tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21313351
Những bài báo
27.11.2014
Tư liệu
J.K.Rowling là tác giả quyền lực nhất Hollywood

Nhà văn J.K.Rowling, tác giả bộ truyện Harry Potter, vừa được Hollywood Reporter bình chọn là tác giả "quyền lực nhất" kinh đô điện ảnh Hollywood.


Ngành công nghiệp điện ảnh đang chứng kiến thời kỳ hoàng kim của việc chuyển thể những tiểu thuyết đình đám. Những cuốn sách ăn khách đã là nguồn nguyên liệu cho hơn 300 dự án phim và truyền hình, đem về cho nhà sản xuất hàng tỉ USD doanh thu phòng vé và các dịch vụ ăn theo khác.


Trong danh sách 25 tác giả quyền lực nhất do Hollywood Reporter công bố ngày 25.11, nhà văn người Anh J.K.Rowling xếp vị trí số 1 nhờ vào việc khai sinh ra thế giới phù thủy Harry Potter đầy hấp dẫn. Tám tập phim Harry Potter đã đem về hơn 7,7 tỉ USD doanh thu phòng vé toàn cầu cho hãng Warner Bros, trở thành loạt phim ăn khách nhất mọi thời đại.


Hồi tháng 4, đài BBC và HBO đã phối hợp đưa tác phẩm The Casual vacancy (Khoảng trống), tiểu thuyết dành cho người lớn đầu tiên của Rowling, lên truyền hình.


Gần đây nhất, tác phẩm Fantastic beasts and where to find them (tạm dịch: Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng) được hãng Warner Bros. lên kế hoạch dựng thành ba tập phim. Đây được xem là phần mở rộng của thế giới Harry Potter kỳ thú.


Theo Hollywood Reporter, bà Rowling là tác giả có nhiều ảnh hưởng nhất đến ngành công nghiệp điện ảnh kể từ sau khi George Lucas sáng tạo ra thế giới Star wars (Chiến tranh giữa các vì sao) vào năm 1977.


‘Khoảng trống’ của J.K.Rowling lên phim


Tác giả Harry Potter J.K.Rowling đang phối hợp với BBC và HBO đưa cuốn Khoảng trống (tựa tiếng Anh: The casual vacancy), tiểu thuyết dành cho người lớn đầu tiên của bà, lên truyền hình.


 Rowling cho rằng BBC là “ngôi nhà hoàn hảo” để đưa Khoảng trống lên phim - Ảnh: Reuters


Hollywood Reporter ngày 23.4 cho biết, nhà văn Anh J.K.Rowling đang hợp tác với đài BBC và HBO để dựng tác phẩm Khoảng trống thành một bộ phim truyền hình ngắn, khoảng 3 giờ.


Việc dựng phim cho tác phẩm này đã được đài BBC tuyên bố vào năm 2012 nhưng gần đây các nhà sản xuất mới có kế hoạch cụ thể.


Phim sẽ khởi quay vào mùa hè này tại vùng tây nam nước Anh. Hollywood Repoerter cũng cho biết Rowling sẽ đảm nhiệm vai trò điều hành sản xuất cho bộ phim.


Trước đó, các nhà sản xuất dự định phim sẽ lên sóng trong năm 2014, nhưng lịch phát sóng chính thức vẫn chưa được tiết lộ.


Nội dung Khoảng trống tập trung vào cuộc sống ở một ngôi làng bình dị của nước Anh, nơi ẩn chứa nhiều mâu thuẫn giữa người giàu với người nghèo, vợ với chồng, cha mẹ với con cái, giáo viên với học sinh…


Ra mắt vào năm 2012, đây là tiểu thuyết dành cho người lớn đầu tiên của Rowling sau loạt Harry Potter đình đám.


Mặc dù có nhiều ý kiến khen chê khác nhau, cuốn sách cũng đã bán được hơn 6 triệu bản trên toàn thế giới.


Thùy Dung


thanhnien.com.vn


Giới thiệu sách trinh thám mới của tác giả 'Harry Potter'


Con chim khát tổ (tên gốc: The Cuckoo's calling, Hồ Thị Như Mai dịch, Nhà xuất bản Trẻ) là cuốn sách đầu tiên trong series sách trinh thám của Robert Galbraith (bút danh khác của J.K.Rowling, tác giả bộ truyện Harry Potter lừng danh).


Con chim khát tổ là cuốn sách viết cho người lớn thứ hai của nhà văn J.K.Rowling. Bà đổi bút danh là Robert Galbraith để tránh áp lực từ truyền thông và bạn đọc, có lẽ do rút kinh nghiệm khi viết cuốn The Casual Vacancy (Khoảng trống). Tuy là một cuốn sách trinh thám, nhưng có thể nhận thấy những khía cạnh tâm lý xã hội được nhấn mạnh, chứ không hẳn là những yếu tố ly kỳ rùng rợn.


Từ “Cuckoo” trong tựa sách có nhiều hàm ý. Loài chim này không tự làm tổ mà đẻ trứng trong tổ chim khác, và chim con nở ra liền đạp chim chủ ra khỏi tổ để sinh tồn. Những nhân vật trong truyện đều có một mái ấm đổ vỡ hoặc méo mó, và điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến hành vi cả đời của họ.


"The cuckoo’s calling" là cụm từ trích từ Một khúc bi ca, bài thơ khóc thương sự qua đời của một cô gái khi còn quá trẻ. Như Lula chết tức tưởi năm 23 tuổi, khi đang rạng ngời vẻ thanh xuân.


Ngay khi Con chim khát tổ được xuất bản ở Việt Nam (dự kiến phát hành trên toàn quốc vào ngày 24.3.2014), quyển tiếp theo về chàng thám thử Commoran Strike là Silkworm (Con tằm) đã chuẩn bị tung ra tại Anh vào mùa hè 2014 với sự kỳ vọng lớn từ công chúng.


Con chim khát tổ là vụ điều tra về cái chết của cô người mẫu nổi tiếng Lula Landry. Cô rơi xuống từ ban công nhà mình vào lúc tờ mờ sáng, cảnh sát không tìm thấy dấu vết hung thủ và mọi người đều cho rằng đây là một vụ tự sát, kết cục tất yếu của lối sống buông thả, lại thêm chứng trầm cảm và tiền sử lạm dụng thuốc.


Không tin điều đó, John - anh trai cô, thuê thám tử tư Comoran Strike điều tra lại về cái chết em gái. Cuộc điều tra dẫn Strike, cùng với cô trợ lý Robin xinh đẹp nhanh nhẹn, đến nhiều nơi chốn, gặp gỡ nhiều người Lula từng quan hệ, từ đó mở ra những thế giới đa sắc thú vị...


Truyện mở ra một kết thúc bất ngờ, đồng thời hé lộ nhiều góc khuất khác trong cuộc sống.


Tuy nội dung vụ án không quá lắt léo ly kỳ kiểu Sherlock Home, Con chim khát tổ vẫn khiến người đọc bất ngờ đến tận đoạn cuối.


Tác phẩm gây thích thú ở những chi tiết “ít người biết mà ai cũng thích nghe” như thông tin về giới người mẫu, ca sĩ, mặt trái của sự nổi tiếng, cuộc sống xa hoa của giới thượng lưu, những góc cạnh “xù xì” của giới quân nhân, cảnh sát...


Được sự chấp thuận của tác giả và Nhà xuất bản Trẻ, Thanh Niên Online trân trọng giới thiệu đến bạn đọc phần đầu cuốn sách này:


Lời mở


Không khí trên phố nôn nao, tựa như có hàng ngàn con ruồi vô hình bay vo ve. Đám nhiếp ảnh gia tập trung ngay sau hàng rào cảnh sát, chĩa ống kính vào hiện trường, hơi thở bốc khói. Tuyết rơi đều trên mũ, trên vai áo, những ngón tay đeo găng liên tục phải lau ống kính cho khỏi mờ. Thỉnh thoảng lại rộ lên từng đợt bấm máy lích kích.  Cũng chẳng có gì mới, họ đành chụp tạm cái lều bạt trắng dựng lên giữa đường ngay lối vào tòa nhà căn hộ bằng gạch đỏ cao sừng sững, nơi có người vừa rơi xuống từ ban công tầng cao nhất.


            Ngay sau đám paparazzi chen chặt là mấy chiếc xe tải trắng lắp đĩa vệ tinh. Cánh nhà báo đứng quanh liên tục nói và nói, nghe có cả tiếng nước ngoài. Trong khi đó, các kỹ thuật viên âm thanh đeo tai nghe lượn qua lượn lại. Giữa những đợt ghi hình, đám phóng viên lại dậm chân tại chỗ cho đỡ rét và liên tục xoa tay lên những cốc cà phê nóng vừa mới được đem về từ hàng nước cách đó vài dãy phố. Để giết thời gian, tay quay phim đội mũ len hết lia máy vào lưng của đám nhiếp ảnh gia, lại lia lên phía ban công, quét qua chỗ lều bạt nơi đặt thi thể nạn nhân, rồi lại sửa tư thế để lấy góc rộng, cho thấy sự hỗn độn vừa nổ ra trên con phố Mayfair ngày thường vốn tĩnh lặng và trắng tuyết, với những cánh cửa đen bóng loáng giữa hai cột đá trắng, điểm xuyết những bụi cây cảnh tỉa tót. Lối vào nhà số 18 đã bị niêm phong bằng băng dính, nhưng từ ngoài nhìn vào vẫn có thể thấy được cảnh sát và các chuyên gia pháp y mặc đồ trắng đứng lố nhố ngay sảnh lễ tân.


            Các đài truyền hình đã phát tin này vài tiếng trước. Đám đông tụ tập ở hai phía đầu đường bị cảnh sát chặn lại không cho vào sâu thêm, có những người cố tình đến nghe ngóng, cũng có người chỉ tình cờ đi ngang qua trên đường đến sở làm. Nhiều người giơ điện thoại lên cao chụp vài pô rồi mới chịu rời đi. Một cậu trai trẻ không biết ban công nào là nơi vừa xảy ra án mạng, thế là chụp tất các ban công khu đó, cả cái ban công giữa có chúc ba cây cảnh tỉa hình cầu chen chúc, rõ là không thể đủ chỗ cho ai nhảy qua được.


           Có mấy cô gái vừa mang hoa tới và ngay lập tức lọt vào ống kính máy quay khi các cô đưa hoa cho cảnh sát. Anh cảnh sát nhận hoa cũng không biết phải để ở đâu, liền cẩn thận đặt hoa vào phía sau chiếc xe tải, biết chắc đám máy quay phim vẫn theo sát mình.


            Phóng viên của các kênh tin tức 24 giờ liên tục đưa ra bình luận và phỏng đoán quanh mấy chi tiết giật gân ít ỏi.


            “…từ căn hộ ở tầng cao nhất, khoảng 2 giờ sáng nay. Nhân viên an ninh của tòa nhà báo cảnh sát…”


            “…thi thể nạn nhân vẫn chưa được mang đi nơi khác, khiến cho nhiều người phỏng đoán…”


            “…không biết liệu nạn nhân có thực sự ở một mình lúc đó …”


            “…nhóm điều tra đã đi vào tòa nhà và sẽ tiến hành lục soát kỹ lưỡng.”


Bên trong lều bạt ngập ánh đèn trắng lạnh lẽo. Hai người đàn ông đang cúi người bên thi thể, chuẩn bị đưa vào túi đựng xác. Đầu cô gái rỉ chút máu ra tuyết trắng. Gương mặt đã dập và sưng, một bên mắt phồng lên và nhăn nhúm, mắt kia chỉ còn là một vệt trắng nhờ giữa hai mí mắt sưng húp. Lớp kim sa trên áo cô gái sáng lấp lánh, mỗi khi ánh sáng thay đổi lại gây cảm giác cử động rợn người, như thể cô vừa mới thở lại, hay gồng mình chuẩn bị ngồi dậy. Tuyết vẫn rơi đều, lộp độp trên tấm bạt căng lều.


“Sao đến giờ vẫn chưa thấy chiếc xe cứu thương chết dẫm nào cả?”


Thanh tra Roy Carver đang nổi nóng. Carver bụng phệ, mặt đỏ như thịt bò muối, nách áo sơ mi lúc nào cũng đẫm mồ hôi. Xem ra chút kiên nhẫn của ông đã cạn sạch từ mấy tiếng đồng hồ trước. Ông đã phải ngồi đây với cái xác từ lúc người ta mới khiêng vào; chân lạnh đến nỗi không còn cảm giác, đầu óc thì quay cuồng vì đói.


“Xe tới trong hai phút nữa,” Trung sĩ điều tra Eric Wardle bước vào lều, vô tình trả lời câu hỏi của thượng cấp trong khi vẫn nghe điện thoại. “Vừa chuẩn bị chỗ cho xe vào đây.”


Carver cằn nhằn. Ông đang bực mình, lại gặp cái cậu Wardle có vẻ thích thú đám nhiếp ảnh gia. Wardle đẹp trai kiểu hơi trẻ con, tóc nâu dày gợn sóng bám đầy tuyết. Carver biết chắc nãy giờ cậu ta cố tình dây dưa qua lại cho đám ngoài kia tha hồ chụp hình.


“Ít ra đám báo chí cũng sẽ biến khi người ta đem xác đi,” Wardle bình luận, trong khi mắt vẫn dán vào chỗ mấy tay thợ ảnh.


“Chỗ này còn là hiện trường án mạng thì còn lâu tụi đó mới đi,” Carver gằn giọng.


 Wardle không trả lời nữa. Carver sôi tiết lên.


“Con hâm đó nhảy lầu. Không có ai ở đó hết. Con mụ mà cậu gọi là nhân chứng đang phê trắng mắt ra...”


            “Xe tới rồi.” Wardle nói, rồi mặc cho Carver bực tức, cậu lách ra khỏi lều, cố ý đứng chờ xe ngay giữa rừng ống kính.


Vụ việc nóng hổi này khiến những tin tức về chính trị, chiến tranh và thảm họa bị dẹp qua một bên. Mỗi khi phát tin, người ta lại đưa ra những bức ảnh của nạn nhân với gương mặt không tỳ vết và cơ thể hoàn hảo, cân đối như tượng. Chỉ trong vòng vài tiếng, mấy chi tiết ít ỏi được biết cho tới lúc đó đã lan tỏa như một thứ virus đến hàng triệu người: nào là vụ cãi nhau nơi công cộng với anh người yêu nổi tiếng, chuyện bỏ về nhà một mình, tiếng hét và cuối cùng là cú ngã trí mạng…


Tay người yêu của nạn nhân sau đó đã lánh ngay vào trại cai nghiện. Cảnh sát không đưa ra bình luận nào. Tất cả những người có gặp nạn nhân buổi tối hôm đó đều bị truy tới cùng. Hàng ngàn cột báo, bao nhiêu tiếng đồng hồ tin tức truyền hình, lại thêm người đàn bà liên tục thề thốt là có nghe thấy tiếng cãi nhau trước khi nạn nhân rơi xuống cũng được nổi tiếng lây trong vài ngày ngắn ngủi. Bà ta cũng được đăng một tấm hình be bé ngay bên cạnh ảnh chân dung của nữ nạn nhân xinh đẹp.


            Nhưng rồi đám đông chỉ còn thiếu nước rên lên vì thất vọng, vì cảnh sát cho rằng nhân chứng nói dối, rồi sau đó chính bà  ta cũng lên đường vào trại cai nghiện. Nghi can số một quay trở lại, như hai bức tượng trong đồng hồ cuckoo, ông đi ra thì bà phải đi vào, không thể nào xuất hiện cùng lúc.


            Kết luận cuối cùng là tự sát. Sau phút giây chưng hửng tạm thời, câu chuyện lại nổi lên. Người ta viết là nạn nhân mất thăng bằng trong cuộc sống, tinh thần bất định, không thể thích nghi với vị trí siêu sao mà sắc đẹp và tính cách hoang dại đã đặt cô vào. Nào là cô bị đẩy vào giữa tầng lớp giàu có mà vô luân, rồi bị chúng làm hư hỏng. Rồi thì lối sống suy đồi cộng với nhân cách yếu đuối đã làm cô sa ngã.


Cô gái đã trở thành một bài học đạo đức, sặc mùi hỉ hả trên bi kịch của kẻ khác. Báo chí liên tục tung các ẩn dụ kiểu Icarus[1], đến nỗi tạp chí Private Eye[2] cũng phải làm một bài.


Cuối cùng, mọi ồn ào đều nguội lạnh, đến cả đám nhà báo cũng không còn gì để nói; dù sao tới lúc đó thì người ta cũng đã nói quá nhiều rồi.


____


[1] Icarus là một nhân vật trong thần thoại Hi Lạp, vốn là con của nghệ nhân bậc thầy Daedulus. Icarus mang đôi cánh bằng sáp do cha làm để bay lên, nhưng không nghe lời cha mà bay quá gần mặt trời. Đôi cánh tan chảy, Icarus rơi xuống biển. Câu chuyện về Icarus hay được dùng để nói đến những tham vọng mù quáng. (Người dịch)


[2] Tạp chí xuất bản ở Anh quốc, chuyên châm biếm các sự kiện thời sự (ND)


BA THÁNG SAU


Phần Một


1.


Trong hai mươi lăm năm cuộc đời mình, Robin Ellacott đã từng gặp đủ chuyện ly kỳ và bất ngờ, nhưng chưa có hôm nào như hôm đó, cô thức dậy và tự dưng cảm thấy chắc chắn rằng hôm nay sẽ là một ngày không thể quên.


            Đêm hôm trước, bạn trai lâu năm của cô là Matthew đã ngỏ lời cầu hôn ngay dưới tượng thần Tình yêu ở vòng xoay Piccadilly Circus. Robin đồng ý rồi anh chàng mới thở phào nhẹ nhõm và thú thật rằng đáng ra cậu định ngỏ lời trong nhà hàng Thái, nơi hai người vừa ăn tối kia, nhưng cậu không liệu trước được là có một cặp ngồi đằng sau hai người cứ im ỉm nghe trộm họ nói chuyện từ đầu đến cuối rất khó chịu. Vậy nên Matthew đành rủ Robin đi dạo một vòng trên những con đường đã tối đen, mặc cho cô phản đối vì ngày mai cả hai đều phải dậy sớm. Và cuối cùng, cảm hứng trào dâng, Matthew dắt tay cô nàng khi đó vẫn đang sửng sốt về phía bức tượng. Ở đó, giữa những cơn gió lạnh lẽo (rất là không giống phong cách Matthew) chàng đã quỳ xuống, ngỏ lời cầu hôn trước mặt đám khán giả là ba kẻ vô gia cư đang ngồi trên bậc thang, uống chung một chai có vẻ chứa rượu cồn.


            Với Robin, đó là lời cầu hôn hoàn hảo nhất trong lịch sử cưới xin xưa nay. Matthew còn mang cả nhẫn trong túi, chiếc nhẫn giờ đây Robin đang đeo: một viên sapphire, hai viên kim cương, vừa khít tay cô. Trên đường vào thành phố cô không thể rời mắt khỏi bàn tay mình đang để trên đùi. Matthew và cô giờ đây cũng đã có một “sự tích” vui vui để sau này kể cho con cái, trong câu chuyện đó kế hoạch của Matthew (cô vẫn còn choáng váng vì Matthew có lên kế hoạch) không thành nhưng hóa ra lại hay. Cô thấy yêu quá cả ba tên lang thang, mặt trăng, và Matthew run rẩy quỳ gối. Cô yêu luôn tượng thần Tình Yêu, vòng xoay Piccally dơ bẩn cũ kỹ và chiếc xe taxi đen sau đó đã đưa họ về Clapham. Cứ như thể cô yêu cả London vậy, mặc dù vẫn chưa quen lắm thành phố này sau một tháng dọn đến. Ngay đến đám khách đi tàu điện xanh xao và cáu kỉnh hàng ngày cũng không làm cô bận lòng. Cô bước ra khỏi tàu, trong một sáng tháng Ba lạnh lẽo ở ga Tottemham Court Road. Robin đưa ngón cái vuốt ve mặt dưới chiếc nhẫn bạch kim, và thấy sướng run cả người khi nghĩ đến việc giờ nghỉ trưa sẽ đi mua vài cuốn tạp chí chuyên đề đám cưới.


            Cánh đàn ông liên tục liếc Robin khi cô chen chúc qua công trình xây dựng ngay đầu phố Oxford, vừa đi vừa nhìn vào mẩu giấy trong tay phải. Xét theo tiêu chuẩn nào thì Robin cũng rất xinh; cao lớn và đầy đặn, tóc vàng gợn sóng theo mỗi bước đi, hơi gió lạnh làm gò má cô ửng hồng. Hôm này là ngày đầu tiên cô đi làm thư ký thời vụ, hợp đồng chỉ trong một tuần. Từ khi dọn đến London sống với Matthew, Robin nhận toàn những việc tạm thời, nhưng hi vọng sẽ không lâu nữa. Sắp tới cô sẽ có một cuộc “phỏng vấn công việc đàng hoàng”, cô hay nói thế.


            Phần khó nhất trong những công việc kiểu này thường là làm sao tìm ra văn phòng làm việc. So với thị trấn nhỏ ở Yorkshire nơi Robin ở trước đó, London thực quá rộng lớn, rối rắm và khó hiểu. Matthew đã dặn dò cô đừng có vừa đi vừa đọc sách hướng dẫn chỉ đường “London: A tới Z”, vì như thế trông cô không khác gì khách du lịch, rất nguy hiểm; vậy nên Robin thường chỉ trông vào những bản đồ vẽ tay ngoằn nghèo mà chỗ môi giới việc làm đưa. Cô không tin như vậy thì có vẻ giống người London hơn.


             Những thanh chắn kim loại và mấy bức tường nhựa xanh bao quanh công trình xây dựng che hết cả nửa số điểm mốc định hướng trên bản đồ, làm Robin càng khó tìm đường hơn. Robin băng qua con đường đang bị đào xới, đến trước một tòa nhà văn phòng, ứng với địa điểm “Centre Point” trên bản đồ. Tòa nhà trông như một miếng bánh waffle khổng lồ bằng bê tông, dày đặc những ô cửa sổ vuông vức. Robin đi tiếp về phía phố Denmark.


            Cô tìm ra văn phòng gần như là tình cờ khi men theo một lối đi hẹp có tên là Ngõ Denmark, đổ ra một con đường ngắn với những cửa hàng nhiều màu sắc trưng bày đàn guitar, keyboard, và đủ loại nhạc cụ linh tinh. Lại đến hàng rào sơn đỏ và trắng rào quanh một cái hố giữa đường, mấy người công nhân làm đường mặc áo phản quang bắt đầu huýt gió chọc ghẹo Robin, cô lơ hết.


            Robin nhìn xuống đồng hồ. Đã trừ trước thời gian nhỡ bị lạc nên cô đến nơi sớm trước cả 15 phút. Cánh cửa đen không có gì đặc biệt mà cô đang tìm nằm ngay bên trái quán Bar Café số 12. Trên cánh cửa có một mẩu giấy nhỏ ghi tên chủ nhân văn phòng dán bằng băng dính ngay cạnh chuông cửa tầng hai. Nếu hôm đó cũng như những ngày khác, nếu trên tay cô không có chiếc nhẫn mới lấp lánh, Robin hẳn đã thấy hơi nản chí. Tuy nhiên lúc đó ngay cả miếng giấy xộc xệch và vết sơn tróc trên cánh cửa, cũng như những người vô gia cư đêm qua, đều trở thành phông nền cho câu chuyện lãng mạn của Robin. Cô lại xem đồng hồ (viên sapphire ánh lên, khiến tim cô loạn một nhịp; và sau này trong cả cuộc đời còn lại Robin không bao giờ chán ngắm ánh lấp lánh ấy cả). Trong tâm trạng hân hoan, cô quyết định đi vào sớm để người ta thấy cô nhiệt tình ra sao với một công việc tầm thường.


            Robin vừa với tay định bấm chuông thì cánh cửa đen mở bật ra từ bên trong, một người phụ nữ bước ra. Một giây sững lặng, hai người nhìn thẳng vào mắt nhau, căng người chuẩn bị cho cú đụng chạm sắp xảy ra. Hôm đó mọi giác quan của Robin sắc bén lạ thường; họ kịp thời né nhau suýt soát. Người phụ nữ tóc đen nhanh chóng đi xuống đường, rẽ ngoặt ở góc phố rồi khuất dạng, nhưng trong giây lát, gương mặt trắng muốt ấy đã kịp gây ấn tượng sâu sắc với Robin đến nỗi cô nghĩ mình có thể vẽ lại nó chính xác từ trí nhớ. Một gương mặt tuyệt đẹp bừng bừng vẻ điên giận lẫn hả hê.


            Robin kịp bắt lấy cánh cửa trước khi nó đóng lại, đằng sau cánh cửa là một lối cầu thang tối tăm. Cầu thang sắt kiểu cũ uốn lượn quanh một cái thang máy kiểu lồng chim cũng cũ kỹ không kém. Robin tập trung, cố không để gót giày vướng vào bậc thang, cô đi lên tầng một, ngang qua cánh cửa có gắn một tấm poster lồng khung, ghi chữ Crowdy Graphics, rồi tiếp tục đi lên. Chỉ tới khi cánh cửa gương trên tầng tiếp theo hiện ra Robin mới biết cô sắp làm việc gì. Trung tâm môi giới không hề nói gì trước với Robin cả.


Trên cánh cửa gương có khắc cùng tên người với mảnh giấy dán bên chuông cửa ở tầng dưới: C.B. Strike và dưới đó là dòng chữ Thám tử tư.


            Robin đứng im, miệng há ra. Cảm giác kinh ngạc này chỉ mình cô mới hiểu. Cô chưa bao giờ thổ lộ với ai (kể cả Matthew) về ước mơ bí mật có phần trẻ con của mình. Vậy mà hôm nay nó đã ở ngay trước mắt cô, ngay hôm nay chứ không phải ngày nào khác! Cứ như Chúa đang nháy mắt đùa với cô vậy (sự việc vừa xảy ra càng làm cô tin chắc hôm nay là một ngày đặc biệt; chắc hẳn có liên quan với cả Matthew và chiếc nhẫn đây, mặc dù xét cho cùng những chuyện đó chẳng dính dáng gì tới nhau).


            Vẫn cực kỳ hân hoan, cô bước chầm chậm tới cảnh cửa. Robin đưa tay trái ra (viên sapphire sẫm lại dưới ánh sáng mờ) với lấy nắm đấm cửa; nhưng ngay trước khi Robin chạm vào thì cánh cửa gương bỗng mở tung.


            Lần này thì không suýt soát gì cả. Một người đàn ông khoảng độ một trăm ki lô đâm sầm vào người Robin; cô ngã ngửa ra sau, túi xách bắn lên không trung, hai cánh tay huơ loạn ở khoảng không ngay trên dãy cầu thang lắt léo.


2.


Trong tiếng hét thất thanh của Robin, Strike hứng trọn cú va đập và phản ứng theo bản năng: giơ tay về phía trước túm bừa một nắm cả người lẫn áo. Bị đau bất ngờ, Robin hét thêm một tiếng nữa, vang vọng khắp những bức tường đá. Giằng co một hồi, Strike cuối cùng cũng giữ được Robin không bị ngã xuống cầu thang. Nhưng tiếng hét của cô vẫn vang khắp tòa nhà, lúc đó Strike nhận ra mình cũng đang rống lên, “Chết mẹ!”


Robin gập người đau đớn dựa vào cánh cửa văn phòng, vẫn còn rên rỉ. Nhìn cái dáng khom lệch qua một bên của Robin, một tay luồn dưới cổ áo khoác ép chặt, Strike luận ra chắc hắn đã cứu cô bằng cách chộp lấy… bên ngực trái của cô. Mái tóc vàng óng, dày gợn sóng che bớt gương mặt đang đỏ vì ngượng của Robin, nhưng Strike vẫn thấy được mấy giọt nước mắt chảy ra.


“Khốn thật...  xin lỗi cô!” Giọng của Strike dội quanh cầu thang. “Tôi không thấy cô đứng đó... cứ nghĩ là không có ai hết…”


            Từ tầng dưới, tay họa sĩ thiết kế lập dị ở một mình la lên “Chuyện gì trên đó vậy?” Đúng một giây sau lại có tiếng càm ràm nghèn nghẹt từ bên trên cho thấy ông chủ quán bar dưới nhà, hiện đang ngủ trong căn hộ áp mái ngay trên văn phòng của Strike cũng vừa bị quấy rầy, có lẽ là bị đánh thức sau tiếng động.


            “Mời cô vô…”


            Strike dùng ngón tay đẩy cửa để tránh đụng chạm thêm vào người cô gái đang dựa vào đó, mời cô vào trong.


            “Mọi thứ ổn cả chứ?” Gã họa sĩ gọi lên lần nữa.


            Strike đóng sầm cửa lại.


            “Tôi không sao cả,” Robin nói dối, giọng run rẩy, người vẫn co rúm lại và tay còn đặt trên ngực, quay lưng về phía Strike. Một lát sau cô đứng thẳng, quay người lại, gương mặt vẫn đỏ bừng và mắt vẫn ướt.


            Kẻ vừa bất ngờ xông vào cô trông thật to lớn, râu tóc xồm xoàm, cộng thêm một cái bụng hơi phệ ra, rất giống con gấu xù xì. Một bên mắt của Strike sưng lên, bầm tím, chỗ da dưới lông mày bị trầy. Bên má trái vẫn còn dấu ngón tay ửng đỏ rơm rớm máu, cả một bên cổ dưới cổ áo nhăn nhúm cũng vậy.


            “Anh là Strike hả?”


            “Ừ.”


            “Tôi....tôi là nhân viên tạm thời.”


            “Là gì kia?”


            “Nhân viên tạm thời. Từ trung tâm giới thiệu việc làm Giải pháp Tạm thời, anh biết mà ”


            Tên của trung tâm vẫn không thể xóa hết sự ngờ vực trên gương mặt méo mó của Strike. Hai người nhìn nhau, vừa dè dặt vừa đối địch.


            Cũng như Robin, Cormoran Strike cũng vừa trải qua mười hai tiếng đồng hồ mà hắn sẽ nhớ mãi, thực sự đánh dấu một trang mới trong cuộc đời. Giờ đây, có vẻ như Định Mệnh lại gởi đến một phái viên mặt áo khoác thắt eo màu be, chỉ để nhắc Strike rằng đời hắn toàn gặp tai họa. Hắn không định có thêm nhân viên tạm thời nào nữa. Strike muốn dẹp luôn hợp đồng với trung tâm sau khi đuổi việc người tiền nhiệm của Robin.


            “Họ bảo cô làm bao lâu?”


            “Trước mắt là một tuần,” Robin trả lời, thật chưa từng gặp ai kém nhiệt tình hơn gã này.


            Strike tính nhẩm trong đầu. Một tuần theo đơn giá của bên trung tâm việc làm sẽ đẩy khoản thâm hụt trong tài khoản của Strike phình to đến mức không sao cứu vãn được, biết đâu sẽ là giọt nước cuối cùng tràn ly như  bên ngân hàng vẫn hay bóng gió.


            “Cô chờ tôi chút.”


            Strike bỏ ra khỏi văn phòng, rẽ phải đi vào một cái toilet nhỏ xíu ẩm ướt. Hắn chốt cửa lại rồi nhìn vào tấm gương nứt lốm đốm trên bồn rửa mặt.


            Khuôn mặt trong gương chẳng có gì đẹp đẽ. Trán cao, dồ ra, mũi to bành và chân mày rậm, hơi giống như Beethoven thời trẻ – giả hoặc Beethoven có mê thêm món đấm bốc, lại thêm một bên mắt bầm tím sưng vù. Mái tóc xoăn dày, nhún nhẩy như lò xo từng khiến Strike được đặt cho nhiều biệt danh lúc còn trẻ, trong đó có “Tổ chim”. Trông hắn già hơn cái tuổi ba mươi lăm.


            Strike chèn nút đậy vào lỗ thoát, mở nước đầy bồn rửa mặt nứt nẻ cũ kỹ, hít lấy một hơi thật sâu rồi nhúng đầu vào. Nước bắn ra khắp giày, nhưng hắn không thèm để ý, tập trung tận hưởng mười giây bình yên trong nước lạnh như băng.


            Những hình ảnh lộn xộn của tối qua hiện về trong tâm trí hắn: đổ bừa đồ đạc trong ba ngăn kéo vào cái túi thể thao trong tiếng la hét của Charlotte; gạt tàn thuốc bay ngay vào chân mày khi hắn ra đến cửa và quay lại nhìn cô nàng lần cuối; đi bộ xuyên qua thành phố trong đêm đến văn phòng rồi ngồi luôn trên ghế ngủ được một hai tiếng gì đó. Sau đó là hồi kết kinh hoàng khi Charlotte tìm ra hắn lúc tờ mờ sáng, để bồi thêm mấy nhát mà cô nàng chưa kịp làm trước khi hắn bỏ đi. Hắn đã quyết không níu kéo gì nữa sau khi Charlotte trổ vuốt vào mặt hắn và chạy ra phía cửa, nhưng rồi không hiểu điên khùng thế nào hắn lại chạy theo. Cuộc rượt đuổi nhanh chóng kết thúc với sự can thiệp vô tình của nhân vật phụ vừa xuất hiện, khiến hắn phải ra tay đỡ lấy và rối rít an ủi.


            Hắn nhấc đầu ra khỏi nước lạnh, thở hắt ra và rên hừ một tiếng. Gương mặt và cả đầu hắn lạnh tê dễ chịu. Hắn với tay lấy cái khăn cứng queo như bìa các tông treo đằng sau cửa lau cho khô rồi lại nhìn vào bộ mặt khốn khổ hiện ra trong gương. Mấy vết trầy trên mặt sau khi đã được rửa sạch vết máu khiến mặt hắn trông giống như một cái gối nhăn nhúm. Giờ này chắc Charlotte đã ra đến ga tàu điện. Lúc nãy hắn vùng chạy theo một phần vì lo sợ cô nàng lao mình xuống đường tàu. Hồi xưa, khi hai người mới chừng hai mấy tuổi, có lần sau một trận cãi vã dữ dội, cô nàng leo lên nóc nhà, say xỉn lạng quạng, thề thốt sẽ nhảy xuống. Có lẽ Strike nên biết ơn Giải pháp Tạm thời đã khiến hắn phải dừng cuộc đuổi bắt. Biết đâu nếu đuổi theo hắn sẽ hối không kịp, nhất là mới sáng tờ mờ thế này. Lần này phải cắt đứt thật sự.


            Hắn sửa lại cổ áo, kéo chốt mở cửa, đi ra khỏi toilet và vào lại văn phòng.


            Bên kia đường đám công nhân vừa bật máy khoan. Robin đứng trước bàn làm việc, quay lưng về phía cửa. Cô rút vội tay khỏi áo khoác khi hắn bước vào, hắn đoán chắc là cô lại vừa xoa ngực.


            “Ừm..., cô không sao chứ?” Strike hỏi, cố ý không nhìn vào chỗ bị thương.


            “Tôi không sao. Nếu anh không cần, tôi sẽ đi ngay,” Robin nói đầy tự trọng.


            “Không, không có chuyện đó” Strike mở miệng ngay, hắn thấy tới giọng nói cũng mình cũng gớm ghiếc. “Một tuần thì ổn thôi. À, đây là thư từ hôm nay…” Hắn nhặt đám thư dưới thảm chùi chân rồi rải ra trên bàn trống trước mặt cô, như một cử chỉ làm hòa. “Ừm, phiền cô mở thư, nghe điện thoại, dọn dẹp chung quanh...  mật khẩu máy tính là Hatherill23, để tôi viết ra…”Rồi hắn viết ra trong khi Robin nhìn hắn, vẫn chưa hết lo lắng và ngờ vực. “Đây... Tôi sẽ ở trong kia.”


            Hắn bước vào văn phòng phía trong, đóng cửa cẩn thận rồi đứng yên lẳng lặng, mắt dán chặt vào cái túi thể thao đặt dưới bàn làm việc trống trơn. Trong đó là toàn bộ gia tài của hắn hiện giờ, hắn biết chắc không kiểu gì lấy lại được chín phần mười số đồ đạc vẫn còn để lại nhà Charlotte. Tới trưa nay chắc chúng cũng sẽ biến mất; bị đốt, bị vứt ra đường, bị băm vằm và nhúng thuốc tẩy. Bên kia đường, tiếng máy khoan vẫn ầm ĩ.


            Rồi hắn nghĩ tới khoản nợ khổng lồ, không cách gì trả được, hậu quả thê thảm đi sau công việc cũng sắp sửa thất bại của hắn. Hàng loạt xui rủi kéo đến, cứ như đã được định sẵn sau khi hắn chia tay Charlotte. Trong sự mệt mỏi rã rời, Strike thấy tất cả hiện ra trước mắt hắn như một ống kính vạn hoa toàn những hình ảnh kinh dị.


            Hắn đi quanh như người mất hồn, rồi ngồi xuống ngay chiếc ghế hắn vừa ngồi ngủ tối qua. Bên kia vách ngăn có tiếng cử động lạo xạo. Giải pháp Tạm thời chắc hẳn đang khởi động máy tính, và sẽ sớm nhận ra rằng trong ba tuần rồi chẳng có cái email nào dính đến công việc cả. Và rồi, đúng như hắn yêu cầu, cô ta sẽ mở hết đám thư đòi nợ. Rã rời, đau đớn và đói bụng, Strike gục mặt xuống bàn, vùi tai ụp mắt xuống cánh tay để khỏi nghe thấy gì cả. Trong khi đó, ở phía bên kia vách, sự nghiệp ê chề của hắn đang được phơi ra trước mắt một người xa lạ.


3.


Năm phút sau có tiếng gõ cửa, Strike vừa suýt ngủ gục liền bật dậy ngồi thẳng trên ghế.


            “Gì đó cô?”


            Hắn vẫn còn mơ màng nghĩ tới Charlotte; nên thấy ngạc nhiên khi một cô gái khác bước vào phòng. Cô đã cởi áo khoác ngoài ra, để lộ một chiếc áo len màu kem ôm dáng vừa vặn, hơi bị gợi cảm. Strike vuốt tóc.


            “Ừm?”


            “Có thân chủ đang đợi anh. Tôi mời ông ta vào được không?”


            “Có cái gì kia?”


            “Thân chủ, anh Strike.”


Truy tìm Robert Galbraith


Kể từ khi lên kệ và gây chú ý, cuốn sách đã khiến người đọc và giới xuất bản đoán già đoán non về nhân thân tác giả, người mà từ đầu đến cuối chỉ “trưng” ra mỗi cái tên Robert Galbraith chứ chưa hề xuất hiện trước đó.


Các nhà phê bình nhận xét The Cuckoo’s Calling là “một tiểu thuyết đầu tay rất khá” và ngạc nhiên khi một nhà văn nam lại có thể mô tả trang phục phụ nữ một cách tỉ mỉ và am hiểu như thế. Cuốn sách cũng được khen là “thấm đẫm bầu không khí London” khi tác giả đặt nhân vật trong những không gian quen thuộc của thành phố này: khu Mayfair ngột ngạt, các quán rượu nhỏ ở East End hay khu Soho nhộn nhịp.


Các trang báo uy tín về văn học đều khen ngợi The Cuckoo’s Calling, Publisher’s Weekly gọi đây là “sự khởi đầu của một ngôi sao” còn Library Journal trao cho cuốn sách danh hiệu “Tác phẩm đầu tay của tháng” ở thể loại truyện trinh thám. Trên trang Goodreads, độc giả phản hồi rất tích cực qua các bài bình luận ngắn.


NXB Little, Brown đã cung cấp thông tin về tác giả như sau: “Robert Galbraith đã kết hôn và có 2 con trai. Sau nhiều năm phục vụ trong Quân cảnh Hoàng gia, ông rời quân đội năm 2003 và kể từ đó làm việc trong ngành an ninh dân sự. Ý tưởng về nhân vật chính Cormoran Strike đến từ kinh nghiệm của tác giả và đồng đội trong quân ngũ, những người đã trở về với cuộc sống đời thường. Robert Galbraith là một bút danh (tức không phải tên thật)”.


Các báo sau đó đã truy tìm manh mối của “vụ án”. Cuối cùng  sự thật đã phơi bày: Robert Galbraith chính là J.K.Rowling, tác giả của loạt truyện bán chạy nhất trên thế giới Harry Potter.


Nhất Tiếu  giới thiệu và lược trích


Thanhnien.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Triệu Xuân & Nhóm Văn Chương Hồn Việt gửi tặng 1.187 cuốn sách Văn học trị giá gần 93, 8 triệu đồng cho Bộ đội hải quân - Minh Đức 16.12.2017
Gang thép Thái Nguyên: Những câu hỏi về đống sắt gỉ ngàn tỉ đồng - Tư liệu 15.12.2017
Lịch sử, quy chế và quá trình hoạt động hơn 10 năm của Nhóm Văn Chương Hồn Việt - Minh Đức 15.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt, niềm tự hào của người sành ăn…/ Ngày của Phở - Trịnh Quang Dũng 13.12.2017
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở "hành " phương Nam - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
xem thêm »