tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20753056
Những bài báo
24.11.2014
Tư liệu
Giải oan cho Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (2)

Oan giết vua


Tạp chí Phổ Thông số 62 ra ngày 1.8.1961 (xuất bản ở Sài Gòn) đăng bài viết của ông Nguyễn Thượng Khánh nhan đề Vua Quang Trung chết vì một liều độc dược của Ngọc Hân Công chúa.


Điều đáng nói là tác giả thuật lại lời kể của một người đã mất, hoàn toàn không có cứ liệu. Dù vậy vẫn làm dấy lên nghi án và Bắc cung Hoàng hậu chịu thêm một nỗi oan...


Như bài trước chúng tôi đã đề cập, bà Ngọc Hân bị cho là “người lấy hai vua” là do sự nhầm lẫn giữa Ngọc Hân và Ngọc Bình - công chúa con vua Lê Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với công chúa Lê Ngọc Hân.


Năm 1795, sau khi Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị Đô đốc Võ Văn Dũng đánh đổ, vị trí bà Ngọc Hân bấy giờ mới có ảnh hưởng ít nhiều với vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) nên việc làm mối em gái của mình cho vua mới thành. Năm đó, Ngọc Bình 12 tuổi, được phong làm chính cung hoàng hậu, ở trong cung 6 năm nhưng chưa có con.


Tháng 5.1801, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, vua tôi Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Hà, Ngọc Bình kẹt lại Phú Xuân. Gặp Bình, Nguyễn Ánh mê đắm. Mặc cho Lê Văn Duyệt và các cận thần nhà Nguyễn kịch liệt phản đối, cho là lấy thừa vợ của vua ngụy, nhưng vua Gia Long bất chấp. Ngọc Bình được nạp làm phi và sau đó được phong làm Đệ tam cung Đức Phi. Sau này sử triều Nguyễn chép là Đức phi họ Lê.


Đức phi sinh cho vua Gia Long 4 người con. Hai hoàng tử là Quảng Oai công Nguyễn Phúc Quân và Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự; Hai công chúa là Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Cũng như chị mình, yểu mệnh, Đức phi mất lúc 27 tuổi.


Chuyện có thật về người này trở thành nghi án của người kia lấy hai vua là vậy.


Hạ độc vì... ghen ?


Trong bài viết trên Phổ Thông, ông Thượng Khánh nói ông nội của mình là con trai của hoàng tử Lê Duy Mật và ông là cháu gọi Ngọc Hân bằng cô ruột (nếu theo thứ phả thì công chúa Ngọc Hân phải gọi ông bằng cụ chứ không phải ông gọi Ngọc Hân bằng cô - học giả Quách Tấn đã chỉ ra điểm sai này); những gì ông kể lại trong bài viết, là do ông nội ông kể lại cho ông.


Theo ông Khánh, động cơ để Lê Ngọc Hân giết chồng bắt nguồn từ việc hoàng đế Càn Long (Trung Quốc) hứa gả một người con gái của mình cho Quang Trung và “trong một phút bồng bột vì quá ghen, Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc vào rượu cho Quang Trung uống”. Vì, “Khi nghe tin vua Quang Trung cầu hôn với công chúa con vua Càn Long, thì công chúa Ngọc Hân vùng lên một ý nghĩ táo bạo...”


Nhiều nhà nghiên cứu sau này dẫn lại, vào lúc đó, các tạp chí ở Sài Gòn như Bách Khoa, Phổ Thông, Văn Ðàn... đã mở ra một cuộc bút chiến chung quanh nghi án lịch sử này. Chung quy, các tác giả bằng những luận cứ lịch sử đã phản bác “những lời lẽ mang tính chất hàm hồ và những ngụy biện vô căn cứ của ông Nguyễn Thượng Khánh”. Không chỉ thế, một số tộc phổ, phổ ý của các họ nội, họ ngoại phía Ngọc Hân đưa ra để làm bằng chứng và cũng vạch ra những sai lầm mà ông Nguyễn Thượng Khánh đã công bố.


Về cái chết của vua Quang Trung, các sử gia cũng đã ghi chú ngày, tháng, năm vua mất, không có một dòng nào nói đến việc vua bị đầu độc. (Hoàng Xuân Hãn viết: "Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý vào giờ dạ tý tức ngày 16 tháng 9 năm 1792 vua Quang Trung băng hà. Hoàng Lê nhất thống chí viết: "Vua Quang Trung mất vào năm Nhâm Tý" (1792). Sử gia Trần Trọng Kim viết: "Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung bị bạo bệnh băng hà".


Nhà thơ Quách Tấn, một học giả uyên thâm, trong bài viết Ngọc Hân công chúa chưa hết chịu tiếng oan này đến chịu tiếng oan khác cũng đã chứng minh những điều ông Khánh viết ra hoàn toàn không có căn cứ, suy diễn vô tội vạ và sai lệch với lịch sử.


Một đoạn trong bài nói trên, ông Thượng Khánh viết: “Vua Quang Trung tiến vào hậu cung dùng cơm. Nhà vua vui mừng quá, không thấy có sự gì thay đổi trên mặt của Ngọc Hân. Vương hân hoan nâng chén rượu lên môi và uống cạn một hơi, không dè Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc trong đó. Liền sau đó, Quang Trung thấy khó chịu, bỏ dở bữa cơm, tiến lại, ngả lưng trên long sàng và giãy dụa một lúc rồi tắt thở luôn”.


Quách Tấn bình: “Đọc những lời ông Thượng Khánh, chắc các bạn cũng như tôi đều có cảm giác thuật giả đã ở một bên vua Quang Trung và Ngọc Hân công chúa nên mới biết rành rõi từng cử chỉ, từng hành động của hai người mới thuật lại tỉ mỉ như vậy”.


Sau khi dẫn ra nhiều cứ liệu lịch sử và lập luận xác đáng, học giả Quách Tấn kết luận: “Những điểm sai lầm này cho chúng ta thấy rõ rằng, đến những việc sử sách chép sờ sờ ra đó mà ông Thượng Khánh còn nói sai, huống hồ những việc trong thâm cung mà từ xưa không có sách nào chép, không nghe ai nói”.


Trong quyển Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, được sự đồng ý và giúp đỡ của ông Quách Giao - con trai trưởng nhà thơ Quách Tấn, đưa vào tập sách 3 bài viết rất giá trị của học giả Quách Tấn viết về công chúa Ngọc Hân. Đây là nguồn tư liệu quý giúp hậu thế hiểu rõ hơn về một công chúa tài sắc vẹn toàn, có mỹ danh là Chúa Tiên.


Số phận bi thương


Do hầu hết tài liệu thời Tây Sơn bị nhà Nguyễn tiêu hủy nên số phận của Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân và hai người con sau này trở thành một nghi vấn lịch sử với nhiều giả thuyết khác nhau.


Sống trong một thời kỳ đầy biến động nên cuộc đời người con gái tài sắc Ngọc Hân chịu nhiều nỗi truân chuyên, cho đến khi qua đời vẫn còn nhiều chi tiết khiến hậu thế mất thời gian tìm hiểu. Trong đó, cái chết của bà và hai người con với vua Quang Trung là một ví dụ.


Từ những tài liệu chúng tôi đọc được, có thể tóm lược như sau:


Trong tập Nhân vật Tây Sơn do ông Nguyễn An Phong biên khảo hay tác giả tập Thi văn bình chú đều cho rằng, năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) và một số quần thần cùng hoàng tộc thoát chạy ra bắc, còn Ngọc Hân công chúa phải cải trang, thay tên đổi dạng vào lánh nạn ở Quảng Nam. Theo tài liệu đầu, được ít lâu thì bị phát giác, quan quân nhà Nguyễn bắt giải về Phú Xuân và xử theo trọng hình, lối "Tam ban triều điển", tài liệu sau lại nói Ngọc Hân đã uống thuốc độc quyên sinh, hai con cùng chết theo mẹ.


Trong bài lược sử Công chúa Ngọc Hân của Ngô Tất Tố cũng cho là Lê Ngọc Hân đã tự tử, còn hai con phải thắt cổ mà chết.


Một thuyết khác xuất phát từ bức thư đề ngày 16.7.1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp tháp tùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú Xuân mà sau này nhiều người nghiên cứu lịch sử dẫn lại, có đoạn: “Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó, họ ở trong một phòng hơi tối, không phải là một phòng sang trọng, có tất cả 5 công chúa: một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà công chúa Bắc Kỳ, em này cũng coi được. Còn 3 cô nữa từ 16 đến 18 tuổi thì nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương. Ngoài ra còn có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt thì tầm thường, còn em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc Kỳ thì diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương”. Theo suy luận, công chúa Bắc Kỳ viết trong thư chính là hoàng hậu Ngọc Hân và quân Nguyễn Ánh đã bắt được 2 con của vua Quang Trung.


Các giả thuyết trên tồn tại một thời gian dài, tuy nhiên đó đều là ý kiến của các tác giả không phải là người cùng thời hoặc chỉ là mô tả qua thư từ chứ không phải là chính sử hoặc tài liệu có thể coi là cứ liệu lịch sử.


Cứ liệu lịch sử về cái chết của hoàng hậu Ngọc Hân


Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 30) thì khi quân Nguyễn Ánh đánh úp Phú Xuân khiến quân Tây Sơn thua chạy tán loạn, “Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đem đồ quý giá chạy về Bắc bỏ lại sắc và ấn của triều nhà Thanh phong cho, vừa ra khỏi cầu Phú Xuân mấy dặm thì quân đều tứ tán, bèn cùng em là Thái tể Nguyễn Quang Thiệu, Nguyên súy Nguyễn Quang Khanh, bọn đại tư mã Tứ, đô đốc Trừu cưỡi ngựa nhắm lũy Động Hải ngày đêm chạy gấp...”. Trong bối cảnh đó, công chúa Ngọc Hân có 2 con còn nhỏ dại, khó mà chạy thoát.


Theo các nhà sử học, khi phát hiện ra tập Dụ Am thi tập của Phan Huy Ích thì nghi vấn trên dường như đã được giải đáp. Lý do là trong tập này có 5 bài văn tế của Phan Huy Ích soạn vào năm Kỷ Mùi (1799): một bài soạn cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, với đề là Kỷ Mùi đông nghĩ, ngự điện Vũ hoàng hậu. Bài văn tế này lời lẽ rất phù hợp với hoàn cảnh của Vũ hoàng hậu tức Ngọc Hân công chúa; một bài soạn cho các công chúa của vua Quang Trung đứng tế; một bài soạn cho bà thân sinh hoàng hậu là Từ Ninh Phù Cung đứng tế; một bài soạn cho các tôn thất nhà Lê đứng tế; một bài soạn cho bà con bên ngoại của hoàng hậu ở Phù Ninh đứng tế.


Bản phả ký họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đã ghi ngày chết của Ngọc Hân công chúa: “Tốt vụ Kỷ Mùi niên, thập nhất nguyệt, sơ bát nhật” (chết vào ngày mùng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày mùng 4 tháng 12 năm 1799). Như vậy, bà Ngọc Hân đã chết từ 1799 (3 năm trước ngày Phú Xuân thất thủ) là có cơ sở hơn cả.


Vậy còn hai người con bà là công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức thì sao?


Chính sử triều Nguyễn chép: “Nhâm Dần, Thiệu Trị năm thứ 2 (1842), mùa thu, tháng 7: tỉnh Bắc Ninh có dân xã Phù Ninh ngầm thờ ngụy quỷ. Việc bị phát giác. Vua sai hủy bỏ đền thờ. Nguyên người xã ấy là Nguyễn Thị Huyền, làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn Huệ) sinh được 1 trai, 1 gái. Ngọc Hân chết, trai gái cũng chết non cả. Khoảng đầu năm Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xã Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả dối, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích. Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy đi”.


Đô đốc Hài là một tướng của Tây Sơn không bị Nguyễn Ánh bắt và có thể bí mật dời hài cốt của mẹ con công chúa Ngọc Hân về chôn cất ở xã Phù Ninh, chứng tỏ các con của bà Ngọc Hân cũng đã chết trẻ trước thời điểm tháng 6.1801, khi Nguyễn Ánh về lại Phú Xuân. Điều này phù hợp với những gì ghi lại trong chính sử triều Nguyễn là hai con của bà đều chết non chứ không phải bị hành hình cùng 31 người thân của vua Quang Trung mà lịch sử cũng đã từng nhắc đến.


 


Sống ở chùa, chết về làng


Như bài trước đã nói, vào Thuận Hóa, Ngọc Hân từ công chúa đến hoàng hậu vẫn sống ở chùa Kim Tiên. Qua đời, bà lại về quê cha đất tổ…


Tượng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân được thờ ở đền Ghềnh suốt 200 năm qua


Chùa Kim Tiên (tổ đình Kim Tiên) hiện ở 14 Thích Tịnh Khiết (hẻm 184/14 Điện Biên Phủ cũ), P.Trường An, TP.Huế. Trú trì là thượng tọa Thích Giác Đạo. Cách đây vài hôm, chúng tôi đã đến vãn chùa.


Không chỉ các sư thầy mà cả các chú tiểu cũng biết công chúa Ngọc Hân từng ở và sinh con tại đây. Nhưng trong chùa hiện không thờ tự bà. Hỏi lý do, họ đều nói không biết…


Chùa Kim Tiên thường gọi là tổ đình Kim Tiên là một ngôi chùa cổ, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nhiều vị thiền sư cũng như chư vị hòa thượng kế vị trú trì và trùng tu khởi sắc. Trò chuyện với các sư thầy, được biết, vào thời Tây Sơn Nguyễn Huệ, chùa đã bị trưng dụng làm nơi ở cho Ngọc Hân Công chúa và làm kho chứa vũ khí.


Dưới triều nhà Nguyễn, từ đời vua Gia Long đến trước đời vua Tự Đức, chùa cũng nhiều lần được trùng tu, tôn tạo và đã được các vị hòa thượng Tế Quảng, Đại Quán, Đạo Thành, Tánh Thông, Hải Thuận, Hải Từ, Thanh Đức kế tục đảm nhiệm trụ trì. Sau đó vì chiến tranh loạn lạc, một thời gian dài, chùa đã bị xuống cấp nghiêm trọng, chùa không có người xuất gia trụ giữ.


Từ năm Giáp Thìn 1964, chư tôn đức trong môn phái cung cử hòa thượng Thích Hưng Dụng đảm nhiệm chức vụ trú trì, tổ đình Kim Tiên ngày mỗi hưng phát. Sau khi đại lão hòa thượng Thích Hưng Dụng  viên tịch vào ngày 7 tháng 11 năm Mậu Dần (1998), môn đồ pháp quyến đã cung cử thượng tọa Thích Giác Đạo kế vị trú trì.


Từ đó đến nay, tổ đình Kim Tiên đã xây dựng, trùng tu, tôn tạo nhiều hạng mục như bảo tháp hòa thượng Thích Hưng Dụng, bảo tháp hòa thượng Thích Chánh Trực, chánh điện, nhà Tăng, nhà hậu, Quan Âm các, dựng thạch bi tháp tổ Tâm Khoan, khuôn viên, la thành (tranh lịch sử Đức Phật), sân vườn...


Cây xanh tươi mát bắt đầu từ cổng đến chánh điện. Những bức trang Phật với những câu thơ ý nghĩa được chạm khắc trên đá được đặt ngoài sân vườn… Tổ đình Kim Tiên ngày nay đã trở thành chốn trang nghiêm, thanh tịnh, hưng phát.


Tri ân người phụ nữ tài hoa, yểu mệnh


Như chúng tôi đã dẫn từ chính sử triều Nguyễn: “Khoảng đầu năm Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xã Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả dối, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích. Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy đi”.


Ông Nguyễn Đình Kiu là cháu đời thứ 5 của Công chúa Ngọc Hân, năm 2006 đã hơn 70 tuổi, là người kiên trì làm đơn kiến nghị tôn tạo phần mộ và đền thờ Công chúa Ngọc Hân ở làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Nội dung kiến nghị trên được ông Kiu gửi đi khắp các cấp chính quyền và các cơ quan văn hóa trong suốt 26 năm qua.


Tháng 5.2006, trong một lá đơn kêu cứu gửi Tổng biên tập Báo Thanh Niên, ông kể lại nỗi lòng chua xót của mình trước diễn tiến không khả quan mấy của sự việc, rồi hạ bút: "Ngọc Hân bị nhà Nguyễn trước kia cuốc mộ là nỗi đau thấu ruột... Ngày nay, Ngọc Hân đang cần lắm một ngôi mộ, một bát nhang thờ tại di tích nơi mình từng sống và được chôn cất nhưng linh hồn công chúa vẫn còn đang ngơ ngẩn, không nơi nương tựa, không cõi đi về"...


Mãi 5 năm sau, ngày 4.7.2011, Khu tưởng niệm Hoàng hậu Lê Ngọc Hân -  vợ anh hùng dân tộc Quang Trung (Nguyễn Huệ) đã được khánh thành tại quê ngoại bà (làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm (Hà Nội) bằng nguồn huy động chủ yếu từ xã hội hóa.


Di lăng nằm trên diện tích 286 m2, thuộc khu đất bãi Cây Đại của dòng họ Nguyễn Đình. Nơi đây có mộ của Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền (thân mẫu Lê Ngọc Hân) và mộ tượng trưng Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng 2 con (năm 1842, triều Nguyễn đã cho đào hài cốt của Lê Ngọc Hân và 2 con của bà, vứt xuống sông Hồng).


Di lăng Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân gồm cổng chính, lăng mộ Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân, hoàng tử Quang Đức và công chúa Ngọc Bảo, lăng mộ Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, miếu thờ Thổ thần, nhà bia, giếng Ngọc.


Đền thờ được xây mới hoàn toàn, cách khu mộ khoảng 200 m, trên diện tích 1.100 m2, gồm: nghi môn xây kiểu trụ biểu, bốn trụ tạo ba lối đi; đền chính có mặt bằng hình chữ “Đinh”, gồm tiền tế và hậu cung; trong hậu cung đặt tượng đồng hoàng hậu, vua Quang Trung, hoàng tử Quang Đức, công chúa Ngọc Bảo. Tiền tế đặt tượng vua Lê Hiển Tông và Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền. Ngoài ra, khu đền thờ còn có sân, vườn, giếng, lầu hóa vàng, tường rào... Khu tưởng niệm được khánh thành là sự tri ân của hậu thế đối với Hoàng hậu Lê Ngọc Hân, người con gái tài hoa đất Thăng Long.


Hội đền Ghềnh


Đền Ghềnh (Q.Long Biên, TP.Hà Nội) có từ 200 năm nay. Bất chấp sắc lệnh của triều Nguyễn, nhân dân vẫn bí mật thờ phụng Hoàng hậu Ngọc Hân dưới danh nghĩa thờ “Mẫu Thoải”. Đền nằm trong ngõ nhỏ cạnh sông Hồng. Trải bao nỗi can qua, đền Ghềnh vẫn được con cháu cụ Ðặng Thị Bản (người công đức tôn tạo) trông nom và dân làng gìn giữ. Hội đền Ghềnh năm nào cũng thu hút đông đảo du khách thập phương. Một trong các nghi thức của hội đền Ghềnh là việc đi thuyền lớn ra giữa sông Hồng, hương khói cho mẹ con hoàng hậu và rước nước thánh về đền. Những người dự hội năm nào cũng thế, không nén được xúc động khi rải tro giấy vàng xuống nơi tro xương của mẹ con Hoàng hậu Ngọc Hân rải xuống khi xưa trên khúc sông này.


Nguyễn Thế Thịnh


thanhnien.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Họ Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 12.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »