tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20174734
Lý luận phê bình văn học
03.11.2014
Nhiều tác giả
Những bài viết về thơ Thi Hoàng

- Đọc Tiểu sử Thi Hoàng


Đường thơ Thi Hoàng


Bài của Lê Thiếu Nhơn


Đường thơ Thi Hoàng, dẫu lô nhô gạch đá gây gổ và dẫu ngổn ngang hố hầm dọa nạt “gió mây chờn vờn nôn mửa thốc tháo/ mắt ti hí mặt trời nhìn đứt cuống họng/ tiếng kêu ném đá vào ruột gan”, thì vẫn thấy lấp lánh những hạt vàng tài hoa.


Khoảng năm 1963, chàng trai 20 tuổi Hoàng Văn Bộ viết những câu thơ khởi nghiệp ký bút danh Thi Hoàng. Đứng trong đội ngũ những người tình nguyện sứ mệnh vừa làm thơ vừa đánh giặc đặc thù của một giai đoạn văn học Việt Nam, Thi Hoàng trăn trở “có lúc tôi khùng lên xua đuổi chủ đề/ nhưng chủ đề như một gã đùa dai/ cứ lén đến nằm ườn lên tác phẩm”. Từ trong dàn đồng ca, Thi Hoàng bật ra không ít lời thơ vang dội, mà hai câu “cây cứ biếc như vặn mình mà biếc/ trời thì xanh như rút ruột mà xanh” trong bài Giữa cây và nền trời vẫn được nhiều người xưng tụng.


Tuy nhiên, hãy hỏi, sao cái sự "biếc" lại vật vã thế, sao cái sự "xanh" lại đau đớn thế? Nào đâu phải riêng thiên nhiên, mà chính nhà thơ trong câu thơ ấy cũng làm một cuộc vượt thoát cam go khỏi từ trường chữ nghĩa minh họa sản xuất và miêu tả sự việc. Ý thức khác biệt giúp Thi Hoàng có thêm một dấu son nữa để nổi danh giữa thế hệ nhà thơ trưởng thành cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: bài "Thành phố những cánh buồm - mùa hè - cửa bể” không chỉ lạ nhờ cách đặt tên mà còn nhờ hình ảnh “cơn gió đất đưa ta qua đầu sóng/ vạt buồm muốn kéo cả bờ đi”.


Năm 1976, tập thơ đầu tay Nhịp sóng được ấn hành, khép lại một thời Thi Hoàng trẻ trung làm thơ tùy hứng. Với ưu điểm sử dụng ngôn ngữ tạo cảm giác mạnh, Thi Hoàng liên tục quẫy đạp qua các tập thơ và trường ca Ba phần tư trái đất, Gọi nhau qua vách núi, Bóng ai gió tạt, Cộng sinh với những khoảng trống, Chìm vào mật nóng...


Có đôi lúc bàn chân thơ của Thi Hoàng bước chới với sang miền cách tân hụt hẫng "tôi làm thơ theo kiểu/ tát cạn bắt lấy thôi/ cho đến khi bắt được/ thì câu thơ chết rồi", vẫn thấy nghiêng ngả một bóng dáng khát khao sáng tạo. Theo logic tâm lý học, khi con người khước từ bản năng bầy đàn thì dễ nảy sinh hai thái cực, hoặc tôn thờ sự nổi loạn, hoặc sùng bái sự cầu kỳ. Trước tiên, Thi Hoàng tự đứng riêng bằng giọng điệu dữ dội “Ai đang hát trong mưa, nước như băm như thái... ai đang hát trong mưa, nước như véo như tát”, hoặc “tiếng hát em một thời vón vào trong viên đạn/ mặt kẻ thù tắt lịm sau bờ cây”, hoặc “em làm cao sang viên gạch lát vỉa hè/ làm rực rỡ, bồn chồn những giọt máu đã hy sinh, mất mát/ làm mảng nắng dưới chân tường ngây ngất”, thỉnh thoảng lại pha thêm chút lý sự “giữa muôn nghìn cái riêng trong con người có một cái chung/ là trái tim không chịu được sự lạnh lẽo và hoang vắng” hoặc “giờ thì ta khóc đây, nước mắt làm dịu đi khi vật chất nổi khùng/ khi tinh thần bị vặn hết răng không nhai được món ăn cảm xúc/ khi đồng tiền định ăn hiếp trái tim trong túi ngực”.


Chính Thi Hoàng nhận ra yếu điểm cũng là điểm yếu của mình “chữ nghĩa gườm gườm như thời trang hầm hố/ triết học mọt nghiến vào thớ gỗ/ thơ gieo vần kèn kẹt thế kia ư”, và thay đổi bằng giọng điệu lắt léo “mặt trời lặn sang bên kia vạt áo/ con đường miên man leo ngược lên trời/ vòm chiều chín đầy những lời khuyên bảo” hoặc “ai đang lùng sục trong xương cốt/ nhức buốt lần mò đi hành hương/ ta thấy ta ngày càng nhỏ tắp/ như chân nhang cắm mả bên đường” hoặc “hoa phượng đỏ lúc nào không biết nữa/ kim phút thụ thai, kim giờ có chửa/ vã mồ hôi những sản phụ đồng hồ/ đẻ ra quái thai cái-vẻ-mặt – thờ – ơ”.


Quá trình chuyển tiếp giọng điệu dữ dội sang giọng điệu lắt léo, Thi Hoàng có được vài câu thơ đáng nhớ “mắt em ngước lên như mặt nước ao đầy” hoặc “những sắc màu đánh nhau trên cánh bướm”. Cuộc truy đuối bút pháp cá nhân có không ít khúc quanh nhọc nhằn, Thi Hoàng cam kết khi “xin phép xuất bản” khá sòng phẳng: “Tôi có lý tưởng hẳn hoi/ và tôi yêu Tổ quốc/ điều này làm tôi vững tâm/ vật gì trong tầm tay tôi, tôi có thể dám cầm/ dẫu vật ấy có khi là thuốc nổ/ xin người yên tâm, xin người đừng sợ/ kẻ tan thây trước hết sẽ là tôi”. Thử làm một độc giả thiện chí đi cùng nhà thơ “tôi sinh ra dưới cánh hải âu/ cái cuống rốn vùi trong cát mặn” cũng hơi cay cực “thơ đọc nhọc khóc róc nước mắt”, nhưng luôn được đền bù tương đối xứng đáng. Bởi lẽ, Thi Hoàng thường có những câu thơ đột sáng cứu vớt cả đoạn thơ hoặc cả bài thơ. Ví dụ, trong trường ca “Gọi nhau qua vách núi” bên cạnh phẩm chất con người đất cảng khốc liệt “thành phố đàn bà yêu như độc ác/ nổi cơn ghen chém xả bả vai chồng/ thành phố nghênh ngang, thành phố đàn ông/ hất hàm chào nhau đá vỏ đồ hộp” thì một góc Hải Phòng hiện ra đẹp bảng lảng, đẹp xa vắng: “dấu nhật ấn trên con tem bưu điện/ gửi về đâu địa chỉ tuổi lên mười/ gửi cho ai mái phố gió bời bời/ gửi cho ai những ngày thừa, khoảng trống/ một đầu đường chẳng có ai trông ngóng/ một buổi chiều không biết cất vào đâu”.


Đường thơ Thi Hoàng, dẫu lô nhô gạch đá gây gổ và dẫu ngổn ngang hố hầm dọa nạt “gió mây chờn vờn nôn mửa thốc tháo/ mắt ti hí mặt trời nhìn đứt cuống họng/ tiếng kêu ném đá vào ruột gan”, thì vẫn thấy lấp lánh những hạt vàng tài hoa.


Sự tinh tế trong thơ Thi Hoàng có thể chia làm ba cấp độ.


Thứ nhất, sự tinh tế có yếu tố quan sát “những con cá khô phơi trên đá trên hè/ dường như chúng nghỉ ngơi rồi chốc nữa lại về biển cả” hoặc “nhìn tấm lưng biết có một người tốt đi qua/ ở người ta có khi cái lưng nói nhiều hơn cái mặt/ sự nhân ái giả vờ thường chường ra phía trước/ nỗi nhẫn nhịn thương người lại hay ẩn đằng sau”.


Thứ hai, sự tinh tế có yếu tố suy tưởng “Năm 1954 - Vĩ tuyến 17/ mỗi chúng tôi đều bị cưa ngang/ chiếc thắt lưng vẫn thắt bình thường đột nhiên cứ làm mình ghê rợn/ đến một sớm mai ra/ nửa dưới hoặc trên thân thể sẽ không còn” hoặc “hoa sen không định thơm/ không định thơm thì mới thơm như thế/ rất tự nhiên là ta nhớ mẹ/ mẹ quá xa rồi/ để ta thành con cái của làn hương” hoặc “chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất/ làm được buổi chiều rất giống ban mai/ thánh cũng hân hoan... đố ai biết được/ Ngài ở trong kia hay ở ngoài này”.


Thứ ba, sự tinh tế có yếu tố xuất thần, ở vùng đệm giữa có và không, giữa hư và thực, Thi Hoàng níu giữ được những khoảnh khắc chỉ cần chớp mắt sẽ biến mất, đó là Nỗi niềm thoáng đưa “trong nhà ngoài sân bây giờ/ toàn những khoảng không không có mẹ/ khoảng không ơi khoảng không/ khoảng không không che ai khuất cả/ sao khoảng không che mất mẹ ta”, đó là phút giây Lang thang ở Cúc Phương xanh thẳm “cứ như đi vào những ngày không có trong đời mình/ những ngày trời cho thêm không tính vào tuổi thọ”, đó là ham muốn X-quang bản thân “mẹ càng hiền lành hơn sau ngày mẹ mất/ mơ thấy mẹ vá áo cho con ngay lúc con đang mặc/ không phải cởi ra đâu, sợ áo nhạt hơi người”.


Thi Hoàng thừa hiểu “cái đẹp nhiều khi cũng oái ăm/ cầu toàn quá hóa ra mù tịt”, nhưng vận động là nhu cầu đeo bám nhà thơ đích thực. Thi Hoàng tìm ra lời giải đáp ngay trong sự loay hoay. Thi Hoàng phát triển thơ theo hai hướng. Một hướng chao chát kỹ thuật, kiểu như “mê mướt gió se môi chiều cắn chỉ/ cây im nước lặng mắt em mềm/ vạt nắng ứa hiên nhà từ duy mỹ/ nhẹ nhàng sang duy cảm tóc em đêm” hoặc “nghe chó sủa vầng hào quang quáng gà/ hoàng hôn chua cay vẩn đỏ một chân trời tương ớt/ miệng vết thương lên cao vút một giọng ca nhói buốt/ tôi leo lên theo cái giọng ca kia nhìn xuống vết thương mình”. Một hướng thô ráp đời sống, kiểu như “biến cái đẹp thành cái ăn/ mang giá trị thâm canh như đồng tiền rách nát/ lấy biên lai ở cửa hàng danh vọng/ về thanh toán với con tim, về đòi nợ hoa hồng” hoặc “tôi cũng từng được chia quỹ đen được phần sổ đỏ/ góp bâng quơ để dây máu ăn phần/ cũng đem ra nắng vàng phơi phóng chút vinh quang đến Tây đen cũng đỏ mặt/ xin mang nỗi ngượng ngùng bón xuống đất/ mang tinh thần vô cơ thành vật chất hữu cơ/ trồng một vạt rau xanh mơ ước”.


Thi Hoàng rất dụng công cho thơ. Mỗi bài thơ đối với Thi Hoàng như một cơ hội xây dựng hình tượng, hoặc như một cơ hội trau chuốt ngôn từ. Thi Hoàng chấp nhận luật chơi “chữ với nghĩa đi tìm nhà trọ/ sống thử với nhau xem có thành bài thơ/ đã có thuốc tránh thai như là thi pháp/ cãi hộ cho ta những xúc động giả vờ”. Thi Hoàng có những câu thơ khiến công chúng ngỡ ngàng như chứng kiến các clip quảng cáo cưỡng bức thị trường tiêu dùng. Có thể biện luận “những bình minh i-nốc, những hoàng hôn ni-lông” cũng là một cách khai thác sự huyên náo để chống lại sự thờ ơ. Tuy nhiên, phải xác định thẳng thắn rằng, sự cường điệu chỉ giống như liều thuốc gây mê tạm thời, mà khi bạn đọc sực tỉnh không thể tìm ra hồn vía thi ca. Những câu thơ như “đóng đinh vào những sự tình/ đau thon thót rót cho mình tiếng chim” hoặc “sông thả lỏng một nỗi buồn mướt mượt/ sau vai đê khói vờn lên não nuột” mang đến cảm giác hào nhoáng chốc lát, rồi lộ ra một thủ thuật tuyệt vọng nhằm che đậy trí tưởng tượng đang bị trượt ngả trước bờ vực chai lỳ rung động thẩm mỹ.


Thao tác làm thơ của Thi Hoàng chẳng khác gì một người câu cá chuyên nghiệp. Có khi cao hứng, Thi Hoàng cứ mài giũa lưỡi câu sao cho thật nhọn hoắc, sao cho thật sáng choang, khiến bao đồng nghiệp vị nể mà đàn cá cũng... hoảng sợ. Và khi một lưỡi câu có nét lóng lánh của một... cây kim, chắc chắn không câu được con cá nào.


Ngược lại, khi Thi Hoàng trễ nải dùng lưỡi câu giản dị thi sĩ của mình, thì được lắm con cá thơ hay. Ví dụ, hai bài thơ đều viết về sông Thương và đều ghi tặng một người, nhưng bài Về lại sông Thương thong thả “ngày xưa anh đâu có biết/ bây giờ anh đâu có hay/ đôi bờ tre pheo phờ phạc tháng ngày/ khuôn mặt ai như ngọn đèn vặn nhỏ”, còn bài Về sông Thương mà chẳng ghé thăm em lại ầm ĩ “sông Thương ơi, sông Thương! Anh gọi ngậm/ Khúc kia giờ ơ... đoạn này giờ ơ... nghe chợt (Uỵch, boong, uỵch, boong uỵch, cheng cheng kịch/ Rốc ấy em à, quát mắng ngày xưa”. Đặt cạnh nhau càng thấm thía, bài Về lại sông Thương được một câu thơ thổn thức “khuôn mặt ai như ngọn đèn vặn nhỏ”, còn bài Về sông Thương mà chẳng ghé thăm em thừa một câu thuyết minh rộn ràng “rốc ấy em à, quát mắng ngày xưa”.


Như một quy ước được mã hóa, khi phải bày biện món ăn tầm thường thì đầu bếp khéo léo sẽ biết cách thêm vị chua hoặc vị cay để kích thích vị giác thực khách. Thi Hoàng có thể xem như một nhà nêm nếm bậc thầy. Những câu thơ lưỡi câu mài giũa cẩn thận như “đèn hèn sáng tia gầy teo tét” hoặc “chân trời đầy mây cơm nguội” cũng khiến nhiều kẻ hoang mang về sự cách tân.


Thi Hoàng thấu hiểu và Thi Hoàng cười thầm mọi sự ngộ nhận: “muốn cái mũ tư duy thay cái đầu/ bắt miệng ngậm để khẩu trang ca hát/ chỉ giả bộ nàng thơ thì mới chết/ chứ nàng thơ đâu có chết bao giờ”.


Sài Gòn, tháng 9/2011


LTN


giaitri.vnexpress.net


Thi Hoàng trong Vườn thi nhân đất Cảng


Bài của Võ Quốc Văn  


"Gọi nhau qua vách núi" xuất hiện trên thi đàn chẳng bao lâu thì cũng là lúc tên tuổi Thi Hoàng trở thành hiện tượng. Thực ra thơ và tên tuổi Thi Hoàng đã có trong bộ nhớ người yêu thơ VN từ lâu nhưng phải đến "Gọi nhau qua vách núi", thơ anh mới được công chúng đón nhận với một thái độ yêu quý nồng nhiệt và trân trọng như thế.


Nhà thơ Thi Hoàng làm thơ và có thơ đăng báo Văn Nghệ từ thập niên 60. Anh bảo hình như là năm 1963 hay 1964 gì đó! Năm 1967, Thi Hoàng đang làm cán bộ kỹ thuật ngành Giao thông, theo tiếng gọi của đất nước anh lên đường nhập ngũ rồi vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Một thời gian sau anh bị thương phải chuyển ra Bắc điều trị. Vết thương lành, nhưng Thi Hoàng không còn đủ sức khỏe trở lại chiến trường. Anh được điều về làm công tác xuất bản ở Sở Văn hóa - Thông tin Hải Phòng.


Năm 1976 Thi Hoàng chuyển về Hội Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng làm cán bộ biên tập Tạp chí Cửa Biển cho đến ngày nghỉ hưu, năm 2004.


Hải Phòng là một vùng đất rất lạ. Chỉ nói từ thập niên 20 của thế kỷ trước đến nay, cứ sau vài mươi năm đất này lại phát tích, lại sinh ra những con người tài năng, một trào lưu văn học nghệ thuật đặc sắc.


Đó là thi sĩ Thế Lữ - người đi tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Và hàng loạt tên tuổi văn chương, nhạc, họa khác như: Khái Hưng, Trần Tiêu (nhóm Tự lực văn đoàn); Nguyễn Huy Tưởng, Tchya (Đái Đức Tuấn), Lan Sơn, Lê Đại Thanh, Đặng Xuân Thiều, Hoàng Công Khanh, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Đoàn Chuẩn... Rồi đất này cũng là nơi ra đời của nhóm nhạc Đồng Vọng với nhiều nhạc sĩ tên tuổi: Hoàng Quí, Hoàng Phú, Canh Thân, Phạm Ngữ, Văn Cao... Những ca khúc của họ đến nay vẫn làm rung động lòng người.


Năm 1971, Thi Hoàng có thơ in chung trong tập Cửa sông (NXB Tác phẩm mới) cùng với Nguyễn Tùng Linh, Thanh Tùng. Rồi đến năm 1976, anh ra tập thơ riêng có tên Nhịp sóng (Hội Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng). Mấy năm sau, Thi Hoàng cho in trường ca Gọi nhau qua vách núi (NXB Quân đội nhân dân).


"Gọi nhau qua vách núi" xuất hiện trên thi đàn chẳng bao lâu thì cũng là lúc tên tuổi Thi Hoàng trở thành hiện tượng. Thực ra thơ và tên tuổi Thi Hoàng đã có trong bộ nhớ người yêu thơ VN từ lâu nhưng phải đến Gọi nhau qua vách núi, thơ anh mới được công chúng đón nhận với một thái độ yêu quý nồng nhiệt và trân trọng như thế.


Từ đấy người ta càng thêm nhớ, càng thêm thuộc những câu thơ của Thi Hoàng hơn:


Trời thì xanh như rút ruột mà xanh


Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc


Hay:


Một buổi chiều không biết cất vào đâu


Và nhiều, nhiều nữa những trường đoạn thơ, những bài thơ, những câu thơ ám ảnh, giàu chất nhân văn nhưng cũng rất quyết liệt, đầy bản ngã mà tình thi của nó luôn làm cho người ta say đắm ngẫm ngợi.


Trường ca Gọi nhau qua vách núi như là một sự khẳng định đẳng cấp và thương hiệu thơ Thi Hoàng. Với tập trường ca này, ngoài những dư ba của nó còn mang đến cho nhà thơ một sự tôn vinh.


Tập trường ca Gọi nhau qua vách núi vừa xuất bản tháng 10/1995 thì ngay cuối năm này Thi Hoàng nhận liền một lúc hai giải thưởng văn chương: Một là giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm của thành phố Hải Phòng, một của Hội Nhà văn Việt Nam.


Tưởng thi hứng của Thi Hoàng đã bị vắt kiệt cho tập trường ca Gọi nhau qua vách núi, ai ngờ chỉ hai năm sau anh lại cho xuất bản tiếp tập thơ Đom đóm và sao.


Thi Hoàng là một người chẳng mấy sức vóc gì mà khi làm việc cho thơ thì khiếp lắm. Khi anh đang viết là lúc anh vắt kiệt sức mình cho thơ, nhất là những trường ca dài hơi thì tiêu hao sức lực. Vì thế nên mỗi lần viết xong mỗi tập sách, Thi Hoàng đều lăn ra ốm thập tử nhất sinh. Lần nào Thi Hoàng cũng phải vào bệnh viện nhờ cậy sự chăm sóc của bác sĩ cả. Việc này bạn bè và đồng nghiệp của anh đều biết và nghiệm ra đúng là vậy.


Ngay năm đầu thiên niên kỷ mới 2001, khi tập Bóng ai gió tạt đưa vào nhà in thì Thi Hoàng vẫn không “quên” ốm. Nhưng lần này may chỉ là qua loa. Anh điều trị tại gia đình ít ngày thì khỏe trở lại.


Thi Hoàng ít nói và rất ngại phát biểu trước đám đông. Nhưng đôi khi ngồi tụ vạ cà phê với người hợp cạ hiểu anh thì anh cũng cởi mở và cũng hồn nhiên dốc bầu tâm sự móc hết ruột gan mình ra.


Thi Hoàng là người có khiếu nói tự trào rất hóm hỉnh. Nhiều khi đọc thơ anh là những câu anh vẫn nói chuyện hàng ngày. Vậy mà vào thơ chẳng thấy chất khẩu ngữ đâu nữa. Nó được anh hóa giải và tinh luyện như có phép mầu của một phù thủy cao tay đến độ siêu đẳng rồi. Không còn nhận ra dấu vết gì. Thần tình thế đấy.


Cũng lại từ cái tập Bóng ai gió tạt kia, cái tập thơ Thi Hoàng tự vẽ lấy bìa nom chẳng mấy ấn tượng, nhưng rồi ai đọc nó thì rồi cũng sửng sốt luôn. Vì nó đáo để và tài hoa ghê lắm. Tôi rất đồng tình và chia sẻ với nhận xét và phân tích về tác phẩm Bóng ai gió tạt của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải trong bài viết của anh gửi cho Tạp chí Cửa Biển tháng 5/2005 trong đó có đoạn: “Ông (tức Thi Hoàng) là đại biểu xứng đáng của lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, có đóng góp quan trọng vào tiến trình đổi mới thơ hôm nay”.


Trong bài viết trên nhà thơ Nguyễn Hưng Hải còn trích dẫn rất nhiều thơ trong đó có đoạn Thi Hoàng viết: “Có thể mang nỗi buồn ra trang điểm buổi chiều/ khỏi lo sự già sự vô duyên rình rập/ thanh thản hòa hơi thở mình vào không khí sạch/ khỏi phải nhẩm lại tiền trong túi/ khỏi phải lo bị cảm... nhỡ rồi đây nhà có máy điều hòa”. Hay: “Hoa sen không định thơm thì mới thơm như thế/ Rất tự nhiên là ta nhớ mẹ/ Mẹ quá xa rồi/ để ta thành con cái của làn hương”.


Tiếng vang của tác phẩm này khiến Báo Văn nghệ phải tổ chức một cuộc hội thảo Bóng ai gió tạt. Và, Bóng ai gió tạt cũng như Gọi nhau qua vách núi, năm 2001, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã trao giải A. Tiếp đến năm 2004 thành phố Hải Phòng lại thêm một giải thưởng cao nữa cho tác phẩm này.


Đã lâu nay tôi không gặp Thi Hoàng. Từ ngày nghỉ hưu anh ít đi làm hay đi chơi ở đâu đó. Anh thường ở nhà vì khi về hưu, khách khứa bạn bè lại đến thăm nhiều hơn. Cuối tháng 8 vừa rồi anh lên trụ sở Hội Văn học Hải Phòng có việc gì đó. Gặp tôi, anh cười mủm mỉm khoe: “Cái của tao có giấy phép với hợp đồng xuất bản rồi đấy. Bản thảo đang trong nhà in ra đến bông hai rồi. Đang đọc sửa lỗi máy tính”.


Tập sách này là một tập hợp thơ (một tập hợp chứ không phải là tuyển tập) trong đó có bản trường ca mới. Bản trường ca này đã trích in trên Báo Văn nghệ một chương hồi giữa năm 2004. Tên tập thơ ấy khá dài, đúng 27 chữ Theo đuổi tự nhiên và những bài liên quan hay là cộng sinh với những khoảng trống.


cand.com.vn


Hoàng Hưng và Thi Hoàng- Hàm súc về ý tưởng, tinh tế về cảm nhận


Nhà  thơ Hoàng Hưng, sinh năm 1942 ở Hưng Yên, năm 1965 đoạt giải cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn VN. Từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ trước, ông đã bước đầu có những tìm tòi khác thường và mới lạ về mặt hình thức nghệ thuật thơ. Trong 35 năm, ông đã in 4 tập thơ: Đất nắng (in chung 1970 NXB Văn học), Ngựa biển (1988 NXB Trẻ), Người đi tìm mặt (1994 NXB Văn hoá Thông tin), Hành trình (2005 NXB Hội Nhà văn).


Từ  “Ngựa biển” đến “Hành trình” tìm về phương Đông bí ẩn


Hai tập thơ Ngựa biển và Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng khi trình làng đã có nhiều dư luận trái chiều nhau và trở thành đề tài bút chiến của một số cây bút phê bình với những bình luận khen - chê khá gay gắt.  Trước cuộc đòn “hội chợ” này, Hoàng Hưng tỏ ra bản lĩnh và khá bình thản trước “búa rìu” của phê bình đã có đôi lúc muốn “truy chụp” ông. Vì thật ra, cuộc đời thơ ca của Hoàng Hưng đã khiến ông phải nếm trải những bước thăng trầm  nghiệt ngã hơn nhiều cái thứ búa rìu chữ nghĩa kia. Hai tập thơ nói trên của Hoàng Hưng in ra ở thời điểm đất nước vừa bước vào đổi mới như tín hiệu đầu tiên dự báo cho các dòng thơ tìm tòi, cách tân nghệ thuật sắp nối tiếp nhau trình hiện.


Hình như, trong mỗi con người thơ cách tân đều ẩn chứa một trạng thái làm việc ngôn ngữ không bình thường và khác người theo kiểu bị “ngộ chữ”, bị “bùng nổ”, bị “tẩu hoả nhập ma” nên các bài thơ cách tân thường có một vẻ “điên điên” nào đấy về mặt phát hiện những dị âm, dị hình khiến người đọc không sao theo kịp được những liên tưởng thơ trong một bức tranh kiểu trường phái siêu thực của họ. Nhưng một nhà cách tân như Hoàng Hưng, khi viết về những người điên, thơ ông lại tỉnh táo lạ thường và nhân ái hết mực. Tôi đặc biệt ấn tượng về 2 bài thơ: Người điên 1 (người điên hiền lành) và Người điên 2 (người điên gạch ngói) của Hoàng Hưng trong tập thơ Người đi tìm mặt. Trong bài thơ đầu, hình ảnh của một người điên hiền lành thật tội nghiệp và dễ thương khi đi qua thành phố, đi qua tuổi thơ của tác giả: “Anh cứ đi chầm chậm giữa đường/ Cái mặt không tuổi/Tấm thân không thời tiết/Hai mắt để ngỏ một căn phòng trống không/Anh cứ đi nghìn bước như nhau/Quên ngay từng bước vừa đi/Không biết chỗ bàn chân đặt tới/Anh cứ vừa đi vừa bấm đốt/Và chỉ đếm đến một/Thủa nhỏ chúng tôi cười chạy sau lưng anh/Lớn lên bóng anh tắt những cơn vui/Và an ủi những giờ thất vọng/Rồi anh trở thành người quen thuộc/Một hôm tôi bắt gặp tôi/lẩm bẩm giữa đông người”


Sự  bất ngờ đến trong khổ thơ cuối, khi chợt một hôm, nhà thơ thấy mình có cử chỉ khác thường giống như một người điên, nhưng may sao, đấy là một người điên hiền lành thích đùa rỡn với bọn trẻ con và chỉ quen đếm đến một. Nhưng bài thơ không dừng lại ở câu kết, khi cái lằn ranh mỏng manh giữa một người điên và một người bình thường đã khiến ta liên hệ đến một bi kịch đời sống đã bao trùm toàn bộ không khí bài thơ khiến người điên và nhà thơ trở thành người quen thuộc, họ giống nhau ở chỗ hay lẩm bẩm những nơi đông người. Đến khi ấy, ta mới lắng nghe được, cảm thông được, hiểu thấu được cái thứ ngôn ngữ lẩm bẩm của một người điên chính là sự mong muốn được truyện trò, được đối thoại với cái đám đông bình thường đang cố tình hắt hủi và xa lánh họ, điều mà chỉ có nhà thơ mới đồng cảm được. Còn trong bài thơ Người điên gạch ngói, chính nhà thơ lại là người được vỗ về bởi khúc ca thanh bình của một người điên đang hát lên khi đi qua cái thành phố điêu tàn vì chiến tranh:”Đội một viên gạch vỡ/Chị vừa đi vừa hát ca/Chiều tắt dần cuối phố/Chị vừa đi vừa ca/Những mảnh vụn của bài ca thanh bình/ Lạo xạo tim tôi/ Ôi nỗi điên gạch ngói/ Cứ hát lên hát lên’Có bao nhiêu nát tan/Đội lên đầu mà hát”.


  có một điều khá kỳ lạ, sau 2 tập thơ Ngựa biển và Người đi tìm mặt với những phát hiện, tìm tòi chữ nghĩa theo kiểu “huớng ngoại” gây xôn xao dư luận thì chỉ ít năm sau, cùng với các chuyến “xuất ngoại” đến với các nền thi ca hiện đại khác trên thế giới như: Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản…ta lại gặp một Hoàng Hưng “hướng nội” tìm về với bản lĩnh Phương Đông vững chãi mà độc đáo theo cách bài thơ “Nghe quạ kêu ở Calcutta” như một bức tranh về thời hiện đại, khi quá khứ và tương lai như hai đối cực đang dần hiện lên trong hình ảnh người phu xe ngồi khâu áo bên đưòng kiên trì, nhẫn nại như người bán món trà sữa từ thời Đức Phật cho những du khách hiếu kỳ trong cái thành phố Calcutta lúc nhúc người xe và hăng nồng hương liệu nghìn năm. Xuyên suốt bức tranh này là tiếng quạ kêu đến oi ả, đến bức bối làm chúng ta rối bời vì một cảm giác bất an đang thao thức đâu đó trong đời sống con người hiện đại khi cảnh lam lũ, khó nhọc trên mặt đất này vẫn luôn thường trực ở khắp mọi nơi. Hoàng Hưng đã vẽ bởi cảm xúc thơ thường trực trong con người ông chính là cái tố chất nhân văn luôn tràn đầy, luôn hướng tới và phải trình hiện bằng ngôn ngữ thơ này.


Hoàng Hưng cũng đã vẽ và chấm phá chỉ bằng đôi nét thầm lặng ở bức tranh sau: “Cố đợi ngày trời trong/ Có thể ngắm rặng tuyết sơn/ Xa ngoài trăm cây số/ Chờ hết một mùa/ Trời mờ mịt sương/Đường lên núi súng nổ/ Xe cháy/ Sáng nay đôi chim hạc bay về/ Mang trên cánh/ Tuyết núi xa”. Hình ảnh Tuyết Sơn trong bài thơ trên lặng mà động, yên mà bất yên, tưởng chừng không thấy mà lại thấy, tuởng như không chảy mà lại chảy, ngỡ như hư ảo giá lạnh mà lại hiện thực nóng bức. Cái hình ảnh đột ngột sớm nay, đôi chim hạc bay về từ núi xa, hình như không phải chúng mang tuyết trên núi về mà trên đôi cánh hạc ấy còn có cả dấu vết của máu nữa bởi trước đó, đường lên núi, súng đã nổ và xe đã cháy. Cách chấm phá của Hoàng Hưng trong bức tranh này đã vượt qua được cái không khí của tranh thuỷ mặc xưa, nó gần với đời sống đương đại nhưng cũng rất gần với Phương Đông. Phải chăng đấy là một hướng đi mới của thơ hiện đại, khi Hoàng Hưng sau gần 40 năm trăn trở cùng thi ca với các khuynh hướng tìm tòi khác nhau đang hành trình tìm về miền cội nguồn của thi ca phương Đông?.


Sự hoá  thân của thơ vào sắc thái ngôn ngữ và hình ảnh riêng của mỗi nền văn hoá đã nhiều lần được Hoàng Hưng coi trọng đặt lên hàng đầu, khi ông tới viếng thăm những miền đất khác hoặc khi ông viết về con người và đất nước ấy. Hoàng Hưng đã tìm được nhịp điệu đặc trưng của thơ Lorca trong bài thơ sau:”Những đồi ô liu chạy trong trăng bạc/Góc tối toa tầu con tim tôi đập/ Lorca/ Đồng mênh mông rực cháy và nứt toác/ Đâu rồi kỵ sĩ Cocrdoba?/ Chỉ một bóng cao bồi Fa West/ Giữa phim trường bao la/ Lorca/ Nhịp chân dồn dập di-gan/ Trên sàn diễn giả trang hang đá/ Trán nàng giọt giọt mồ hôi/ Biển tháng chín mình tôi/ Địa Trung Hải sóng chạy về tít tắp/ Lorca/ Đêm bập bùng ghi ta Granada/ Bom nổ sớm mai quảng trường tan tác”. Có cảm tưởng những hình ảnh huyền ảo, rung động của thi pháp Lorca đã làm nên sự hấp dẫn của bài thơ trên, Hoàng Hưng đã nắm bắt được nhịp điệu ấy và ông nhập cuộc vào một “bản nháp” theo kiểu của Lorca với dấu ấn sáng tạo của riêng mình. Riêng hành trình cách tân của Hoàng Hưng với những thể nghiệm thơ gây khá nhiều tranh cãi dường như đã lắng xuống sau khi tập thơ Hành trình của anh được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng thơ năm 2006. Sau một chặng dài tìm tòi, thơ Hoàng Hưng như lắng lại với vẻ tự nhiên tĩnh tại của một “Bậc thầy: Đã về-đã tới/ Bây giờ-ở đây/Tự do ngay phút này/ Hoặc không bao giờ nữa”.                             


Sự  cách tân của những liên tưởng độc đáo


Nhà  thơ Thi Hoàng, tên khai sinh: Hoàng Văn Bộ, sinh 25.5.1943, quê Vĩnh Bảo, Hải Phòng; giải thưởng Hội Nhà văn 1996, Giải thuởng Nhà nước về văn học nghệ thuạt năm 2007. Ông đã xuất bản 6 tập thơ: Ba phần tư trái đất (1980),  Nhịp sang (1982), Gọi nhau qua vách núi (1995), Đom đóm và sao (1997), Bóng ai gió tạt (2001), Cộng sinh với những khoảng trống (2005).


Cùng thế hệ với nhà thơ Hoàng Hưng, Thi Hoàng đã nhiều năm lặng lẽ, kiên tâm tự đổi mới và bước đầu thành công về mặt thi ca cách tân. Năm 2005, ông xuất bản tập thơ có cái tựa đề khá dài: “ Theo đuổi tự nhiên và những bài liên quan hay là cộng sinh với những khoảng trống”-một cái tựa kiểu văn xuôi, rất khó nhớ nhưng lại có vẻ ấn tượng. Thơ của ông có một lối nói-trạng nửa ỡm ờ, nhấm nhẳng, nửa uyên thâm triết lý. Kiểu nói ấy mang dấu ấn riêng của Thi Hoàng, không thể lẫn với ai được. “Tài năng thơ ấy mới thực gọi là tài năng chứ !”- hình như có người nào đó nói với tôi câu ấy, tôi không bình luận gì, chỉ đi tìm trong tập thơ mới của Thi Hoàng những câu thơ mình thích, mà lật ra trang nào cũng có câu hay-thế có khó cho nhau không chứ?!: “Trước khi gõ thì tiếng chuông ở đâu/ Trước kia hồn ta ở thịt xương nào/ Hỏi vậy vào một sớm mùa thu sao mà văng vẳng/ Nắng rươm rướm chiết ra từ tiếng vọng/Lá cây nhằm chỗ rơi rồi mới rơi vào/ Nhìn tà áo thấy gió là phải nhẽ/ Thổi tự tình không tính chuyện thanh cao/ Câu hỏi lại thốt ra từ mắt/Trước khi ngủ thì giấc mơ ở đâu?/ Ngọn lửa là cái ác hay là cái đẹp?/Câu hỏi ngậm trong miệng mà ngẫm/ Mắt cứ việc mở to/Để câu hỏi kia thành viên kẹo trong mồm”.  Đọc xong mấy câu thơ trên, trong đầu tôi cứ quanh quẩn một ý nghĩ muốn hỏi Thi Hoàng: “Trước khi ông ra đời thì những câu thơ của anh cộng sinh với những khoảng trống nào-thưa nhà thơ?”.


Trong những thập niên qua, Thi Hoàng đã nổi bật lên trong số rất ít những nhà cách tân của thơ đương đại Việt Nam. Theo tôi, ông là một trong những gương mặt thơ đặc biệt thành công nhất của thế hệ thơ tìm tòi sau đổi mới. Thơ của Thi Hoàng không chỉ cuốn hút nguời đọc ở những ý tưởng lạ và những hình ảnh liên tưởng độc đáo, phẩm chất đổi mới của thơ ông còn thể hiện ở những “ma lực” khơi gợi rất tài hoa của câu chữ mà bài thơ ngắn Ngưỡng mộ hoa sen là một ví dụ:  “Hoa sen không định thơm/ Không định thơm thì mới thơm như thế/ Rất tự nhiên là ta nhớ mẹ/ Mẹ quá xa rồi/ Để ta thành con cái của làn hương/ Ta ra điên hay trời bỗng khác thường/ Không có hương sen thì trời sẽ sập/ Không có hương sen thì ta thối nát/ Song, đấy là điều không dễ có ai tin”. Theo tôi, có lẽ đây là một trong những bài thơ về hoa sen hay nhất trong thơ Việt.


Để cách tân thơ, điều căn cốt ở mỗi một nhà thơ là phẩm chất tài năng, phẩm chất thi sĩ- cái mà không thể có gì thay thế được. Thơ đương đại hôm nay đã xuất hiện không ít những tác giả cách tân thơ với các khuynh hướng tìm tòi rất náo nhiệt. Bước đầu, họ cũng đã ghi được dấu ấn của thế hệ mình khi vượt qua sự đơn điệu, nhàm chán của những cung bậc thơ cũ. Trong số những nhà cách tân đầy nhiệt huyết này, ở một số cây bút, nhiều khi phẩm chất tài năng, phẩm chất thi sĩ không theo kịp phẩm chất đổi mới, nên có thể những bài thơ “non lép” của họ mới chỉ dừng lại ở mức có dấu hiệu của sự tìm tòi mà chưa làm nên sự khác biệt của một phong cách thơ mới được khẳng định bởi một tài năng thơ đích thực.


Theo tôi, một trong những thể hiện rõ nét nhất của phẩm chất thi sĩ, chính là cách tìm tòi về mặt ngôn ngữ và cách xử lý câu chữ theo một phong cách riêng để tạo nên một tứ thơ mới cho mỗi bài thơ. Và phẩm chất này là một nét vượt trội của thơ Thi Hoàng khi ở mỗi bài thơ của ông, ta lại gặp một cách thức xử lý ngôn ngữ khác nhau với những hình ảnh rất tinh tế và hàm súc ý tưởng như trong đoạn thơ sau: “Chiếc lọ cổ rất lâu mới cất tiếng thở dài/ Tưởng nhả ra chiếc đinh khoảng không lút trong cuống họng/ Để than thở với những bình cổ khác/ Nhưng những chiếc bình kia đã vỡ lâu rồi/ Thế là vẫn cũ nguyên những lời than thở/ Lại bắt đầu một im lặng mới tinh/ Cả đời nuôi chiếc lưỡi trong mồm/ Lúc nào cũng như con thơ đỏ hỏn/ Lưỡi lửa bùng lên bao đám cháy/ Nắng thỉnh thoảng có vị chua chắc là mặt trời cười/ Lửa ở mặt trời có nguồn cơn khác/ Tất cả mọi đồng hồ đều lên cơn sài giật


Kim giấy cuống lên cũng không sao trốn được mắt người”.


Chỉ trong một đoạn thơ ngắn nói trên, Thi Hoàng đã gợi lên bao ý tưởng từ  những chiếc bình cổ than thở với nhau về một im lặng “mới tinh” đến chiếc lưỡi trong mồm được nuôi bằng những đám cháy có lửa từ “một nguồn cơn khác”. Các hình ảnh mới lạ, các ý tưởng mới lạ nối tiếp nhau làm cho bài thơ lan toả một sức sống khác bên ngoài hình thức của ngôn từ. Và đấy chính là phẩm chất đổi mới của thơ Thi Hoàng- sự cách tân tư tưởng mang ý nghĩa xã hội hàm súc trong từng câu thơ, từng con chữ, từng hình tượng và là dòng chảy tìm tòi xuyên suốt các bài thơ của ông với những cung bậc, âm hưởng, nhịp điệu thể hiện khác nhau trong mỗi tứ thơ .


Văn nghệ Trẻ

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »