tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813908
Tiểu thuyết
08.12.2014
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

XII- Được mật báo Phan Liêm, Phan Tôn từ căn cứ Bảo An, kéo quân về Hương Điểm, tên tham biện Bến Tre Pa-lát-xmơ Đờ Săm-pô khắp khởi mừng thầm. Cọp đã rời núi về đồng bằng, muốn bắt sống chẳng khó khăn gì. Lần trước, Phan Liêm, Phan Tôn dấy lên cuộc loạn ở Cù lao Minh gồm các huyện Mỏ Cày, Thạch Phú, Đờ Săm-pô đã đem quân về dẹp nhưng không bắt được anh em họ Phan. Sau đó, y bị Soái phủ Nam kỳ khiển trách vì tội bất lực.


Mấy anh chóp bu ở Sài Gòn chỉ khéo đổ vấy vá để chạy tội. Đờ Săm-pô thầm nghĩ: Ngay sau khi Phan Thanh Giản tự tử, quan năm thủy binh An-sa đã cho một chiếc tàu binh đưa thi hài ông về an táng tại quê nhà. Soái Đờ la Gờ-răng-đi-e còn viết một bức thư phân ưu với gia quyến ông ta, sai Thông Hiền mang về Bảo Thạnh trao cho anh em họ Phan. Trong thư viết: “Bản chức thật đau đớn khi hay tin thân phụ của công tử là cụ Thượng Phan Thanh Giản từ trần. Nước An Nam mà ngài là phần tử xuất sắc nhứt mất cụ già đáng kính ấy, tức mất một trong những vinh quang của nó mà mối tình kính mến sâu xa mà ngài lưu lại trong ký ứcncủa tôi và của người Phú Lang-Sa sẽ bền bĩ  hơn mối hận thù của kẻ nghịch”.


Vậy mà ảnh hưởng của kẻ nghịch lại mạnh hơn sự o bế của các quan lớn Lang-Sa. Đơ Săm-pô lấy tư cách chủ tỉnh đã thân đến viếng lại khuyên anh em họ Phan nên cộng tác với người Tây, đừng nghe theo lời xúi giục của kẻ nghịch, nhưng bao nhiêu lời lẽ khôn khéo của y đều biến thành nước đổ đầu vịt. Đờ Săm-pô bực tức. Lần này, y quyết không để hụt con mồi như lần trước,


Đờ Săm-pô vốn là một trung úy hải quân mới được bổ nhiệm làm tham biện hạng tư. Y vẫn giữ nguyên cái thói của một thủy thủ dọc ngang sông biển, ngông nghênh hiếu thắng. Bây giờ chỉ huy một toán quân trên bộ, y tưởng vẫn có thể ngang tàng như khi vùng vẫy mặt biển khơi. Tin chắc sẽ thành công, nên y không báo cho đơn vị thủy quân lục chiến dưới tàu, mà tự mình dẫn một toán mã-tà về Hương Điểm bắt Phan Liêm, Phan Tôn nộp lên Sài Gòn lấy công đầu.


Toán mã-tà mặc áo bằng nỉ xanh đậm, quần vải trắng, thắt dây lưng đỏ, nón quai đỏ, tấm đồng ở chóp nón có năm phân mẫu tuyến. Đi đầu là viên quản có hai lon vàng với hình ba lá nơi tay áo. Đờ Săm-pô đi ngoài hàng, mặc vét tông màu trắng mở phanh ngực, trong áo lót lính thủy kẻ sọc đầu đội nón cát thuộc địa, chân đi giày săng-đá.


Cả đoàn đi trên con đường đất cát dưới ánh nắng gay gắt. Hơi nóng từ các đụn cát hầm hập bốc lên. Thỉnh thoảng gió thổi làm cát bay mù đọng cả vào quần áo râu tóc của đoàn quân. Đờ Săm-pô cảm thấy vô cùng khó chịu với cái nóng ở xứ nhiệt đới này. Thiệt khác xa với cảnh y từng quen thuộc trên mặt biển.


Khi tới chợ Hương Điểm là nơi theo mật báo có nghĩa quân tụ tập, thì không thấy một người nào hết. Bọn lính mã-tà đi sục sạo hồi lâu mới bắt được một người dân giải tới. Đờ Săm-pô quát hỏi:


- Mầy có biết bọn làm nghịch núp ở đâu không?


Tên quản mã-tà dịch lại. Người dân thưa:


- Dạ tui là dân quê chỉ biết làm ăn không biết quân binh ở đâu ạ…


Đờ Săm-pô thét:


- Nói mau!


- Dạ… tui không biết thiệt ạ!


Đờ Săm-pô quay sang tên quản:


- Tra khảo!


Tên quản đứng lom khom từ nãy giờ như chờ đợi cái phút ấy dạ lên một tiếng rồi chụp hai cánh tay ngưòi dân vặn tréo ra đằng sau. Xong một tay níu chặt, tay kia thò xuống lấy sợi dây mang theo trói gô người đó lại, lên tiếng:


- Khôn hồn thì khai đi để khỏi ăn đòn…


Người dân rên rỉ:


- Tui không biết thiệt mà… tội nghiệp tui, thầy ơi…


Người đó chưa dứt câu, tên quản đã chụp ngực anh ta xuống đồng thời kê gối thúc lên bụng anh ta một cái “ứ” và thét:


- Khai đi!


Người dân nhăn nhó chỉ kêu được ba tiếng “Trời ơi, trời” rồi xiu xỉu muốn té. Tên quản thoi vô hông anh ta rồi chụp tóc kéo lên cho đứng vững:


- Kêu trời à? Trời đất gì, muốn sống thì khai đi…


- Tui không biết thì lấy đâu mà khai. Thầy tha tui, ơn thầy…


Đờ Săm-pô lạnh lùng:


- Đánh nữa.


Lúc tên quản buông tay, người dân vừa thở hổn hển vừa té nhào xuống đất. Lần này tên quản lại níu cứng vai anh ta kéo ngồi bẹp xuống rồi thét:


- Mày làm gan hả. Không khai tao cho mày thấy ông nội.


- Dạ… tui có biết chi đâu mà khai…


Tên quản lại thoi vô mặt tới tấp khiến mặt người dân bầm tím và sưng húp lên. Chưa hả, tên quản lại nhảy tới đá vô hông anh ta một cái thiệt mạnh. Lần này người dân uất quá thét lên:


- Tụi bây thiệt là một bầy ác nhơn thất đức! Rồi tụi bây sẽ bị trời quả báo, chết không được yên mồ!


Tên quản liền xáng một bốp tay đổ lửa lên má người dân rồi bồi thêm một đạp té lăn cù. Người dân giãy giụa hồi lâu trên mặt đất, tên quản lại xông tới trước mặt bóp họng anh ta thở è è. Đờ Săm-pô đứng yên lặng nhìn cảnh tượng đó. Hồi lâu y mới nói, giọng rít qua kẽ răng:


- Bắn bỏ!


Mấy tên lính mã-tà được lịnh mang người dân đi. Từ đằng xa nghe vẳng lại tiếng chửi, tiếng la thét và tiếng súng nổ…


Đờ Săm-pô khẽ nhún vai. Công việc hằng ngày ở cái xứ nhiệt đới này là như thế đấy! Có lẽ chỉ tại cái nóng mà ra hết! Anh nắng nhễ nhại trên mặt cát khiến con người lóa mắt, dòng máu trong người chảy rạo rực hơn lên vì đó con người đâm ra hung hãn!


 Trời đổ tối, Đờ Săm-pô đành phải cho lính đóng trại tại chùa sát bên chợ. Giữa lúc đó thì tên Ê-đu-a Pốt-chi-ê quan hai thủy binh cũng vừa theo kịp tới nơi. Thì ra tên quan năm thủy binh An-sa thấy Đờ Săm-pô chỉ dẫn một số lính mã-tà, e rằng ít quân quá không đủ thắng nổi nghĩa binh nên sai tên quan hai Pốt-chi-ê dẫn một toán thủy quân lục chiến tới tiếp trợ. Đờ Săm-pô nghĩ thầm thằng cha An-sa lại muốn dây máu ăn phần nên có ý không bằng lòng. Nhưng không biết từ chối cách nào đành phải ngỏ lời cảm ơn và mời Pốt-chi-e cùng đóng trại chung. Nửa đêm, giữa lúc giông bảo sắm sét và mưa như thác đổ, một khẩu đại bác nhỏ của nghĩa quân được kéo đến gần nơi bọn Lang-Sa đóng mà bọn chúng cũng vẫn không hay biết. Rồi đột ngột súng nhắm bắn vào giữa dãy lều bạt của giặc. Viên đạn đầu tiên bắn vào làm một thủy quân Lang-Sa trúng đạn nơi tay. Các đèn lồng đều lật ngửa và tắt phụt. Lợi dụng bóng tối dày đặc, hơn trăm nghĩa quân do Trương Tấn Chí dẫn đầu xông tới vây hãm trại giặc. Trương Tấn Chí phất cờ xung phong lên trước, nghĩa quân tiến theo gặp tên giặc nào chém giết tên ấy. Giặc té quỵ thây chết la liệt. Giữa những tiếng la thét vang dội, một nghĩa quân cầm giáo đâm Đờ Săm-pô. Pốt-chi-ê vội lăn xả vào cứu nguy cho đồng bọn nên Đờ Săm-pô chỉ bị thương nặng mà không chết.


Sau phút hoảng loạn đầu tiên, bọn Lang-Sa đã kịp điều súng bắn vào nghĩa quân. Đang xông lên, Trương Tấn Chí trúng một viên đạn té nhào. Phan Liêm, Phan Tôn đã kịp tới, hô quân tiếp tục xông vào giết giặc khiến chúng hoảng hốt bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm được trận địa, thu nhiều súng ống có cả đại bác.


Chiều hôm sau, Đờ Săm-pô cho đánh dây thép cáo cấp lên Sài Gòn và Vĩnh Long. Tên quan năm thủy binh An-sa, chỉ huy Lang-Sa ở Vĩnh Long liền cầm đầu một phân đội gồm 150 thủy quân lục chiến Lang-Sa và 200 lính mã-tà đi liền tới Bến Tre. Tên nguyên soái Đờ la Gờ-răng-đi-e ở Sài Gòn cũng cử tên Pôn Vi-an đổng lý nội vụ, đem quân tiếp ứng vì y muốn dập tắt cuộc khởi nghĩa trước khi nó lan rộng ra. Ngày hôm sau, Vi-an dẫn 200 mã-tà, mượn một ít ở Sài Gòn, một ít ở Gò Công, Cần Giuộc, Tân An và Mỹ Tho, theo kịp An-sa.


Ngày 12 tháng 11 năm Đinh Sửu([1]), vừa hừng sáng ba pháo thuyền chở quân đi lên trên ngọn của kinh, nơi này nhỏ dần và uốn khúc nhiều hướng đi ra Hương Điểm. Cách Hương Điểm một dặm, ở làng Tân Long, nhiều cái đập nhô lên cản đường. Thì ra nghĩa quân đã dùng bè và nọc làm chướng ngại vật để ngăn tàu giặc. Quân Lang-Sa dang loay hoay gỡ bè phá nọc thì nghĩa quân nấp sau bụi lùm hai bên bờ kinh ập tới vây đánh ác liệt. Chúng phải tập trung súng ống bắn như mưa mới mở dần được lối đi nhưng dã bị chậm trễ rất nhiều. Đi một quãng, chúng thấy xác một người Việt nằm trên mặt đường. Đờ Săm-pô nhận ra người bị giết chính là kẻ đã mật báo cho y việc Phan Liêm, Phan Tôn về Hương Điểm.


Quân Lang-Sa tiếp tục tiến trên pháo thuyền và hai giờ trưa chúng đổ bộ lên Hương Điểm. Nửa ngày trời trên pháo thuyền dưới cái nắng hầm hập, vừa bước chân lên mặt đất, tưởng sắp được nghỉ ngơi thì lại bị chừng ba trăm nghĩa quân kéo tới bất thần bắn một loạt súng khiến chúng phải vội đối phó. Lát sau, nghĩa quân lại rút hết. Đờ Săm-pô và Pốt-chi-e xin dẫn đường vào trong làng lùng bắt nghĩa quân.


Quân Lang-Sa chia làm hai đạo, một dưới quyền chỉ huy của An–sa đi ruồng mé đông nam làng, còn phần khác dưới sự điều khiển của đổng lý nội vụ Vi-an hướng về Bắc. Đi tới đâu, chúng cũng thấy từng toán nghĩa quân núp sau những bụi lùm, nhưng khi tới gần thì mất dạng. Thiệt chẳng khác nào ma quỷ cứ ẩn ẩn hiện hiện không chừng. Lùng kiếm hoài mà không bắt được một nghĩa quân nào khiến chúng vừa mệt nhọc, vừa bực bội.


Gần tối, chúng mới quay về tới chợ Hương Điểm. Không kịp đốn tre làm rào, chúng buộc lòng phải lấy rương xe của các nhà dân ra đường, rồi sắp cho các rương xe ấy khít nhau thành hình vòng tròn giữa chợ. Chúng cắt đặt hễ một toán đứng trên rương canh thì toán khác ngủ ở trong vòng tròn. Như vậy là kiểu dựng dinh trần hay lộ dinh.


Chợ Hương Điểm ngày xưa là đất hoang vu. Có người đàn bà quy dân lập ấp, khai phá rừng bụi để trồng tỉa. Để tỏ lòng biết ơn bà, dân trong làng biếu bà sáu phần đất tốt nhứt. Chung quanh mỗi phần, dân trồng tre để làm ranh giới. Vì lẽ đó, tre mọc rất nhiều trên giồng. Bà cắt một phần đất trong sáu phần trên tặng cho ông Hương chủ Trần Văn Điểm vì ông này có công lập chợ. Chợ được mang tên là chợ Hương Điểm, sau khi ông Điểm mất, mộ cũng được chôn ở đó.


Lúc này, chung quanh chợ tre mọc um tùm. Lợi dụng địa hình, Phan Liêm, Phan Tôn cho quân núp sau các lùm tre rồi bất thần phóng hỏa đất trại giặc. Lửa bén vào rương cây, bùng lên thành từng đám cháy lớn, quân Lang-Sa hoảng hốt ráng dập tắt mà không đặng. Nhiều tên bị lửa bắt cháy râu tóc, quần áo kêu la inh ỏi. Nghĩa quân nhào vô đánh xáp lá cà. Nhưng giặc kịp điều mấy khẩu đại bác tập trung lại bắn, thấy hỏa lực của giặc khá mạnh, nên sau nửa giờ kịch chiến nghĩa quân phải rút lui. Trong đêm tối, lửa bắt cháy một dãy lều chợ và lan qua một đám tre làm những mắt tre nổ giòn như súng bắn.


Sáng, một quang cảnh dữ dội hiện ra, những thây giặc, những vật dụng đổ bể, những khối không thành hình nằm la liệt, lộn xộn trên bùn lầy nhớp nhúa của đường trơn trợt.


Sáng sớm ngày 13, quân Lang-Sa nhập thành một đạo ra khỏi làng đi ruồng chung quanh. Nghĩa quân lại lúc hiện lúc ẩn sau bụi lùm làm cho quân Lang-Sa rượt mệt bở hơi tai mà không bắt đặng ai cả. Tuy vậy chúng cũng không dám đi sâu vào thôn xóm mà chỉ đi ven lộ. Buổi chiều, chúng lếch thếch rút tàn quân về Bến Tre.


*


Sông Hàm Luông rộng mênh mông, nước chảy cuồn cuộn, đục ngầu. Ven sông, những cây dừa nước mọc um tùm với phần bụp dừa ngập dưới mặt nước. Từng bụi ô rô, mái dầm, mái chèo mọc chằng chịt tạo nên một bức thành thiên nhiên. Những đụn cát nổi lên cạnh bờ sông, mỗi cơn gió thổi là cát bụi bay mù…


Những cây trâm bầu thân rắn rỏi, lá thưa, vỏ không trắng nhưng dày dạn nắng mưa đứng như người chiến sĩ canh giữ ven sông. Từng đàn vịt nước vỗ cánh phía trên những rặng bần của một cái cồn nổi lên mặt nước. Thân cây bằng như lưng cô gái nhỏ thướt tha yếu đuối được nhờ làn gió nâng niu. Trên cành hoa nở từng chùm đỏ ối, đầu cành trái đeo hàng chuỗi lúc lỉu. Vì trái có mùi chua nên quyến từng đàn cá bơi đến dưới gốc…


Nhưng buổi sớm nay, không phải từng đàn cá mà một đoàn pháo thuyền Lang-Sa vì tham mùi của cái xứ này mà bơi đến cướp đoạt. Tàu nổ máy chạy dọc theo sông Hàm Luông khiến cho đàn cá đang bơi kiếm mồi khiếp sợ lặn xuống đáy nước sâu. Chiếc chân vịt tàu vướng vào những cọng phật bà nổi lập lờ mặt nước khiến cọng đứt rời như từng giọt máu hồng lấm tấm. Khói tàu bôi bẩn cảnh vật êm đềm hai bên sông, xóa nhòa những rặng dừa nước, trâm bầu. Trên tàu bọn giặc chỉ trỏ lên bờ xì xồ nói với nhau những gì không ai hiểu. Có lẽ chúng ước lượng xem chổ nào có nghĩa quân mai phục bên bờ. Nhưng ngày hôm nay bọn chúng đi trót lọt không gặp chuyện gì trắc trở.


Chiều hôm đó, bốn đại đội giặc trong đó phân nửa là Lang-Sa đổ bộ lên Ba Tri. Nhưng chỉ thấy cảnh vườn không nhà trống, dân làng đã bỏ đi hết cả. Từng lúc chúng lại bị vài quả đá của súng nghĩa quân bắn vào mà vẫn không tìm ra tung tích nghĩa quân ở đâu.


Đêm xuống, chúng đến làng An Lái. Chúng đóng binh theo một hình vuông ở giữa trời, trên một đồi cát cao hơn đồng bằng lối năm hay sáu thước ta mà bà con địa phương gọi là Giồng Gạch. Hai mặt do binh Lang-Sa canh, mặt khác do mã-tà thủ. Những lính gác nhô ra ở mỗi mặt chính giữa cỏ. Và ở đó, chúng phấp phỏng chờ sáng.


Đối với bọn lính Lang-Sa, đêm ở vùng nhiệt đới thiệt dễ sợ. Bóng tối đen kịt và đầy bất trắc. Từng đàn đom đóm đậu vào thân cây bần khiến cây lập lòe sáng lên như một cây lửa. Tiếng ếch nhái cất lên inh ỏi thành một điệu nhạc kéo dài không dứt cầm canh.


Bỗng bọn lính đang ngủ giựt mình. Có tiếng động. Không, đó chỉ là tiếng bìm bịp kêu nước lớn mà thôi. Cả bọn hoàn hồn, lại vùi đầu ngủ tiếp. Cả bọn lính gác cũng bắt buồn ngủ, chúng chống súng ngủ gà ngủ gật.


Vào nửa đêm, một đám mưa nhỏ bắt đầu rơi, hơi mát càng làm cho bọn lính ngủ say. Đến hai giờ khuya, tiếng hô “Cầm súng!” từ miệng nhiều lính gác cùng cất lên, kế đó một chập súng nổ, đồng thời bốn hướng tiếng trống đổ mau và tiếng la của nhiều người hiệp lại.


Một cỗ kiệu do bốn nghĩa quân khiêng tới đặt bên giồng cát. Phan Ngọc Tòng từ trên kiệu bước xuống, dẫn đầu đoàn người, hét “Hè! Hè!” ra lịnh tiến binh. Nghĩa quân chia ra làm bốn mặt bao vây giặc vào giữa rồi bắt đầu tiến đánh tất cả các mặt. Người cầm giáo, người cầm gậy xông tới, chụp lấy lưỡi lê của giặc, cướp súng.


Quân Lang-Sa nổ súng ngay vào đám đông, nghĩa quân tạm rút lui chốc lát vào bụi lùm rồi hiệp nhau trở lại vây hãm tiếp. Đợt xung phong này kế tiếp đợt xung phong khác. Giữa hai đợt, nghĩa quân bắc loa kêu gọi mã-tà trở súng bắn lại quân Lang-Sa.


Quân Lang-Sa hoảng hốt đối phó, chốc chốc hình vuông mở ra để cho sơn pháo nổ lớn, sơn pháo này pháo thủ của chúng đã kéo tay theo quân đội. Nghĩa quân can đảm bò đến sát địch, dùng tầm vông, mác thông chọi với súng trường đại bác.


Khi nghĩa nghĩa quân đến sát gần, súng giặc không còn tác dụng nữa, Phan Ngọc Tòng hô lớn: “Ôm hè! Vật hè!”. Nghĩa quân xông thẳng tới, ôm từng tên giặc, rồi cúi lưng đội cả người nó nó hất chổng ngược. Người dùng chân ngáng khoeo giặc, tay nắm tay giặc, đập vào chân giặc một cái cho nó quỵ xuống. người nắm lấy tay giặc xoay mạnh cho giặc chóng mặt rồi thả tay ra cho nó té nhào, đoạn xông tới bóp cổ. Tiếng giặc kêu ằng ặc như con thú bị thọc huyết rồi lịm dần. Trong đêm tối bọn giặc lúng túng không biết đường nào mà tránh. Từng cái xác nặng nề đổ phịch xuống, nằm kềnh càng và giãy giụa co quắp hồi lâu trên mặt đất.


Đang xông lên, Phan Ngọc Tòng bị một tên giặc từ xa chạy tới đâm một nhát lưỡi lê giữa ngục. Dầu bị thương, Tòng vẫn hét lên một tiếng khiến tên giặc khiếp đảm rồi ôm chật lấy nó vật xuống…


Khi Tú Chiểu ra tới nơi, thi hài Phan Ngọc Tòng còn nằm trên chiến địa. Ông sờ soạng thấy bàn tay Tòng còn siết trên cổ giặc, cổ nó bạnh ra vì bị bóp quá chặt. Những ngón tay Tòng còn lằn vết trên da thịt nó. Tú Chiểu bảo học trò giúp ông gỡ thi hài Phan Ngọc Tòng ra khỏi xác giặc, rồi khiêng về nhà việc, nấu nước trầm hương tắm cho sạch sẽ vết máu. Xong, thay quần áo khác và lấy một mảnh vải dọc, ba mảnh vải ngang liệm. Lấy giấy bạch đắp lên mặt, tiếp nhập quan khiêng đặt giữa nhà. Trên nắp quan tài, thắp bảy ngọn đèn thất tinh.


Phan Liêm, Phan Tôn cùng toàn thể nghĩa quân lần lượt vào viếng trước linh cữu người nghĩa sĩ. Các con Phan Ngọc Tòng, một trai ba gái, xõa tóc, đi chân không đứng quanh linh cữu lạy đáp lại những người đến viếng. Nhìn bốn đứa trẻ thơ chiu chít, kkhông ai là người cầm được lòng thương. Phan Ngọc Tòng, mẹ mới qua đời được ba tháng, đầu còn đội khăn tang, vậy mà hôm nay đã sớm đi theo mẹ, bỏ lại lũ cháu thơ côi cút.


Đêm hôm đó, Tú Chiểu trằn trọc không ngủ. Ông muốn làm một bài thơ để khóc người nghĩa sĩ cũng như đã làm thơ khóc Trương Định năm trước. Nhưng nghĩ hoài mà chưa được ý nào. Chữ nghĩa hình như trốn đi đâu tất cả, không xuất hiện dễ dàng như khi ông làm thơ khóc Trương Định. Có lẽ vì Phan Ngọc Tòng sống gần gũii ông trong suốt mấy năm trời, nên khi nói về Tòng, ông muốn có cái gì thân mật hơn, bình dị hơn, hợp với tính tình của Tòng cũng như mối quan hệ giữa hai người.


Ông chợt nhớ có lần Tòng sang khoe mới làm xong một bài thơ, muốn đọc ông nghe. Đó là bài thơ Giã vợ:


Từ thuở vương mang mối chỉ hồng.


Lòng này ghi tạc có non sông.


Góc trời khuấy phá ba thằng giặc,


Mối nợ đền bồi một tấc công.


Cơ tạo phỉnh phờ duyên thục nữ,


Máy binh ràng buộc khách anh hùng.


Phơi gan đắp lũy ba giềng nặng,


Xin hãy an tâm vẹn chữ tòng.


Bữa đó Tú Chiểu có nhắc: hai câu đầu sao lại giống hai câu trong bài thơ Giã vợ đi làm quan của Phan Thanh Giản, thì Phan Ngọc Tòng cười bảo mình cố ý làm như vậy, để so sánh với bài thơ của Phan Thanh Giản, vì cùng là giã vợ nhưng đằng này giã vợ để đi đánh giặc. Hôm nay nhớ lại chuyện ấy, Tú Chiểu bỗng thấy con người Phan Ngọc Tòng đã khác hẳn Phan Thanh Giản, mà cái chết của hai người cũng khác nhau! Đúng là có cái chết nặng như non Thái mà có cái chết nhẹ như lông hồng! Phan Ngọc Tòng chết một cách thanh thản nhẹ nhàng, những ngón tay in vết lên cổ giặc như dấu ấn của một cuộc đời oanh liệt, hào hùng. Còn Phan Thanh Giản sau khi đã dâng thành cho giặc mượn cái chết để bào chữa phần nào tội lỗi, tuyệt thực hơn mười ngày không chết phải dùng thuốc phiện, dấm thanh mới kết liễu được cuộc đời, cái chết của ông ta quằn quại, gượng gạo biết bao nhiêu. Phan Ngọc Tòng không cần tự tay viết chín chữ minh tinh cho mình như Phan Thanh Giản, mà tấm gương sáng của ông còn khắc trong lòng dân những nét không thể phai mờ. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Cạnh tấm bia đá người ta khắc trên mộ Phan Thanh Giản, ông cũng muốn khắc một tấm bia miệng cho Phan Ngọc Tòng, đó là bài thơ khóc người nghĩa sĩ. Vạn nhất mà bài thơ được truyền tụng thì đó là cách thiết thực nhất để tỏ lòng nhớ tiếc và biết ơn người bạn trẻ anh hùng đã cùng ông chia sẻ bao nhiêu kỷ niệm.


Cảm hứng chợt đến. Ông nhẩm bài thơ trong óc cho thuộc trước khi gọi con dậy chép bài thơ:


Thương thay người ngọc ở Bình Đông,


Lớn nhỏ trong làng thảy mến trông.


Biết đạo khác bày con mất tục,


Dạy dân nắm giữ tấm lòng công


Bỗng ông đọc lên thành tiếng lúc nào không biết:


Đặng danh vừa rạng bề nhà cửa


Vì nghĩa riêng đền nợ núi sông


Một trận trải gan trời đất thấy


So xưa nào thẹn tiếng anh hùng


Mỗi lúc ông càng cao giọng hơn:


Làm người trung nghĩa đáng bia son


Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn


Cơm áo đền bồi ơn đất nước,


Râu mày giữ vẹn phận tôi con.


Tinh thần hai chữ phao sương tuyết,


Khí phách ngàn thu rỡ núi non…


Bỗng nghe có tiếng động. Thì ra tiếng đọc thơ giữa đêm vắng đã đánh thức cả nhà dậy ngồi quây quanh ông. Cô bé Xuân Khuê([2]) mới sáu tuổi mà rất thông minh, cô khoe với cha:


- Nãy giờ cha đọc thơ con đã thuộc hết trơn rồi cha à.


Tú Chiểu xoa đầu con khen:


- Giỏi lắm! Đọc lại cha nghe coi nào!


Xuân Khuê cất giọng lanh lảnh:


Thương thay tạo vật khuấy người ta,


Nam đỗi làm Tây, chính lại tà,


Trống nghĩa Bảo An theo sấm rạp,


Cờ thù công tử guộng mây qua…


Mấy câu này khó quá con không hiểu cha à…


Tú Chiểu ôn tồn giảng:


- Công tử đây là hai cậu Phan Liêm, Phan Tôn đứng lên chống giặc ở làng Bảo An, đang lúc nghĩa quân gặp khó khăn thì bác Tòng tới chung vai gánh vác việc nước, con hiểu chưa?


Xuân Khuê vui vẻ:


- Con hiểu rồi cha à. Làm thơ thích thiệt, sau này lớn lên, con cũng làm thơ như cha.


Cậu bé Chúc, anh của Xuân Khuê nói xen vào:


- Sau này lớn lên, con cũng đánh giặc như bác Tòng.


Rồi cả mấy đứa con nhỏ cùng nhao nhao:


- Con cũng thế! Con cũng thế!


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








[1] Năm 1867.




[2] Sau này trở thành nữ sĩ Sương Nguyệt Anh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »