khỏi bị cái kiến thức sách vở nó quấy mình. Chàng cảm thấy nàng đơn giản biết bao, và chính sự đơn giản đó có một tên gọi khác: hạnh phúc, điều mà bao trí giả phải công phu lắm mới đạt được, có khi phải khổ hạnh nữa, mệnh danh và cố truyền bá cho mọi người tin theo: Đạo!


Khác với Tế, cùng được mời ăn cơm báo tang, Tấn dù là cựu Quốc dân đảng, nhưng đang học Luật, sinh hoạt trong Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Tấn nồng nhiệt ủng hộ cuộc đấu tranh của sinh viên học sinh. Nhận thấy có tranh luận cũng vô ích, Tấn cũng làm thinh không nói gì. Chàng thì lập trường đã khá rõ, nhưng thủ khẩu như bình. Lâu nay chàng hợp tác với nhóm tuần báo An Lạc của Thượng tọa Thích Thông Bửu ở chùa Quán Thế Âm. Nhiều kí giả, văn nghệ sĩ kháng chiến cũ đã tập họp nhau trên diễn đàn này: Phương Đài, Xuân Sơn, Chinh Văn, Nguyễn Hữu Ba, Nguyễn Bỉnh Tuyên... vận động cho hòa bình, chấm dứt chiến tranh. Vì đã biết nhau ở chùa Từ Đàm- Huế, nên bây giờ thỉnh thoảng chàng hay tới thăm chơi với Thượng tọa Trí Quang, linh hồn của cuộc đấu tranh khởi từ Huế từng đi tới kết cục là lật đổ Ngô Đình Diệm. Hiện ông ở Ấn Quang(1), hàng đệ tử thân tín gọi lóng ông là Già Râu.


Thật không ai ngờ: Chàng, một chú nhóc, con một gia đình nho giáo nghèo ở Thi Phổ trong bão loạn cuộc đời, trong khốn khổ của mưu sinh, lại nổi trôi đến cổng của cái chùa Tàu Huệ Nghiêm bí hiểm này, cùng cư cuối hẻm Hàng Keo vô danh, giờ đây lại rong chơi phóng túng đến thế.


Lui tới với chàng trong ngôi nhà thuê nhỏ bé đó, tất nhiên nhóm An Lạc đang làm việc cho kháng chiến. Còn đám văn nghệ tự do thì tạp pí lù, chẳng để ý mấy tới thời thế. Lâu lâu họ tụ tập uống bia, chửi đổng cả cái chính quyền Thiệu – Kỳ. Họ cũng chẳng mấy thích Cộng sản dù niên trưởng là cụ Vi Huyền Đắc có người con trai đang làm bác sĩ ở miền Bắc.


Cô con nuôi cụ, nữ sĩ Hoàng Hương Trang tuổi vừa hai tám như bọn họ thường đùa, đã đẹp gái, lại hoạt bát, chưa chồng, làm thơ hay, vẽ tranh có cái thần dân tộc. Hôm nào có nàng, ai cũng vui. Nàng hay thả bộ vào chùa, mấy ông sư chệch trẻ lấm lét nhìn, nàng cũng táo tợn liếc mắt đưa tình thử công phu tu hành của họ xem sao, liền được đáp ứng: – Cái lỵ tứi ziếng kỉn chù, xin mừ zào úng mín lức.[1]


Nàng nín cười vâng lời. Nhìn hòn non bộ Huê Nghiêm Tự trước cửa nhà chàng, nàng cảm hứng cất cái giọng phảng phất màu hiu hắt của câu hò mái đẩy, ngâm lên mấy câu mà cả bọn vỗ tay tới muốn sập nhà:


Hòn non đứng giữa sân chùa


Thành vây bốn mặt chỉ chừa tam quan


Sớm chiều chuông mõ râm ran


Ai hay tiếng gió thở than điều gì.


Bác sĩ Lâm thì từ đường Trần Khát Chân, quận 1, qua con đò nhỏ phường 7, Phú Nhuận thả bộ cho giãn chân mỗi chiều ven vùng rau muống và ao cá tra, để tới đây gặp Nguyễn Tấn Dương, cháu cụ Hường Nguyễn Duy Hiệu, Quảng Nam đang làm kĩ sư cho hãng dầu Caltex; luật sư Bùi Chính Thời; nhà văn Hiếu Chân, nhà báo Vũ Ngọc Các là những người liên lạc mật thiết với Thượng tọa Trí Quang. Các vị trí thức này thần phục, trông cậy vào cái vai trò quốc sư của ông Râu trong thế cờ của một mai đây mà họ tin là trước sau gì người Mỹ cũng phải cần đến.


Tất nhiên, mỗi người không ngớt vẽ ra trong trí óc cái viễn tượng đẹp mắt khi cờ đến tay. Họ nuôi một giấc mơ thiệp thế, phỉ chí làm trai. Họ gặp nhau tại nhà chàng, nói chuyện say sưa, mỗi người là một ông Khổng Minh, với một kiểu tạo lập Tam Quốc riêng, nào Cộng sản, nào Quốc gia, nào trung lập, ba nước đàng hoàng cho cái Tổ quốc Việt Nam đang điêu linh cùng cực này.


Ngược lại, Hoàng Văn Giàu, giáo sư ở đại học Huế và Nguyễn Trọng Nho, Đốc sự hành chính, những người trẻ có tham vọng riêng. Họ cho nhóm trên là những chính khứa già cỗi, chỉ mài đít mòn salon, tốn nước trà và nước bọt, không ích dụng gì.


Theo họ, ông Râu là người của Mỹ từ khi ông được Cabot Lodge cho CIA đón vào tòa Đại sứ đêm 20-8-1963, ông có mưu nhưng không phải là người hành động, kiêu căng và cả tin vào đám chân tay phần lớn không tốt. Hoàng Văn Giàu, hồi đi học rất giỏi, môi thâm và mấy đầu ngón tay đóng nicotin vàng khè, người đã cùng Lê Tuyên ầm ầm phát động Mặt trận Nhân dân cứu quốc năm kia (1964) từng làm rúng động cố đô, bị truy nã, trốn chạy vào đây, đang tá túc tại 394 Công Lý, thì rất thân cận với Thượng tọa Thích Thiện Minh, biệt danh ông Lé.


Ông Lé có cặp môi và những móng tay giống Giàu, hơn Giàu ở đôi mắt lé, theo thuật xem tướng bình dân Việt Nam thì là loại người mà ai gặp cũng phải cảnh giác Thế gian nhất lé nhì lùn. Nhưng chàng thì không. Vì chàng có bà chị họ xa, năm ấy ngoài ba mươi, nhan sắc mặn mà. Khổ nỗi ông chồng vừa sợ vợ, vừa bất lực mà bà thì đang độ tràn đầy sinh lực, lại là Phật tử thuần thành, mỗi đêm không đến lễ chùa ông Lé thì không tròn mối đạo. Kết quả, năm ấy bà cho ra đời một con bé kêu chàng bằng dượng giống ông Lé không có chỗ nào chê. Chàng đến chơi ông được ông đón tiếp thật niềm nở. Tuy chàng vẫn xưng hô thầy – tôi, nhưng đối xử thân tình như em vợ. Ông đánh cờ rất cao, cao hơn ông Râu nhiều. Lại oái oăm làm sao, chàng thân thiện với cả hai, trong âm sắc lời nói chàng nhận ra cặp mắt lé và hàm râu rậm, dù được cạo nhẵn, ngấm ngầm không thích nhau. Tới thăm vị nào thì điều tối kị là không được để lộ cho vị ấy biết rằng mình có liên lạc với bên kia.


Còn Thiếu úy Chương, một học trò cũ của chàng, dở dang đại học, bị bắt lính đeo lon sĩ quan trù bị, một anh chàng nhỏ thó lại viết nhiều sách võ thuật được hâm mộ, đã nhờ thầy Tâm Giác xin cho về làm trong văn phòng Nha Tuyên úy Phật giáo mới được thành lập mà thầy là Đại tá Giám đốc thì dĩ nhiên, Chương hết mình binh rập thầy Thích Tâm Châu, Viện trưởng Viện Hóa đạo. Bấy giờ Thượng tọa Tâm Châu cùng các sư Bắc di cư như thầy Đức Nhuận, Đức Nghiệp, Giác Đức, Quảng Long còn ở chung tại chùa Giác Minh đường Phan Thanh Giản.


Chương nói:


Thầy Tâm Châu đáng là đệ nhất công thần của Phật giáo trong sự nghiệp đấu tranh chiến thắng nhà Ngô.


Chàng thầm nghĩ: Đúng là ngôn ngữ của con nhà võ. Nhưng anh này ốm như cây sậy, thần công lực chắc chỉ vài giây chứ không thể hàng mấy chục năm như các cao thủ trong tiểu thuyết kiếm hiệp. Người càng bé thì mồm càng to, luật thừa trừ mà. Chương tiếp:


Thầy Tâm Châu bình dân lắm, bất cứ ai đến thăm cũng được thầy thăm hỏi mời cơm tử tế. Chỉ phải cái tội thầy chống Cộng tới chết bỏ. Hồi còn ở ngoải(1), đã cùng cha Hoàng Quỳnh lập chiến khu đó. Hai bên thân nhau lắm.


Có lần, để tìm hiểu, chàng đã cùng Chương tới Giác Minh. Quả nhiên, sau khi được Chương giới thiệu là thầy học cũ của mình, thầy Tâm Châu vồn vã thăm hỏi, còn giữ chàng ở lại cùng thọ trai. Chàng được quen với các thầy Đức Nhuận, Giác Đức, Quảng Long cũng từ đấy.


Vợ chàng đang bay bổng trên mây về quê chịu tang, thì vắng chủ nhà gà bươi bếp, chàng vừa nhảy tửng vừa hát: ... la chate est sortie, les souris dansent...


Đám bạn Dũng, Nam, Trang ùa tới. Từ ngoài ngõ, họ đã ồn ào: – Thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy! Quân Thiệu– Kỳ đã tới biên thùy, chỉ cách kinh kì ba kí lô mét... ca rê!


Chàng chạy ra:


Suỵt, nhà có tang!


– Ai thế?


 – Ông ngoại lũ nhỏ.


Trang vốn là đứa bạo mồm:


Ông cụ hưởng thọ được bao nhiêu? – Sáu sáu. – Vậy là trụ thế hơi dai, nghen. Thời buổi này sống lâu chỉ thêm khổ. Vậy xin có lời chứng mừng quí nhạc gia sớm viễn du tiên cảnh. Bây giờ kiếm cái gì lai rai, ngâm mấy bài thơ mới chơi.


Chàng hỏi:


Tình hình ngoài Huế có gì mà thậm cấp chí nguy vậy?


Phổ Đức tỉ mỉ kể chuyện mới được tin ở quê:


Ông Thi bị cách chức rồi. Viện binh từ Sài Gòn hợp với quân Quốc dân đảng sẽ đánh lớn, quyết đập nát lực lượng võ trang Phật giáo đang kiểm soát Đà Nẵng.


Cụ Vy(1), người lớn tuổi nhất trong nhóm, cực trọng lễ nghĩa, vội xua tay:


Thôi, để khi khác đi. Còn thiếu gì dịp chơi. Gia đình có việc không vui. Vả, có lũ trẻ nữa, phải kính trọng và nuôi dưỡng nơi chúng mối buồn rầu đương nhiên và khả kính của madamme. Về bên tôi nhá bánh mì suông nói chuyện suông.


Rồi cụ Vy bảo chàng:


Ông phải coi nhà thay bà đầm, thắp hương cho ông cụ, ít nhất là hôm nay. Tôi thành thật chia buồn.


Giọng ông thật trịnh trọng, như mệnh lệnh của quá khứ. Cả đám bỗng nhiên nghiêm trang kính cẩn một cách buồn cười. Chàng vâng lời cụ.


Chàng cầm tinh con ngựa, không biết là ngựa chiến hay ngựa thồ, ngựa của người mã phu thời xưa ngày nào cũng phải lang thang trên đường, ăn xong nhúm cỏ là thấy buồn chân phải đi đâu đó, làm cái gì đó một chút thì mới yên phận được. Dặn dò lũ trẻ coi nhà cẩn thận, chàng lên chùa Quán Thế Âm.


Xuân Sơn[2] đã có đấy. Anh nói: – Sao hôm nay buồn thế?


Ông nhạc mất, bà xã về ngoải rồi. Sao tui thấy bồn chồn quá.


Sơn đùa: – Vợ mới đi khỏi có một buổi đã nhớ rồi, vậy mà đòi đi làm cách mạng.


Chàng ngáp dài: – Khỉ mốc, tớ có bao giờ dám nói mình là cách miệng, cách lưỡi gì đâu. Nhưng nghe tin ông Thiệu đang điều quân ra đập đám Phật tử Nam Ngãi, trong đó có vô số anh em mình.


Sơn giật thót mình: – Thật sao?


– Sao trên trời kia, đợi tới ông biết thì toi hết.


Sơn nói: – Tui kẹt tuổi lính không đi đâu được, ông chạy thử lên Ấn Quang xem giùm mấy thầy có chủ trương gì không?


Thế là lịch xịch cái mobillette như con bò già, chàng xuống ngã bảy, quẹo vào đường Sư Vạn Hạnh, leo lầu tìm ông Râu. Ông đang đánh cờ. Cụ cựu đốc học Quảng Ngãi, cụ Nguyễn Đóa vô thăm con, cũng lên muốn gặp thầy nhưng kẹt khách chưa nói năng gì được, tạm ghé mé divan coi ké. Chàng cũng nóng ruột không kém. Lúc chàng vào toilette, cụ Đóa cũng đi theo. Cụ hỏi:


– Sao anh biết tôi?


– Cháu gặp cụ ở nhà thầy Huỳnh Hòa.


– Phải. Anh làm gì trong này?


– Cháu đi dạy. Cháu là em anh Nguyễn Diễn.


– Ai chớ anh Diễn thì tôi biết, các anh kêu quan thủ khoa Phạm bằng ông ngoại.


– Dạ. Thưa, cụ bà con với Thượng tọa? – Không, tôi vào có việc, Phật sự. Nhưng tình hình này có lẽ tôi phải tìm con đường khác, chờ đợi đã mỏi mòn rồi. Đã tuần nay tôi đến đây chỉ để chầu rìa.


Chàng lễ phép gật đầu chia sẻ tâm trạng lo lắng của cụ rồi vào chào Thượng tọa Trí Quang. Thầy vẫn không thèm ngẩng đầu lên:


Có gì không?


Thấy trong phòng đông người quá, chàng đành trả lời:


Dạ, không có gì. Lâu, lên thăm thầy thôi ạ.


Khi ra về, ngoài cổng chùa, chàng gặp Phước, người tự xưng là cháu Thượng tọa đi vào. Anh chàng này miệng hô, mỏ nhọn như chuột, hàm răng cửa thưa rỉnh. Theo phép coi tướng bình dân, mấy anh đó nói dóc dữ lắm. Phước la lên làm chàng cũng muốn hết hồn:


Chào giáo sư, vô Thượng tọa hả.


Rồi không đợi chàng có phản ứng gì, Phước lôi chàng vào con hẻm bên hông chùa rỉ vào tai ra dáng sắp bật mí một tin tức đặc biệt:


Có nghe gì không?


Chàng lắc đầu. Phước: – Dở ẹt. Vậy mà học đòi làm chính chị với chính em. Tớ sắp vào Thượng tọa đây. Bí mật nhé: Ông Thiệu vừa cách chức ông Nguyễn Chánh Thi, đưa Nguyễn Văn Chuân ra. Bây giờ lại mới cho tướng Cần lao Công giáo Huỳnh Văn Cao[3] thay.


Phước đã có cái giọng Huế, mà còn thì thầm lúc to lúc nhỏ, thật khó nghe. Chàng muốn thăm dò nhưng giả bộ không quan tâm, hỏi:


Ông đoán ý Thượng tọa thế nào?


Phước nhanh nhảu, nét mặt rỡ ràng như kẻ được tin cẩn và đắc thắng, chả trách bấy giờ có người nghi là Phước đang làm việc cho CIA:


– Thì phóng lao, phải theo lao. Đưa bàn thờ xuống đường.


– Nhưng hai ông Thiệu – Kỳ đã hứa sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập pháp rồi mà.


– Ý Mỹ nó muốn quấy thêm một chút nữa.


– Để làm gì?


Phước sung sướng cười ha hả, quay đi: – Thiên cơ bất khả lộ.


Tất bật xuống lầu, chàng chạy về Gia Định tường thuật cho nhóm Xuân Sơn nghe. Cả bọn được tin Phật giáo sắp xuống đường lớn ở Sài Gòn, bèn chạy đi tứ tung, vận động quần chúng. Chưa rõ nguồn chủ trương ở đâu, nhưng ai nấy đều tích cực. Bản thân chàng cũng không bao giờ để ý tại sao mình có thể làm ngần ấy công việc mà vẫn sung sức, làm đầy đủ bổn phận… với vợ vài ba ngày một lần, đi dạy kiếm cơm cho lũ trẻ từ sáng đến tối, mà còn đàn đúm với đám văn nghệ sĩ thất thế chờ thời, lại hoạt động trong chương trình công tác hè tài trợ bởi Chính phủ Bắc tiến Nguyễn Cao Kỳ, cũng có lúc thư thả cao đàm hùng biện giữa rừng chính khách salon theo kiểu même picd học đòi từ Nguyễn Thái Sơn. Tối, soạn và chấm bài xong chàng còn chong đèn, mang cuốn L'anglais pratique có dĩa nhựa Grundig học cho đến khuya. Về nhà, chàng rất hài lòng thấy thằng Văn xếp mấy đứa em nó một cách thật nhà binh, ăn uống ngủ nghê đàng hoàng. Sáng hôm sau, chàng dậy sớm đi bộ ra chợ Bà Chiểu, leo lên chiếc xe đò nhỏ Traction avant 15 màu đen sót lại từ thập niên năm mươi đang chạy đường Biên Hòa để tới đó coi thi.


Tháng Sáu mưa mù, chỗ ngồi chật chội nhưng đỡ một cái, hơi lạnh qua đêm còn đọng lại nên không đến nỗi ngột ngạt lắm. Đến cầu Bình Lợi, chàng còn ngái ngủ thì đột nhiên xe dừng lại. Bấy giờ đường xa lộ chưa làm, đây là cây cầu duy nhất thông thương giữa Sài Gòn với miền Đông. Bên này một đoàn cả trăm chiếc GMC quân vận nối đuôi nhau, ưu tiên chờ qua cầu. Đám hành khách trên Traction than trời không thấu, ai cũng kêu ca là công việc mình bị trễ nải. Chẳng tiếc gì miệng, để không cũng uổng, chàng góp phần trách cứ sự hoành hành của đám nhà binh. Phải mất một tiếng đồng hồ sau, chiếc Traction lại mới lăn bánh. Dĩ nhiên là chàng tới trường Ngô Quyền, Biên Hòa rất trễ.


Giám thị vào các phòng đã được bố trí, đề thi đã được xé, lớp nào cũng im phăng phắc. Thí sinh chăm chú làm bài, chỉ nghe tiếng ngòi bút sột soạt chạy trên giấy và tiếng ho hen bí rị của những chàng lười biếng. Khi được chàng nói lí do tới trễ, vị Phó chủ khảo phụ trách trung tâm rất mực thông cảm: – Thời buổi chiến tranh mà, quân đội là vua. Thôi, anh chịu khó coi giúp trật tự ngoài hành lang này. Vừa nói, ông vừa đưa tay chỉ cho chàng dãy nhà tôn phía trong.


Chàng cảm ơn, sửa lại cái cà vạt cho ngay ngắn, tiến về hướng đó. Phòng thi đầu có một cô giáo trẻ, trong màu áo dài trắng thanh nhã đang coi. Da nàng trắng nõn, mắt đen láy, tóc uốn thành lọn dịu dàng buông xuống hai bên má của khuôn mặt rất dễ thương. Làm giám thị hành lang, đi ngang qua lớp, chàng nổi cơn chọc phá, nhìn nàng đăm đăm. Cô gái độ hăm ba hăm bốn cũng chẳng vừa gì. Nàng ta đáp lại, cũng ngó chàng chòng chọc từ đầu tới chân. Chàng mỉm cười theo. Chết rồi, chàng tự nhiên thấy tia nhìn đó sóng sánh, làm người ta ngất ngây. Rồi thôi.


Trưa, khỏi phải trở lại phòng Hội đồng, chàng ra hàng quán trong chợ kiếm một dĩa cơm gà, tự thưởng mình một chai xá xị. Ủa, sáng ra thì lạnh mà giờ thì nắng gắt, nóng quá. Chàng hỏi anh xích lô: – Có chỗ nào mát không chú? – Ra vườn ổi. – Bao nhiêu? Đến đây anh mới tỏ ra lễ phép:Dạ, thầy cho năm đồng. Hồi ấy, gạo năm trăm đồng một tạ. Chàng lên xe. Nắng chang chang càng làm cho vườn ổi trở nên râm mát. Quái lạ thay, vào tới chỗ bán nước dừa, chàng gặp nàng ở đó. Tất nhiên họ chào hỏi nhau niềm nở. Chàng mời nàng giải khát. Nàng nhìn chàng chăm chú:


– Tôi thấy như đã gặp anh ở đâu rồi. Chàng đùa: – Chắc là kiếp trước. – Vậy anh cũng theo đạo Phật à? Chàng lại ghẹo: – Nhưng tôi khẩu xà(1). Nàng cười ngặt nghẽo: – Càng tốt, miễn tâm Phật thì thôi. – Cái đó khó lắm, tôi hay mê gái. – Nhưng tôi đã là bà rồi, đâu còn con gái nữa? – Suỵt, lại nói xạo rồi. Ngón tay đeo nhẫn còn trống trơn thế kia. Nàng ngượng nghịu chữa thẹn, và bỗng như nhớ ra điều gì: – A, nhớ ra rồi. Anh là N.H.M, trong cuốn Những nhà thơ hôm nay của Minh Huy. Anh có hình đăng trong đó, đẹp trai à nghen. Chàng buột miệng khen: – Cô giỏi lắm. Tôi xấu như ma lem. Chắc là thích thơ lắm. Dạy gì ở Hồ Ngọc Cẩn vậy? Bây giờ tới lượt nàng ngạc nhiên: – Sao biết? Chàng vẫn lém miệng: – Đã nói gặp nhau từ kiếp trước mà. Hồi đó cô là Ngọc Nữ, tôi làm Kim Đồng lỡ đánh rơi chén ngọc bị Trời đày xuống đây, tôi dạy Chu Văn An, nàng Hồ Ngọc Cẩn.


Nói dóc vậy thôi, hồi sáng sau khi được nàng mỉm cười làm quen, chàng về phòng Hội đồng thi, dò danh sách giáo sư giám thị phòng 24, liếc đọc bản phân công: Nguyễn Thị Thanh Quan, Hồ Ngọc Cẩn. Tên vị giám thị thứ hai khỏi cần biết. Và nàng trìu mến nhìn ngón tay áp út trái của chàng: không có bằng chứng về một cuộc hôn nhân nào hiện diện ở đó. Chàng hỏi: – Trong mấy bài thơ của anh đăng trong đó, em thích bài nào nhất? Dìu dịu và êm thấm, họ thay đổi cách xưng hô lúc nào không hay, một mùi hương nhẹ nhàng tỏa ra từ mái tóc nàng. Nàng nhìn một làn mây trắng đang bay trên nền trời kể lể:


Cha em cũng là thầy giáo. Mẹ mất sớm, cha muốn em theo nghề của ông cụ. Ông nói: Đi dạy thì thanh bạch nhưng gửi được cái phước nơi các thế hệ học trò. Cho nên em theo Sư phạm Việt Hán và rất mê thơ. Thi tuyển nào em cũng có, đầu tiên là Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Năm bài của anh được Minh Huy trích, em thích nhất là Không có em. Hình như anh muốn trả lời cho Nguyên Sa phải không?


Rồi không chờ chàng trả lời, nàng đọc bài thơ nổi tiếng của vị giáo sư triết học tốt nghiệp Sorbonne này:


Không có anh, ai đưa em đi học về


Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa


Những lúc em cười trong đêm mơ


Ai ngồi nhìn những đường răng em trắng?


Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh


Lúc trăng mờ, ai thở để sương tan.


Ai cầm tay cho đỏ má hồng em


Ai thở nhẹ để mây vào trong tóc?


Không có anh, nhỡ một mai anh chết


Thượng đế hỏi anh sao mắt em buồn


Anh sẽ phải cúi đầu đi vào địa ngục...


      Tới bài thơ của chàng, nàng nhìn bốn bên, thấy vắng vẻ, bèn ngâm:


... Không có em, khi lá rụng hoa rơi


Thì anh biết lấy gì mà thương tiếc


Cuộc đời đó trong mắt em xanh biếc


Gió mùa xuân, vi vút tiếng thông reo...


Chàng cảm thấy mình tràn trề hạnh phúc. Chao ôi, giữa cõi đời này, ra vẫn có người đọc thuộc những vần thơ vô dụng của mình. Cám ơn nàng, chàng thầm nghĩ. Nhưng đã đến giờ thi buổi chiều, họ phải trở về với cái công việc nhàm chán nhưng nó đem cơm gạo tới. Hai chiếc xích lô dừng lại cổng trường cho họ cùng xuống, chàng nhanh nhảu trả tiền, hỏi: – Chiều nay em về bằng gì? – Chắc cũng như anh, xe đò. – Thế chúng mình hẹn nhau ở bến nhé. – Vâng.


Hoàng hôn ngày ấy, nắng vàng rực rỡ. Họ ngồi bên nhau chật như nêm trong một chuyến xe hàng. Lại qua cầu. Trời tối mịt, chàng hôn lên mắt nàng. Đôi môi họ tìm nhau giữa những ánh sao không hắt nổi vào khoang chiếc xe đêm chật chội và tiếng cười nói huyên náo của những người buôn chuyến. Về sau, nàng nói đó là nụ hôn đầu nàng trao cho một người khác phái. Lãng mạn thật. Đỗ bến Ngã bảy, chàng theo tiễn nàng trên xích lô tận cổng, 264 Cô Bắc, con đường từ nay với chàng mở ra một trang mới trong sự hiểu biết Sài Gòn mà tám tháng qua chàng chỉ lui tới những chỗ rất chùa chiền, rất văn nghệ văn gừng, chưa đi sâu vào những ngõ ngách của nó.


Suốt gần hai tuần coi và chấm thi, họ không rời nhau nửa bước. Trưa, trên chiếc Vélo Solex của mình, nàng thồ chàng từ trường Pétrus Ký vô Chợ Lớn ăn cơm gà Hải Nam ở góc Tổng đốc Phương – Nguyễn Trãi. Chàng thích món ớt tươi dầm dấm tới độ chú bé con bồi bàn ở đấy, mỗi khi thấy bóng dáng cặp tình nhân này đến là chú mỉm cười mang ra sẵn một chén to. Chàng nói đùa: – Cái này khỏi trả tiền nên tôi mới dám ghiền, ăn thả cửa. Chú nói: – Nhìn hai vợ chồng cô chú, cháu thấy vui quá. Nàng thẹn đỏ mặt nhưng không cải chính. Sáu, bảy giờ tối, họ hay ra công viên Nguyễn Hoàng ngồi hóng mát. Có hôm mưa chạy không kịp, họ vào các mái hiên gần đấy nép vào, truyền hơi ấm cho nhau. Đêm nào cũng chín, mười giờ tối mới mò về, chàng nói dối vợ là phải đi dạy thêm. Được cái nhờ còn trẻ và khả năng trời cho, chàng không lơ là nhiệm vụ làm chồng, người vợ gái hăm bảy bẻ gãy sừng trâu luôn được hoan lạc thỏa thuê, nên không chút nghi ngờ... Trong lúc làm tình, chàng luôn tưởng tượng đến nàng, cảm xúc vì thế được nhân lên, vợ cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng mình được yêu đương thỏa mãn đến thế.


Tối thứ Sáu, trên băng đá công viên, núp sau bóng một hàng cây còi rậm rạp, họ hôn nhau đắm đuối, nàng áp cặp nhũ hoa nóng hổi của mình vào ngực chàng nói như mê man:


Mấy đêm nay, quen hơi hướng anh rồi, về ngủ một mình em nhớ quá, trằn trọc mãi. Mai xong chấm thi rồi, mình đi Vũng Tàu chơi đi.


Chàng gật đầu, vục mũi vào chiếc cổ trắng ngần sau làn tóc rối thoảng hương hoa lài của nàng, hít một hơi dài như cả thế kỉ, rên lên sung sướng.


Lại đặt điều với vợ con phải công tác xa, chàng bỏ bộ pyjama vào chiếc túi vải, làm bộ phàn nàn: – Đồng lương chẳng bao nhiêu mà còn bày đặt bắt đi chỗ này chỗ nọ. Vợ chàng thương hại an ủi: – Mình vì vợ con phải chịu khó thôi. Nhịn yêu em một bữa, về, em thưởng gấp đôi. Chàng hôn đánh chụt lên má vợ, nhảy như con sáo ra đường.


Đến Vũng Tàu, họ mướn phòng ở khách sạn Lệ Diệp. Khóa cửa lại, họ như hai con rắn quấn lấy nhau, hổn hển thèm khát, yêu nhau như giông bão. Người con gái trinh tiết đau đớn và khoái lạc tột cùng, nàng khóc vì sung sướng: – Anh ơi, xin đừng bao giờ bỏ em! Chàng rơi nước mắt đầm đìa, thành thật thấy mình lừa dối nàng. Phải, nàng không cần biết gì về người mình yêu và đã cho người ấy tất cả. Nàng nằm đấy, trần truồng, đôi mông no tròn, cặp đùi thon dài tuyệt mỹ, núm vú đỏ hồng nhô lên giữa hai đồi núi tuyết, mắt nhắm nghiền, toàn thân run rẩy trong vòng ôm siết chặt của chàng, rồi thiếp đi, tin tưởng, mãn nguyện. Càng ngắm cái thân thể trắng mịn, tinh khiết đẹp vô ngần kia mà mình vừa giày vò, hưởng thụ sung sướng tới xót xa từng thớ thịt, chàng ăn năn đã xúc phạm nàng, tự nguyền rủa mình: Thế mà, hỡi con chó tên H. kia, mày đem cái hư danh nhà thơ của mày nỡ lừa dối một quả tim trinh bạch. Có xứng đáng với tình yêu của Thanh Quan trong trắng đó không?


Bỗng, nàng chợt tỉnh. Thấy má chàng ướt đẫm, nàng hốt hoảng lấy mùi xoa của mình chậm từng giọt một, rồi đưa lên môi liếm sạch. Nàng nói:


Đây, những hạt ngọc của anh, còn quý hơn những dòng tinh trùng vừa chảy vào người em, làm mất đời con gái của em và cũng cho em lần đầu tiên biết được mùi đời, để thấy được rằng đau khổ chính là khoái lạc. Em nhớ, không biết có đúng không, đoạn cuối Tây Sương Ký than vãn bằng mấy câu của Thôi Oanh Oanh:


Rẻ rúng thôi đành phận


Van lơn nhớ buổi đầu


Xin đem lòng lúc trước


Thương lấy kẻ về sau...


Cái ngày thứ Sáu mười ba đó đã đến với em. Em vừa tròn hăm lăm, được bao kẻ theo đuổi, nhưng em không nhìn thấy người ta. Chính hôm đầu tiên gặp anh, em đã thấy vì sao định mệnh của mình. Bóng anh vừa ló dạng ở đầu hành lang, em như bước ra từ cơn mơ để tỉnh thức bắt gặp nửa thứ hai của mình, một kẻ đến lúc ấy còn vô cùng xa lạ, vô danh, chẳng có gì đặc biệt giữa đông đảo đồng loại của em. Mong rằng anh sẽ tiếp tục là cet inconnu(1)để chúng ta sẽ không bao giờ làm khổ nhau. Chắc rằng có những nỗi niềm riêng đã làm anh luôn trăn trở khác với cái bề ngoài nói cười hể hả vô tư của mình. Tối đó, chưa được anh cho thi tập Mười năm, nhưng em đã ngủ với anh: Em đọc thật kỹ năm bài thơ đã được Minh Huy trích trong đó. Em ôm vào lòng mình những xót xa của anh. Em chia sẻ số phận với anh trong Dòng sông(2). Em nhận ra tình yêu của anh trong Ngủ yên(3). Kẻ như anh dù có yêu một trăm người đi nữa thì cũng như khắc tên họ vào trái tim bằng đá cứng, tồn tại mãi với thời gian, có lẽ cả sau khi anh chết. Em chẳng có mấy kinh nghiệm về cuộc sống, càng chưa hiểu biết chút nào về yêu đương. Anh đã đánh thức em. Em phải thuộc về anh. Anh hãy khóc đi, khóc như mưa nguồn bất tận lụt lội cả trần gian và kiếp người của đôi ta đi. Em không muốn vô ngã hóa mình bằng con đường diệt dục của các đạo sĩ, mà ngược lại, muốn vĩnh cửu hiện hữu...


Nàng nói như đang được một đấng thiêng liêng nào nhập vào thuyết giảng. Lời nàng như hơi gió ấm thổi khô dòng lệ của chàng. Chàng vít mặt nàng xuống hôn thật sâu vào đôi mắt xanh huyền hoặc, ngâm lên:


 


Mắt em xanh màu đại dương


Tôi nguyền sống mãi cõi vô thường


                                                               (Thơ N.H.M)


Nàng sung sướng tột độ. Họ lại quấn lấy nhau, lại mây mưa chìm đắm, suốt ngày chẳng màng ăn uống. Hình như cùng lúc ấy, bên ngoài trời cũng đổ mưa. Mưa to, từ một cơn bão rớt ở đâu về:


Trời đất quay cuồng đến Ngũ tướng.


Gió mưa đêm nửa mả Ngô vương(1).


Cặp tình nhân pêđê Thánh Thán, Mao Tôn Cương viết cho nhau như thế. Nửa đêm chàng tỉnh thức, nàng vẫn còn mê man giấc điệp giữa bao nhầy nhụa gối chăn. Bật ngọn đèn ngủ ở bàn viết, chàng hí hoáy trên trang giấy, bài thơ sau này hiện diện trên nhiều tuyển tập trong và ngoài nước:


Bài ca Lệ Diệp(2)


Nằm đây cùng đếm mưa rơi


Đố em biết hạt mưa trời về đâu?


Về đâu bóng ngựa đêm thâu


Chân què khập khiễng vó câu hoang tàn!


Đường thì dài hút thời gian


Đừng buồn số phận, đừng than kiếp người


Này em! Hãy hé môi cười


Cho tê điếng thịt, cho tươi xuân hồng


Ô! Sao em bỗng khóc ròng


Phải chăng khoái lạc gốc cùng khổ đau?


Chúng mình định mệnh vào nhau


Bằng bao hạnh phúc, bằng bao ngậm ngùi


Ví đời toàn những phút vui


Thì trăm năm, cũng thế thôi, lạ gì.


Giếng xưa rủ bóng bờ mi


Hàng tre quá khứ thầm thì nghiệp duyên


Bao giờ trăng rọi cửa Thiền


Cho anh đốt tóc soi lên kiếp người


Bây giờ tất cả ngược xuôi


Tránh sao cho được cái tôi ngục tù


Soi gương này một sáng thu


Sao anh chỉ thấy phù du chúng mình[4]


Nàng trở giấc, vẫn không mảnh vải trên người, rón rén đến bên chàng, mùi hương tới trước, bịt mắt người yêu: – Ai đây? – Cái bóng của anh, cưng ơi! Liếc đọc bài thơ, nàng nói:


– Dở ẹc, của chồng em, không ai khác được khen à nghen. Nhưng cho em đặt lại đầu đề và viết lời tựa cho nó. Đầu đề một bài thơ mà còn phải có lời tựa nữa ư?- Chàng toan há mồm thì bị nàng khóa ngay nó bằng một cái hôn: Mở miệng ra là em cắn đứt môi nghen. Em độc tài lắm. Thay vì Bài ca Lệ Diệp phải đổi làm Chiều thứ tư (quatrième dimension) nghe không? Còn lời tựa là như thế này, bao giờ xuất bản phải in nghiêng, chữ italique cẩn thận, trái lời là xử trảm bằng cách buộc làm tình cho tới chết, nghe không tử tội?


Tựa như vầy, nàng viết nguệch ngoạc một bên trang giấy:


Xưa có một người đi tìm đạo. Y băng qua biết bao cuối bãi lưng đèo, bụi đường bám đầy cả hành y. Cuối cùng y bắt gặp Tôn sư ngồi trên thạch động. Sau khi kính cẩn nghiêng chào, y vào hậu viện mượn gáo múc nước rửa mặt, nhưng vừa cúi soi thấy bóng mình trong lòng giếng, y hoác nhiên đốn ngộ. Ta nhiều đêm nhìn về tiền kiếp nhớ y và làm bài thơ này.


Nàng lia cây bút như một kiếm khách đã thề không hành hiệp nữa, quăng thanh Long Tuyền của mình vào đống củi khô. Nàng ra lệnh:


– Yêu em nữa đi. Cho tới chết thôi. Gặp được anh. Biết mùi đời rồi. Sống thêm chỉ là thừa.


Chàng xốc bế nàng thả lên giường, họ lại lăn lộn trong chìm đắm, tê điếng rên xiết trở về với bản năng nguyên khai truyền thống mà Thượng đế đã ban cho, khoái lạc mịt mù.


Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nơi hạ giới.


Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn,


Chàng thấm thía làm sao, hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương, ông bạn vong niên tâm đắc duy nhất của chàng lúc ấy ở trường Chu Văn An. Không chết ai hết. Họ vẫn sống nhăn răng, mãnh liệt hơn nữa là khác, và họ phải trở về với đời thường. Chàng, nàng phải dạy kiếm cơm, kiếm thêm chút nữa phục vụ cho những cuộc mây mưa bất tận, tiền phòng khách sạn, tiền trứng gà ốp la tăng sinh lực, tiền thuốc Hải Cẩu bổ thận hoàn Võ Văn Vân chư tôn quan cố, nhớ nhìn cho kĩ, nhãn hiệu thằng nhỏ che dù như lời quảng cáo. Lạ nhất, chàng không hề chểnh mảng những công việc khác như đàn đúm văn nghệ hay tham gia với Phật giáo trong mọi hoạt động chống Thiệu – Kỳ – Có, lên đường xuống phố liên miên ở Ngã bảy, nhất là quanh khu vực chùa Ấn Quang. Cảnh sát dã chiến, đơn vị mới thành lập, được dịp bận quần áo rằn ri, mang mặt nạ, tấn công bắn lựu đạn cay mù mịt. Hàng phố cửa đóng im thin thít. Có hôm, trời mưa lớn, ở đường Sư Vạn Hạnh nước lên quá gối, đã hơn mười giờ khuya, chàng còn bì bõm lội, như cái bóng ma, để vào chùa nhận những lời rỉ tai.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








(1) Quận 10, Sài Gòn.




[1] Anh (chị) tới viếng cảnh chùa xin mời vào uống miếng nước.


 




(1) Ngoài Bắc, trước 1955.




(1) Cụ Vy: tức cụ Vy Huyền Đắc.




[2] Bấy giờ ở chùa Quán Thế Âm. Sau 1975 là Bí thư phường quận 1.


 




[3] Tên hai thiếu tướng từ Sài Gòn ra Bình Định, Đà Nẵng, 1966.


 




(1) Khẩu Phật, tâm xà.




(1) Thuật ngữ triết học hiện sinh L'homme, cet inconnu.




(2), (3) Tên 2 bài thơ trong tập Mười năm của chàng.




(1) Thơ Thánh Thán.




(2) Tên khách sạn họ ở.




[4] Bài này in trong Những khuôn mặt thơ mới, NXB Thanh niên, 1954.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »