tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19688681
Những bài báo
27.10.2014
Nhiều tác giả
Những bài viết về nhà văn Phạm Ngọc Tiến

Tiểu sử Phạm Ngọc Tiến


Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Chất thợ, chất lính, chất văn


Trung Trung Đỉnh


Phạm Ngọc Tiến khởi đầu văn chương bằng một loạt những giải thưởng. Ở bên trong con người lúc nào cũng ồn ã, nôn nóng, nồng nhiệt và chân thật đến thái quá, chất thợ, chất lính lấn át hết cả mọi ứng xử tạo nên cái dễ gần suồng sã...


Trong câu chuyện phiếm, về một anh chàng nào đó có bố ra chơi mà xấu hổ vì bố nhếch nhác nhà quê quá, Tiến ta văng một câu gần tục rồi bảo tôi: “Chỉ có kẻ bất chính mới không dám nhắc đến nguồn gốc của mình”.


Rồi anh đả thêm: “Thằng chó!”. Tôi kê câu cũ mèm: “Không được xúc phạm chó!”. Tiến “nhất trí” liền, rồi bổ thêm câu: “Bố mày tự hào vì là thợ điện đây”.


Gặp nhau hằng ngày, đọc nhau cũng hằng ngày, nhiều khi tranh cãi một chuyện gì đó trở nên chán phè nhau, Tiến bảo tôi: “ghét lão già, không thèm chơi với lão nữa!”.


Có bận to tiếng lôi đình đã toan “ly dị” nhau, nhưng cũng chỉ đủ ba bẩy hai mốt ngày, tôi bụng bảo dạ, thằng này đúng là “Đồ lính tẩy”- “Quân thợ thuyền”. Nghĩ vậy nhưng cũng chỉ vài ba bữa là tôi mon men tìm đến “em Linh” để bắn tin làm lành.


“Em Linh” chính là nhà văn Trần Thùy Linh, tác giả nổi tiếng từ truyện ngắn “Mặt trời bé con của tôi” là “em gái” tụi tôi thật chứ không đùa. Tôi vừa đến “em Linh” đã phang luôn: “Các ông biến đi! Ngày nào cũng nhậu nhau chưa đủ à”.


Tôi nghĩ ngay, có khi “thằng này” mách lẻo em Linh, nên nó mới đánh phủ đầu mình thế, liền ra chiêu: “Anh anh em em”, nói xấu đồng bọn khi vắng mặt. Nói xấu chán rồi, tôi bảo từ nay anh sẽ không nhậu nhẹt gì với thằng nhà văn “giả cầy” này nữa, nhưng em đừng nói gì, để đấy rồi anh bỏ từ từ”. Chiến thuật “bỏ từ từ” thế mà hiệu nghiệm.


“Em Linh” cả tin, nghe tôi phịa ra chuyện “Thằng Tiến vừa đi khám về, hình như vợ nó bảo hỏng toi cả món thần kinh tim với lại gan mật có vấn đề rồi. Tiến ta sợ hết hồn, khóc hu hu”, thế mà “em Linh” cả tin, nguôi cơn thịnh nộ với tôi, tức tốc bắt tôi đòi đi tìm Tiến xem thế nào.


Tôi rủ Bảo Ninh và Quốc Trọng cùng đi. Chưa kịp đi “em Linh” đã gọi điện thoại cho Tiến. Tiến nghe “em Linh” nói thế nào, cảm động gọi điện thoại cho tôi với giọng khá xuống nước.


Thế là huề.


Nghĩ đi, nghĩ lại, chẳng có gì đáng gì, nói qua nói lại chẳng đâu vào đâu mà sinh sự, đôi khi cũng biết, chỉ vì ba cái chén nhố nhăng. Không có nó thì buồn mà có nó quả cũng phiền tâm thật.


Một tháng đôi lần Tiến lại rủ tôi: “Sang bên điện” chơi. Tiến có nhiều bạn thân ở cơ quan Truyền tải Điện. Lại thỉnh thoảng bảo “Đi chơi với mấy thằng bạn lính”. Bạn thợ bạn lính của Tiến nhiều hơn bạn văn, nhóm nào cũng mạnh mẽ ồn ào, mày tao mắng mỏ nhau như thuở hàn vi. Họ hiện lên trong tác phẩm của Phạm Ngọc Tiến như là chính bản thân Tiến tự thể hiện mình. Không trang văn nào của Phạm Ngọc Tiến thiếu vắng bóng dáng của hai nhóm bạn đời của y.


Thỉnh thoảng tôi lại được Tiến giới thiệu một người bạn theo cái cách rất riêng của mình: “Thằng này là thằng Bình ních trong “Tàn đen đốm đỏ” đấy” - “ Đây là thằng Cường Choắt”. Tôi thấy các bạn Tiến rất thoải mái, rất tự nhiên khi thấy Tiến đưa tên “cúng cơm” của mình vào trang sách. Họ động viên Tiến viết không phải theo kiểu khen chê như cánh nhà văn nhà thơ với nhau. Họ sẵn sàng sổ toẹt cả những chuyện “có thật một trăm phần trăm”, nếu anh viết không thật, không hấp dẫn.


Nhưng cũng lại chính họ chấp nhận thoải mái những tính cách, những thói xấu, những chi tiết trong các truyện ngắn, và đặc biệt trong tiểu thuyết “Tàn đen đốm đỏ”, họ coi đó là cuốn sách về họ, đã đành, mà đây là cuốn sách của họ. Phạm Ngọc Tiến chẳng qua chỉ là người “Có tài văn vẻ một chút”, được vinh dự tự hào chép lại, vậy thôi.


Tiến béo - biệt danh của Tiến trong hai nhóm bạn này, đối với họ mãi mãi vẫn chỉ là Tiến béo: Thân mật, bỗ bã và hay dỗi vặt, thế thôi. Ngồi với Tiến, họ không bao giờ tính đến chuyện gọi Tiến là nhà văn, nghe sao nó cứ xa lạ, kỳ cục thế nào. Có lần anh Thuỷ bên điện bảo tôi thế này: Nhà văn người ta phải khác chứ, sao lại như nó được? Ít nhất cũng phải được như bác, xem ra còn có mẽ chứ thằng Tiến –béo nhố nhố nhăng nhăng, văn veo gì.


Tôi thấy ý anh Thủy thật hay và tôi có cớ vênh vang với Tiến: “Mày nghe chưa? Mày thấy anh em người ta tinh không? Ít nhất là đánh giá tao có vẻ nhà văn hơn mày, hiểu chưa?”. Rồi tôi ra vẻ khiêm tốn hỏi anh Thủy, thế anh thấy thằng Tiến khác nhà văn là khác thế nào, thì anh chịu. “Bụt chùa nhà không thiêng”, tôi đùa.


“Không phải không thiêng, mà nếu thiêng thì mất toi thằng bạn, bởi vậy mới không cho nó thiêng làm gì”. Anh Lít gù, bạn thân của Phạm Ngọc Tiến bây giờ là tay thợ mổ lợn nói xen vào thế.


Phạm Ngọc Tiến khởi đầu văn chương bằng một loạt những giải thưởng. Ở bên trong con người lúc nào cũng ồn ã, nôn nóng, nồng nhiệt và chân thật đến thái quá, chất thợ, chất lính lấn át hết cả mọi ứng xử tạo nên cái dễ gần suồng sã và tin tưởng ấy, là một tâm hồn nhạy cảm, cả nghĩ, đa sầu mà chỉ đọc Tiến, chơi với Tiến tôi mới thấy. Văn Phạm Ngọc Tiến không màu mè ướt át, nhưng cũng không thô tháp vụng về.


Tiến viết như là tự giãi bày cái phần sâu kín bên trong con người mình, thành thử cái chất thợ, chất lính không còn là gam chủ lực. Hình ảnh người lính trở nên mềm mại tinh tế hơn cái anh lính có nguồn gốc thợ điện đời thường. Những trang văn trình làng đầu tiên của Tiến mà tôi được đọc trong truyện ngắn “Chạy trốn” chính là cái văn mạch ấy, cho đến nay vẫn không mấy đổi thay, dường như Tiến cũng không có ý định đổi thay, nhưng càng ngày càng sâu lắng điềm tĩnh hơn, nhất là ở những truyện ngắn và các bài tạp bút giàu chất nhân văn gần đây.


Các nhân vật đã tự họ vượt ra ngoài cuộc sống bươn chải, mà bóng dáng của hai tốp bạn, tức là bóng dáng của ký ức chiến tranh, ký ức về những năm gian khó của đất nước đã chỉ còn thấp thoáng, bù vào đó, những nhân vật mới của đời sống hôm nay, như anh hoạ sĩ và cô người mẫu, một thiên truyện không có gì độc đáo cả về ý tưởng và cốt truyện, nhưng người đọc được tấm lòng thành của tác giả đưa dẫn đến một thế giới tâm hồn mới mẻ và gần gũi, ấm áp và dịu dàng, nồng nhiệt và tinh tế, bình dị và thiêng liêng, chính những nhân vật mới của nhà văn đã tạo nên chân dung anh ta.


Phạm Ngọc Tiến, một nhà văn có những đóng góp đáng kể trong tiến trình văn học đương đại, nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết thời hậu chiến.


Ở đời, chẳng có gì toàn vẹn được lâu. Mấy năm trước, nhiều khi ngồi đánh chén “rượu vào lời ra”, lũ chúng tôi ý ới gọi nhau: Tôi, Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh, Trần Anh Thái, Quốc Trọng, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thanh Sơn, vợ chồng Nhuệ Giang-Thanh Vân, Văn Sáng, Đỗ Phấn, đôi khi có Nguyễn Bình Phương, bây giờ tứ tán, cái biệt danh “láo Đỉnh già” do Tiến đặt cho tôi bây giờ quả có hiệu nghiệm.


“Em Linh” của cánh tôi nghe nói đã nghỉ hưu trước vài năm tuổi, trong khi đó “lão Đỉnh già” thì lại ngoan cố chưa chịu lui sân, nhường bãi. Lập thì vô tít trong Sài Gòn, nuôi một “con OEP” nổi tiếng, in thành sách bán chạy như “báo TPCN”, Phạm Ngọc Tiến nhiều năm nay tham gia nhóm từ thiện lên miền núi lo “Bữa ăn có thịt” cho mấy cháu học sinh tiểu học trung học.


Vui cũng thật là vui mà buồn cũng thật là buồn. “Nhà văn nhà veo” cánh tôi cũng chả có gì hay ho, quẩn quanh quanh quẩn với ba con chữ quèn, xét thấy cũng đã và đang theo đuôi cái sự nhuôm nhoam của cuộc sống vậy.


Văn Phạm Ngọc Tiến không màu mè ướt át, nhưng cũng không thô tháp vụng về. Tiến viết như là tự giãi bày cái phần sâu kín bên trong con người mình, thành thử cái chất thợ, chất lính không còn là gam chủ lực.


Biên tập kịch bản như làm thợ


Công việc mà Phạm Ngọc Tiến đang làm, ấy là biên tập viên ở Hãng phim truyền hình Việt Nam. Gặp Tiến ở đây người ta thấy Phạm Ngọc Tiến là một người khác. Cái con người lúc nào cũng tất bật vội vàng bỗng trở nên trầm ngâm, nghiêm trọng trước hàng núi bản thảo của cộng tác viên. Tiến cặm cụi tháo gỡ, thêm bớt, lắp ghép những kịch bản còn có thể nâng lên được. “Không khác gì một người thợ”, Tiến bảo tôi.


“Nhưng mà phải lành nghề”. Đúng thế. Nếu không lành nghề làm sao viết được một kịch bản thông minh, sắc sảo như kịch bản “Chuyện làng Nhô” nổi tiếng, lừng danh, cùng với chuỗi kịch bản về nông nghiệp nông thôn. Rồi phim thời bao cấp, thời “khoán Mười” đến “Đàn trời” v.v…


Dòng phim truyện chính luận của đài truyền hình Việt Nam được khởi sắc và phát triển mấy chục năm gần đây thì nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến là một trong những cây bút chủ lực xuất sắc. Đi với Tiến vào tận Cà Mau, lên tận Móng Cái, lúc nào Tiến cũng khoe kịch bản “chuyện Làng Nhô” và được người người xem phim hâm mộ.


Tôi không chỉ là “ăn theo” cái tài làm phim của Tiến và em Thùy Linh mà hay vinh dự tự hào ké, nghĩa là làm cùng nhóm, mang cùng tên khối bộ phim cũng hoành tráng, chiếu hàng tháng, bầu bạn khen chê tít mù, bạn xem truyền hình thỉnh thoảng có người gặp cũng “ố, á”.


Trung Trung Đỉnh


tienphong.vn


 Nhà văn Phạm Ngọc Tiến


Những năm gần đây anh được công chúng biết tới nhiều hơn qua các kịch bản phim truyện và phim truyền hình.


Là người gắn bó với đề tài nông thôn từ các truyện ngắn, những trang tiểu thuyết, nhưng nhà văn Phạm Ngọc Tiến lại được công chúng biết đến nhiều hơn cả vẫn là từ các kịch bản phim truyền hình. Không chỉ có Ma làng, trước đó nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã có các kịch bản như Chuyện làng Nhô (4 tập) chuyển thể từ tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Đất và người (24 tập) - cùng viết với nhà văn Khuất Quang Thụy, chuyển thể từ tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, mới đây nhất là Gió làng Kình (24 tập - đang bấm máy) chuyển thể từ tiểu thuyết Những trận gió người của chính mình. Tất cả đều đề cập những vấn đề rất gai góc của nông thôn từ trước khoán 10, sau đổi mới đến hiện tại.


Mặc dù là người thành phố, nhưng Phạm Ngọc Tiến luôn cho rằng cái gốc của mình vẫn là người nông thôn. Đất nước ta là một nước nông nghiệp, phong tục tập quán dù là người thành thị vẫn mang nặng dấu ấn nông thôn. Bên cạnh đó, chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật có những tính cách riêng biệt, điển hình, sinh sắc. Hình thái sinh hoạt của nông thôn dễ đưa vào tác phẩm. Nếu làm nhuần nhuyễn sẽ có tính thuyết phục về sự chân thực. Đề tài nông thôn cũng chứa nhiều vấn đề trong đó như nhân sinh, đổi đời, băng hoại đạo đức… Nếu thật sự quan tâm đến đề tài nông thôn thì có nhiều chuyện để nói.


Với anh, đề tài về nông thôn không bao giờ cạn kiệt, không bao giờ cũ. Cũ hay không là do cách nhìn, tài năng, tâm huyết của tác giả. Có thể có lối mòn của một tác giả, một nhóm tác giả… Nhưng đề tài không bao giờ mòn. Quan trọng là bản thân anh tái tạo hiện thực ra sao. Phạm Ngọc Tiến luôn nhìn nhận vấn đề ở góc độ mới, riêng biệt, cần phải đặt mình là người trong cuộc của tất cả mọi sự đổi thay. Có nhiều việc rất cần phải làm, chẳng hạn như tính thời điểm, độ nhạy cảm của từng vấn đề với những liều lượng phản ánh, xu thế đời sống…nhưng quan trọng nhất vẫn là thái độ sống của người viết thế nào. Một kịch bản chỉ có thể đạt được độ chân thực khi tác giả của nó dám sống và viết với tất cả sự chân thành.


Nhân vật Quềnh trong phim không hẳn là Quềnh trong tiểu thuyết. Trong phim, nó là nhân vật hoạt náo, làm giãn phim ra. Nó đóng vai trò tựa như một nhân vật hài trong tác phẩm cổ điển, đã gây được ấn tượng, làm đậm nét cho nhân vật. Có thể nói: diễn viên Hán Vân Tình được quần chúng mến mộ hơn cũng từ khi anh hóa thân vào nhân vật Quềnh này.


Còn với kịch bản "Ma làng" anh viết chung với đạo diễn Nguyễn Hữu Phần lại mang dấu ấn mới lạ về nông thôn Việt nam...Qua từng bộ phim, người xem thấy các nhân vật của anh như Trịnh Khả (Chuyện làng Nhô), Quềnh (Đất và người), Tòng, Dỏ (Ma làng) rất sống động, bước từ màn hình đi vào đời sống. Điều đó ít phim làm được, và có thể là thành công riêng trong việc xây dựng nhân vật của Phạm Ngọc Tiến chăng?. Vì anh luôn xác định cần xây dựng nhân vật với những tính cách tiêu biểu của họ. Không lạ khi các nhân vật đó bước ra từ màn hình đi vào đời sống vì họ rất có bản sắc và sống động riêng, và cũng vì lẽ ấy nhiều diễn viên đã thành danh khi hóa thân như "lên đồng" vào các nhân vật. Một tác phẩm mạnh chính là ở nhân vật. Một tác phẩm thành công là do có những nhân vật với tính cách đa diện trước đời sống. Trong kịch bản, anh luôn chú trọng xây dựng từ một đến hai nhân vật hội tụ đủ thân phận, số phận rất đặc biệt như thế.


"Gió làng Kình" - kịch bản mới nhất của Phạm Ngọc Tiến không khác biệt nhiều. Vẫn môtip mà anh đã sáng tạo qua những kịch bản phim trước đây, vẫn câu chuyện ấy loanh quanh vẫn trong làng ngoài xóm, chuyện họ chuyện hàng, chuyện tốt chuyện xấu, chuyện quyề, thay bằng Khoái, bằng Khuếnh, bằng Bát, bằng Quých… Thậm chí gần như nguyên êkip làm phim của Ma làng có mặt. Nhưng đó sẽ là một phim hoàn toàn khác với những vấn đề của nông thôn ngày hôm nay. Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần là người đã gặt hái được nhiều thành công về đề tài nông nghiệp, nông thôn là đạo diễn thực hiện phim này. Đây cũng là kịch bản phim tâm huyết trong loạt bốn phim về đề tài nông thôn của Phạm Ngọc Tiến.


Nhà văn Phạm Ngọc Tiến và đạo diễn Phạm Thanh Phong đã cùng xây dựng nhân vật Ba Tỉnh (lấy tên tôi đặt cho nhân vật) trong phim "Chuyện phố phường" là một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa ba chúng tôi.


Nguồn: batinh.com


Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Không được sốt ruột…


Nguyễn Văn Quân


Tôi từ chối hẹn gặp Phạm Ngọc Tiến ở quán rượu quen thuộc bởi tôi biết, hoàn cảnh hiện tại không cho phép anh được uống quá nhiều. Thứ nữa, tôi là bậc đàn em, đề đạt nguyện vọng được đến nhà hầu chuyện âu cũng là thường tình và hợp lẽ.


Căn nhà anh vừa xây cất chưa lâu, là nơi trú ngụ của tác giả “tàn đen đốm đỏ” độc thoại với sự cô đơn để rồi từ đó, những tác phẩm văn chương được thai nghén, hình thành…


Dưới góc độ văn chương, nhiều người thắc mắc, Phạm Ngọc Tiến dạo này có vẻ viết ít?


Tôi thấy chưa bao giờ viết văn khó như bây giờ. Gần như các nhà văn đang ở vào hoàn cảnh mà chúng tôi vẫn thường gọi là “trượt ngã niềm tin”. Cái khó của người viết hiện nay là nói ra những gì mình nghĩ một cách thuyết phục. Hiện tượng là như vậy. Và tôi nghĩ phải có sự thay đổi. Đầu tiên nhà văn vẫn phải tin vào chính mình. Rồi thay đổi tư duy. Chấp nhận dấn thân. Tôi cũng nghĩ đây là thời dành cho những nhà văn chân chính. Tôi viết ít bởi bản thân, tôi cũng mong muốn được trở thành một người viết chân chính và trung thực.


Thế còn ước mơ làm một kịch bản hoành tráng về võ thuật mà anh từng ấp ủ?


Tôi xuất phát ý tưởng ấy khi nhận thấy, người Việt mình có một tinh thần thượng võ rất cao bởi được bồi đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh giữ nước. Nhiều môn võ đặc sắc cũng xuất hiện trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy. Nhiều tác phẩm văn chương viết rất hay về võ Việt. Nhưng để làm một tác phẩm điện ảnh về võ thuật thành công thì không hề đơn giản một chút nào. Đầu tiên anh phải có bản lĩnh, nội lực, phải tìm được cái đặc sắc nhất của võ Việt. Rồi việc tìm tìm tài liệu, những nghiên cứu đánh giá mang tính học thuật về lĩnh vực này cũng đang rất mỏng. Hơn nữa, làm phim thời buổi này cũng rất khó khăn. Không phải về vấn đề tài chính. Cái khó cơ bản vẫn là con người. Người làm và người tiếp nhận. Người làm phải giỏi và người tiếp nhận phải tinh. Lúc ấy mới thành công được. Cho nên tôi vẫn đang nghiên cứu và thai nghén thôi, nhưng vẫn không nguôi hi vọng có ngày thực hiện được kế hoạch ấy của mình.


Tôi nhớ cách đây vài năm, anh từng tuyên bố, năm năm nữa, sau khi đọc xong những triết lí nhà phật, anh sẽ cho ra đời 2 cuốn sách. Không biết kế hoạch ấy của anh như nào rồi?


Tôi vẫn đang viết. Có thể không chính xác theo từng năm từng tháng được khi thời điểm này tôi mới chỉ hoàn thành được một nửa. Tôi đang vừa viết vừa phải tìm niềm tin cho chính mình. Nhưng với một nhà văn, cái quan trọng là mình viết như thế nào? Bạn đọc tiếp nhận ra sao chứ số lượng, không phải là yếu tố quyết định. Nó cũng không sốt ruột được.


Nghe nói trước anh chẳng biết gì về công nghệ thông tin nhưng hiện nay, ngày nào anh cũng phải tìm đến máy tính. Thậm chí Facebook Phạm Ngọc Tiến cũng trở thành một “hot face”, thu hút được nhiều người quan tâm, chia sẻ?


Cho đến bây giờ thì tôi cũng vẫn là gã đàn ông mù tịt về công nghệ thông tin. Tôi chỉ biết mỗi thao tác “pốt” bài lên thôi. Nhưng nói về facebook thì với tôi, đó là một kênh thông tin rất hữu ích. Tôi thu lượm và học hỏi được rất nhiều kiến thức mà đôi khi, những người bạn thực tế ngoài đời không mang đến được. Với tôi, thế giới ảo nhưng đôi khi lại thật. Vì đôi khi, vào facebook của một người bạn, thấy bạn vừa “treo” ảnh uống rượu ở Sài Gòn. Tự nhiên cũng thấy có cảm giác gần gụi và đỡ cô quạnh.


Anh vừa nhắc đến rượu. Anh cũng nổi tiếng là người quảng giao và yêu rượu. Xin được hỏi, rượu có ý nghĩa như thế nào đối với một người đàn ông? Dưới quan điểm riêng của anh? Và nghe nói có lần, vì lí do sức khỏe, anh quyết tâm bỏ rượu, không biết bây giờ anh đã bỏ được chưa?


Bây giờ tôi vẫn mê. Ngày xưa tuổi trẻ, háo thắng cậy vào sức vóc uống tràn cung mây. Giờ có tuổi rồi, không muốn hạn chế cũng phải hạn chế nên càng quý. Làm một chén nhưng đôi khi, nó có cảm giác như sự vụng trộm. Tôi luôn cho rằng rượu là thước đo của một người đàn ông, là “chất” của một người đàn ông. Bạn tôi ai cũng biết uống rượu. Tri kỷ của tôi càng phải là người biết uống rượu.


Vậy lúc buồn nhất, người đầu tiên anh muốn uống một chén là ai?


Không. Nếu tận cùng của nỗi buồn thì tôi sẽ uống một mình. Chẳng gọi ai cả. Và tôi tin rằng những người bạn của tôi, cũng trân trọng thói quen ấy.


Anh là một nhà văn mà ngoài công việc viết văn, còn phải thực hiện vai trò của một công chức. Vậy công việc của một công nhân viên chức ấy, có ảnh hưởng nhiều đến việc viết của mình không?


Việt Nam là một đất nước mà ở đó, rất nhiều nhà văn là công chức nhà nước. Tức là ngoài việc viết văn, anh còn phải cõng thêm một trách nhiệm xã hội nào đó, đôi khi nó rất cao cả, như các nhà văn thời kháng chiến nhưng đôi khi, nó cũng làng nhàng trong “cơm áo gạo tiền” như tôi thôi. Nhưng nó tách bạch đấy, “văn là nghiệp” mà. Xét ở một góc độ nào đó thì công việc của tôi rất gần với văn chương. Nó có rất nhiều điểm tương đồng. Viết những kịch bản phim, đọc các tác phẩm của mọi người gửi về tôi có cảm giác như mình cũng đang được làm văn chương vậy. Đó là một sự may mắn.


Tôi nhớ có lần anh đã tự nhận xét về mình khi nói: "Tôi chỉ là nhà văn thuộc về số đông các nhà văn, nghĩa là hành nghề văn chương một cách chính đáng, yêu thích, có thể thuần túy hoặc trong các lĩnh vực lân cận, chứ không thuộc các nhà văn số ít. Họ là những người hiếm hoi có thể để lại dấu ấn trong nền văn học. Tôi cũng không đặt mục tiêu phải trở thành nhà văn lớn". Như vậy, xem ra có thiếu… tự tin quá không anh? Câu nói của anh làm tôi liên tưởng đến hình ảnh một cầu thủ, vừa chạy khởi động chuẩn bị vào sân thay người vừa ghé tai huấn luyện viên bảo: “Em sẽ cố hết sức, nhưng không dám khẳng định sẽ đá hay đâu?”


Người thiếu tự tin chính lại là người hay gồng lên. Gắn cho văn chương những sứ mệnh cao cả. Tôi thì không như vậy. Tôi là người biết mình biết ta. Tôi tự tin và nghĩ rằng mình đủ biết để ứng xử. Câu nói ấy của tôi xuất phát từ tâm niệm của đạo Phật. Đạo Phật rất hay và tôi đọc nó hàng ngày. Hãy học cách bình thản và không được sốt ruột. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy, lời nói của tôi có phần hữu lí.


Nói vậy nhưng có một sự thật rằng, dù được sinh ra ở thành thị nhưng những đề tài, những bộ phim anh làm về nông thôn lại đặc biệt thành công. Có thể kể tới ở đây: Chuyện làng Nhô, Ma làng, Gió làng Kình… Tôi cũng không lí giải được tại sao anh lại có thể thành công được ở những đề tài tưởng như không phải thế mạnh ấy?


Người Việt mình về cơ bản ít có nguồn gốc thành thị lắm. Dù năm đời nhà tôi đã ở Hà Nội nhưng bản chất tôi vẫn nghĩ mình là một người nông thôn. Việt Nam ít có văn hóa thành thị. Nó thực chất chỉ là sự nông thôn hóa thành thị thôi. Thêm một lí do nữa, thời chiến tranh, thế hệ tôi được sơ tán về các vùng quê trong một thời gian tương đối dài. Và đó quả là một thế giới đầy mê hoặc đối với lứa tuổi chín mười. Mùi phân trâu hăng hắc, mùi ngấu rạ rơm, mùi lúa chín… cho đến bây giờ vẫn rất gần trong tâm thức của tôi. Thấy cái gì cũng lạ, cái gì cũng lôi cuốn và muốn tìm hiểu, quan sát. Có thể nói đời sống nông thôn đã in sâu, thẩm thấu và chưng cất trong tâm hồn mình từ những ngày thơ bé ấy. Tôi tự tin để nói rằng mình như một người nông dân chính hiệu.


Tôi cũng được biết anh có một thói quen không giống ai. Đó là đêm giao thừa tết dương lịch, anh lại một mình một xe, phóng ra biển, nhìn trời nhìn đất một lúc rồi lại…về?


Thực ra tôi không chỉ ra biển mà có những năm tôi lên cả núi. Cũng không phải lúc nào tôi cũng đi một mình mà có khi có cả một hai người bạn. Biển và núi. Đó là hai vùng miền mà bình thường tôi đã đi nhiều bởi đặc thù công việc. Nhưng đó là những chuyến đi của công việc còn lần này, bỏ qua công việc và trách nhiệm xã hội sang một bên. Tôi đi chỉ là đi thôi. Chẳng để làm gì.


Sau Đàn Trời không thấy kịch bản nào của anh lên sóng. Anh không viết được hay là anh không viết? Có gì trục trặc chăng?


Thật sự thì cũng chả có gì trục trặc. Chính luận là một loại phim khó viết cần có thời gian. Thường thì mỗi kịch bản trước đây của tôi (và cả đồng biên kịch) chưa có cái nào làm nhanh được. Chuyện làng Nhô 4 năm, Đất và người 10 năm, Đàn Trời 7 năm, Gió làng Kình 5 năm, Ma làng 3 năm... Cái Sinh tử tôi đang ấp ủ cũng đã ngót nghét 3 năm. Kịch bản cũng như văn chương tôi nhắc lại không thể sốt ruột được. Phải kiên nhẫn để chắt chiu từng chi tiết từng tình huống từ thế sự để gom nhặt nó dựng thành câu chuyện. Làm nhanh thế nào được. Kịch bản chính luận là món ăn tổng hợp được chế tác công phu chứ không phải gói mỳ ăn liền. Tôi cũng muốn viết một năm trăm tập phim để kiếm tiền tỷ lắm chứ nhưng họa có là thánh. Vì chuyện không sốt ruột này tôi gặp khá nhiều rắc rối và chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế về tiếng tăm nhưng tôi chấp nhận. Tôi chỉ làm được cái mình thích mình muốn.


Rút cục thì Sinh tử của anh bây giờ thế nào?


(Cười) Hoặc nó sinh hoặc nó tử. Đùa thế thôi chứ tôi dứt khoát phải làm xong nó. Có thể Sinh tử sẽ là kịch bản cuối cùng ở VFC của tôi. Nó sẽ là một kịch bản mà tôi không phải hối tiếc khi đầu tư cho nó quá nhiều thời gian và công sức.


Xin hỏi anh một câu hỏi cuối, anh có tiếng là quảng giao và chịu khó chơi với lớp trẻ. Vì sao vậy?


Tôi học được từ các bạn trẻ nhiều chứ. Và được chơi với họ, tôi thấy mình trẻ ra. Thêm một lần nữa hiểu hơn ý nghĩa của tuổi trẻ, để trân quý hơn những giá trị cuộc sống. Đấy cũng là cơ hội để cho mình tự làm mới chính mình.


Xin cảm ơn anh!


vtv.vn


Phải lạc quan mới sinh ra làm việc, vui chơi… hết mình được


1. Người hiện đại chuyên viết về nông thôn, miền núi


Tôi tình cờ gặp nhà văn Phạm Ngọc Tiến trong cuộc họp báo ra mắt tác phẩm "Chuyện làng văn” của nhà văn Di Li. Tất nhiên, anh đến là để chung vui cùng đồng nghiệp cũng là một người bạn thân trong cuộc sống. Nhưng thực ra Phạm Ngọc Tiến cũng là một trong số gần 50 nhân vật được Di Li dựng chân dung, phỏng vấn và xuất hiện trong cuốn sách mới trình làng của cô. Đọc một số truyện ngắn, tiểu thuyết của anh, xem phim truyền hình mà anh viết kịch bản cũng nhiều, gồm: Chuyện làng Nhô, Đất và người, Gió làng Kình, Ma làng… và hiện nay là bộ phim Đàn trời đang chiếu vào giờ vàng trên sóng VTV1 nhưng gặp Phạm Ngọc Tiến ngoài đời thực thì đây là lần đầu tiên.


Anh xuất hiện chỉn chu với áo sơ mi kẻ cắm thùng, quần bò xanh trẻ trung và hiện đại. Nhìn anh, mới thấy cái cách suy nghĩ hết sức áp đặt của mình trước nay là sai lầm biết bao! Đâu phải một người chuyên viết về đề tài miền núi, nông thôn thì phải trông như nông dân, sống cuộc sống như ở miền núi.


"Phạm Ngọc Tiến có phải là người hiện đại không?” – tôi hỏi và anh khẳng định ngay, không mất đến 1 giây suy nghĩ: "Quá hiện đại ấy chứ. Này nhé, cũng rượu ngon, cũng mặc đẹp, cũng vũ trường, cũng blog như ai, nói chung chả cái gì là không biết. Có điều phải nói thực không phải cái gì hiện đại tôi cũng thích. Chẳng hạn vũ trường mình chỉ đi cho biết cho có thực tế chứ không đam mê”.


2. Sống bản năng như tuổi 20


Chia sẻ về cuộc sống, nhà văn Phạm Ngọc Tiến cho rằng trước hết đừng nói tới những thứ đao to búa lớn rằng sống là cống hiến, là sống vì người khác. Bởi nếu không lo được cho bản thân mình thì còn lo được cho ai. Thành ra phải lo thân trước rồi mới lo được cho vợ con, gia đình, xã hội.


Anh quan niệm: sống là phải hưởng thụ. Cụ thể, anh bảo mình chẳng đặt ra giới hạn nào cho bản thân cả. Nghĩa là sống rất bản năng.


"Có ngạc nhiên không khi một người ở tuổi anh lại nói mình đang sống rất bản năng, chuyện tưởng chừng chỉ xảy ra ở lứa tuổi đôi mươi khi người ta hãy còn trẻ và bồng bột?” – "Tôi nói bản năng nhưng tất nhiên vẫn phải trong những chuẩn mực nhất định, những rào cản xã hội mà đến tầm tuổi này, khi đã chuẩn bị lên chức ông ngoại mình phải làm gương cho con cháu chứ”.


Cụ thể, lối sống bản năng nhưng không phải quá "hồn nhiên” của Phạm Ngọc Tiến, theo anh lý giải, chính là việc thích ăn gì mà đủ khả năng thì phải ăn; thích uống gì mà đủ khả năng thì uống; thích chơi gì mà không ảnh hưởng đến người khác, đến thuần phong mỹ tục, đạo đức… thì cứ chơi. Đấy là "phong cách tự làm trẻ mình, sống như ông già lụ khụ có mà chết” mà nhà văn Phạm Ngọc Tiến tâm đắc.


Với anh, tuổi tác không có ý nghĩa gì. Tất nhiên có những rào cản bệnh tật này kia nhưng anh luôn cố gắng khắc phục một cách nhanh nhất. Lạc quan, tươi trẻ mới là phương châm sống của anh. Hỏi về quãng thời gian "héo hon” nhất trong hơn nửa thế kỷ sống trên đời, Phạm Ngọc Tiến bảo đó là thời điểm năm 2004, anh phát hiện bị bệnh tiểu đường và gan… Mất hai năm khủng hoảng, bỏ rượu – người bạn không mấy khi thiếu vắng bên cạnh anh để rồi đến bây giờ thì nó lại trở về, thân thiết như xưa!


3. Cuộc sống viên mãn


"Bây giờ mình không phải lo nghĩ gì cả. Sự nghiệp, công danh đầy đủ rồi, tài năng, bổng lộc giời cho bao nhiêu nhận đủ, không thiếu, không quá, không tranh cướp của ai, của mình mình nhận. Tuổi thọ như này cũng là ổn, mai có "thăng” cũng không sao cả! Nghĩa vụ cũng gần hoàn thành rồi. Con cái đã lớn khôn, phương trưởng, có công việc, gia đình riêng rồi. Nên nói là viên mãn với mình bây giờ cũng đúng đấy” – không giấu giếm hay vòng quanh, Phạm Ngọc Tiến vui vẻ kể về cuộc sống của mình. Anh vẫn lao động, vẫn sáng tác đều đặn mỗi ngày và thường xuyên giao lưu với bạn bè như thói quen từ trước đến nay, tuy có bị gián đoạn một thời gian vì bệnh tật.


"Nghĩa là bây giờ anh không có tham vọng gì nữa, hài lòng với tất cả rồi?” – "Tôi có tham vọng chứ. Tham vọng lạc quan là tham vọng lớn nhất. Phải lạc quan mới sinh ra làm việc, vui chơi,… hết mình được, làm chủ được mình, thắng được chính mình thì mới thắng được những thứ cám dỗ ở đời…Nhà Phật đã dạy rằng sống làm sao cho thanh bình, vui vẻ. Phải vất vả cả đời mới đạt được đến "cảnh giới” này.”.


Tham vọng của Phạm Ngọc Tiến, như anh nói, là tham vọng của một người rất đỗi bình thường. Không cầu danh lợi, cao sang, Phạm Ngọc Tiến đã và đang "nhìn cuộc sống như là mình vẫn nhìn”, và "cuộc sống nó thật như thế nào thì mình tái hiện được nó thật như thế trên phim ảnh, trong văn chương”. Chúc anh có sức khỏe để không bao giờ phải "héo hon”.


Thu Hương


Nhà văn Phạm Ngọc Tiến và những chuyện thật như đùa


Di li


Phạm Ngọc Tiến nhiều bạn thân, lại yêu rượu như bạn, bạn bè cũng yêu anh, rượu chắc cũng yêu anh, nên thể tất không thể không ghép hai thứ ấy lại với nhau. Chuyện say của Phạm Ngọc Tiến có nhiều giai thoại, thật như đùa, đùa như thật, khiến tôi không biết có nên tin hay không. sự kiện nóng


Mấy bận đầu gặp nhà văn Phạm Ngọc Tiến, tôi cứ gãi đầu gãi tai hoài. Chả là thoắt cái lại có người tiến đến gọi anh là bố. Rồi bố con trao đổi công việc gì đó có vẻ rất quan trọng chứ không chút nào bỡn cợt. Con cái, người nào người ấy to lớn kềnh càng, mặt mũi già nua có phần gần bằng bố. Biết ý, Phạm Ngọc Tiến giới thiệu: "Con nuôi của anh đấy".


Ra thế, tôi thở phào áng chừng hiểu. Nhưng con nuôi nhiều quá, lại toàn con nổi tiếng, trong ấy có nhà thơ Bình Nguyên Trang, nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang... rồi cả Nguyễn Anh Vũ biên tập viên NXB Văn học, số cân ngót tạ, có thể nhấc bổng bố nuôi lên trời vẫn cung cúc một điều bố, hai điều con.


Kẻ ngộ miệng bảo Phạm Ngọc Tiến như mẹ mìn, không biết bày trò gì mà lắm con nuôi đến thế. Có bận, tôi đề nghị nếu có thể thì cho tôi... tham gia đội con nuôi với. Phạm Ngọc Tiến trợn mắt, ý chừng con cái đã đông, không phải người nào cũng dễ dàng có suất, và dứt khoát không muốn thu nhận thêm đứa con nào nữa, nhất là một kẻ như tôi.


Phạm Ngọc Tiến có một điều ngộ nghĩnh là trí tưởng tượng bẩm sinh của một nhà văn khiến anh rất hay liên tưởng đến một câu chuyện qua những hiện tượng rất nhỏ.


Nhiều bận, Phạm Ngọc Tiến kể say sưa trầm bổng về một câu chuyện có đầu, có kết, có thoại, có chi tiết gay cấn đàng hoàng. Riết rồi tôi hỏi truyện ấy in trong tập nào thì người kể chuyện bảo chỉ vừa mới nghĩ ra đây thôi, nói đoạn lại "Anh cho em cái cốt truyện ấy đấy, tha hồ mà viết". Phạm Ngọc Tiến giắt lưng vô số cốt truyện và thỉnh thoảng lại đem... cho.


Cho chẳng biết có ai nhận không nhưng nhiều cốt truyện hay cứ treo lơ lửng ở những quán bia mà chính chủ cho đến giờ vẫn chưa thèm viết. Nhiều tác phẩm của Phạm Ngọc Tiến gây kịch tính ở cách lật ngược vấn đề, nhân vật truyền hình cũng mang nhiều nét đặc trưng hóm hỉnh của tác giả kịch bản như Quềnh, Tòng, Khuếnh, Ló, Dỏ... Văn là người.


Nhớ có lần đúng đợt cúm gà, anh bảo mình vừa đi thăm trại gà về xong. Tôi giật nảy mình theo phản xạ hơi lùi ra xa, nhăn mặt kêu nhỡ đâu lây cúm từ gà thì sao. Anh bảo: "Có mà chủ trại nó sợ anh lây cúm sang gà của nó ấy. Khi vào bắt anh mặc quần áo bảo hộ kín từ đầu đến chân cho đỡ dây bẩn trại gà".


Năm rồi gia đình anh xây nhà mới. Ròng rã gần năm trời, Phạm Ngọc Tiến thuê một căn nhà cấp bốn để lấy chỗ vừa đặt laptop viết kịch bản truyền hình vừa trông công trình. Hỏi thăm hôm nay anh có đi làm hay không thì nhà văn kêu lên: "Làm gì có... quần mà đi làm".


Là vì nóng nực nên anh chỉ vận xà lỏn để chỉ đạo việc xây dựng cho tiện, suốt tháng như thế, quần áo chắc vứt lộn xộn đi đằng nào mất. Mùa hè có hôm nóng đến 39 độ C, lại còn nghe tin chủ công trình vừa bị ngã gãy chân, tôi hình dung nhà văn quay ra quay vào trong túp lều không máy lạnh mới phàn nàn rằng sao anh không mua căn hộ chung cư mà ở cho tiện, cớ gì phải trông nom gạch vữa khổ thế.


Phạm Ngọc Tiến bảo không, chung cư nào mà được ở ven hồ thế này, một mình một cõi rộng thênh thang, rồi ngôi nhà này sẽ có phòng làm việc riêng hoành tráng, cả bể sục nữa, khác gì biệt thự. Rồi trong lúc mơ về ngôi nhà tương lai, Phạm Ngọc Tiến cằn nhằn, mà tôi hình dung ở đầu dây bên kia anh đang vã mồ hôi trong căn hộ thuê tối om và ẩm thấp: "Đây này, giờ mà có gã nào già rồi còn bỏ vợ đi lấy vợ hai thì cũng chỉ đến ở trong cái nhà thế này thôi. Vợ trẻ con thơ, khổ, rồi lại xách nước đi rửa đít cho con".


Tôi lại cười ngất, không biết vì cơn cớ gì mà anh lại có ngay một sự liên tưởng kỳ quặc như thế. Có lẽ đâu anh đang tự hình dung ra mình, lỡ có yêu cô gái trẻ, bị vợ đuổi ra khỏi căn biệt thự trong mơ ven hồ, rồi đèo bòng vợ mọn con thơ trong ngôi nhà cấp bốn tạm bợ, quay trở lại thời kỳ bao cấp, chỗ ở chật hẹp thiếu điện thiếu nước v.v...


Phạm Ngọc Tiến dường như bị ám ảnh bởi điều ấy, thời ấy, và tôi có thể đọc thấy nó trong những tác phẩm của anh. Thời gian gần đây, anh viết ít đi vì bao nhiêu thời gian dồn hết cho việc chuyển thể, từ tiểu thuyết của các tác giả, thành kịch bản phim truyền hình. Người ta biết nhiều đến anh lại qua cái tên xuất hiện trên màn ảnh nhỏ của Chuyện làng Nhô, Đất và người, Ma làng, Gió làng Kình, Chuyện phố phường... Có lẽ giống như nhiều nhà văn khác, sự mưu sinh đã khiến anh phải kìm hãm niềm đam mê sáng tác lại.


Cách đây nhiều năm, Phạm Ngọc Tiến hay nhắc đến chuyện ô tô. Anh chăm chỉ đi học lái xe, thi lấy bằng, rồi cũng mua được xe. Xe xịn hẳn hoi. Anh yêu chiếc xe lắm, âu yếm chăm chút như bà mẹ mới sinh con so, thấy vệt phân chim trên cốp cũng phải lau chùi cho sạch.


Phạm Ngọc Tiến đi xe máy hay gặp tai nạn, cũng là vì những cuộc nhậu triền miên khiến anh không còn phân biệt được đâu là đất, đâu là trời. Đến khi có xe hơi, trong cốp xe luôn để sẵn can rượu, hà cớ gì mà không va quệt cho được.


Đi xe máy va quệt thì tự mình gãy chân, xe hơi va quệt chân tay không sao nhưng mỗi lần cho "cục cưng" vào "bệnh viện xe hơi" cũng mất ngót chục triệu, lại có bữa cán người như chơi. Thỉnh thoảng lại nghe Phạm Ngọc Tiến gọi điện giọng buồn so, thông báo hôm qua anh vừa bị quệt xe. Riết rồi thấy anh đi... xe đạp, bảo luyện tập cho khỏe người, nhưng tôi ngờ rằng anh tông xe nhiều quá đâm sợ, xe quẳng cho vợ đi, bốn bánh thay thế bằng hai bánh đạp chân.


Bận ấy chúng tôi có cuộc tọa đàm, cuối buổi liên hoan ở mạn Hồ Tây, Phạm Ngọc Tiến bảo đi trước. Lát sau ngang qua khu chợ Hàng Da, tôi và nhà văn Đặng Thiều Quang phóng xe máy vù vù, thấy tác giả của Tàn đen đốm đỏ đội mũ tai bèo, túi dết bắt chéo đang guồng chân đạp xe phía đằng sau. Chẳng ai dám cười, phóng xe đi trước thì áy náy, mà cứ tà tà đi song song với ông đội mũ tai bèo giữa lúc phố phường đang nghẽn tắc cũng chẳng ra làm sao. Phạm Ngọc Tiến phẩy tay, giọng đã theo nhịp đạp: "Đi trước... đi trước đi!".


Hai năm sau khi tậu xe hơi thì Phạm Ngọc Tiến báo xây nhà. Anh thông báo tiến độ thi công một cách hào hứng, cầu thang thế nào, bồn tắm ra sao. Tôi biết ngôi nhà là tâm huyết và mơ ước của nhà văn. Bữa ấy tôi đến tham quan sau khi nhà khánh thành đã lâu.


Ngôi nhà nằm ven bờ nước, rộng thênh thang với phòng khách có cửa sổ trắng to tướng trông ra hồ, nhạc Trịnh bật réo rắt. Anh dẫn khách vào từng căn phòng, tầng thượng có bể sục Jacuzzi ngang khách sạn năm sao, phòng làm việc riêng trên tường treo chiếc bi đông nước bằng nhôm đã tróc lở từ thời còn trong quân ngũ, buồng tắm để sẵn chiếc kính mà khi đeo lên mắt thì có hai ngọn đèn sáng quắc hai bên gọng, ấy là kính để đọc sách.


Dường như lúc nào nhắc đến Phạm Ngọc Tiến thì tôi cũng muốn mỉm cười. Ngay cả đồ đạc trong nhà anh cũng hồn nhiên và ngộ nghĩnh như chủ nhân của nó vậy.


Thời hoàng kim của Phạm Ngọc Tiến (mà nhà văn Nguyễn Quang Lập gọi là "thời huy hoàng say" trong một bài viết chân dung cùng nhan đề về ông bạn vàng) có lẽ không khi nào không thấy anh bên những tiệc rượu khi ngớt giờ làm việc.


Phạm Ngọc Tiến nhiều bạn thân, lại yêu rượu như bạn, bạn bè cũng yêu anh, rượu chắc cũng yêu anh, nên thể tất không thể không ghép hai thứ ấy lại với nhau. Chuyện say của Phạm Ngọc Tiến có nhiều giai thoại, thật như đùa, đùa như thật, khiến tôi không biết có nên tin hay không.


Nhưng tôi biết nhiều năm, cứ đêm giao thừa Tết Tây là anh lại hay ra biển, với bạn hoặc một mình. Lúc ấy anh gọi điện, với những câu chuyện bất tận không đầu không cuối, sau vài lần kinh ngạc thì tôi quen tính, biết đầu dây bên kia sau vài ly rượu đang tưởng gió biển là gió quạt nhà mình, nếu có bận việc gì mà đặt máy đó để đằng kia tự độc thoại rồi nhấc lên nghe tiếp chắc cũng không sao.


Trong những lúc say, bản tính thật của con người thường trỗi dậy nhiều nhất, ấy là lúc nhà văn quên mất cuộc đời không phải lúc nào cũng được phép hào phóng của mình, mới mở ví phân phát cho các cô phục vụ. Mỗi cô được một tờ bạc mệnh giá cao nhất, phát cho kỳ sạch ví mới thôi. Sáng sau hỏi bạn, quái thật, sao tiền để trong ví nhiều thế mà rơi đâu mất cả rồi.


Nhưng thời gian sau này, thấy anh uống rượu thưa dần, chỉ còn dám uống rượu vang. Thì khắp văn giới đều biết Phạm Ngọc Tiến mắc bệnh tiểu đường. Ông Trời thường như thế, rất thích lấy đi của người ta những gì yêu thích nhất. Rượu lại là kẻ thù của căn bệnh chết người này.


Trong hai thứ rất tệ thì đành chọn một phương án đỡ tệ hơn. Anh bắt đầu đi tập yoga, ngồi với bạn chỉ trò chuyện và uống cầm chừng. Nhưng nhìn bạn uống tì tì mà mình phải nhịn thì rõ là sinh lòng đố kỵ. Phạm Ngọc Tiến chọn thêm phương án thứ ba: Quyết không gặp bạn nữa.


Kiêng cữ tuyệt đối như thế, con người anh bỗng dưng trở nên là lạ, khang khác với những người từng quen biết. Đến nơi làm việc của anh, giờ không còn thấy anh khoe các loại rượu thuốc, khoe cả với tôi - người chẳng đụng đến một giọt rượu bao giờ, mà chỉ còn nghi ngút mùi thuốc bắc.


Đang nói chuyện qua điện thoại cũng nghe cuống quýt: "Thôi nhá, anh phải đi tắt ấm thuốc bắc", rồi cúp máy cái rụp. Có ai rủ đi ăn trưa thì bảo thôi tôi còn phải uống thuốc bắc cho đúng giờ. Từ bận có nhà mới, dường như anh càng không muốn rời khỏi nhà. Anh bảo anh đang nghiên cứu đạo Phật, giờ đã "tận diệt" hết mọi ham muốn, chỉ còn mỗi... tham sân si thôi (?!).


Chẳng biết Phạm Ngọc Tiến đắc đạo đến chừng nào mà anh tiết lộ 5 năm nữa sẽ cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết, trong đó một cuốn sẽ là... "bom sex". Hỏi tại sao không viết ngay, bảo còn phải nghiên cứu thêm triết lý nhà Phật. Nói chuyện với Phạm Ngọc Tiến thường là thế, không biết đâu là thật, đâu là giả, cuối cùng chỉ còn lại nụ cười.


Phạm Ngọc Tiến từng nói rằng: "Tôi chỉ là nhà văn thuộc về số đông các nhà văn, nghĩa là hành nghề văn chương một cách chính đáng, yêu thích, có thể thuần túy hoặc trong các lĩnh vực lân cận, chứ không thuộc các nhà văn số ít. Họ là những người hiếm hoi có thể để lại dấu ấn trong nền văn học. Tôi cũng không đặt mục tiêu phải trở thành nhà văn lớn".


Nhưng tôi biết ám ảnh văn chương vẫn đeo đuổi anh hàng ngày, hàng giờ. Khả dĩ mất đi những niềm yêu thích là rượu và bạn rượu, có thể chăng âu cũng là điều may mắn. Để rồi trong ngôi nhà ven hồ, anh sẽ lại tiếp tục dồn tâm sức cho một trong những tình yêu lớn là văn học.


Phạm Ngọc Tiến luôn khát khao được học giỏi tiếng Anh. Nhưng từ lúc đầu lên cơ quan anh nhìn thấy chữ "Passport", "Can you help me?" trên bảng trắng, mà anh giải thích rằng đang chăm chỉ tự học tiếng Anh để đi nước ngoài cho chủ động, năm sau đến vẫn thấy nguyên những chữ ấy trên bảng, chưa thêm được chữ nào.


Tuần trước, anh nhờ tôi gọi điện giùm đến đại sứ quán để trao đổi vài câu với tùy viên về việc cấp thị thực sang châu Âu. Hẹn để đưa máy nói chuyện nhưng điện thoại của tôi sáng ấy lại trục trặc sao đó nên tôi cũng không gặp được anh. Khi đã liên lạc được, tôi áy náy quá bảo làm thế nào bây giờ.


Anh lại phẩy tay qua điện thoại, chắc thế: "Anh tự gọi rồi, nói chuyện được rồi, nó hiểu". Tôi kinh ngạc: "Làm sao mà người ta hiểu được anh?". Bảo: "Anh tự giới thiệu: I am Phạm Ngọc Tiến. I am a writer". "Vâng, rồi sao nữa?". "Nó à lên rồi nói tiếng Việt, hóa ra nó biết tiếng Việt".


Ba hôm sau thì Phạm Ngọc Tiến bay sang Cộng hòa Séc. Giờ chắc anh đang nói chuyện rất rôm rả bằng một thứ ngôn ngữ riêng nào đó của Phạm Ngọc Tiến bên trời Âu.


Di Li


tuanvietnam.vietnamnet.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »