tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518189
Tiểu thuyết
11.12.2014
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

XIII. Bóng tối xám nhờ như đè lún ngôi nhà tranh xuống. Trong hơi nóng hầm hập, muỗi kêu vo ve không dứt. Mùi đất ẩm thấp quyện với khí trời càng thêm oi nồng. Tú Chiểu ngồi lặng lẽ, thỉnh thoảng nhấp một ngụm rượu. Rượu không làm ông quên sự đời mà lại dấy lên bao ý nghĩ không thành lời, như cây đàn kìm lâu không khảy treo trên vách ngậm những nỗi niềm trong ruột gỗ.


Từ đầu năm nay ông có nhiều tâm sự buồn. Trong trận nghĩa quân đánh đồn Phú Ngãi và Tân Điền tổng Bảo Thuận, một tướng trẻ rất dũng cảm là Phan Lữ, cháu Phan Liêm đã hy sinh. Tháng năm vừa rồi nghĩa quân đánh Đồng Xuân tổng Bảo An, giết được mấy tên tay sai cho giặc là Cai tổng Trị và anh của Trị đang làm xã trưởng. Giặc đem binh lực hùng hậu đến đàn áp, anh em rút qua sông Ba Lai về Mỹ Tho. Đến tháng mười một, Đề đốc Trinh kéo quân từ Trà Vinh về đánh làng An Thủy tổng Bảo Trị nhưng không thành công. Rồi đến Bá hộ Huân giết tên Cai tổng Cái Mơn, Mỏ Cày nhưng chẳng bao lâu cũng sa vào tay giặc…


Từ trận Hương Điểm tới nay, không có trận nào lớn nữa. Vùng căn cứ của nghĩa quân cứ bị thu hẹp dần. Anh em họ Phan phải lẩn tránh luôn để khỏi lộ tung tích. Trước đây cứ đến mùa gặt, dân chúng lại đóng thuế cho nghĩa quân, nhưng nay nếu nộp thì giặc về phá hoại mùa màng lại triệt hạ làng xóm. Những trục lộ chính đều bị phong tỏa, các cánh đồng cũng bị phá trơ trụi khiến nghĩa quân không thể nấp sau đám lúa mà hành quân. Một đêm, Phan Liêm, Phan Tôn bí một ghé vào nhà Tú Chiểu hỏi ý ông xem có nên về Huế theo lệnh gọi của triều đình hay không. Tú Chiểu ngẫm nghĩ một hồi, rồi nói:


- Theo ý tôi nếu cái thế không ở đây được thì các cậu nên đi, nhưng không phải ra Huế mà ra Hà Nội. Tôi nghe quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương lại được củ ra Bắc chặn giặc, vì tàu giặc đã ngược sông Cái kéo lên uy hiếp thành Hà Nội. Hà Nội là cố đô của các triều Lý, Trần, Lê, lại là chỗ yết hầu của đất nước. Nếu giặc chiếm được Hà Nội thì chúng càng rảnh tay trong việc cai trị sáu tỉnh Nam kỳ. - Ngừng một lát ông lại tiếp, giọng tha thiết. - Hai cậu có ra Bắc gặp Nguyễn tướng công thì thưa giùm Chiểu này gửi lời kính thăm và chúc Ngài luôn mạnh giỏi để chống giặc, giữ vững Hà Nội, giữ vững đất nước…


Phan Tôn lại hỏi:


- Lần này tôn sư có kế sách gì hiến cho Nguyễn tướng công không?


Tú Chiểu thở dài:


- Đứng về phía triều đình mà nói thì khó lòng trông cậy gì được nữa. Lẽ ra khi các đạo nghĩa binh Nam kỳ tự động nổi dậy, triều đình phải dựa hẳn vào họ, dùng thế mạnh của họ để đẩy lùi giặc Lang-Sa từng bước, đồng thời gởi nhiều toán quân từ Bắc Trung vô Nam cùng đánh giặc, không cho chúng lấn tới. Đằng này triều đình dùng cái chính sách co rụt một mặt cản trở nghĩa quân, một mặt ra sức nhượng bộ giặc, nên chúng được thể, vừa ép triều đình, vừa thi hành kế tằm ăn dâu, chiếm dần từng phần đất nước ta. Nay ngọn lửa binh đao đã lan ra Bắc kỳ rồi. Nguyễn tướng công được cử ra Bắc chặn giặc, ngài là người ái quốc nhưng cũng rất mực trung quân, mà trung đây lại là trung với một triều đình có những đối sách sai lầm, vì vậy mà tình thế Bắc kỳ hiện nay khó lòng có thể nói trước được…


Ngừng một lát, Tú Chiểu lại nói:


- Lần diện kiến trước, ta đã có thưa với ngài một câu: làm thân cá, sao không mong có lần vượt được Vũ môn. Ngày nayNguyễn tướng công đã đứng trước Vũ môn của đời mình, ngài cần chọn một con đường nào, nếu không có ích nhiều thì ít nhất cũng không có hại cho đất nước. Ta chỉ kỳ vọng tướng công dầu thế nào cũng vẫn giữ vững vai trò tiêu biểu cho cuộc chống giặc, nêu gương sáng cho cả nước noi theo.


Phan Liêm, Phan Tôn đi rồi, ông lại càng buồn hơn. Đi tới nhà nào thăm bịnh, ngoài chuyện nghe kể bịnh ông lại phải nghe về những nỗi khổ mà dân phải chịu dưới ách Lang-Sa.


Một cụ già cho ông hay:


- Tháng tháng làng đều tới mỗi nhà biểu khai trong nhà nuôi mấy con heo, gà, vịt, mấy cái cối giã gạo, cối xay lúa, rồi thâu mỗi nhà một cắc bạc. Như ai không chịu một cắc bạc thì bắt đóng trăng, nói là để giải lên quan. Chúng tôi hỏi, làng nói tại quan biểu vậy. Chúng tôi nói: quan có biểu thì một năm một lần thôi chớ, sao biểu hoài vậy. Làng nói: như có ức thì đi thưa đi. Chúng tôi muốn đi quá, ngặt vì một người đi, năm mười người nói: thôi giá một cắc, của bao nhiêu mà đi thưa cho làng giận, rồi sao yên? Còn bắt đi canh đi do(1) lu bù, hết sức chịu, thầy ôi!


Một người đàn ông vừa khóc vừa nói:


- Mấy anh phu lít ở chợ Bến Tre, hễ chúng tôi có đi ra đó, họ coi bộ lèn xèn, họ kêu lại hỏi giấy thuế thân. Họ bắt đút điểm chỉ cho họ coi, rồi họ kéo ngón tay ra họ la sai điểm chỉ. Nói không đặng, muốn tự vẫn cho mát thân hơn là sống, cụ ơi!


Một người khác căm giận:


- Mỗi lần đi ghi sách ghe đặng đi buôn bán, hễ tới trường án thì bị mấy ổng bếp hầu xẻ mỗi lần ghi sách là ít cắc. Không có họ chửi và liệng sách ghe. Họ nói phải đóng tiền ghi sách. Họ cứ ăn hiếp dân thiệt thà hoài hủy, chúng ôi ức quá tính liều mạng với họ rồi muốn ra sao thì ra.


Đứng trước cảnh khổ của từng người dân, Tú Chiểu đành xuôi tay bất lực. Ngay cả gia đình ông cũng lâm cảnh túng thiếu gieo neo, nói gì người khác. Lệ thường dạy học, thầy không thâu tiền góp của hoc trò. Cha mẹ học trò và học trò tùy lòng cung kính biết ơn với ông thầy mà có thể đỡ đần thầy bằng nhơn công của mình khi thầy có việc cần, hoặc cung đốn lúa gạo, trà bánh, rượu thịt, vải lụa, tùy tâm tùy sức. Gần đây dân phải đóng nhiều sắc thuế cho Lang-Sa, mỗi mẫu tây đóng năm phật lăng rưỡi, đinh mỗi đầu dân đóng năm phật lăng mà theo thời giá năm phật lăng gần bằng  một tạ lúa. Mỗi dân đinh lại phải đi xâu bốn ngày trong một tháng. Sau năm 1870, bọn Lang-Sa lại truy đất chưa khai để bắt nạp thuế điền và tăng thuế thân lên đến 29 phật lăng, bằng hai tháng tiền công nhật. Sưu thuế nặng nề như vậy, nên dầu thành tâm nghĩ đến thầy cũng đành chịu bó tay. Đã vậy, bọn Lang-Sa còn ra lệnh bắt các trường dạy chữ nho phải xin giấy phép, ai muốn xin giấy phép phải hội đủ những điều kiện về phẩm hạnh tức là trung thành với nhà nước Lang-Sa và khả năng tức là có thể dạy thêm cả chữ quốc ngữ. Theo chúng, ngày nào học trò bổn xứ còn đọc được sách chữ nho, chữ nôm, ngày ấy lớp trẻ bổn xứ còn thương yêu đồng bào ruột thịt, còn xót xa phận làm dân một nước mất chủ quyền. Còn sở dĩ chúng bắt học chữ quốc ngữ vì nếu người dân mà biết thứ chữ ấy thì không thể vịn cớ không đọc được luật lệ của nhà nước Lang-Sa đã ban hành, do đó nếu vi phạm luật lệ bị trừng trị sẽ không kêu vào đâu được. Hơn nữa, dân chúng biết chữ quốc ngữ có thể liên hệ dễ dàng, trực tiếp với các công chức người Lang-Sa mà phần lớn đã biết cách viết quốc ngữ; cũng thoát khỏi ảnh hưởng sự thù nghịch với người Tây do các văn thân truyền bá. Kế hoạch tận diệt chữ nho và chữ nôm do Đờ-la Gờ-răng-đi-e đề ra được tiến hành hết sức ráo riết.


Mới đây, viên Hương cả đã tới bắt ông phải làm giấy xin phép gởi lên dinh tham biện. Trong khi chờ giấy phép, phải tạm đóng cửa trường. Bữa ông báo cbo học trò hay, cả trường đều khóc mùi. Ông cũng không cầm được nước mắt.


Có thì giờ rảnh, ông dồn hết tâm lực hoàn thành bổn Ngư tiều y thuật vấn đáp. Mình soạn sách bằng chữ nôm, bằng lời thơ dân gian, cũng là một cách chống lại sự giáo dục nô dịch của bọn Lang-Sa. Những cảnh tình trước mắt đi vào thơ ông mới tự nhiên, thanh thoát làm sao:


Líu lo chim hót trên cành


Như tuồng kẻ mách tình hình dân đau.


Gió tre hiu hắt theo sau,


Như tuồng xui giục đi mau tìm thầy…


Tú Chiểu thầm nghĩ, mình chỉ có thể chữa những bịnh trong thân thể người dân, còn bịnh tật của đất nước, một tay mình cứu sao cho đặng. Cũng bởi vua quan triều đình khi mới ló mầm bịnh chẳng liệu chữa gấp, cho nên mới từ biểu vào lý, từ phủ vào tạng, thâm nhập cao hoang([1]). Nếu không biết cách “ dẫn hỏa quy nguyên”([2]) thì dầu thầy thuốc giỏi như Hoa Đà, Biển Thước cũng hết nghề cứu nổi. Lời thơ ông khơi dậy ngọn lửa căm hờn lũ giặc cướp nước, cũng là góp phần vào việc “dẫn hỏa quy nguyên” đó:


Muôn  dân ép ráo mỡ dầu


Ngày trau khí giới, tháng xâu điện đài.


Thêm bầy gian nịnh chen vai,


Gây nên mọi rợ từ ngoài lấn trong…


Nhờ có bà Tú và cô con gái lớn chép dùm, trong vòng một tháng sách đã soạn xong. Ông lại làm thêm một bài thơ để gởi gắm nỗi lòng:


Hoa cỏ  bùi ngùi ngóng gió đông,


Chúa xuân đâu hỡi có hay không?


Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn,


Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.


Bờ cõi xưa đà chia đất khác.


Nắng sương nay há đội trời chung.


Chừng nào thánh đế ân soi thấu,


Một trận mưa nhuần rửa núi sông.


 


Đang ngâm nga thì bên ngoài có tiếng người. Nghe qua, ông đã biết là Lê Bổn. Sau khi Trương Định bị thằng Tấn trở giáo, Lê Bổn quy về Phú Kiết dạy học, Lại cưới một người vợ ở với nhau có ba mặt con. Rồi không biết nghĩ ngợi thế nào, Bổn lại xin vào làm thơ ký cho thằng Trần Bá Lộc. Nghe chuyện, Tú Chiểu càng ngán cho tình đời ấm lạnh. Khinh ghét kẻ phản bội, ông quay mặt vào vách không thèm bắt chuyện. Thấy vậy, Bổn hỏi:


- Sao thầy nỡ lạnh nhạt với tôi như vậy?


Tú Chiểu xẵng giọng:


- Thế nào huynh tự suy ra thì khắc biết.


Bổn kêu lên:


- Trời ơi, ra thầy vẫn ngờ tôi thật lòng quy phục thằng Lộc có phải không? Nói thiệt với thầy, nếu tôi không khéo léo che mắt thằng Lộc thì Thủ Khoa Huân làm sao dễ dàng thoát khỏi nhà thằng Đỗ Hữu Phương…


Tú Chiểu kinh ngạc:


- Thủ khoa Tịnh Hà đã thoát rồi à?


- Ông đã trốn khỏi nhà thằng Phương hôm rồi,- Bổn nhỏ giọng.- và đang cùng Tri huyện Thang Trông với Đốc binh Hương mưu cuộc khởi nghĩa lần thứ ba. Ông tính tổ chức bốn vùng kháng chiến lớn gồm Sài Gòn- Chợ Lớn, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, riêng ông đóng ở Mỹ Tho để chỉ huy chung. Ông đã quyên góp được một số tiền lớn của dân chúng gởi cho Hội “Trường Phát” ở Chợ Lớn để mua khí giới, hẹn đến mùng chín tháng chín sẽ giao khí giới và các nơi sẽ nhất tề nổi dậy. Vì tôi ở gần thằng Lộc nên mới hay được kế hoạch của chúng, báo cho Thủ Khoa Huân và Tri huyện Lân kiếm cách đối phó.


Tú Chiểu mừng rỡ:


- Nếu vậy thì thiệt là phước lớn cho đất nước. Trước đây tôi thấy thằng Tấn phản ông Trương, lại tới phiên huynh đi làm thơ ký cho thằng Lộc, có lúc tôi đã chán ngán cho là cơ đồ hết mong khôi phục đặng. Nhưng nay được biết huynh vẫn giữ dạ sắt đinh nhứt là lại biết tin Thủ Khoa Huân hai lần bị bắt vẫn không nhụt chí lại còn đứng lên chống giặc một lần thứ ba, sĩ khí như vậy thì đất nước mình sẽ có cơ thâu hồi lại đất cũ…


Nhiêu Bổn cười:


- Tôi đứng ngoài nghe lỏm thấy tâm sự thầy cũng in hệt như của Thủ khoa Huân trong bài thơ ông đề lại trước khi rời khỏi nhà tên chó săn. Để tôi đọc thầy nghe:


Khá gọi thâm nghiêm cửa chín trùng,


Ngày nào “cha mẹ” cứu con cùng


Bốn mùa man mác tình nhà cửa,


Trăm dặm đau buồn cảnh núi sông.


Mây trắng đã giăng trời Bến Nghé,


Nắng chiều đường cháy đất Gò Công.


Ngọn cờ phá lỗ bao giờ thấy?


Thiên hạ người đều ngóng cổ trông


Tú Chiểu hân hoan cao giọng:


- Ngọn cờ từ nay quan Thống tướng Nguyễn Tri Phương lần lượt chuyển qua ông Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương…. bây giờ lại sang tay Thủ Khoa Huân. Mong bác Thủ khoa giữ vững ngọn cờ để muôn dân có nơi trông cậy…


Nhiêu Bổn cảm động:


- Tôi sẽ đem lời thầy thưa lại bác Thủ khoa… À quên, tôi chưa kể thầy nghe chuyện một người…


- Người nào kia huynh?


- Cô em dâu thầy chớ ai…


Tú Chiểu bật lên:


- Sao? Huynh hay tin cô Xuyến à? Cô ấy giờ ở đâu?


- Làm gì mà thầy hỏi dồn dập vậy? Sau khi ông Trương tử tiết, cô ấy về theo nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, đã nhiều lần báo cho ông Trực biết tin tức quân giặc cho một người của ta nằm trong hàng ngũ chúng chuyển ra…


Tú Chiểu ngắt lời:


- Tôi biết rồi. Người đó là huynh chớ gì…


Nhiêu Bổn cười, lảng chuyện:


- Cô chờ cơ hội mai phục bên đường, nhằm bắn đúng vào xương sống thằng Tấn để trả lại thù nó đã bắn ông Trương. May đời cho thằng phản phúc, bọn lính hầu của nó cứu kịp chở gấp đến nhà thương chạy chữa. Nếu nó không chết thì cũng trở thành phế nhân vì viên đạn đã găm vào tủy xương sống…


Tú Chiểu cảm khái:


- Những thằng như thằng Tấn, từ khi bắt đầu bước chân theo giặc đã kể như phế nhân rồi. Còn cô Xuyến có can gì không huynh?


- Cô không làm sao hết. Khi cô bị giam trong ngục, bị giam chung với bà Hai Thưởng, phu nhân của ông Trương Định. Bà kể bà bị tên đội Tấn ép viết thư khuyên cậu Hai Quyền ra đầu hàng Lang-Sa, nhưng bà thà chết cũng không chịu viết. Bà nói có lẽ phen này bà sẽ chết ở trong ngục, nhờ cô Xuyến sau này nếu có thoát được thì đi tìm cậu Hai Quyền khuyên cậu phải ráng trả thù cho cha, đền nợ cho nước, đừng lo lắng cho mẹ nữa. Sau khi thoát thân, cô đã đi tìm cậu Hai Quyền, truyền đạt lời thân mẫu cậu dặn dò, rồi cùng cậu đứng lên chống giăc ở Củ Chi. Tên Đốc phủ sứ Trần Tử Ca săn lùng rất ngặt, cuối cùng cậu đã tìm đường về Tây Ninh, hợp lực với Hoàng thân Cao Miên Pu Cầm Bô tiếp tục đánh Tây… Khi gặp tôi ở Củ Chi, cô Xuyến gởi lời kính thăm thầy và xin thứ lỗi không về thăm viếng được, bởi e liên lụy tới thầy.


Tú Chiểu thở dài:


- Cô Xuyến gì phải quá lo lắng cho tôi như vậy. Tôi bây giờ như trâu già không nệ dao phay, chúng muốn bắt thì cứ việc bắt. Huynh à, khi tôi đăt thơ Vân Tiên, hồi ấy dân mình chưa chống nhau kịch liệt với giặc Tây, nên khi tả Kiều Nguyệt Nga tôi mới chỉ tô điểm cho nàng đức tính chung thủy kiên trinh của người gái đảm miền Nam mình, như kiểu cô Năm Điền nhà tôi chẳng hạn. - Ông hơi mỉm cười. - Nhưng đến những người con gái dũng cảm không kém nam tử như cô Xuyến, thì lúc đó tôi làm sao mà mường tượng ra được. Thời thế tạo anh hùng, bổn Lục Vân Tiên của tôi đến giờ hóa ra lạc lõng trước cái sự thực gái trai đều chung lòng chung sức đánh giặc. Khen cho tài gái kém gì tài trai nhưng ở đây không chỉ đua tài văn chương mà còn so tài võ nghệ. Hậu sinh khả úy([3]). Có lẽ tôi đã thuộc vào một lớp người bị vượt qua rồi…


Nhiêu Bổn nói:


- Xin thầy đừng nghĩ vậy. Trước sau thầy vẫn là một bó đuốc sáng soi đường cho người sau nối bước… Giờ tôi xin phép phải đi đón người của Hội “Trường Phát” hẹn ngày trao khí giới.


Tú Chiểu đứng lên tiễn Nhiêu Bổn ra cửa:


- Huynh đi cho may mắn. À nhắc tới đuốc tôi mới chợt nhớ … Trời tối lắm, để tôi vào nhà trong lấy một cây đuốc để huynh thắp cho sáng mà đi.


Ông lật đật vào lấy cây đuốc lá dừa thắp lên trao tay Nhiêu Bổn rồi trân trọng tiễn ra cửa.


 Ánh đuốc rừng rực như muốn đốt tan đêm mà đi, tựa một người khổng lồ vùn vụt trong không gian, đi tới đâu thì bóng tối nhớn nhác chạy tán loạn đến đó. Tú Chiểu vẫn đứng ở cổng, ánh lửa hắt vào đôi mắt nhòa lệ của ông, những giọt nước mắt sáng lên như những giọt lửa… Rồi ánh đuốc xa dần, nhưng tàn đuốc vẫn đậu trên lùm cây như còn mang nặng tâm sự chưa yên lòng tắt cho được.


Tựa lưng vào gốc dừa, Tú Chiểu thầm nghĩ: Cây dừa này ít nhất cũng phải bằng tuổi mình rồi, nó giống mình ở chỗ chỉ biết đứng thẳng và chỉ muốn mang trái ngọt cho đời. Đến khi thân ngã xuống cũng biết làm cột, làm kèo, làm cầu; tàu lá, buồng, mo nang, vỏ dừa để chụm; miểng dừa dùng làm than, cùi dừa nấu dầu; xơ dừa đánh dây luộc, làm thảm, sọ dừa làm nút áo. Gáo dừa cũng cũng dùng múc nước trong lu cho người giải khát trưa hè. Nội trong cây dừa không có cái gì bỏ đi. Nhưng dừa truyền lại đời sau bằng trái ngọt, chớ khi bị chặt đi, dừa không thể nẩy mầm, đâm chồi như các loại cây lưu niên khác. Vì vậy hết đời, dừa phải gom góp những tàu lá làm chổi quét sạch bụi bặm và cuối cùng tự đốt cháy mình làm bó đuốc soi đường cho người…


Tú Chiểu mải nghĩ, quên cả những giọt sương lạnh đọng trên lá đã rỏ xuống cổ áo từ lúc nào…


Xa xa, lác đác có tiếng gà gáy…


*


Mi-sen Pông-sông, tên tham biện Bến Tre, đi đi lại lại trong phòng giấy như một con thú dữ. Từ khi về cai trị, không lúc nào đám dân Nam để cho y yên được một ngày. Cái dân Bến Tre thiệt là cứng cổ. Vừa đối phó xong với tên Hưng vượt Côn Lôn về định đánh đồn Bang Tra thì lại phải dẹp cái loạn Mỏ Cày do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương xúi giục. Bây giờ lại đến cái vụ Tán Kế gây rối loạn ở Ba Châu. Mấy tháng trước, chợ Giồng Keo bị đốt thì mấy hôm nay chợ Thom ở làng An Thạnh tổng Minh Đạo lại ra tro. Dân chúng thì vẫn bí mật đóng thuế cho quân khởi nghĩa. Hễ quân Lang-Sa kéo tới đâu thì dân ở đấy đều bỏ làng mà đi, nhà cửa không ai ở, ruộng vườn không ai trồng tỉa. Thiệt đúng là cảnh vườn không nhà trống. Nhứt định phải có kẻ xúi giục chớ chẳng không. Pông-sông giận hung, kêu tên quản mã-tà lên rầy la:


- Chú đã tìm ra tung tích bọn nào đốt chợ chưa?


- Dạ, bẩm quan lớn… chưa.


- Chú thiệt là đồ ăn hại. Bấy lâu nay bọn chúng đào đường, đốt chợ, phá cầu, cắt dây thép bao nhiêu lần, mà chú không bắt được thủ phạm. Còn vụ Tán Kế, chú tính sao?


- Dạ, tôi có thu phục được tên Cai tổng Xáng, tên đó hứa thế nào cũng kiếm cách bắt được Tán Kế nạp quan lớn.


- Các chú bất lực quá. Hàng mấy năm nay vẫn chịu để cho Tán Kế ngang dọc hoành hành ngoài vòng pháp luật…


- Dạ, Ba Châu là vùng cây cối lau sậy chà là mọc um tùm, sông rạch chằng chịt, cọp beo thú dữ thường về làng bắt trâu bò ăn thịt có khi luôn cả người, chúng con không làm làm sao lọt vô trỏng để bắt Tán Kế…


- Đừng nói tầm ruồng. Tôi được mật báo Tán Kế vẫn sang Ba Động Trà Vinh luôn luôn, đâu phải lúc nào cũng ở Ba Châu. Tôi gia hạn cho chú đúng một tháng nữa phải đem Tán Kế về nạp, nếu không ở tù, đừng có than.


Viên quản đi rồi, Pông-sông vẫn chưa nguôi giận. Cái bọn mã-tà này chỉ ăn hiếp dân là giỏi còn khi gặp giặc thì nhát như thỏ đế.


*


Thông ngôn Lê Quang Hiền bước vào. Sau khi phạm lỗi giả mạo giấy tờ để chạy cho con một điền chủ ở Cần Thơ đi học trường thông ngôn, Hiền bị hạ một bậc lương và đổi về dinh tham biện Bến Tre. Lúc này, Hiền bận áo bố trắng cổ đứng, nút tra chuỗi hổ phách, đầu đội nón cát kiểu dân thầy, chân đi giày Tây. Thấy Hiền, Pông-sông niềm nở:


- Thầy thông, thầy về tỉnh này trước tôi, thầy có cách nào dò ra tung tích bọn cầm đầu phiến loạn ở đây không?


Thông Hiền cười:


- Bẩm quan lớn, chuyện đó không mấy khó, có khó chăng là làm sao thu phục được họ mà thôi…


- Nhưng thầy dò ra ai mới được chứ?


- Ở đất Bến Tre này có một người được dân chúng rất ngưỡng mộ, ổng thường xúi dục dân chống lại các quan Tây, nếu ta thu phục được ổng thì hổng còn lo gì hết…


- Người đó là ai vậy?


- Dạ đó là Tú Chiểu, dạy học ở Ba Tri.


- Một ông đồ? Ông đồ thì làm được trò trống gì.


- Không những là ông đồ mà còn là một người đui…


- Chúa ơi! Đã là ông đồ mà lại đui mù thì có gì đáng sợ.


- Ngài đừng tưởng vậy. Tú Chiểu từng tham mưu cho Quản Định, chính ổng đã bày cho Định kháng lịnh bãi binh của triều đình Huế đó. Mới đây ổng còn bí mật liên lạc với Thủ Khoa Huân và Tri huyện Lân ở Mỹ Tho…


- Vậy kia à?


- Ngay cả vụ Tán Kế nổi loạn cũng có liên quan tới Tú Chiểu.


- Liên quan thế nào?


- Trong dịp tang lễ cụ Phan Thanh Giản, Tán Kế mượn cớ đến phúng điếu, đọc thơ mạt sát cụ Phan và công kích người Tây. Cử tọa có mặt tính trừng trị Kế thì Tú Chiểu đứng lên binh vực Kế và thuyết mọi người phải đứng lên chống lại nhà nước Lang-Sa… Việc Tán Kế nổi loạn cũng do sự kích động của Tú Chiểu hôm đó. Văn chương của Tú Chiểu ai đọc qua cũng sanh lòng làm nghịch. Tôi được ông đốc Ký sao dùm cho mỗi thứ một bổn, nếu cần tôi sẽ dịch ra chữ Lang-Sa để ngài coi.


- Vậy à? Nếu vậy làm sao mà thu phục được ổng?


Thông Hiền cười:


- Tuy vậy ổng cũng có cái gót A-sin([4]) bởi ổng là nhà văn, mà nhà văn thì rất thích người ta khen ngợi trước tác của mình. Trước đây, cuốn truyện Lục Vân Tiên của ông đã được ngài Ô- ba-rê sứ thần Lang-Sa ở Vọng Các dịch ra tiếng Tây đăng ở tạp chí Nhật Ký Á Châu. Bây giờ, ngài tới thăm ổng, biểu là ngài muốn đứng ra in lại Lục Vân Tiên, nhưng những bổn cũ dựa theo lời truyền khẩu bị tam sao thất bổn nhiều, nên ngài nhờ ổng nhuận sắc lại bổn chánh để ngài đưa về nước Phú Lang-Sa in. Là con nhà văn ai chẳng muốn cho tác phẩm của mình được in đúng đắn trọn vẹn. Nếu ổng cảm động về việc ngài quan tâm đến tác phẩm của ổng mà nhận lời, ta cứ đi lại thăm viếng ổng luôn, lần lần sẽ thu phục được ổng. Hơn nữa, thấy ta cứ đi lại nhà ổng hoài, bọn làm nghịch cũng sanh nghi ngại, mà hổng dám đến với ổng nữa, vậy là cô lập được ổng. Đó là kế tát nước bắt cá vậy.


Pông-sông hoan hỉ xoa tay:


- Hay lắm. Vậy thầy đi tìm cho tôi bổn dịch của ông Ô-ba-rê, ta kiếm cớ mang đến tặng ổng, rồi nhờ ổng làm việc nhuận sắc, sẽ thuận lợi hơn…


Nghe thấy tiếng chuông đồng lảnh lót của tên xà ích, dân chúng đều dạt cả sang hai bên đường. Họ nhìn thấy cỗ xe xong mã của tên tham biện phóng thẳng về phía nhà ông Tú Chiểu. Hay nó lại tới bắt ông không chừng. Mọi người lo lắng bấm nhau theo dõi chiếc xe rồi đứng bao vây ở phía ngoài ngôi nhà, để phòng ngừa nếu có bắt ổng, bà con sẽ xông vào cứu gỡ.


Ông Tú đang mệt nên người nhà phải dẫn Pông-sông vào tận giường ông nằm. Lúc ông ngồi dậy, Pông-sông nhìn thấy một ông già cao lớn, đẹp đẽ, gương mặt trầm tĩnh xanh xao, đầy vẻ tao nhã.


Pông-sông bất giác cảm thấy kính nể, y vội ngả mũ chào:


- Chào cụ. Tôi xin tự giới thiệu, tôi là tham biện tỉnh Bến Tre mới về nhậm chức nên đến vấn an cụ.


Thông Hiền dịch lại lời Pông-sông, ông Tú cười:


- Tôi chỉ là một người dân thường, đâu phải quan chức gì mà dám phiền ông chủ tỉnh tới thăm viếng.


Pông-sông kêu lên:


- Ô, Lang-Sa là nước văn minh, rất tôn trọng các nước khác, nhứt là lại có thói quen tôn trọng các nhà văn, có khi còn hơn cả các quan chức. Bằng chứng là tôi mang theo đến đây tặng cụ tờ tạp chí có đăng bản dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Tây của ông Ô-ba-rê, in bên nước chúng tôi…


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







[1] Biểu: ngoài, lý: trong, phủ tạng: các cơ quan nằm trong ngực trong bụng người ta, cao hoang: chỗ trên và dưới tim.




[2] Dẫn hỏa về nguồn khi người chân hỏa bị kiệt.




[3] Người sinh sau đáng nể.




[4] Chỗ yếu. Theo tích cổ Hy Lạp, Asin mới sinh ra được nữ thần Thêtix nhúng xuống nước để tẩm luyện cho thân thể rắn chắc không vật gì đâm thủng; nhưng còn sót lại một chỗ gót chân- nơi nữ thần đặt ngón tay- nước không thấm vào. Khi Asin đi đánh thành Tơroa. Parít nhằm vào chỗ gót chân ấy mà bắn, nên A-sin bị chết.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »