tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19731282
03.01.2009
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (22)

KHÓC EM GÁI (Hai bài)


*Bài 1


Tuổi mẹ đà cao, nhà cũng nghèo


Em sinh mới được nửa ngày trời


Sanh ly tử biệt đau lòng lắm


Mưa gió ba năm đứt ruột thôi


*Bài 2


Vườn xưa xa cách nước vây quanh


Bỗng thấy em đang đứng cạnh mình


Thảng thốt u hồn lên tiếng gọi


Đèn tàn không đỏ, ánh trăng tan


 


THU KHÔNG TRĂNG


Thu đến lẽ thường trăng sáng hung


Lòng vui thưởng thức tiết trời trong


Quảng Hàn sao nỡ không đèn đóm


Một mảnh lung linh cũng giấu luôn


 THƠ GỞI HOÀNG TỬ ĐÊM THẤT TỊCH(7-7) (Hoàng tử cho vời mà không đi dự được)


Xa xa Chức Nữ vượt Ngân Hà


Tơ nhện cầu ô giọng hát ca


Xin chúc đêm nay vui gặp mặt


Mong cho dự hội đông người ta


ĐI CHƠI THUYỀN


Mấy tháng nay rồi nhớ cảnh sông


Một bầu cây cối nước mênh mông


Thuyền con vượt thoát đời đô hội


Núi sát hai bờ bạn thủy chung


 


ĐI ĐƯỜNG (Ba bài)


*Bài 1


Đường đi hiểm quá! mở lâu không?


Một sớm quân ta rải khắp đồng


Lùng khắp hang sâu cùng đỉnh nhọn


Đang mù bỗng chốc hóa nên tron.g


*Bài 2


Vòng vo đường sá thế vu hồi


Núi tiếp liền nhau mỏi mắt thôi


Sông suối nước mình đây nhẵn cả


Mặt trời ló dạng phía đông rồi


*Bài 3


Biết bao núi dựng biết bao sông


Vòng hết bên tây lại quẹo đông


Có lúc như từ trời bước xuống


Mây xanh đụng phải gót bàn chân


ĐỀ VỊNH MƯỜI HAI BỨC TRANH CỦA
NỮ SĨ NGÔ MAI THÔN (Năm bài)


THUYỀN NAN


Trữ La xóm lụa đã từng sinh(1)


Cô gái làm cho nước Việt vinh


Có phải tình xưa không dứt được


Việc xong du lãm Ngũ Hồ xinh


NGU CƠ


Bốn mặt quân vây, tiếng Sở ngâm(2)


Hạng vương cùng khốn bị cầm chân


Thương thay người đẹp sau màn trướng


Một nhát gươm đưa vẹn với chàng


 


LÒ RƯỢU(1)


Phòng không có gái dở dang duyên


Rầu rĩ làm cho cảnh cũng buồn


Gá với trai nghèo song học giỏi


Thương chàng đâu kể chuyện hèn sang


PHẤT TRẦN


Giữa cảnh trần ai lấy Vệ công(2)


Tùy Dương có mắt cũng như không


Theo chàng đâu ngại đời sương gió


Là khách hùng anh, gái má hồng


NHẬN QUÀ(1)


Nước loạn một mình tạm lánh thân


Nhờ trang nhi nữ rộng lòng nhân


Bao đêm thao thức hồn quê cũ


Hàng xóm ra công giúp mấy lần


 


TÂY THI(2)


Cuộc chiến thua Ngô, hận chửa nguôi


Cô Tô đài đẹp xứng nàng thôi


Vốn nghề dệt lụa nhiều tinh tế


Chẳng thẹn ngàn sau tiếng đãi bôi


 


CHIÊU QUÂN(1)


Một mình ngàn dặm việc hòa nhung


Duyên số, nào đâu tại họa công


Sửng sốt mặc vua, em giã biệt


Còn hơn quạnh quẽ mãi thâm cung


 


TRÁC VĂN QUÂN(1) (Hai bài)


*Bài 1


Dáng đẹp mày xinh vượt lắm nàng


Lại thêm tài khéo, Trác Văn Quân


Nếu xưa không chịu theo Tư Mã


Thì suốt ngàn năm chẳng phải bàn


*Bài 2


Chỉ duy sắc đẹp đủ vui đời


Lại giỏi đàn thơ được mấy người


Nước Thục quả nhiên sinh tố nữ


Để làm bầu bạn với Tương Như




 


TỪ BIỆT VỢ


Làm cứng khăng khăng bảo có chi


Yêu kiều đôi má, lệ lưng mi


Lên đường nên tránh gây bi lụy


Sao khỏi buồn thương lúc biệt ly


VỊNH SỬ


Trả thù, Phạm Lãi soạn mưu sâu(1)


Ngũ tướng ra rìa mới thật đau


Ngô mất vì không dùng tướng giỏi


Phải nào riêng chỉ mỹ nhân đâu


BẮT CHƯỚC CAO THANH KHÂU ỨNG CHẾ HAI MƯƠI BÀI VỊNH SỬ


YẾN ANH(1)


Thờ chúa trung trinh chỉ một lòng


Cho nên vinh hiển được như ông


Khê điền xứng đáng phong Ni phụ(2)


Thù, Tứ ai nghe mộc đạc không?(3)


THƯƠNG ƯỞNG(4)


Biến pháp phò vua chuyện cách tân


Muốn làm Tần mạnh, suýt vong Tần


Nát thây xe cán bao oan nghiệt


Trời phạt người bày chuyện bất nhân


 


TRƯƠNG NGHI, TÔ TẦN(1)


Các nước vương hầu rộn tiếp nghinh


Chỉ bằng múa lưỡi thuyết tung, hoành


Đều thầy Quỉ Cốc mà ra cả


Sao chỉ còn đây chuyện vợ con.(2)




LẠN TƯƠNG NHƯ(1)


Hơi đâu tranh cạnh với Liêm Pha


Dám mắng Tần vương giữa triều ca


Chiến Quốc vang lừng danh đại nghĩa


Người xem việc nước trước tình nhà


BÌNH NGUYÊN QUÂN(2)


Chiêu hiền nổi tiếng sợ không toàn


Mao Toại, Tiết công thật giỏi giang


Còn lại toàn người không đáng kể


Lỡ cười, đành đoạn giết giai nhân.


 


PHẠM TUY(1)


Áo đũi người xưa nặng cựu tình


Một đời ân oán rất phân minh


May thay tai nạn đều qua hết


Thái Trạch bàn giao nhẹ việc mình


PHẠM TĂNG(2)


Vẫn biết Lưu Bang mạng đế vương


Mà theo Sở Bá tính tranh cường


Hồng Môn hội yến hao tâm lực


Chẳng trách người chê lão dở ương


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Trữ La: tích Tây Thi, vốn là cô gái đẹp thôn Trữ La, nước Việt. Trữ La bên giòng sông Hoán vốn là làng nghề dệt lụa. Vải lụa khi nhuộm xong phải đập xả, nên xóm lụa thường nằm sát bên sông, mỗi sáng sớm các cô gái đập xả, tiếng chày đá vang vang trên một đoạn sông, tạo nên quang cảnh rất đặc thù. Tây Thi được tuyển vào cung nước Việt, rồi gả cho vua nước Ngô. Vua Ngô mê đắm Tây Thi, bê trễ việc nước, bị quân Việt đánh bại. Xong cuộc chiến, trả được thù nước, Tây Thi với chiếc thuyền nan, rời bỏ kinh thành sống ở vùng Ngũ hồ.




(2) Sở ca: tích Trương Lương cho làm bài ca giọng điệu sầu thảm nhớ quê hương nước Sở, hát lên cho quân Sở đang bị vây nghe. Quả nhiên, quân Sở nghe ngâm bài ca ấy thì tinh thần rệu rã bỏ ngũ trốn về, khiến cho quân đội của Hạng Vũ, phần đông người Sở, bị tan rã hoàn toàn.




(1) Lò rượu: Trác Văn Quân con của phú hào Trác Vương Tôn, chẳng may góa chồng khi còn trẻ. Nàng yêu Tư Mã Tương Như, chàng trai tài hoa nhưng nghèo. Vì cha nàng không đồng ý, hai người mở lò nấu rượu để kiếm sống.




(2) Vệ công: tức Lý Tịnh thời Tùy, khi còn là chàng trai nghèo có chí hướng đến xin gặp quan Tư đồ nhà Tùy là Dương Tố (Tùy Dương) để trình bày kế sách ổn định đất nước. Dương Tố hờ hững tiếp, trong khi cô gái cầm phất trần hầu quan thì để ý đến chàng trai tài tuấn. Đến tối, nàng tìm đến nơi Lý Tịnh rồi bỏ trốn đi theo chàng trai. Về sau Lý Tịnh phò nhà Đường đánh bại nhà Tùy, làm đến chức Vệ Quốc công




(1) Nhận quà: Tích Đồng Quốc Độ thời nhà Tống, đỗ tiến sĩ làm quan. Bấy giờ nhà Tống bị phương Bắc đánh chiếm, ông bị thất lạc gia đình, một mình lánh nạn nơi đất khách xa xôi, kết thân với một người hàng xóm làm chủ quán trọ. Vị nầy tổ chức cưới vợ lẽ cho ông, ngừơi vợ lẻ giỏi giang và tốt, cuộc sống đầy đủ hạnh phúc, nhưng ông vẫn luôn nhớ về quê cũ. Người chủ trọ, ra sức dò tìm quê ông rồi đưa ông về. Khi ra đi, người vợ lẽ tặng ông hộp quà, dặn kỹ ông là hộp đựng chiếc áo nàng tự tay may cho ông, tuyệt đối không được tặng hộp cho bất cứ ai. Ông về quê, gặp lại gia đình, trong hoàn cảnh quá khó khăn, không còn gì để sinh sống. Ông bàn với vợ mở hộp lấy áo đem bán. Hóa ra áo giắt rất nhiều vàng lá, nhờ đó gia đình ông có được đời sống được ổn định. Người hàng xóm ấy lại còn đưa người vợ lẻ đến sum họp. Cả đại gia đình đoàn tụ vui vẻ.




(2) Tây Thi: Cô gái đẹp nhất nước Việt. Vua Việt là Câu Tiễn thua trận phải ở tù nước Ngô. Sau khi được thả về, ông nuôi chí phục thù, tuyển Tây Thi, cô gái dệt lụa, đưa về dạy dỗ, rồi hiến cho vua Ngô là Phù Sai. Phù Sai mê đắm, cho lập đài Cô Tô lộng lẫy để ở với nàng. Câu Tiễn thừa khi Phù Sai sơ hở, đánh một trận diệt nước Ngô




(1) Chiêu Quân: tích Chiêu Quân cống Hồ. Nàng đẹp, nhưng không chịu lo lót cho họa công, nên tranh chân dung nàng bị họa công vẽ xấu hơn người thật, vua không đoái hoài. Trong trường hợp như thế thì người cung nữ chỉ còn phải sống hiu quạnh rồi chết già chốn thâm cung mà thôi. Đang khi ấy, vua Hung Nô là Thiền vu Hô Hàn Tà đem quân xâm lấn bờ cõi. Triều đình bàn mưu gả một cung nữ giả làm công chúa để cầu hòa. Vua chọn theo tranh vẽ, lại trúng nàng Chiêu Quân. Khi làm lễ tiễn nàng đi Hung Nô, vua thấy mặt mới biết là nàng xinh đẹp hơn hết thảy. Nàng được vua Hung Nô sủng ái.




(1) Trác Văn Quân: là một phụ nữ tài sắc người nước Thục (Tứ Xuyên), con nhà giàu có lại sớm góa chồng. Tư Mã Tương Như một chàng trai nghèo nhưng giỏi thơ đàn, tác giả bản nhạc Phụng Cầu Hoàng trứ danh. Tương Như còn là người làm bài phú hoàn chỉnh đầu tiên trong Văn học sử Trung Quốc. Vì cha nàng không đồng ý cho hai người lấy nhau, nên hai người mở quán rượu mưu sinh. Về sau Trác Vương Tôn nghĩ lại, chu cấp cho hai người.




(1) Mưu sâu: Ngô thắng Việt nhờ tài của tướng Ngũ Viên. Để trả thù, tướng của Việt là Phạm Lãi khuyên vua mình là Câu Tiễn nằm gai nếm mật nuôi chí phục thù. Mặt khác tuyển Tây Thi dâng cho vua Ngô để mê hoặc vua Ngô. Ngũ Viên khuyên can, vua Ngô không nghe lời mà còn không sử dụng Ngũ Viên nữa. Đến bấy giờ, Phạm Lãi mới mang quân đánh trả thù, diệt được nước Ngô




(1) Yến Anh hay Án Anh: là quan đại phu đầu triều các đời vua Linh Công, Trang Công, Cảnh Công nước Tề thời Xuân Thu chiến quốc. Ông làm việc siêng năng, sống tiết kiệm, mặc cái áo hồ cừu suốt ba mươi năm, nổi tiếng là vị quan thanh liêm, lại có tài ứng đối sắc sảo, có tính thuyết phục cao




(2) Ni phụ: Khổng Tử tên là Khâu, tự Trọng Ni. Người đời sau tôn xưng ông bằng nhiều mỹ hiệu, trong đó có Ni phụ.




(3) Thù, Tứ: tức sông Thù và sông Tứ, quê hương của Khổng Tử.


Mộc đạc: là dụng cụ bằng gỗ hoặc bằng đồng đánh lên cho mọi người chú ý khi rao truyền mệnh lệnh đến các khu dân cư




(4) Thương Ưởng: người nước Vệ thời Chiến Quốc, làm quan Tả Thứ trưởng nước Tần, thời Tần Hiếu công, thi hành “Biến pháp” rất nghiêm khắc, không chút nương tay, rất ác bạc, không tha bất cứ ai, kể cả vương hầu quí tộc, nên bị chống đối, đến mất chức, bị Huệ vương nước Tần xử tội cho xe giầy nát thây, là hình phạt mà chính Thương Ưởng đặt ra khi cầm quyền thi hành Biến pháp một cách khắc nghiệt.




(1)  Trương Nghi: đề xướng thuyết Liên hoành. Tô Tần: đề xướng thuyết Hợp tung. Vào thời Chiến Quốc, nhằm liên kết các nước theo trục hoành (chiều ngang) hoặc trục tung (chiều dọc). Các nước theo trục nầy chống lai các nước theo trục kia. Là hai tay tổ trong nghề thuyết khách, được vua các nước sủng ái, đón tiếp trọng hậu, ban cho bổng lộc hậu hĩnh, vợ thiếp xinh đẹp. Nhưng các thuyết ấy chỉ làm cho đất nước loạn lạc thêm, về sau nhà Tần thôn tính cả.




(2) Chuyện vợ con: Điển tích vợ Tô Tần. Khi Tô Tần chưa được các chư hầu tin dùng thì sống bần hàn, ba năm không về nhà. Người vợ trung thành chờ đợi, chăm sóc mẹ chồng rất hiếu thảo.




(1) Lạn Tương Như: là văn thần cùng nguyên soái Liêm Pha phò vua nước Triệu thời Chiến Quốc. Khi biết nước Triệu có viên ngọc quí của họ Hòa, vua Tần muốn chiếm đoạt, lừa cách đổi 15 thành. Khi Tương Như đưa ngọc đến, vua Tần lấy ngọc mà không đả động gì đến việc đổi đất như lời hứa. Tương Như tìm kế lừa lấy lại viên ngọc, sai đệ tử giả làm người ăn mày mang ngọc trốn về Triệu, còn mình ở lại vào triều vua Tần, khẳng khái mắng vua Tần nuốt lời. Tưởng thế nào cũng bị giết, vua Tần quá nể phục cho an ổn ra về. Ông bất đồng với Liêm Pha, có khi rất căng thẳng, nhưng Tương Như đều nhường nhịn, vì nếu thiếu Liêm Pha thì nước Triệu sẽ rất khó khăn. Ông nói câu nổi tiếng: “Vua Tần ta chẳng sợ, thì sợ gì Liêm Pha! Nhưng việc quốc gia là trọng, ta phải quên chuyện riêng, mới lo được việc nước”.




(2) Bình Nguyên Quân: tên Triệu Thắng, người nước Triệu thời Chiến Quốc, được phong đất Bình Nguyên, chiêu hiền đãi sĩ, nuôi cả ngàn thực khách trong nhà. Trong số thực khách có hai nhân tài kiệt xuất là Mao Toại và Tiết Công. Mao Toại một mình lãnh nhiệm vụ đi sứ cầu cứu với nước Sở thành công. Tiết công thuyết phục công tử Vô Kỵ về cứu nước Ngụy. Có một lần, một người thiếp lỡ bật cười khi thấy một vị khách tật nguyền, Bình Nguyên Quân quá cường điệu cho chém đầu để tạ tội với khách, song người ấy cũng như số đông thực khách đều bất tài, chẳng có công trạng chi.




(1) Phạm Tuy: Tướng quốc nước Tần. Nguyên là quan nước Ngụy thời Chiến Quốc, tôn Tu Cổ làm thầy. Sau bị người Ngụy hiểu lầm, suýt mất mạng, giả chết thoát vào Tần, đổi tên họ, giỏi biện thuyết, nên được vua Tần trọng dụng. Về sau Tu Cổ đi sứ Tần, Phạm Tuy giả làm người nghèo khổ được Tu Cổ tặng chiếc áo may bằng tơ đũi. Phạm Tuy không đánh Ngụy mà tấn công Triệu. Sau ông trao quyền cho Thái Trạch cũng là một nhân tài, gốc người nước Yên




(2) Phạm Tăng: làm quân sư cho Sở Bá vương Hạng Vũ, dẹp nhà Tần, tranh thiên hạ với Hán Lưu Bang. Phạm Tăng bày ra hội yến Hồng Môn, dụ Lưu Bang đến để ám hại, nhưng không thành. Phạm Tăng thối chí từ quan về nhà, trước khi Sở Bá vương thất bại.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »