tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286268
Lý luận phê bình văn học
31.10.2014
Đặng Tiến
Hai bài Đặng Tiến viết về thơ Cao Tần

Đọc thơ Cao Tần


Bài này tôi viết cuối năm 1982, ký bút hiệu Nam Chi, cho báo Đoàn Kết là cơ quan của Hội Người Việt Nam tại Pháp, trong mục đích gần là thông tin, giới thiệu thơ Cao Tần với người đọc, dù chính kiến khác biệt, nhất là ở trong nước; mục đích xa là làm giảm bớt những hiềm khích, thời đó khá gay gắt giữa hai phía "quốc-cộng" hoặc "cách mạng-phản động". Bài viết rất nhanh, hoàn toàn do động cơ cá nhân, với sự thỏa thuận trước của tòa soạn, nhưng không tránh khỏi hạn chế về nội dung và hành văn. Nói chung bài báo được hoan nghênh và cũng khai thông được một số "bế tắc" nhỏ nhoi, như tôi kỳ vọng.


Điều đáng tiếc là sau đó, trên báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 27/3/1983, dưới bút hiệu ký tắt VH – mà người đọc đoán biết dễ dàng là ai – có người đã lấy lại, viết lại mà thay đổi hẳn nội dung, với kết luận như sau: "rải rác trong tập thơ, không ít chỗ chống đối sự nghiệp cách mạng của nhân dân, quay lưng với Tổ Quốc, nhưng trùm lên tất cả là một thực trạng. Thực trạng ấy chắc chắn không riêng của một Cao Tần". Tác giả lại ghi: "Theo Nam Chi – báo Đoàn Kết của Hội Người Việt Nam tại Pháp". Sự thật thì tôi không hề viết và suy nghĩ như thế.


Ngoài ra, lúc đó Cao Tần không muốn tiết lộ tên thật là Lê Tất Điều, nên tôi xem như không biết. Nay ghi lại những điều này để đánh dấu một giai đoạn văn học và chính trị./ Đặng Tiến. 15-8-2006


Cao Tần là một nhà thơ di tản, rời Việt Nam tháng Tư 1975, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm Thơ Cao Tần [1] gồm mười bảy bài thơ, không đề, có đánh số, được nhiều người chú ý, vì nghệ thuật vững chãi, diễn tả được niềm khắc khoải của người dân xa xứ. Tập thơ thỉnh thoảng có đôi câu chống cộng, điều đó dễ giải thích trong hoàn cảnh di tản của tác giả và của độc giả mà ông dự kiến. Tôi cần trình bày ngay điều đó để tránh mọi hiểm lầm từ mọi phía. Ở đây tôi chỉ ghi nhận tâm sự chua xót của người dân Việt Nam xa đất nước, còn chuyện chống cộng là của Cao Tần, tôi không bàn đến.


Tập thơ phác hoạ đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần của người di tản, từ khi còn ở các trại tạm cư:


Bỗng di tản ra thân lúi xúi


Trong trại xếp hàng chầu cơm như mơ


Cho đến ngày tìm được công ăn việc làm bình thường:


Mai mốt anh về có thằng túm hỏi


Mày qua bên Mỹ học được củ gì


Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi


Nói mày hay ông thượng đẳng cu ly


 


Ông rửa bát chỉ hơn bà nội trợ


Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan


Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió


Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan…


Việc lao động chân tay, ngoài xã hội và nhất là trong gia đình, không có gì đáng tức tưởi. Sở dĩ Cao Tần nước mắt chứa chan là vì những lý do khác, nói chung vì cảnh sống hoàn toàn xa lạ, lạ cảnh, lạ người. Cuộc sống do đó, trở thành cạn hẹp nếu không phải là vô nghĩa:


 


Chiều đi bát phố gặp toàn Tây


Bỗng tiếc xưa không làm quen cả xóm (…)


 


Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố


Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau


Quen cả nước? Ra đường chào gãy cổ


Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu.


Về lý luận thì Cao Tần quả là lẩm cẩm. Ở Tây mà không gặp Tây thì gặp ai. Đòi quen cả nước Việt Nam thì quen sao được. Nhưng trong mỗi người Việt Nam xa xứ thỉnh thoảng vẫn có những cái lẩm cẩm như thế! Lãnh lương Tây, ăn cơm Tây, mà gặp nhau thì cứ chửi "Tây ngu", "ngu nhu Tây". Cho hả lòng nhớ nước mà thôi. Cái lẩm cẩm nói được thành thơ, có phần cảm động của nó.


Cao Tần vẽ lại một ngày lao động của mình:


Nhà tôi ở toòng teeng đỉnh đồi


Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc


Sau lưng sương ngập cao lưng trời


Trước mặt thông sầu reo đáy vực (…)


 


Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo


Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô


Dốc mở ra như đời ta trước mặt


Sương kín như đời ta hôm xưa (…)


 


Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực


Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn


Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc


Nặng chĩu nghìn cân nhớ nước non.


Trong làng văn, Cao Tần là một cái tên lạ. Nhưng người quen đọc thơ thì nhận ra bút pháp già dặn của một người có kinh nghiệm về ngôn ngữ. Đoạn trên cho thấy Cao Tần kết hợp rất khéo những hình ảnh ẩn dụ sau lưng sương ngập, nước mắt thông sầu reo đáy vực, lối ví von bình dân đời xuống dốc, những chữ thông thường toòng teeng, hình ảnh đơn giản tiếng Việt héo, hồn Việt khô… Sự điều chế ngôn ngữ ấy tạo cho toàn tập thơ Cao Tần cái khí hậu vừa lạ vừa thân: tác giả rất có ý thức về kỹ thuật và mục tiêu của mình. Và ông đã đạt mục tiêu đó.


Nỗi niềm xa xứ trong mỗi chúng ta là một tình cảm cụ thể, làm mình đau nhói. Nhưng nói ra, nó trở thành trừu tượng, chung chung. Cao Tần khéo léo đi từ những hoàn cảnh cụ thể, ví dụ như chuyện một người đi di tản ông đặt tên là Cù Lần:


Chàng Cù Lần có cái túi nhỏ


Suốt bốn mùa giấu giếm như điên


Anh em sùng nghĩ thằng này chơi khó


Thủ cẳng tí tiền len lén tiêu riêng.


Một hôm, anh em  bèn đè Cù Lần cướp túi coi chơi, thì khám phá ra một kho tàng vô giá:


Một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt


Màu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh


Giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt?


"Khăn vợ trao ngày khoác áo nhà banh".


 


Đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ


Những tên người tên tỉnh đã xa xưa


Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ


Những đường quen không trở lại bao giờ.


Khi nhắc đến tình cảm riêng, Cao Tần cũng biết chọn khung cảnh chung để người đọc có thể cùng rung cảm với ông. Nhớ bạn thì ông gợi ra một hình ảnh rộn rã:


Quán cóc sở ta bạn bè đã đợi


Rất tưng bừng đấu hót những buồn vui


 


Nhớ mẹ thì sâu lắng, kính cẩn:


 


Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già


Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh


 


Nhớ vợ thì thực tế, tếu một chút:


 


Giờ nghĩ thân ta chỉ còn có vợ


Vợ chót bỏ quên bên kia bán cầu


Ngày ngày phất phơ giữa rừng mũi lõ


Tìm người tình Việt chưa biết tìm đâu


Cao Tần nắm vững quy luật của ngôn ngữ và sành tâm lý. Người Việt dù có thương yêu, quý trọng vợ đến đâu, khi nhắc đến "bu nó" vẫn có cái giọng rẻ rúng vờ như thế. Chuyện tưởng người dưới nguyệt chén đồng chỉ hay cái hay văn chương.


Từ một chi tiết rất cụ thể, một thẻ căn cước còn sót lại trong đáy ví, tác giả cũng đựng được những câu thơ cảm động:


Quanh mình xôn xao chuyện thay quốc tịch


Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi


Thời cũ ố vàng rách rơi mấy mảnh


Xót xa đau như mình bỗng qua đời


 


Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám


Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư


Hỡi thằng chiến binh một thời dũng cảm


Mày lang thang đất lạ đến bao giờ


Trước những câu thơ như thế, phản ứng đơn thuần của tôi là cảm động. Cảm động vì tình người. Tình người trong con người. Sau đó mới ưu ái với tình Việt. Tình Việt trong người Việt. Còn chuyện văn chương là cái còn lại. Hay là cái qua đi. Cao Tần nắm vững kỹ thuật. Nhưng thơ ông thành công không phải chỉ vì kỹ thuật, và cũng không phải chỉ vì niềm nhớ cố hương. Bao nhiêu người đã làm thơ nhớ nước trước đây. Tôi nghĩ ông rung cảm được người đọc vì cái tình người. Tôi nghĩ thầm: phải yêu người mới nhớ nước, mới nói được một câu rất thực và rất thật:


Bài học lớn từ khi đến Mỹ


Là ngày đêm thương nước mênh mang


Câu thơ cho ta thấy rằng, vì một lý do nào đó, con người có thể bứt bản thân ra khỏi quê hương, nhưng vẫn không thể bứt quê hương ra khỏi bản thân. Ở niềm nhức nhối sâu xa đó, người Việt kiều đều gặp nhau, dù chính kiến có đối lập. Mà gặp nhau đã là chuyện quý hiếm.


 


Để xoa dịu nỗi đau nhức trong cuộc sống, con người tìm quên, hay che giấu. Bằng cách pha loãng cô đơn của mình trong cô đơn của bạn bè, qua chén rượu, qua câu chuyện ngông:


Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn


Gánh sơn hà toan chất thử lên vai


Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn


Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai (…)


 


Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc


Thấy chiến trường la liệt xác anh em


Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục


Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm


 


Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi


Những hào hùng uất hận gối lên nhau


Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới


"Ta làm chi cho hết nửa đời sau?"


Câu cuối cùng thật là cay đắng, thê thiết. Thơ Cao Tần lay động người đọc vì nó không sướt mướt, không bi lụy. Tâm tình bi thiết của mình, và của cả một cộng đồng đông đảo người Việt xa quê. Cao Tần đem ra nói chơi chơi, nói khơi khơi. Câu thật xen kẽ với câu đùa, chữ thanh lẫn giữa chữ thô, nụ cười tiếp theo tiếng nấc, câu tâm sự tái tê lạc giữa cái giọng kiêu bạc, bơ vơ. Toàn tập gợi ra cái vẻ phúng thế, khinh đời:


Ông học được Mỹ đất trời bát ngát


Nhưng tình người nhỏ hơn que tăm


Chữ "ông" Cao Tần sử dụng thường xuyên, bề ngoài tuy ngông nghênh, bên trong là trống rỗng và thảm hại. Xưng ông là để quên mình đi, chứ không phải để tôn mình lên cao.


Cái nghênh ngang trong thơ, thường che giấu một tâm hồn bất đắc chí. Do đó người ta dễ yêu vẻ kiêu bạc, khinh người trong thơ hơn là ngoài đời, tuy trên thực tế, trong thơ hay ngoài đời, sự kiêu bạc chắc cùng chung một động cơ tâm lý. Cao Tần tự xưng là "ông" và gọi thiên hạ là chú:


Chú nào ngồi trước hiên ta chiều nay


Nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm ngát


Sau một ngày nắng lóa chín từng mây


Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc…


Độc giả cười xòa mà nhận cái ngông nghênh đó, vì nó chỉ phản ảnh một tâm trạng bi thương!


Đời đang bão khi không chìm lặng ngắt


Như cành khô nằm chết đáy sông sâu (…)


Tuổi chưa nặng hồn đã chừng ngớ ngẩn


Lòng vàng khô hơn chiếc lá đưa vèo.


Qua những đoạn trích dẫn, độc giả cũng thấy được cấu trúc trong từng bài thơ Cao Tần. Đoạn đầu, hoặc chỉ câu đầu, nói lên một hoàn cảnh cụ thể hiển nhiên, để lôi cuốn óc tò mò của người đọc. Sau đó, tác giả tổ chức ý thơ, lời thơ của toàn bài để đưa dẫn tới câu cuối, thường thường rất cô đúc.


Giọng thơ già dặn tỉnh táo, chừng mực cho ta cái cảm giác Cao Tần chỉ là bút danh của một tác giả đã giàu kinh nghiệm diễn đạt. Cao Tần là ai, kể ra biết cũng vui, không biết cũng không sao. Điều quan trọng là ông đã nói lên một cách hiệu lực niềm nhớ nước đau nhức trong nhiều người Việt, vì lý do này hay lý do khác, phải sống lưu đày nơi đất khách.


Người Việt ở nước ngoài, rời đất nước vào những giai đoạn và cảnh ngộ khác nhau. Do đó, cùng nhớ chung một đất nước, nhưng niềm ray rứt cũng khác nhau. Buộc mọi tình cảm phải giống nhau, là chuyện viễn vông. Niềm nhớ nước của Cao Tần bi thảm vì nó tuyệt vọng, bế tắc. Dĩ nhiên ta không nên đơn điệu suy ra rằng: trong hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ, thì phải nhớ nước thế nọ, thế kia. Người này thế này thì phải nhớ nước thiết tha hơn người nọ thế kia. Cuộc sống nội tâm không đơn giản như vậy.


Điều ta có thể nhận thấy là niềm nhớ nước ở Cao Tần đằng sau cái kiêu bạc bên ngoài, nó thê thiết, thê thiết như ít khi ta được thấy ở văn thơ người Việt nước ngoài. Chỉ có điều đó thôi cũng đáng cho tôi ghi nhận và giới thiệu với bạn đọc. Vấn đề tôi muốn nêu lên là: chúng ta có nhớ nước thật tình, nhớ đến cái độ chấp nhận, đùm bọc nhau, khai thông cho nhau những bế tắc hay không. Dĩ nhiên là còn nhiều vấn đề khác có thể nảy ra, còn nhiều kết luận khác còn có thể tỉa ra, còn nhiều suy nghĩ khác có thể bừng sáng, về trách nhiệm chung của chúng ta về sau.


Còn chuyện văn chương, chỉ là lời chào qua đường


11-1982


___


[1]Người Việt xuất bản, không ghi nơi và năm in. Theo chúng tôi thì in tại California, 1978, sách gồm 56 trang khổ nhỏ.


Nguồn: Tạp chí Đoàn Kết, tháng 12.1982, Paris


Tính uy mua và nghệ thuật trong Thơ Cao Tần


 Uy mua là phiên âm chữ Pháp humour, tôi tìm không ra từ Việt tương đương, đại khái như là hóm hỉnh, dí dỏm, hài hước, phúng thế, tếu, v.v… Dường như có lần Nhất Linh phiên âm thành u mặc.


Uy mua là hóm. Thêm cái ý: vượt lên trên những không may, vượt lên trên tai họa hay bi kịch. Không những lấy được khoảng cách, độ lùi, mà còn vượt lên trên. Uy mua là mình tự giễu mình, với giọng đùa cợt chứ không chua cay. Khi Cao Tần xưng ông, xưng "gãy cánh đại bàng" thì không phải là kiêu, mà là hóm. Đại ngôn một chút: uy mua là hòa giải với số mệnh. Nếu cần thu thơ Cao Tần vào cái hồ lô, thì có thể hô lên một câu ngắn: hòa giải với số mệnh.


Trong văn thơ Việt Nam ít có, nhưng vẫn có, uy mua. Ca dao có câu vô cùng tinh tế:


Tưởng giếng sâu, anh (em) nối sợi dây dài


Ai ngờ giếng cạn, anh (em) tiếc hoài sợi dây


Ở mức độ đơn giản hơn:


Chàng ơi đưa gói em mang


Đưa gươm em xách để chàng đi không


Và dân giã hơn nữa:


Trời mưa trời gió


Xách đó đi đơm


Chạy về ăn cơm


Chạy ra mất đó


(đó: dụng cụ để đơm, bắt cá bằng tre đan)


Câu vần vè này không có nghĩa lý gì, và cũng không có giá trị gì, ngoài chất uy mua. Người không có óc uy mua sẽ cho là quê mùa, vớ vẩn. Nói lén: Xuân Diệu, sinh thời, là người sành và sính ca dao. Nhưng ít uy mua nên dứt khoát không chấp nhận câu:


Xùng xình như áo mới may


Hôm qua mới mặc, hôm nay mất rồi


Võ Phiến là nhà văn giàu uy mua, lại là người sành thơ Cao Tần, là người viết tựa cho Cao Tần, năm 1978, có nhận xét "trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt Nam vẫn cười trong tận cùng cay đắng". Nhưng anh không chính xác gọi nụ cười dân gian "tận cùng cay đắng" ấy là uy mua.


Trong văn thơ cổ điển, bài thơ tiêu biểu cho tính uy mua và đạt đến nghệ thuật siêu đẳng là bài "Bạn đến chơi nhà" của Nguyễn Khuyến, mượn lại ý thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài "Gượng đến mừng nhau một mặt không":


Cải chửa ra cây, cà mới nụ


Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa


Thơ Cao Tần hay, thành công nhanh và được yêu chuộng lâu dài, là nhờ vào nghệ thuật có nền truyền thống lâu đời. Chỉ mối sầu di tản không thôi, thì khó trụ được dài lâu và truyền tụng rộng rãi.


Những người di tản vào tháng 4-1975, ra đi hoảng hốt, thường không mang được hành trang gì. May ra còn giữ được đôi ba giấy má tùy thân. Quân nhân có khi còn giữ được trong người giấy tờ quân sự:


1. Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ


2. Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu,


3. Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ


4. Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?


(Bài 17, tr. 52, "Cảm khái", tr. 39) [1]


Cao Tần dùng lời ăn tiếng nói dân gian "còn hơi lâu", cũng như "còn lâu", là từ ngữ phủ định dứt khoát: còn lâu tôi mới yêu anh, nghĩa là không bao giờ. Nhưng trớ trêu hiểu ngược lại, theo cú pháp bình thường cũng không sao, có thể còn lý thú: nước mất rồi thì giấy tờ sẽ có hiệu lực vĩnh viễn. Câu 2, bản chất nó là uy mua. Nhưng vì tính đa nghĩa, chất uy mua loãng đi. Uy mua ở đây là câu nói tự nhiên, không chơi chữ, không tu từ (nhưng ở nơi khác, như câu đối, thì uy mua dùng phép tu từ, kỹ thuật ngôn ngữ, cái này không loại trừ cái kia).


Câu 4 rõ chất uy mua: câu hỏi tự nhiên, cực kỳ duy lý. Vì cực kỳ duy lý mà nó ngớ ngẩn, thậm chí điển hình cho khái niệm phi lý (absurde) phổ biến trong triết học phương Tây khoảng giữ thế ký XX, du nhập vào Việt Nam, chủ yếu là qua tiểu luận và tiểu thuyết Camus. Nhưng điều này không can dự gì đến Cao Tần: uy mua của anh bắt nguồn từ tính dí dỏm trong truyền thống dân tộc. Chúng ta ai có dịp lân la trò chuyện với các bà cụ nhà quê, ít học hay thất học, sẽ ngạc nhiên về câu chuyện, ngôn ngữ cực kỳ sắc sảo, với những nét hóm hỉnh, tinh anh kỳ diệu của họ. Cao Tần sống thời đại mình, trong một bầu không khí văn hóa, văn học, một khung cảnh xã hội và trải qua một cuộc chấn động đổi đời, thì tự nhiên tâm tư mang âm vang "phi lý" sẵn có trong tư trào hiện đại. Và tình cờ thôi, nét dí dỏm dân gian trong anh vấp phải cái phi lý của lịch sử - tạo chất uy mua nhuộm màu phi lý có giá trị không riêng gì cho người Việt di tản, lưu vong, mà cho cả làng văn học Việt Nam trong nền văn chương thế giới. Chiều kích nhân văn và toàn cầu của thơ Cao Tần, nếu có, trong chủ quan của tôi, là chất uy mua trong tư trào văn học đang giảm tính bi kịch và tăng chất uy mua.


"Giờ gia hạn nơi đâu" là một câu thơ hóm hỉnh có hiệu lực, nhưng tự thân nó không có chất hóm. Nét dí dỏm dựa vào cả câu thơ, trong cả đoạn 4 câu và toàn bài tả những giấy tờ còn lại trong ví. Mệnh đề dẫn nhập là:


Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ


Tái tê cười…


Động từ "cười" báo hiệu cho câu thơ tếu, dù tự thân chưa phải tếu vì chữ tái tê, nhưng đã đưa tín hiệu uy mua, mà xưa kia Pascal gọi là "tiếng cười của tâm hồn" và gần đây Jankélévich gọi là "nụ cười của lý luận". Hỏi gia hạn nơi đâu, lý sự thì lẩn thẩn mà đậm đà tình cảm vì đưa lên câu trước, ráp lại thành "mất nước rồi… còn gia hạn nơi đâu". Câu thơ bi thiết đòi lại một không gian đã mất, cứa mạnh vào niềm "nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc".


Đoạn thơ sẽ tăng giá khi đặt vào toàn bài thơ:


Trong ví ta này một thẻ căn cước


Hình chụp ngay đơ rất mực cù lần


Da nhợt nhạt như bị đời nhúng nước


Má hóp vào như cả tháng không ăn


 


Mười tám tuổi thành công dân nước Việt


Tên chụp hình làm ta xấu như ma


Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết


Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà (…)


(Bài đã dẫn)


Mất nước tan nhà thì nào có can dự gì đến tên chụp hình mà chửi nó là "thằng khốn nạn". Đây là một lý luận hoàn toàn phi lý – mà Camus gọi là raisonnement absurde – để đáp ứng vào một hoàn cảnh phi lý,


(…) một đời quái đản:


Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư


Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản


("Hát ngao trên tuyết", tr. 43)


Mắng tên chụp hình là giống như Nguyễn Khuyến, giận tuổi già, mắng cái răng, trong bài "Sất xỉ".


Cao Tần không làm thơ trào phúng như Tú Xuơng, nhưng cùng chia cái ngông, cái "ông" với Tú Xương: "Ông nốc rượu vào ông nói ngông (… ) Khách hỏi nhà ông đến, nhà ông đã bán rồi…"


Xuân Diệu có viết: "thực tình là tôi thấy những câu thơ xúc cảm của Tú Xuơng chiếm phần lớn nhất (…). Trào phúng là vỏ, mà ruột thì thật cảm xúc đớn đau, thì cũng thành trữ tình thôi". Ý này áp dụng vào thơ uy mua của Cao Tần cũng đúng. Từ thế kỷ 19, các từ điển Littré và Larousse đã cho uy mua là "cái vui nghiêm trọng" (la gaité serieuse), Kierkegaard đi sâu hơn, cho là "nỗi thống khổ nội tại của nhân sinh". Nhưng nói như thế thì hết cả… uy mua.


Giới làm văn học Việt Nam chưa mấy quan tâm vào phong cách uy mua, mà họ đồng hóa với trào phúng, dù rằng uy mua chỉ là thành tố nhỏ của trào phúng, có khi nó hủy diệt chất trào phúng; ngược lại trong văn chương bi kịch của Kafka, Beckett, Ionesco… thường có uy mua. Thơ Cao Tần mang tính uy mua dân dã Việt Nam, trong truyền thống văn học dân gian: ca dao, tuồng chèo, câu đối – nhất là câu đối – và một số chuyện tiếu lâm cười mỉm. Đỉnh cao trong truyền thống đó là bài hát "Mất ô" của Trần Tế Xương, một đêm đi hát cô đầu:


Hôm qua anh đến chơi đây


Giầy dôn anh dận, ô tây anh cầm


Rạng này trống điểm canh năm


Anh dậy, em vẫn còn nằm trơ trơ


Hỏi ô, ô mất bao giờ


Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa


Chỉn e rày gió mai mưa


Lấy gì đi sớm về trưa với tình


Mất ô mà vẫn thản nhiên, ỡm ờ, thậm chí còn huê tình như thế, quả là uy mua tuyệt vời.


Cao Tần cũng có cái giọng ấy, khi nhắc đến những câu hát cũ còn đọng trong tim óc người xa xứ, thỉnh thoảng ê a bật lên môi, với bạn cũ hay với một mình:


Hát tự nhiên đi mà bạn quí,


Giọng bạn khàn khàn hơn chú vịt bầu


Đừng e sẽ mất lòng tri kỷ,


Dù nghe bạn hát chỉ thên đau


(...)


Bạn bỗng kể: khi về gặp nàng


Có lúc du dương nàng bắt hát


 


Cứ hát, ta nghe mà bạn quí


Mai đời di tản lại buồn tênh


Rồi ra cặp được đào thơm Mỹ


Bạn sẽ trăm năm hát một mình


(Bài 2, tr. 2, "Hát một mình", tr. 29)


Uy mua ở đây do bất ngờ ở kết luận, như bài hát "Mất ô", Cả hai tác giả tinh quái đùa vui với một cảnh ngộ. Ở Tú Xương là nét dí dỏm nhẹ nhàng: mất ô này thì sắm ô khác, “lấy gì đi sớm về trưa với tình“ là một lời trách khéo, mắng yêu. Mắng mà vẫn yêu. Nhưng cái anh mất nước và mất vợ thì vô phương bù đắp. “Rồi ra cặp được đào thơm Mỹ“ là một cơ may ngang trái, có khi là oan trái. Đào Mỹ nào mà chả thơm. Nhưng chả nhẽ trăm năm với nhau chỉ bằng cái lỗ mũi? Hát một mình tự nó có khi là niềm vui, là hạnh phúc. Nhưng ở đây là khổ lụy không có lối thoát. Cái mâu thuẫn mà Kierkegaard gọi là "niềm thống khổ nội tại của nhân sinh" ở đoạn trên, không phải là triết lý viển vông.


Từ “đi sớm về trưa với tình" đến “trăm năm hát một mình", Cao Tần theo gót Tú Xương và xứng là môn sinh. Vì vậy khi Cao Tần tự xưng là Nhà Thơ Di Tản thì tôi hoạn mất phần sau, gọi bạn là: Nhà Thơ Tú Cua.


 


Hóm hỉnh với tấm hình căn cước của chính mình, hay với giọng hát vịt bầu của người bạn là tinh nghịch với hoàn cảnh cá nhân; nhưng gắn liền với lịch sử đất nước, nên thơ Cao Tần có âm vang lâu và sâu, vừa tếu vừa mếu. Chua mà ngọt, bùi bùi, đăng đắng.


Nhưng khi cao hứng, nhà thơ đùa cả nước:


Bài học lớn từ khi đến Mỹ


Là ngày đêm thương nước mênh mang


Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí


Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng.


 


Nếu mai mốt bỗng đổi đời lần nữa


Ông anh hùng ông cứu được quê hương


Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo


Lùa cả nước vào học tập yêu thương


 


Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp


Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm


Bồ bịch hết, không đứa nào là Ngụy,


Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng


(Bài 6, tr.18, "Bài học lớn", tr. 26)


Uy mua là vượt lên khỏi thân phận, và hòa giải với mệnh số - ở đây là thân phận nghiệt ngã và mệnh số bi đát. Uy mua là tầm nhìn, lối nghĩ hiền triết vốn có trong tư tưởng phương Đông và truyền thống dân tộc. Cao Tần phát ngôn trong tư thế người bại trận, một chế độ bại trận, bị “đánh văng", mất hết tài sản, chức năng, quyền lợi. Thậm chí còn bị xúc phạm trầm trọng trong tình cảm và danh dự. Cao Tần không đầu hàng, không thỏa hiệp, không hận thù vì thua cuộc, bị “đánh văng", mà vì đất nước “nghèo xí". Uy mua nơi Cao Tần bắt đầu từ lòng khoan thứ, ước ao mọi người đều bồ bịch, cùng nhau học tập yêu thương. Tuy nhiên không phải ai ai cũng sẻ chia tấm lòng cao đẹp ấy, từ phía bên này đến phía bên kia, chưa kể là không phải ai ai cũng chấp nhận uy mua. Cuộc đời Nguyễn Trãi không biết bao nhiêu gian truân, mà đã viết được câu:


Duy một tấm lòng ưu ái cũ


Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông...


 


Trong bước đường lưu lạc, “ngày ngày phóng xe như thằng phải gió, đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan" Cao Tần đã mất nhiều, nhưng không mất hết. Còn lại là phần nghĩa khí, cốt cách, khiến anh xứng đáng với tiền nhân.


Uy mua là độ lùi, khoảng cách, tầm nhìn từ xa, từ cao. Cao Tần, trong ngành không quân, quen nhìn đời từ trên cao:


Hơn mười năm nhà ông bay trên cao


Mặt đất nâu xanh nằm ngoan dưới gót


Nhân loại tí teo xinh đẹp chừng nào.


Nhân loại hiền từ như những con sâu.


 


Những đêm đen tàu trôi qua thành phố


Cả đất trời nở triệu ánh sao xinh


Mặc những đấu tranh lọc lừa dưới đó


Nhìn từ cao nhân thế thật thanh bình


(Bài 16, tr.48. "Trên non cao", tr. 23)


Không phải vì quen bay trên mây mà con người có óc uy mua.


Nhưng vì quen nhìn cao, nên khi bị “đời khốn kiếp đã quăng xuống đất”, Cao Tần đã rủ bạn cùng đăng sơn:


Ta biết nhà ông rầu thấy mồ


Thôi cuối tuần này theo ta lên núi


Lên thật cao nhìn xuống đời lô nhô


Rũ bớt bụi trần, quen thân múa rối


 


(…) Trên núi cao ta biết rành một chỗ


Có hòn đá xanh, có gốc thông già


Ngồi trên đá ông sẽ thành Trang Tử


Hồn nhẹ tênh theo bướm lượn chiều tà


(Bài đã dẫn)


Văn Trang Tử, Nam Hoa kinh thanh thoát, cao siêu, có khi làm người đọc ít quan tâm đến phong cách uy mua: "nếu cánh tay trái ta hóa thành con gà thì nhân đấy ta gáy canh; nếu cánh tay phải ta hóa thành viên đạn, thì ta sẽ kiếm chim quay" (Thiên đại Tông sư).


Nhưng chỉ nói đến nét dí dỏm thôi thì không bày tỏ rốt ráo nghệ thuật trong thơ Cao Tần. Điểm chính là thi pháp huê dạng, đa dạng, pha tạp những câu đùa vui, những từ dung tục trong kho khẩu ngữ bình dân, phong cách "thô tháp" theo nghĩa grotesca hay grotesque của người Ý, Pháp, thịnh hành thời Phục Hưng.


Những câu dung tục xen vào nhiều hình ảnh tinh vi:


Những mái tôn cười ran hạnh phúc


Bài 14, "Băn khoăn", gồm 5 khổ, bắt đầu bằng một câu thơ nhiều âm bằng, na ná giống nhau, nhưng khác nhịp, người tinh ý mới nhận ra:


Chú nào đi đường ta bình minh này


(…) Chú nào trưa nay ngồi trên đồi ta


(…) Chú nào ngồi trước hiên ta chiều nay


(…) Chú nào biết yêu thương vài nụ hồng


(…) Chú nào đêm nay kê đầu gối đó.


Chứng tỏ Cao Tần nắm vững âm pháp và tôi luyện lời thơ kỹ lưỡng, có ý thức sâu sắc về kỹ thuật, tương quan giữa ý và lời.


Tiêu biểu nhất cho thi pháp Cao Tần là bài "Hát ngao trên tuyết" không có trong ấn bản đầu tiên. Chúng tôi trích toàn văn để người đọc thưởng lãm:


Hát ngao trên tuyết


Khoác áo lông xù giả làm tráng sĩ


Lên dòng sông đá bước nghênh ngang


Cây gậy trúc trông sặc mùi vũ khí


Múa tưng bừng vào thinh không giá băng


 


Khoái thay đời ta một đời quái đản


Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư


Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản


Một đời quê hương khét mùi súng đạn


Một đời xót xa bằng hữu lao tù


Khoái thay chân ta những chân phiêu bạt


Đi dọc quê hương đi vòng địa cầu


Đi thênh thang thở đồi cao gió mát


Đi ngất ngây thương lúa vàng hương cau


Đi uống rượu mừng, đi chia tan tác


Đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau


Đi sỏi đá mòn, bếp hồng trước mặt


Đi bừng bão biển quê hương phía sau.


Những chân thú hoang lạc rừng đất lạ


Những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu


 


Sông không đầu đuôi sông màu đá cục


Dưới trên lẫn lộn trời đất mang mang


Ta ngửa cổ làm thằng khùng Bắc cực


Một mình cười cùng thinh không giá băng


 


Khoái thay hồn ta một hồn dị thường


Khi bốc lên núi lưng trời cũng thấp


Khi bi ai thân cỏ mọn bên đường


 


Sông dài! Sông dài! Ta đi chẳng hết


Thân trượng phu, hừ, mục trong áo cơm?


Núi cao! Núi ca ! Ta về không đến


Chí trượng phu, hừ, chôn trong giá băng?


Tháng 2/1978


Quan điểm bài này vẫn là tầm nhìn cao trong không gian, xa trong thời gian; tác giả nhìn đời và nhìn mình từ xa, thanh thoát, thảnh thơi, bao quát và bao dung. "Khoái thay" ở đây không phải là đắc chí tự mãn mà là niềm thanh thoát giải tỏa, hóa giải kiếp người "đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau" để rồi "đi chẳng hết, về không đến".


Khí thơ tuôn ào một mạch, như một dải sông Hoàng, mộng và thực xô đẩy nhau trong âm vang hào sảng, bi tráng, ngất ngất Hồ Trường, đạm đạm Thâm Tâm. Bài thơ vượt ra khỏi tâm sự cá nhân lưu vong, loang ra thành tiếng vang của một thời đại trong nhiều âm sắc, chính trị và văn hóa. Lịch sử, địa dư, phong tục, tự sự, tâm tình chen lấn vào bản hào ca chất ngất chữ nghĩa, dạt dào nhạc điệu, trùng trùng hình ảnh.


Lối "hát ngao" hay cuồng ca này nằm trong truyền thống lâu đời ở phương Đông cũng như phương Tây. Trong văn học Lý Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung (1230-1291) có bài "Phóng cuồng ngâm", bản dịch Trúc Thiên 1969, có thể Cao Tần có biết. Cùng một hào khí khinh khoát, cùng một "tay gậy nhởn nhơ phương ngoài phương" nhưng thơ Cao Tần thực tế, dựa trên những hình ảnh cụ thể lảy ra từ những mảnh đời ly tán, từ quê hương xa cách, mang chất ngậm ngùi cảm động. Từ đó nó là khúc tráng ca tiêu biểu cho một thời đại, đồng thời nó đánh dấu một khúc quành trong tâm thức Việt Nam. Bằng nghệ thuật - ở đây là thi ca và uy mua – con người có khả năng vượt qua thân phận phi lý, mà lịch sử oan nghiệt, như một đám cháy lớn, hoặc đã tạo ra, hoặc đã làm trầm trọng thêm, hoặc đã khơi động cho sáng tỏ hơn.


Nghệ thuật không chế ngự, không khắc phục được lịch sử, nhưng bảo vệ phẩm chất con người sau hố bom định mệnh; thậm chí nghệ thuật còn vượt lên, để tồn tại sau lịch sử. Lịch sử là sự việc đã, hay đang qua; nghệ thuật là tác phẩm còn lại, là tình đoàn kết và liên đới lâu dài của dân tộc, giữa con người trong nhân loại.


To tiếng như vậy, dù đúng dù sai, là cũng tàn mùa… uy mua, cùng với mùa rau muống năm nay.


Coi như vì tham chữ mà rách chuyện.


Vị chi là: câu thơ Cao Tần ba mươi năm rồi, tôi đọc vẫn chưa thông.


Viết xong, đọc lại bản thảo, mới nhận ra điều sơ đẳng: bút hiệu Cao Tần cũng là uy mua.


Orléans, 20/8/2006


ĐT.


___


[1]Thơ Cao Tần, bản 1978, do Tạp chí Bút Lửa và NXB Người Việt, khổ nhỏ 10x17 cm, giấy màu hồng, in kiểu tiểu công nghiệp, 56 trang, gồm 17 bài thơ làm trong năm 1977, đã rải rác đăng trên báo Bút Lửa. Các bài thơ không có tên, chỉ đánh số từ 1 đến 17. Sau đó, 1984, nhà Tin Yêu tại Seattle của nhóm Thanh Nam tái bản, khổ lớn 21x27 cm, lời giới thiệu của Võ Phiến viết tháng 1-1978. Những bài thơ lần này có tên và không theo trật tự lần trước. Và thêm 1 bài làm 1978 và 2 bài 1982. Tiểu luận này sử dụng bản 1978; khi trích dẫn ghi cả hai tham bản cho tiện việc độc giả tra cứu.


talawas

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện Tỳ Bà, từ Trung Quốc vào Việt Nam - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Sự có mặt của Nguyễn Bính - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Nhớ về Maxim Gorky - Nguyễn Văn Chiến 12.04.2018
Sự cáo chung của nghiên cứu văn học? - Steven G. Kellman 02.04.2018
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài: Tiếp nhận từ lý thuyết trò chơi - Lê Hương Thủy 30.03.2018
Krasznahorkai László - “Chiến tranh và chiến tranh”: Một cuộc xô đẩy điên loạn - Tư liệu sưu tầm 28.03.2018
Thơ Nguyễn Bính, một từ khóa của tâm hồn Việt - Nguyễn Quang Thiều 24.03.2018
Những người đàn bà tắm của Thiết Ngưng - Hà Tùng Sơn 19.03.2018
Người đàn bà tắm: Cuốn tiểu thuyết của những cuộc đối thoại văn hóa - Vương Trí Nhàn 19.03.2018
Nguyễn Vỹ: Nhà báo, nhà thơ, nhà văn của quê hương Núi Ấn sông Trà - Đoàn Lê Giang 19.03.2018
xem thêm »