tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18460344
Tiểu thuyết
05.12.2014
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

XI- Tú Chiểu khăn đen, áo rộng ngồi chỉnh tề trên ván, chống khuỷu tay lên mặt tráp. Dưới mặt sàn trải chiếu, học trò im lặng lắng nghe từng tiếng giảnh sách rành rọt:


- Bữa nay, thầy giảng cho các con một đoạn Nam sử, đó là đoạn chép bài Bình Ngô Đại Cáo của cụ Ức Trai làm sau khi đuổi xong giặc Minh về nước.


Tú Chiểu giảng rất kỹ từng câu từng chữ của Ức Trai.


Học trò ngồi nghe há hốc mồm như nuốt lấy lời thầy vào bụng.


Giọng Tú Chiểu càng tha thiết:


- Các con nghe đoạn này sẽ thấy cụ Ức Trai kể tội giặc Minh nghiêm khắc như thế nào:


Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu,


Nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim trả.


Tàn hại cả côn trùng, thảo mộc,


Nheo nhóc thay quan quả điên liên,


Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,


Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho    vừa,


Nặng nề về những nỗi phu phen,


Bắt bớ mất cả nghề canh cửi…


Học trò nghe bỗng lặng đi. Những lời văn viết cách đây hơn hai trăm năm sao hợp với cảnh trước mắt đến vậy, hình như cụ Ức Trai cố ý viết riêngcho dân làng An Bình Đông và cả vùng Bai Tri này. Vừa rồi dân làng đã phải đi xâu lên chợ Bến Tre xây dinh cho tên tham biện, lại phải đắp lộ đá xanh, lộ đá đỏ từ tỉnh lỵ thẳng đếnbãi biển Ba Tri. Ba Tri tước đây sống về nghề dệt vải dệt lụa. Không kể thứ lụa đen có vân nổi lên như sóng phải đem tiến vua, vải Ba Tri bán khắp nơi đến tơ sống cũng có khách mua mang về Sài Gòn, Châu Đốc, Nam Vang… Trên đất Ba Tri, đi tới đâu cũng thấy bông vải nở trắng xóa. Vào trong các xóm kín sâu dưới rặng dừa giữa buổi trưa hè, người ta có thể nghe thấy tiếng rì rào trên những nong tầm sẻ, tằm bầu điều, tằm bầu bí, tằm xiêm, tằm xa nghệ, tằm men so… đang ăn rỗi, tiếng xè xè của những guồng xa ươm kén kéo tơ và tiếng lách cách thoi đưa trên khung dệt lụa… Vậy mà mấy năm nay vì thuế má bọn Lang-Sa đánh quá nặng nên việc canh cửi đã bị bỏ phế…


Ngừng một lát cho học trò thấm thía nhuững lời vừa giảng, ông Tú lại tiếp:


- Các con coi đây. Cụ Ức Trai chỉ cần viết: “Vì họ Hồ chính sự phiền hà để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược”, đủ đập tan cái danh nghĩa trị tội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, để xâm lược nước ta của quân Minh. Câu “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, đủ kết án giặc Minh đã bại nghĩa, thương nhân. Văn mở ra thắt lại, đủ cả sự. tình, lý, lập luận chặt chẽ, kết cấu gọn gàng, vừa mạch lạc vừa hùng hồn, chẳng tránh người ta gọi là “thiên cổ hùng văn” cũng phải.


Học trò đều tấm tắc. Nếu không được thầy giảng sâu thì hòn ngọc quý mấy trăm năm đã bị bụi phủ lấp rồi còn gì. Lời cụ Ức Trai như thức tỉnh những con cháu hôm nay niềm dau xót tủi nhục của người dân sống dưới ách ngoại xâm đè nén.


Giữa lúc đó, một trò nhỏ hối hả ghé vào tai thầy nói:


- Thưa thầy có người lạ tới, đi xe ngựa sang lắm nhưng họ xuống xe ngay đầu chợ và đi bộ vào đây. Con về báo trước để thầy định liệu.


Tú Chiểu thận trọng, bảo học trò:


- Các con hãy tạm cất sách Nam sử đi, đem sách Luận ngữ ra mà học.


Tiếng ê a lại cất lên một nhịp. Đến câu cuối cùng bên ngoài cũng có tiếng ê a phụ họa theo:


- Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ, hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ…([1])


Tú Chiểu lắng nghe, rồi hỏi:


- Có phải Phủ Ba Tường đấy không?


Có tiếng trả lời:


- Thưa phải đấy ạ.


- Sao lại có chuyện rồng đến nhà tôm như thế này?


Tú Chiểu vừa nói vừa thầm nghĩ: Từ ngày gặp thằng Tường trong cuộc bình thơ Bạch mai thi xã ở chùa Cây Mai tới giờ, mình mới gặp lại hắn. Hắn đã đi theo Lang-Sa nay lại tới đây, hẳn là có chuyện.


Tôn Thọ Tường, áo dài xuyến đen, bịt khăn đóng, giày hàm ếch thêu cườm chữ “ngẫu” từ ngoài vào, giọng bả lả:


- Huynh cứ nói vậy chớ! Đệ xa huynh lâu vẫn có lòng mong nhớ, nhân được dịp rảnh về viếng huynh, ta cùng hàn huyên cho thỏa lòng khao khát…


Tú Chiểu bảo học trò tạm dẹp sách ra chơi, rồi nghiêm nghị nói với Tường:


- Lúc này bác là quan lớn, vậy mà tới đây có một mình ên sao?


Tường ấp úng:


- À có, đệ biểu tụi nó đứng chờ ở ngoải không được làm kinh động chốn cửa Khổng sân Trình! Bay đâu, vô đây nghen!


Hai lính hầu khiêng một cái hũ đặt trước sân. Tường nói với Tú Chiểu:


- Có gì đâu. Nghe lời ông Cử Trị truyền đi nói huynh chê đệ không biết ăn mắm sống, bởi vậy nhân có hũmắm người ta mang tới biếu, đệ mang tặng lại huynh để huynh mời ông Cử Trị cùg thưởng thức coi đệ đâu có bỏ cái món quốc hồn quốc túy? Bay đâu, khiêng xuống nhà dưới nghen!


Hai tên lính khiêng xuống nhà bếp rồi lui ra, Tú Chiểu nói:


- Nếu chỉ là món mắm, bác đã cho, tôi đâu dám câu nệ chối từ. Nhưng trước khi cám ơn bác, bác cho tôi hỏi, ngoài chuyện cho mắm, bác tới đây còn có chuyện chi khác nữa không?


Tường cười xòa:


- Huynh tinh thiệt đó, hổng ai giấu nhẹm huynh được chuyện gì hết trơn. Đệ tới đây cũng có công chuyện, nhân dịp ghé viếng thăm huynh cho thỏa tình tri âm. Hà hà…


Tú Chiểu hơi nhếch mép:


- Hăm hở nhạc Tây hơi trỗi mạnh, chỉ có người Tây mới là tri âm của bác chớ tôi chỉ là đàn khảy tai trâu mà thôi.


- Huynh nói chi vậy cho nó nặng tình ra. Đệ về đây là muốn cậy huynh chút việc. Số là, đệ với quan Phan ngày trước có cái tình tri ngộ, đệ đã từng theo ngài lúc sứ bộ sang Tây kinh mà. Quan Phan biết thời thế nên đã nhường ba tỉnh phía Tây cho người Lang-Sa, vậy mà cậu Ba, cậu Năm lại trái ý ngài, mộ quân cự nhau với họ. Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ([2]), đằng này quan Phan mới nhắm mắt chưa đầy ba tháng, mồ chưa xanh cỏ mà hai cậu đã phế bỏ lời cha…Vì vậy đệ muốn cậy huynh lấy tình sư đệ khuyên hai cậu bãi binh, nếu hai cậu ưng thì đệ xin đứng ra bảo lãnh cho được vô sự, không những vậy mà còn xin cho hai cậu được tập ấm của quan Phan nữa…


- Bác muốn cho cậu Ba và cậu Năm ra làm quan với Lang-Sa, vậy mới là xúi giục cho hai cậu làm trái lời cha chớ. Tôi nhớ khi quan Phan qua đời có để di chúc dặn con cháu không được nhận chức tước của Tây kia mà…


- Không ra làm quan thì thôi nhưng cứ yên nghiệp làm ăn, đừng chống nhau với họ mới phải chớ…


- Tôi thấy chính việc hai cậu chống lại Lang-Sa để sửa lỗi cho cha như vậy mới thiệt là đại hiếu. Ngày xưa, ông Cổ Tẩu là người dở mà con là Thuấn lại hiền làm nhiều việc ích lợi cho dân. Ông Cổn trị thủy không xong mà con là Vũ làm lại thành công, như vậy là con đã chuộc lỗi cho cha, bác nghĩ sao?


Tường nhăn mặt:


- Người thường như bọn mình đâu dám sánh với bậc thánh nhân. Bác nghĩ coi, nhà nước Lang-Sa binh rồng tướng cọp, còn mình đây chẳng khác nào một bầy trẻ lăng xăng, lấy dây chuối mà cột gốc cả kéo sao cho ngã. Ngay như trước đây, mình lương tiền sẵn, quân lính đông, súng đạn nhiều, thành lũy có, quan tỉnh nhất hô dân sự ngoài vạn ứng mà không thắng nổi họ thay, huống nay hai cậu muốn cử sự chống trả người Tây mà không tìm ra nơi hiểm địa, tính chọi nhau nơi đồng bằng này, liệu có thắng được không? Bởi vậy nghe tin hai cậu dám cự nhau với họ tôi trộm lấy làm lo lắng cho hai cậu lắm.


Tú Chiểu mỉm cười:


- Còn tôi thì lại lấy làm lo lắng cho bác, bởi chưa cần bắt mạch, tôi đã biết bác bị trúng làn gió Tây nhiễm độc vào tạng phủ rồi…


- Huynh nỡ nào gieo tiếng ác cho nhau như vậy. Bởi nghĩ rằng không nói thì phụ tình tri ngộ của quan Phan nên chẳng đặng đừng phải tỏ thiệt: nếu hai cậu không biết đường về thú với người Lang-Sa, họ mang đại binh tới đây thì không những mạng hai cậu khó toàn mà xóm làng cũng không yên được. Huynh điềm nhiên nhìn cái cảnh người chết, nhà tan, dân cư hóa thành bình địa mà không động lòng hay sao?


- Tôi động lòng vì cảnh đó từ lâu mới không thể làm ngơ trước tội ác của lũ giặc Tây…


Tường ngắt lời:


- Tôi biết chớ! Huynh đã từng đi lại vơí ông Huyện Thoại, ông Lãnh Định, ông Đốc binh Là… Tôi đâu có lạ. Nhưng các ổng là người có chức phận triều đình, đem thân ra gánh vác công việc là hợp lẽ, còn huynh là ông thầy đồ, có bị áo xiêm ràng buộc gì đâu mà lo chuyện nợ áo cơm phải trả đến hình hài. Huynh chẳng nhớ sách Mạnh tử đã dạy hay sao? Tăng Tử là khách dạy học ở đât Võ Thành, giặc nước Việt tới, Tăng Tử bỏ nhà ra đi, còn dặn kỹ đừng cho người lạ vô nhà mà phá phách cây gỗ, giặc lui rồi, Tăng Tử lại trở về nhà. Tử Tư làm quan nước Vệ, giặc nước Tề tới, Tử Tư ở lại cùng với vua Vệ chống giặc. Mạnh Tử bảo: Tăng Tử làm thầy học không có bổn phận dẹp giặc nên không cần ở lại, còn Tử Tư là bề tôi, có trách nhiệm giữ giặc thì phải ở lại. nay huynh triều không ngồi, yến không dự, được nước không phải công ở huynh, mất nước không phải tội của huynh hà tất phải khu khu nhọc mình như vậy…


Tú Chiểu cười nhạt:


- Xem chừng bác thuộc nhiều sách lắm chỉ còn quên một câu vỡ lòng Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách([3]) mà thôi.


Tường đỏ mặt ngượng nghịu:


- Huynh à tôi dư hiểu tấm lòng ưu ái của huynh, nhưng ở đời cần phải tùy thời. Mạnh Tử từng khen Đức Thánh Khổng: nên chóng thì chóng, nên chậm thì chậm, nên ở nhà thì ở nhà, nên ra làm quan thì ra làm quan, Đức Khổng là bậc thánh chi thời


Tú Chiểu nghiêm giọng:


- Bác vừa nói người thường bọn mình đâu dám so sánh với bậc thánh nhân kia mà. Nói vậy thôi chớ Mạnh Tử còn khen Y Doãn là bậc thánh chi nhậm, vì biết gánh vác trách nhiệm giúp Thành Thang diệt chúa Kiệt vô đạo. Nay bọn Lang-Sa vô đạo còn gấp mấy Kiệt Trụ ngày xưa mà không vì dân đánh kẻ có tội, tôi e chính bác mới là người trái lời dạy của thánh hiền đó đa…


Tường bẽ mặt cười trừ:


- Huynh thiệt là lợi khẩu, dẫu Mạnh Tử sống lại còn phải thua. Hề hề…


Giữa lúc đó cậu con trai nhỏ của Tú Chiểu từ nhà bếp lên thưa khẽ với ông điều gì. Nghe xong, mặt ông đầy sắc giận, quay lại Tường, giọng nghiêm nghị:


- Bác Tường, tôi nghĩ bác thiệt tình cho mắm, nào dè khi nhà tôi quen lệ dọn cơm đãi khách, lấy mắm thấy dưới hũ có một khối vàng. Xưa Quản Au An đang bừa thấy vàng không thèm nhặt, trả lại cho chủ đất cũ, người đời còn khen là liêm. Nay tôi biết vàng này trích trong số vàng Tây thưởng công bác đã dụ hàng được tiến sĩ Phan Hiển Đạo. Sau ông nghè Đạo hối hận đã trót nghe theo lời bác nên tự tử chết, bác muốn tôi nhận số vàng này để càng thêm tủi thẹn trước vong linh ổng hay sao?


Tường lúng túng:


- Đệ biết huynh nghèo nên muốn giúp huynh ít nhiều, học gương Bão Thúc Nha giúp Quản Trọng ngày trước. Nhưng sợ giúp đường đường bác không chịu nhận nên phải quyền biến giấu vào hũ mắm, mong huynh thể tình mà lượng xét cho.


- Tôi còn nhớ có lúc bác đi thi dùm người khác bị bắt tội bác cũng phân trần: Vì nhà túng rối nên quyền biến. Phép nước răn he há dám khinh. Còn bây giờ bác quyền biến không chỉ là việc nhà mà còn phạm vào phép nước. Trừ phi nước của bác là nước mẹ Lang-Sa thì mới kể được là công mà thôi. Bác nghe tôi đem hũ mắm về thôi, kẻo chuyện này không bịt kín mãi được.


Tường ngượng nghịu truyền cho lính khiêng hũ mắm ra cửa rồi bẽn lẽn cáo từ. Y vừa ra tới cửa thì con chó trong nhà chạy theo sủa vang. Tường mượn dịp mắng xéo một câu:


- Hà, Chích khuyển phệ Nghiêu([4]).


Bỗng Phan Ngọc Tòng từ ngoài vào nghe thấy, nạt lớn:


- Cái nhà anh này bảo ai là Chích ai là Nghiêu hả? Ở đâu sớ rớ tới đây muốn ăn đòn phải không? Coi chừng!


Thấy Tòng người cao lớn lực lưỡng, tiếng oang oang như lệnh vỡ, Tường sợ hãi cúi đầu len lét chuồn thẳng. Tòng vô hỏi Tú Chiểu:


- Thằng đó là ai vậy thầy?


Tú Chiểu điềm đạm:


- À nó thằng phủ Ba Tường theo lịnh Tây tới cậy tôi khuyên dùm cậu Ba cậu Năm bãi binh đó mà.


Phan Ngọc Tòng trợn mắt:


- Thầy không nói ngay từ đầu chớ nếu biết thì tôi đập bể sọ thằng đó rồi.


- Giết thằng đó ở đây lộ liễu, có hại cho việc lớn. Cậu Ba có nhắn tin gì cho tôi không?


Phan Ngọc Tòng nhỏ giọng:


- Cậu Ba có cho biết, bọn Lang-Sa sắp kéo quân về đánh làng Hương Điểm vì nó nghe tin nghĩa quân tập hợp ở đó. Chưa biết chừng nó sẽ tràn cả sang bên Ba Tri này, nên cậu Ba nhắn với Thầy nên tạm lánh một nơi, bao giờ bọn chúng rút đi hãy quay về.


Tú Chiểu cảm động:


- Cậu Ba thương tôi mắt kém nên không muốn tôi ở nơi xảy ra trận mạc. Nhưng tôi đã lánh giặc từ Gia Định tới Cần Giuộc, rồi lại Cần Giuộc tới đây, bây giờ lại lánh giặc nữa thì cuối cùng đến bỏ nước này mà đi hay sao? Tôi thề ở lại chia sẻ gian lao nguy hiểm với bà con, không đi đâu hết.


Phan Ngọc Tòng xúc cảm nắm lấy bàn tay gầy xanh của Tú Chiểu:


- Tôi rất hiểu thầy.


- Thì cũng như bác đó thôi. Bác đang làm Hương giáo, can cớ gì lại ra nhận chức Đốc binh của nghĩa quân…


Hai người cùng cười. Phan Ngọc Tòng lại hỏi:


- Cậu Ba cậu Năm còn nhắn hỏi thêm thầy nếu giặc đánh tới Hương Điểm, liệu ta nên đối phó cách nào?


Tú Chiểu im lặng suy nghĩ. Phan Ngọc Tòng hỏi:


- Cứ ý tôi thế này có được không? Ta nên dùng lại cái mẹo của Lãnh binh Mỹ Lồng dùng để đánh giặc Lang-Sa ở đồn Cây Mai ngày trước. Đó là rải trái mù u trên mặt đường để giặc chạy qua vấp trái mù u trơn mà trượt té, giữa lúc đó quân cảm tử của ta mai phục sẵn trong bụi rậm đổ ra chém liền là chúng không kịp trở tay.


- Không được. Muốn dùng mẹo đó thì phải đợi lúc giặc đi qua con đường nhỏ hẹp hai bên cây cối um tùm mới có hiệu quả. Tôi thấy ta nên dùng kế dĩ dật đãi lao([5]) đánh địch. Lúc chúng mới đến thanh thế rất lớn ta không nên đương cự vội. Cứ để chúng đóng quân đâu vào đó, tưởng như vào chổ không người, sẽ sanh ra kiêu ngạo, khinh địch, lúc đó ta mới nhằm lúc sơ hở mà tập kích, chắc chắn sẽ thắng.


- Tôi tưởng lúc chúng mới đến còn mệt nhọc, ta cứ đánh một đòn phủ đầu, có phải là làm cho chúng nhụt nhuệ khí hay không?


Tú Chiểu lắc đầu:


- Không được. Những trận trước bọn giặc từ xa tới thì có thể nhân lúc mệt nhọc mà đánh phủ đầu, còn đây là bọn giặc đóng ở chợ Bến Tre kéo xuống thì không thể dùng mẹo đó được. Ta phải luôn luôn dùng kế nghi binh, dương đông kích tây, quấy rối địch mọi nơi, mọi lúc mới làm chúng mỏi mệt, hoang mang, chớ cứ đường đường dàn trận thì khó lòng thắng nổi súng ống tinh xảo của chúng.


Còn nhằm lúc chúng sơ hở mà đánh, thì nên dùng bạch binh xáp lá cà mới làm cho súng ống của chúng mất công hiệu. Bác cứ về thưa với hai cậu như lời tôi nói nghe không?


Phan Ngọc Tòng vừa chắp tay cáo biệt, thì cả toán học trò của Tú Chiểu đã từ ngoài sân ùa vào, vái chào Tòng rồi chắp tay nói với thầy:


- Thưa thầy, xin thầy cho phép con được theo ông Đốc binh đi đánh giặc.


Tú Chiểu chưa biết nói sao thì Phan Ngọc Tòng đỡ lời:


- Các cháu còn ít tuổi, cứ học hành cho giỏi đi đã rồi một vài năm nữa trưởng thành hãy đi đánh giặc cũng chưa muộn.


Anh trưởng tràng vội thưa:


- Thưa thầy, thưa ông Đốc, chúng con nghĩ học cũng để biết đạo làm người. Mà đạo làm người như thầy thường dạy là phải xông ra giết giặc cứu nước. Tuổi chúng con hiện nay cũng xấp xỉ tuổi Trần Quốc Toản ngày xưa vậy mà không ra giết giặc khi chúng kéo tới quê hương thì còn đợi đến lúc nào?


Tất cả học trò đều đồng thanh:


-Xin thầy nói dùm với ông Đốc cho chúng con được theo đi đánh giặc.


Tú Chiểu cảm động:


- Thầy rất hiểu tấm lòng trung nghĩa của các con nhưng đã vào quân ngũ là phải có phép tắc, hễ tiến lên thì thà chết không lùi. Các con có giữ được điều đó thì hãy theo bác Đốc đi đánh giặc. Còn nếu sợ giặc lùi bước, để nhơ lây đến tiếng trường ta, thì thà đừng đi còn hơn.


Tất cả học trò lại đồng thanh, chúng con xin hứa vớí thầy và ông Đốc: chỉ tiến không lùi.


Tú Chiểu quay sang Phan Ngọc Tòng:


- Thôi nếu chúng đã quyết tâm như thế thì bác Đốc cũng nên thể tình cho chúng.


Phan Ngọc Tòng nói với đám học trò:


- Bác bằng lòng nhận các cháu vào đội ngũ, nhưng trong lúc này cứ ở lại canh giữ xóm làng đã, nếu giặc kéo tới làng sẽ xông ra chặn giặc. Bây giờ bác phải đi gặp hai vị chủ tướng nghĩa quân, hôm sau ta sẽ gặp nhau bàn bạc thêm. Các cháu thấy thế nào?


Tất cả đồng thanh:


- Chúng cháu xin nghe lời bác.


Tú Chiểu cười:


- Bây giờ vào cơ ngũ rồi thì phải nói: “Chúng tiểu tốt xin vâng lệnh tướng quân” mới hợp với phép tắc chớ.


Phan Ngọc Tòng cười, nói với Tú Chiểu:


- Thì đây là đội quân người nhà, phụ tử chi binh, cần gì phải lễ nghi phiền phức. Bây giờ xin phép thầy, tôi phải đến chỗ hai cậu kẻo mọi người trông.


Sau khi từ biệt, Tú Chiểu bùi ngùi lắng nghe tiếng bước chân Tòng mỗi lúc một xa dần. Miệng ông hé một nụ cười. Có những con người như Tòng và đám học trò ông thì đất nước còn có ngày mở mặt.


Rồi ông quay lại nói với học trò, giọng chắc nịch:


 - Việc nào đi việc ấy. Các con quay vào, ta học tiếp.


Học trò lục tục ngồi vào chỗ. Giọng Tú Chiểu giảng tiếp bài “Bình Ngô đại cáo”, mỗi lúc càng đanh thép hơn, hùng hồn hơn:


Sĩ tốt ra oai tì hổ, Thần thứ đủ mặt trảo nha.


Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,


Voi uống nước, nước sông cũng cạn.


Đánh một trận sạch không kinh ngạc,


Đánh hai trận, tan tác chim muông.


Cơn gió to trút sạch lá khô,


Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ.


Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi,


Hoàng Phúc tự trói để ra hàng,


Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường,


Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước,


Gớm ghê thay, sắc phong vân cũng đổi,


Thảm đạm thay, sáng nhật nguyệt phải mờ…


 


Giọng đọc của Tú Chiểu khiến người nghe đều nức lòng, như nghe lời hịch giục giã mọi người xuất quân ra trận.


Trong giây lát, họ mường tượng thấy dường như Nguyễn Trãi đã nhập thân vào người thầy học vô cùng kính mến của họ.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







[1] Học mà thưòng ôn tập luôn, há chẳng thích sao. Có bè bạn từ phương xa tới, há chẳng vuii sao (câu trong sách Luận ngữ).




[2] Ba năm không đổi cái đạo của cha, như vậy mới coi là hiếu.




[3] Nước nhà hung vong, kẻ thất phu cũng còn có trách nhiệm.




[4] Con chó nhà kẻ trộm, cắn vua Nghiêu.




[5] Dùng quân thảnh thơi đón đánh quân nhọc mệt.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »