tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20239597
Những bài báo
21.11.2014
Tư liệu
Giải oan cho Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1)

Năm 2010, Hội Di sản văn hóa Thăng Long phối hợp với UBND xã Ninh Hiệp, H.Gia Lâm, Hà Nội tổ chức lễ khánh thành di lăng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân tại quê ngoại của bà ở xã Ninh Hiệp. Khu tưởng niệm với diện tích hơn 1.000m2,  khởi công vào đầu tháng 2 âm lịch năm Canh Dần, đã hoàn thành trước Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Dự án xây dựng Khu tưởng niệm Hoàng hậu Lê Ngọc Hân tưởng niệm công chúa tài hoa, thông minh, đức hạnh cũng như một hoàng hậu nhân từ, sắc sảo, có nhiều công lao với nước, với dân. Khu di lăng có diện tích 286m2, gồm mộ tượng trưng của hoàng hậu và hai con, mộ Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền (thân mẫu của hoàng hậu), miếu thờ và nhà bia.   


Nguyễn Huệ - Ngọc Hân vốn được coi là một cặp rồng - phụng trên thế gian. Thế nhưng, cuộc đời của người anh hùng kiệt xuất và mỹ nữ, nhà thơ Nôm tài hoa hiếm có vẫn còn những điều trắng đen lẫn lộn do sự nhầm lẫn của dân gian và chính cả những nhà viết sử.


Trong đó, hai nghi vấn lớn nhất được nhiều người dẫn đi dẫn lại là việc sau khi hoàng đế Quang Trung mất, bà Ngọc Hân đã lấy vua Gia Long và sinh hạ cho ông hai người con trai; hơn thế nữa bà còn nằm trong nghi án giết chồng (cho hoàng đế Quang Trung uống thuốc độc).


Ngày nay, do mạng toàn cầu nên những quan điểm sai lầm trên vẫn được nhiều người dẫn đi dẫn lại theo cách hiểu và chủ định riêng của mỗi người nên Ngọc Hân vẫn chịu tiếng oan.


Nhân kỷ niệm 215 năm ngày Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân qua đời (1799 - 2014), nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho ra mắt cuốn Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế. Hòa thượng Thích Giác Đạo, trú trì Tổ đình Kim Tiên, tán thán: “…Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị, nhiều tư liệu quý hiếm về Ngọc Hân công chúa thời kỳ ở Huế…”. Hòa thượng mong tập sách này ra mắt bạn đọc để mọi người hiểu một cách đúng đắn về một nhân vật lịch sử của đất nước. Còn tác giả Nguyễn Đắc Xuân thì nói: “Tôi viết quyển sách nhỏ này để khẳng định Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã sống và chết ở chùa Kim Tiên để đặt vấn đề ngày nay nên có một bát hương phụng thờ bà, đến ngày mồng 8  tháng 11 âm lịch hằng năm có một mâm cơm cúng giỗ bà…”.


Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Đắc Xuân đã tập hợp nhiều tư liệu từ cả hai phía (đồng tình và phản bác nghi vấn) để phân tích một cách khách quan đi đến kết luận rằng, cả hai nghi vấn nói trên đều là những câu chuyện không có cơ sở và hoàn toàn sai lệch với lịch sử.


Duyên rồng - phụng


Cuộc đời của Ngọc Hân tài sắc từ lúc còn là công chúa Thăng Long đến khi làm Bắc cung hoàng hậu Phú Xuân không hề bình lặng.


Khi qua đời, vẫn còn hai nghi án lấy vua Gia Long và giết chồng là hoàng đế Quang Trung bằng thuốc độc khiến bà tổn hại thanh danh và hậu thế tốn nhiều giấy mực.


Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (1770) tại kinh thành Thăng Long. Theo Lịch triều tạp kỷ và Hoàng Lê nhất thống chí thì bà là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông, còn Ngự chế ngọc phả ký thì chép bà là con thứ 21. Mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội). Ngọc Hân là công chúa có tài sắc hơn cả trong số các cô con gái của vua.


Tháng 5.1786, tướng nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” tới yết kiến vua Hiển Tông và được vua phong tước Công. Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ. Khi đó Ngọc Hân mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ 33 tuổi và đã có nhiều người vợ.


Mối nhân duyên này đời sau kẻ cho là cuộc hôn nhân mưu đồ chính trị, người nói đó là nhân duyên trời định; người bảo gượng ép, kẻ bảo yêu từ cái nhìn đầu tiên… Riêng chuyện đó thôi đã tốn biết bao nhiêu giấy mực.


Nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết: “Đêm hợp cẩn… Khi nguyên súy Nguyễn Huệ vào, Ngọc Hân sợ quá không dám ngước nhìn lên, cũng không dám thở mạnh… Bất ngờ nguyên súy quỳ chân xuống trước sập, úp mặt vào hai đầu gối của công chúa Ngọc Hân. Một sức mạnh huyền bí xa lạ thôi thúc, khiến công chúa đưa tay ôm lấy vai nguyên súy. Nguyễn Huệ ngẩng lên vui mừng và lần đầu tiên, công chúa bị cuốn hút vì ánh nhìn đam mê đến cuồng nộ của vị danh tướng vừa làm đảo lộn Bắc Hà.


Nguyễn Huệ nhìn đăm đăm vào khuôn mặt sượng sùng thảng thốt của công chúa, thì thầm: Công chúa còn nhỏ quá và đẹp quá. Như một cái bông búp. Đừng lo âu. Ta biết công chúa đang lo âu đủ điều. Ta sẽ không cho phép ai, dù là quỷ thần, được làm công chúa khổ. Công chúa hãy yên tâm”.


Nguyễn Mộng Giác là nhà văn, áng văn trên lại được trích trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ chứ đêm hợp cẩn của Nguyễn Huệ đâu có mặt ai mà biết?


Tâm đầu ý hợp


Trong Dựng nước - Giữ nước (Diễn đàn của thư viện lịch sử quân sự) đoạn nói về chuyện này có chép: “Sau lễ kết hôn, Nguyễn Huệ và Ngọc Hân lên kiệu đến bái yết tôn miếu nhà Lê, lễ xong hai người cùng về. Như thấu hiểu được tâm trạng của Ngọc Hân, Nguyễn Huệ mở lời bông đùa: “Con trai con gái nhà vua đã có mấy người được vẻ vang như nàng?”. Công chúa đáp: “Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được sa vào chốn lầu đài như thế này, là sự may mắn của thiếp mà thôi”. Nghe Ngọc Hân thủ thỉ lên nỗi niềm đó, Nguyễn Huệ lấy làm thích thú, tâm đắc. Đó là lời trao duyên đầu tiên giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân được sử sách ghi lại.


Từ đó, Ngọc Hân rời cung cấm nhà Lê về sống với Nguyễn Huệ ở trong phủ của mình, nằm bên bờ sông Nhị. Lúc đầu Ngọc Hân có vẻ thẹn thùng, bẽn lẽn vì chưa quen, mặc dù đó vẫn là đất Thăng Long muôn thuở của nàng. Biết được tâm lý của Ngọc Hân, không sỗ sàng như những kẻ chiến thắng thường tình, Nguyễn Huệ muốn tạo một sự thân quen, một tình yêu xuất phát từ sự thông cảm và hiểu biết ngay từ đầu”.


Sau hôn lễ của Nguyễn Huệ và Ngọc Hân vài ngày, Lê Hiển Tông qua đời, nội tình nhà Lê xảy ra nhiều chuyện tranh giành khiến Nguyễn Huệ nhiều lúc muốn bỏ Thăng Long để vào Thuận Hóa, nhưng cuối cùng đành nuốt giận.


Đến ngày đưa linh cữu vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Huệ cưỡi voi, đem ba ngàn quân hộ tống từ cung xuống bến đò, rồi chờ lễ rước từ cung xuống thuyền đâu vào đó mới quay trở lại.


Tang lễ xong, Nguyễn Huệ nói: “Tiên đế có 30 người con trai, ngày báo hiếu chỉ có một người con gái, nào có ai giúp đỡ mảy may? Người xưa bảo, con gái làm rạng rỡ cho nhà cửa, quả đúng thật”. Công chúa đáp: “Nhờ công đức của thượng công, thiếp được báo hiếu với hoàng khảo, mở mặt với anh chị em. Tục ngữ vẫn nói: Trai không ăn mày vợ, gái phải ăn mày chồng chính là thế đó!”.


Qua cách ứng xử nói trên, đủ biết hai người đã sớm tâm đầu ý hợp. Theo sử chép thì ngay cả người khó tính như Nguyễn Nhạc mà cũng không tiếc lời khen Ngọc Hân: “Người quý giá thế này thực không hổ thẹn làm cô em dâu của ta”.


Ít lâu sau, Ngọc Hân theo Nguyễn Huệ vào Thuận Hóa. Công chúa ở tại chùa Kim Tiên.


Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung, phong cho Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu. Năm 1789, sau đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung cho xây cung điện Đan Dương và phong Ngọc Hân làm Bắc cung hoàng hậu. Bà sinh hạ được hai người con là công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời. Như vậy, Nguyễn Huệ và Ngọc Hân chỉ sống với nhau vỏn vẹn có 6 năm.


Sau cái chết của vua Quang Trung, cuộc đời Bắc cung hoàng hậu xảy ra biết bao sự biến, đến lúc qua đời vẫn chịu hàm oan..


Cô độc ở chùa Kim Tiên


Vào Thuận Hóa cùng Nguyễn Huệ, Ngọc Hân công chúa ở tại chùa Kim Tiên. Đó cũng là nơi bà có những ngày hạnh phúc và chuỗi ngày lạnh lẽo của một người đàn bà tài hoa, yểu mệnh.


Công chúa Ngọc Hân rời đất Thăng Long theo chồng vào Thuận Hóa. Bấy giờ, Nguyễn Huệ ở với bà chính hậu tên Phạm Thị Liên (Bùi Thị Nhạn) tại phủ Dương Xuân. Bà Liên sinh năm 1758, tại tỉnh Quy Nhơn, Bình Định. Khi 16 tuổi (năm 1774), bà được Nguyễn Huệ chọn làm vợ. Bấy giờ Nguyễn Huệ 22 tuổi. Bà là em ruột của các ông Hộ giá Phạm Văn Ngạn, Giả vương Phạm Văn Trị, Thái úy Phạm Văn Tham, Thái úy Phạm Văn Hưng. Bà còn là anh em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Đắc Tuyên, Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật. Năm 30 tuổi, bà được phong làm Chánh cung hoàng hậu. Tính tình hiền lành, bà gắn bó với Nguyễn Huệ suốt những năm chồng khởi nghiệp, đến cuối đời. Vua Quang Trung rất thương yêu, trân quý bà. Bà sinh 5 người con: 3 trai, 2 gái. Sau này, Quang Toản được lập thái tử.


Hồi đó, những chùa quanh vùng đều được trưng làm nơi ở của quan quân Tây Sơn, Công chúa Ngọc Hân ở tại chùa Kim Tiên, bờ nam suối Tiên, cách phủ Dương Xuân vài trăm mét.


Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung, phong cho Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu.


Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, vua cho xây phủ Dương Xuân thành cung điện Đan Dương và phong bà làm Bắc cung hoàng hậu.


Ngô Tất Tố nhận xét về bài văn tế: “Theo thiển ý của tôi, đây là bài văn tế ý nghĩa rõ ràng, lời lẽ chải chuốt, dùng điển tích đắc thế... Một người đàn bà mà có tài văn bậc này, chẳng cứ ở ta, ngay như ở Tàu là nước văn học phát đạt cũng ít thấy lắm”.


Viết văn tế cho vua


Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời. Ngọc Hân đau đớn tự tay viết văn tế cho chồng. Cung điện Đan Dương từ đó thành lăng Đan Dương.


Bài văn tế vua Quang Trung do chính Bắc cung hoàng hậu viết bằng chữ Nôm. Hiện còn nhiều bản chuyển qua quốc ngữ khác nhau và vì thế, có nhiều từ cổ, nhiều điển tích đời nay khá khó hiểu nếu không được chú thích.


Văn tế mở đầu: Than rằng/Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn dặm vừa cùng trông vẻ thụy/phút mây che vầng Thái Bạch, trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương/Tơ đứt tấc lòng ly biệt/Châu sa giọt lệ cương thường...


Ngô Tất Tố diễn ý: Vua Quang Trung mới lên ngôi báu, như ngôi sao giữa trời, mới rạng vẻ ngọc trên chín tầng mây, các nước vừa thấy cảnh tốt đẹp, bỗng chốc ngài đã tạ thế; như đám mây đen che vầng Thái Bạch khiến cho tất cả sáu cung vì buồn rầu mà nhạt mùi hương. Trong lúc kẻ khuất người còn, tấm lòng (bà) đau đớn như sợi tơ đứt, nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, giọt lệ rơi xuống như hạt châu sa.


Và kết thúc: Tiếc thay!/Ngày thoi thắm thoắt/Bóng khích vội vàng/Thuyền ngự tọa đã ngang ghềnh Thái Thủy/Bóng long xa thẳng trỏ lối minh dương/Nẻo hoàng tuyền xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng cơn biệt duệ/Chén hoàng thủy kính dâng một lễ, xét soi xin thấu cõi minh dương.


Ngô Tất Tố diễn ý: Than rằng, ngày tháng mau chóng, đời người không được bao lâu. Bây giờ thuyền ngài đã khuất, xe ngài đã tới làng, nghĩ đến cảnh ngài ở suối vàng xa cách, (bà) càng ngao ngán, ngẹn ngùng cho cuộc biệt ly. Lạy xin kính dâng một chén rượu nhạt, mong ngài soi xét đến cho.


Khóc chồng


Quang Toản nối ngôi, lấy niên hiệu Cảnh Thịnh. Cậu ruột của vua lúc này là Bùi Đắc Tuyên lấy chùa Thiền Lâm ngay cạnh Đan Dương để ở. Cảnh Thịnh vốn không mấy tài cán nên Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền độc đoán, đưa họ hàng về làm quan, loại bỏ những người xuất thân từ miền Bắc vào.


Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân bị cô lập. Ở chùa Kim Tiên, hằng ngày bà lo kinh kệ, thờ chồng, nuôi con... Tại đây, trong những ngày đau thương, bà đã viết nên 164 câu ngâm Ai tư vãn, áng văn thơ khóc chồng đó không ngờ trở thành một tuyệt phẩm thơ Nôm.


Qua Văn tế vua Quang TrungAi tư vãn, người đời chắc ai cũng thấu hiểu được tấm lòng của Ngọc Hân với Nguyễn Huệ, hẳn không cần bình luận đó là hôn nhân gượng ép hay tình yêu nữa.


Năm 1794, Đô đốc Võ Văn Dũng đã làm chính biến, giết Bùi Đắc Tuyên, phục hồi triều chính, từ đó, bà Ngọc Hân mới được coi trọng. Bằng cớ là bà đã đưa em gái cùng cha khác mẹ Lê Ngọc Bình vào làm chánh cung cho vua Cảnh Thịnh.


Nhưng cuộc đời của người con gái đất Thăng Long tài sắc vẹn toàn không kéo dài được bao lâu, 7 năm sau ngày chồng qua đời, ngày 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4.12.1799) bà mất, hưởng dương 29 tuổi.


Mộ Bắc cung hoàng hậu lúc đầu được táng gần lăng Đan Dương, sau đó nhờ đô đốc tên Hải dời về làng Nành, xã Phù Ninh, nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội.


Trong bài lược sử Công chúa Ngọc Hân, Ngô Tất Tố cho là Lê Ngọc Hân đã tự tử, còn hai con phải thắt cổ mà chết.


Nhiều thuyết cho rằng, công chúa Ngọc Bảo và hoàng tử Quang Đức đều bị Gia Long bức tử, riêng bà Ngọc Hân được cho về quê và mất ở đó. Nhưng sử triều Nguyễn đều chép, hai con của Quang Trung chết trẻ, hài cốt được bí mật đưa về làng Nành.


Nỗi oan thất thân với vua Gia Long


Sau khi hoàng đế Quang Trung qua đời, bà Ngọc Hân có lấy vua Gia Long và sinh hạ cho ông hai người con hay không? Nếu không thì nỗi oan này từ đâu mà có?


Tập san Đô Thành Hiếu Cổ (BAVH), số ra tháng 10 - tháng 12 năm 1941, đăng bài viết của ông Phạm Việt Thường có tên được dịch ra tiếng Việt Những oái oăm của ông Tơ bà Nguyệt hay là số phận lạ lùng của công chúa Ngọc Hân. Do tác giả là thư ký ở Tòa sứ Pháp, BAVH lại là một tập san có uy tín hàng đầu bấy giờ nên từ đây, câu chuyện được nhiều người trích dẫn trở thành nguồn cơn của nghi án Ngọc Hân lấy hai vua là cừu thù của nhau.


Những oái oăm của... tác giả


Những đoạn trích bài bút ký lịch sử của tác giả Phạm Việt Thường sau đây trích lại từ trang tư liệu của Viet Phuong (sonthan.blogspot) mà chúng tôi đã đối chiếu thấy trùng khớp với nhiều tư liệu khác.


Sau khi dẫn hai câu ca dao truyền trong dân gian “Số đâu có số lạ lùng/Con vua lại lấy hai chồng là vua”, một đoạn khác tác giả viết: “Ta vẫn còn nghe những tiếng vọng bí ẩn từ thời xa xưa trong chỗ sâu kín của những nhà cao sang bị sa sút trong đó có các phủ đệ kín đáo của Quảng Oai quận công và Thường Tín quận vương, nhắc nhở chúng ta tình nghĩa vợ chồng của công chúa Ngọc Hân đã lần lượt là vợ của hai vị đại anh hùng trong lịch sử VN: Nguyễn Huệ (Quang Trung) và Nguyễn Ánh (Gia Long) là hai kẻ thù sinh tử”.


Một đoạn khác tác giả viết: “Bỗng bà nhìn thấy một người đàn ông trong trang phục hoàng gia đang tiến lại gần. Bà nhận ra đó là người quân nhân lạ mặt đêm qua. Chính là Nguyễn Ánh. Bà đứng lên xin lỗi về sự nhầm lẫn hôm trước. Gia Long mỉm cười nói: “Hôm nay lệnh bà dậy sớm quá”. Ngọc Hân đáp: “Thưa chúa thượng, suốt đêm qua tôi không hề ngủ được chút nào cả”. “Lệnh bà quả là một vị hoàng hậu dũng cảm. Xin lệnh bà biết cho rằng dù có gì thay đổi đi nữa, đất nước An Nam vẫn chẳng đổi thay. Xin lệnh bà khuây khỏa, đừng buồn nữa. Cung điện này vẫn thuộc về lệnh bà mà”.


Phần tiếp theo tác giả mô tả một hôm trong buổi thiết triều, viên Tổng quản Thái giám Lê Văn Duyệt biết chuyện nên ra sức can ngăn nhưng “Nguyễn Ánh mỉm cười bình thản trả lời: “Khanh nói có lý. Phụ nữ đẹp rất nhiều, nhưng nếu trẫm chẳng thích ai cả thì sao? Nói Ngọc Hân là vợ của một kẻ phản nghịch chỉ là một cách nói độc ác. Ngọc Hân là một phụ nữ như bao phụ nữ khác, xứng đáng được yêu và được kính trọng, và trẫm tin chắc rằng chẳng thể tìm đâu ra một người thứ hai trong đời. Sau khi quen biết bà ta, trẫm không muốn yêu bất cứ phụ nữ nào khác...”. Trước sự cương quyết của chúa Nguyễn, triều đình đành nhượng bộ và Ngọc Hân đã tìm quên quá khứ trong tình yêu mới”.


Còn đây là đoạn sau này nhiều người dẫn để nói Ngọc Hân từng có với Gia Long hai người con: “Hiện nay, những người bộ hành hiếm hoi khi dừng chân trước đền thờ Quảng Oai quận công và Thường Tín quận vương - hai người con của Ngọc Hân và Gia Long - không khỏi buông tiếng thở dài khi thấy ngôi đền đã đổ nát, đang dần dần biến mất theo thời gian”.


Lấy chồng khi đã chết ?


Nhà thơ Quách Tấn, một học giả uyên thâm, trong bài viết của mình, ông dẫn lại câu nói khôi hài của nhà văn Pháp Bosuet: “Từ ngày có những nhà viết sử thì không còn sử nữa”. Quách Tấn lý giải: “Không còn sử nữa tức là chỉ còn có những chuyện hoang đường do trí tưởng tượng của những nhà viết sử tạo nên. Chuyện bà Ngọc Hân công chúa là một bằng chứng”.


Bằng nhiều cứ liệu thuyết phục, Quách Tấn chứng minh, bà Ngọc Hân mất năm Kỷ Mùi 1799, kinh thành Phú Xuân thất thủ năm Tân Dậu 1801 và nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn diệt năm Nhâm Tuất 1802. Như vậy “bà Ngọc Hân mất 3 năm trước khi vua Gia Long thống nhất sơn hà thì còn có thể nào bị bắt nạp vào cung vua Gia Long?”. Theo Quách Tấn, những cứ liệu có được nhờ tìm thấy tập Dụ Am của Phan Huy Ích.


Trong quyển Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (NXB Thuận Hóa, tháng 10.2014) đã tập hợp được nhiều tài liệu từ cả hai chiều đồng tình và phản bác, từ đó phân tích lập luận một cách khoa học để chỉ ra bài viết của Phạm Việt Thường là hoàn toàn không có cơ sở, sai lệch về lịch sử, không thể có chuyện một người đã mất trước đó 3 năm lại... đi lấy chồng. Vua Quang Trung qua đời năm 1792, từ đó đến năm 1801, trong cung điện thành Phú Xuân phải là nơi ở của vợ Quang Toản, làm sao bà Ngọc Hân là vợ vua Quang Trung đã qua đời trước đó gần chục năm lại có thể ở trong đó để Nguyễn Ánh đến gặp? Cũng trong sử nhà Nguyễn, bộ Đại Nam liệt truyện chính biên (sơ tập), viết tiểu sử hai ông hoàng Quảng Oai và Thường Tín là con của Đức phi họ Lê. Từ đó, cùng với các tư liệu khác, khẳng định công chúa Lê Ngọc Bình, con út vua Lê Hiển Tông (em cùng cha khác mẹ với Lê Ngọc Hân, người được Ngọc Hân tác thành với Quang Toản) là thân mẫu của hai ông hoàng Quảng Oai và Thường Tín.


Câu ca: “Con vua mà lấy hai chồng làm vua” mà bài viết của Phạm Việt Thường trích dẫn đầu tiên là nói về Lê Ngọc Bình vậy. Oan thất tiết của bà Ngọc Hân được giải, nhưng sinh một cái oan khác, oan giết chồng.


Nguyễn Thế Thịnh


thanhnien.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »