tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229809
Những bài báo
25.10.2014
Nhiều tác giả
Trang Thế Hy, nhà văn cách mạng lão thành của Văn học Nam Bộ tròn 90 tuổi

Ngày 29/10/2014, nhà văn Trang Thế Hy tròn 90 tuổi! Ngày 21-10-2014, tại Lễ bế mạc Trại Sáng tác VHNT về đề tài Giao thông Vận tải ở TP Hồ Chí Minh, nhà văn Triệu Xuân thay mặt Nhóm Văn Chương Hồn Việt đã gửi nhà văn Vũ Hồng một triệu đồng -như là rượu và hoa- mang về Bến Tre chúc mừng anh Tư Sâm – Trang Thế Hy thượng thọ.


www.trieuxuan.info xin post lại một số bài về nhà văn Trang Thế Hy. Chúc ông luôn vui, khỏe!


 


- Tiểu sử nhà văn Trang Thế Hy


NHÀ VĂN TRANG THẾ HY - CÂY CỔ THỤ CỦA VĂN HỌC NAM BỘ


Bài của Ngô Thảo


Trước hết, phải nói, Bến Tre là quê hương của nhiều nhà văn hóa lớn: Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Phan Văn Trị, Huỳnh Tịnh Của, Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản… Tỉnh nhỏ gồm Cù lao An Hóa, Cù lao Bảo, Cù lao Minh, nối giữa mấy nhánh của dòng sông Tiền Giang, sông Hàm Luông, Ba Lai và Cổ Chiên, quê hương của Đồng khởi còn là vùng đất nổi tiếng của văn hóa chiến trận, nơi đã có hơn 37.000 liệt sĩ, 20.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, quê của Trung tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, và hơn 20 vị tướng khác… Nhưng hôm nay, chúng tôi vượt cầu dây văng Rạch Miễu, men theo quốc lộ 60, qua Nghĩa trang Liệt sĩ, dừng xe, đi bộ mấy trăm mét, dọc con kênh đào nhỏ, tìm tới túp lều cũ nấp dưới bóng dừa, nơi đó có một Ông già héo queo như cây kiểng còi, dọn mình bước vào tuổi 90; không còn vẻ nhanh nhẹn hoạt bát như hơn chục năm trước, khi nhà văn Nguyễn Hồ giới thiệu với tôi lần đầu, nhưng vẫn giữ đươc sự minh mẫn, và một cách nói hóm hỉnh, hài hước đặc Nam Bộ, một con người như câu thơ ông viết: ngạo mạn thách thức kiếp phận truân chuyên, đó là nhà văn Trang Thế Hy, mọi người quen gọi ông Tư Sâm.


 


Sau bước làm quen, biết chúng tôi có ý định hỏi chuyện đời, chuyện nghề của ông, im lặng một lúc, hướng về phóng viên trẻ báo Nhân dân Hàng tháng, ông phản công:


 


- Bạn ơi, từ ông già lụm cụm, hom hem, da dẻ nhăn nheo, trí nhớ rụng dần này thì còn gì để có thể khai thác được nữa? Liệu có phí thì giờ bạn đọc không?


 


Để khỏi trực diện trả lời câu hỏi khó, chúng tôi chuyển đề tài. Câu chuyên mấy lần bị ngắt, vì nghe tin chúng tôi về, gồm nhà văn- nhà biên kịch Ngụy Ngữ, mấy bạn văn cùng đến chơi: cây bút truyện ngắn đặc sắc Ngô Khắc Tài ở An Giang được tân Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Từ Phạm Hồng Hiên đèo xe máy tới. Lát sau còn có nhà thơ Kim Ba Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bến Tre. Nghe đâu bạn bè văn nghệ đang rục rịch chuẩn bị tập sách mừng cây Cổ thụ (không dám gọi Đại thụ) của văn học Tây Nam Bộ bước vào tuổi 90.


- Tác phẩm đầu tiên hả? (quay qua Cúc Phương) Cô ở báo Nhân dân hả? Đó, đó, tác phẩm đầu là bài thơ dài Thanh gươm Tháng Tám ký tên Song Diệp đăng ở một phụ trương báo Đảng năm 1954. Tôi cũng có duyên với báo Nhân dân đó nghe.


- Những tác phẩm của Trang Thế Hy dưới nhiều bút danh khác nhau như Áo lụa giồng, Nắng đẹp miền quê ngoại, Mỹ Tho, Thèm thơ… (thời ở Sài Gòn), Anh Thơm râu rồng, Vui nhỏ trên đường dây, Quê hương thứ hai của người du kích, Bên miệng hố bon đìa (hồi ở rừng) đến Nợ nước mắt, Mưa ấm, Vết thương thứ mười ba, Hai người nhìn mưa dầm… (viết sau 1975) không chỉ kể cho bạn đọc chuyện xảy ra trên một miền đất mấy chục năm biến loạn, ít những trận chiến hào hùng mà giàu ở tâm trạng những con người nhỏ bé bị lôi vào cuộc chiến, vẫn ngời sáng lòng yêu nước và niềm tin vào một ngày mai tươi đẹp, qua đó cung biết ít nhiều về tiểu sử tác giả.


- Hình như ông đã từng làm nhiều nghề?


- Những năm chống Pháp dù làm ở Ty Thông tin tuyên truyền, nhưng cũng mới học viết gọi là. Sau 1954, được phân công ở lại, phải làm nhiều nghề vừa kiếm sống, vừa có vỏ bọc hợp pháp để hoạt động, nào phụ xe, soát vé xe đò, giữ kho, dạy kèm học trò, làm thư ký cho hãng buôn, rồi kế toán, sửa bản in cho các báo… không có nghề gì ổn định. Thế mà vẫn bị bắt vì có người khai báo. Đến giờ, tôi vẫn coi mình là cây viết nghiệp dư, nên số lượng tác phẩm cũng chẳng đáng là bao.


- Là một người lăn lộn trường đời, có nguồn mạch văn hóa thâm hậu, nhưng số trang viết không nhiều, ông từng trả lời báo chí: Tạo hóa có nhễu cho vài giọt năng khiếu nhưng bản thân tôi không phải là người có ý chí mạnh?


- Thì đó là tôi đã nói thật. Nhưng còn một lý do nữa mà tôi cũng đã trả lời trên báo: Cái gì mình không yêu mến hay chưa kịp yêu mến thì đừng giả bộ yêu nó. Tôi luôn tự dặn mình như vậy cả trong cuộc sống, chứ không chỉ khi viết văn. Với tôi, cái gì đã viết, dù ít, là phải chân thật. Đôi lần tôi bị vấp cũng là vì vậy.


- Sau Hiệp định Geneve 1954, một số cây bút ở lại Miền Nam nặng lòng với vận nước, tập họp trong mấy tờ báo, gióng lên tiếng nói cảnh báo về họa ngoại xâm, về sự tha hóa và băng hoại nhanh chóng của đạo đức xã hội, sự trỗi dậy ngang ngược của bọn cường hào mới, theo đó là sự bần cùng hóa của người dân. Những tên tuổi được chú ý như Lê Vĩnh Hòa, Lý Văn Sâm, Sơn Nam, Viễn Phương, Tân Đức, Dương Tử Giang, Vũ Bằng, Vũ Hạnh, Ngọc Linh, Truy Phong…. Trang Thế Hy với nhiều bút danh là một cây bút được nhiều người yêu mến. Có phải đó là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của ông?


- Những năm cuối 1950, ở Miền Nam là một thời kỳ đặc biệt. Đất nước vừa độc lập mà lại bị chia cắt. Lòng người đang ngổn ngang trong sự lựa chọn. Niềm hy vọng về một ngày mai thống nhất gợi lên trong thế hệ người viết dạo đó rất nhiều cảm hứng. Chế độ mới chưa ổn định cũng tạo cơ hội tự do -ngoài ý muốn - cho người viết thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, ý nguyện tạo dựng một xã hội có đời sống tốt đẹp cho mọi người. Một thời kỳ văn chương yêu nước nở rộ. Nhưng cũng chỉ được mấy năm. Khi Luật 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, thì tất cả đã xiết lại. Người viết phải chọn cách nói kín đáo hơn, cả việc lấy xưa nói nay, lấy ngoài nói trong. Năm 1962, do có người khai báo, tôi bị bắt. Nhờ đó có thêm vốn sống, để khi ra rừng viết được Anh Thơm râu rồng, kể chuyện vui về một người tù có khí phách, biết khôn ngoan lẩn tránh đòn hiểm của đối phương bằng cách tỏ ra sợ sệt khi ngón đòn đó anh lại chịu đựng dễ dàng.


- Nhiều người nhận xét, ông là nhà văn luôn tìm cái đẹp trong những con người bé nhỏ, cơ hàn, thậm chí lấm láp bụi trần, như cô gái bán thân trong "Thèm thơ", một đêm nào đó, tới đặt tác giả làm bài thơ kể chuyện thân phận mình, nhưng không dám trả tiền, vì: Em có tiền, nhưng tiền của em thì anh gớm lắm, em biết, và nhiều những con người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội mà vẫn giữ được chất ngọc tình người, hiểu được điều hay lẻ phải. Có phải ông đã thi vị hóa cái nghèo không? Hay ông là người chăm chút đi săn tìm những cái đẹp nhỏ nhoi bị bụi đời che khuất?


 


- Không phải, à nghen! Để tránh bị hiểu lầm, phải nói rõ, đó là những truyện viết từ những năm cuối 50 đầu 60 của thế kỷ trước, trong thành phố Sài Gòn đang bị thực dân hóa. Những người cùng đinh, nghèo khổ rất phổ biến. Nhưng chính đó là môi trường, là cánh rừng đại ngàn của lòng tốt, của sự hy sinh đã đùm bọc, chở che, nuôi giấu cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên khi bị kẻ địch săn đuổi, truy lùng, tìm diệt, ở khắp mọi nơi và cả trong thành phố. Từ ngày giải phóng, đất nước thay đổi thật nhiều, mà vẫn xảy ra bao cảnh ngạo ngược của tình đời. Trong chiến tranh tôi từng nghĩ và viết: Mai mốt nọ kia, thằng Mỹ nó về xứ là do máu xương công sức của số đông người lam lũ như cô, không phải nhờ một vài người giỏi chữ nghĩa đeo kiếng như tôi đâu… Thế mà đôi khi tôi tự bắt gặp mình đứng về phía nhân vật xấu của chính mình. Đó là điều quá ư đau xót đối với người cầm bút. Có lúc kể chuyện cười mà buồn, chuyện vui mà khóc. Truyện đầu tiên tôi viết sau giải phóng là Nợ nước mắt, ở đây nợ nước mắt phải trả bằng những trận cười. Có khi nó là lời bào chữa cho sự bội bạc đối với những cái gì mình đã lượm lặt, tích lũy, ôm ấp, nâng niu, nung nấu để quên đi! Cho nên đọc truyện của tôi như người ta ăn hột sen cả tim, nó nhân nhẩn, đăng đắng, ăn mất ngon nhưng nên thuốc. Đó là chất đắng bổ tim.


- Từ 1992, sau khi về hưu, nhớ đến lời khuyên từ bốn mươi năm trước của nghệ sĩ Tư Chơi, ông đã Đi chỗ khác chơi tức trở về quê cũ. Từ ngày ấy ông còn quan hệ gì với giới văn nghệ?


- Tôi không phải là người đi ở ẩn. Tôi thuộc tạng người: Như con cá thòi lòi, hễ ra khỏi hang là nhớ. Đúng với câu thơ: Giang hồ, ta chỉ giang hồ vặt/ Nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà. Nhưng bạn bè tứ phương về Bến Tre cũng có đôi người bớt chút thì giờ ghé thăm. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Vũ Giáng Hương, nhà văn Nguyễn Khải, thường xuyên hơn là Nguyễn Hồ, Nguyên Ngọc, Chim Trắng và nhiều bạn viết trẻ đến thăm. Tôi nhớ, có lần trò chuyện, nhà văn Nguyễn Đình Thi có tự nhận, ông là người lạc quan… buồn. Bởi trong thơ văn của ông, nhiều tác phẩm lớn, hào hùng, hoành tráng nhưng vẫn phảng phất nét buồn riêng của một người giàu suy tư, cả số phận chung của đất nước, dân tộc cũng như của bản thân. Mà ông nhận xét tôi là người buồn… lạc quan. Bởi nhiều truyện của tôi buồn là vì phần nhiều viết về những phận người nhỏ bé, nghèo khó mà cuộc đổi đời vẫn nằm trong hy vọng. Tôi cũng từng nói với ông Thi: Phải thay đổi cách nhìn về người nông dân Việt Nam, không thể hồn nhiên coi họ là người bạn, mà phải xác định cho đúng, họ là người ơn, vì điều đó có nguồn đạo lý sâu xa hơn tình bạn. Phải khẳng định như thế để khỏi trở thành những kẻ bội bạc, vong ân, miệng nhai cơm mà lòng hờ hững với người làm ra hạt gạo. Văn học ta vẫn còn nợ họ nhiều lắm.


 


- Mấy năm nay ông ít viết văn, nhưng vừa in tập thơ "Đắng và ngọt"?


 


- Không phải sau này tôi mới làm thơ. Nhưng mấy bài thơ bạn bè chọn in cho tôi hầu hết là mới, trừ bài Đắng và ngọt, vốn có tên là Cuộc đời đã được Phạm Duy phổ nhạc từ những năm 60 thế kỷ trước. Bạn đọc bài thơ này có sến không?


 


Bứt đứt sợi chỉ hồng (Lời một cô gái có người yêu là nhà thơ)


 


Hồi mình mới yêu nhau, cây kéo kiểm duyệt tạm trú trong đầu anh như khách không mời mà đến.


 


Chỉ thỉnh thoảng nó mới e dè cắt bỏ một vài bông hoa tư duy nhỏ nở ra trên trang viết của anh.


 


Nó ái ngại thấy anh ứa lệ nhìn những giọt nhựa tươi rỉ ra từ những cuống hoa bị cắt xén.


 


Từ ái ngại nó chuyển qua thương anh rồi tội nghiệp anh như một nhà thơ nhát gan.


 


Bây giờ cây kéo kiểm duyệt không phải là khách, nó có hộ khẩu thường trú trong trái tim anh.


 


 


Trước sự dửng dưng vô cảm của anh, nó cắt xén không thương tiếc những bông hoa cảm nghĩ của anh, kể cả những búp chưa kịp nở.


 


Nó lạnh lùng nhưng đôi khi cũng nói. Nó không nói anh nhát gan, nó nói anh hèn…


 


Không viết được nữa hay viết những điều làm nên phẩm chất quý giá của văn học, trước hết hãy tự hỏi mình: Có lạt lòng với lý tưởng cách mạng vì Dân, hay chỉ vì sự ấm êm, giàu có của bản thân, gia đình và phe nhóm mà phản bội lại những người đã hy sinh tất cả cho cách mạng. Lấy cớ nghèo, để thoát nghèo bằng mọi giá, người ta sẵn sàng làm mọi điều xằng bậy, thất đức, có khi tàn độc đến dã man. Nhưng bao giờ cũng có những con người ở tận cùng nghèo khó vẫn không cam phận sống hèn hạ, phản bội, bán rẻ nhân phẩm. Con người ta khi đã gắn bó quá chặt chẽ với đồng tiền rồi thì rất dễ quên đạo lý. Đó là thông lệ. Nhưng nâng nó thành định lý để bào chữa cho cách sông của ai đó thì trật.


 


Ngô Khắc Tài chen vào: - Văn chương Nam Bộ, người sáng tác nhiều, nhưng người làm lý luận phê bình ít. Đọc rồi khen chê nhau chỉ nói trực tiếp mà ít ai viết thành bài. Có thể do họ ít lý luận. Nên không mấy tác phẩm tạo được dư luận. Cả khi bị chê oan họ cũng làm thinh, ít khi phản ứng lại. Ông Tư Sâm đây là một trường hợp như vậy.


 


Trang Thế Hy: - Sê-khôp nói rồi nghe. Phụ nữ yêu văn chương ư? Họ yêu bản lĩnh người nào có nghị lực gây sự ồn ào trong văn chương. Tôi hoàn toàn không có bản lĩnh đó.


 


Ngụy Ngữ: - Tôi nhớ, năm 1959, ở ngoài quê Quảng Trị, cùng dăm thằng bạn học tiểu học, đêm đêm, qua đài, nghe đọc mấy truyện của Trang Thế Hy mà say sưa, ngây ngất. Tình quê, tình người sao có sức dẫn dụ mê hoặc lạ lùng. Cái chất Nam Bộ trong văn Trang Thế Hy nó bình dị mà có nét gì huyền ảo. Điều đó ít thấy trong văn học hôm nay.


 


Trang Thế Hy: - Không hoàn toàn thế đâu. Tôi đọc một số cây bút trẻ hiện nay cũng có những điều đáng phục lắm. Không nhiều, nhưng có những cây bút đáng nể, đáng sợ. Vẫn có những bạn trẻ viết tinh tế từng ý, tứ, câu, chữ. Đó là điều không phải người viết nào cũng chú ý đúng mức. Mỗi thế hệ cũng như từng nhà văn, giỏi lắm cũng chỉ làm tốt vài chức phận xã hội bằng một số tác phẩm nào đó mà thôi. Nhưng phàm đã là nhà văn thì đều phải chung vai gánh vác một sứ mệnh chung là góp sức làm giàu ngôn ngữ của dân tộc, giàu từ, giàu ngữ, giàu sức chất chứa, đong đựng trong từng tác phẩm của mình bằng một phương tiện duy nhất là ngôn ngữ. Một nền văn chương muốn được người ta tôn trọng trước hết người viết văn phải tự tôn trọng nghề của mình, người chỉ có một tài sản duy nhất để đóng góp cho đời, đó là ngôn ngữ. Tác giả Nobel Cao Hành Kiện nói: Ngôn ngữ là kết tinh thượng thừa của văn minh loài người. Người viết văn đừng bao giờ quên một sứ mệnh của mình là làm đẹp, làm giàu ngôn ngữ dân tộc trong từng tác phẩm cụ thể. Đó cũng là cách góp sức làm giàu vốn văn hóa loài người. Hãy nhớ câu nói về Kinh Thánh: Kẻ phản Chúa là kẻ ở gần Chúa nhất. Phải sống nhiều năm tháng mới thấy đó là chân lý. Trong sự sa sút vị trí xã hội của văn chương hôm nay, trước hết hãy xem lại đội ngũ những người làm văn.


 


Trời ngả sang chiều. Cơn gió chướng non thổi qua vườn dừa xao xác làm cho gian nhà trống mát rượi. Ông báo một tin không biết nên vui hay nên buồn: Tới đây một con đường lớn sẽ được mở qua cửa nhà ông. Người ta cắt vườn nhà ông 500 mét vuông đất thành phố mà không đền bù. Lý do là nhờ con đường mà đất nhà ông sẽ có giá hơn. Trời ơi! Đây là đất ở, ông có bán mua gì đâu mà đắt với rẻ. Nhưng gần đất xa trời rồi, từng thấy bao chuyện lạ đời, thêm một chuyện này cũng đâu có nhằm nhò gì. Chuyện dài suốt buổi làm ông hơi mệt, phải qua nằm võng. Cơn gió chướng cấn mạnh lên như muốn tiễn khách.


 


Không dấu là Cụ già răng móm, phát âm khó nghe, lại đặc tiếng Nam Bộ, không chỉ cách phát âm mà nhiều từ mới nghe lần đầu, mấy lần phải hỏi lại, có lúc cũng không dám hỏi, thế nên có thể có chỗ ghi không chuẩn lời, không đúng ý, xin nhà văn Trang Thế Hy, báu vật sống của vườn văn Nam Bộ lượng thứ. Ừ nhỉ, sao danh hiệu này chỉ giành cho các nghệ nhân dân gian mà không tặng cho Nhà văn cao tuổi? Ước gì có một phép lạ nào đó, nhân việc lấy đất làm đường, những người có trách nhiệm ở một miền đất giàu truyền thống văn hóa dựng cho ông một ngôi nhà tử tế để Bến Tre có thêm một địa chỉ văn hóa bền vững?


 


Ngô Thảo


 


 


 Nhà văn Trang Thế Hy và vẻ đẹp tài tử của con người Nam bộ


Bài của Võ Tấn Cường


Người ta gọi nhà văn Trang Thế Hy với nhiều cách gọi khác nhau. Nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là Người Hiền của văn chương Nam Bộ. Tiến sĩ văn học Phạm Quang Trung thì gọi Trang Thế Hy là Kỳ Lão. Thế hệ hậu sinh chúng tôi gọi ông bằng cách gọi dân giã và thân mật: Bác Tư Sâm. Những lần ghé thăm ông tại căn nhà nhỏ giữa khu vườn dừa yên tĩnh ở ấp 1, xã Hữu Đạo, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, tôi đều cảm nhận được phong cách thâm trầm, hóm hỉnh và uyên thâm của một nhà văn miệt vườn Nam Bộ. Không chỉ có thế, tôi còn cảm nhận sự giản dị, gần gũi trong phong cách của ông và sự mới mẻ, độc đáo trong cách cảm, cách nghĩ của một người sống trải nghiệm với bao thăng trầm của cuộc đời.


 


Trò chuyện cùng nhà văn Trang Thế Hy, những người sáng tác thường cảm thấy rất thú vị. Ông chỉ nói những gì ông đã chiêm nghiệm, ấp ủ chín mùi nên những điều ông chia sẻ thường sâu sắc, ý vị và mang ý nghĩa nhân sinh. Trang Thế Hy cho rằng ông không có năng khiếu về học thuật, lý luận. Tuy vậy, theo ông, người sáng tác cần trang bị cho mình hệ thống lý luận về văn học, nhân sinh và cần tự chiêm nghiệm, đúc kết những kinh nghiệm sáng tác cho bản thân. Gương mặt, dáng dấp của Trang Thế Hy giống nhà hiền triết nhưng giọng nói của ông lại ấm áp và mê đắm giống người nghệ sĩ kể chuyện dân gian. Vốn văn hóa Pháp uyên thâm cộng với sự tích luỹ và chắt lọc tinh hoa văn hóa Việt Nam, sự chiêm nghiệm về thân phận con người và lao động nghệ thuật nghiêm túc đã tạo nên tâm hồn, tư tưởng và giá trị nghệ thuật độc đáo trong các truyện ngắn của Trang Thế Hy.


 


Kể từ năm 1992, nhà văn Trang Thế Hy rời Thành phố Hồ Chí Minh về sống ẩn cư tại quê nhà. Ông từng nói nửa thật nửa đùa rằng hành động của mình là để “đi chỗ khác chơi” chứ không phải muốn sống ẩn dật như một số người đã viết về ông như vậy. Nhiều khi tôi ngẫm nghĩ, có lẽ nhà văn Trang Thế Hy đã ẩn cư trong chính thế giới nội tâm của mình và sống hòa nhập trong thế giới nhân vật, trong các truyện ngắn, hồi ức của ông. Nhà văn Trang Thế Hy đã đi thực tế trong chính nội tâm của ông để khám phá sự bí ẩn và vẻ đẹp nghệ sĩ trong tâm hồn của những con người vô danh, bé nhỏ.


 


Hơn nửa thế kỷ sáng tạo, nhà văn Trang Thế Hy chỉ viết khoảng gần 50 truyện ngắn và gần 10 bài thơ. Ông bảo rằng ông trung thành với thể loại truyện ngắn. Trong cuộc đời sáng tác, ông không có ý định làm tuyển tập, toàn tập lại càng không có ý định làm. Tôi hiểu ông tin vào phép thử của thời gian và sự đánh giá công tâm của bạn đọc. Nhiều truyện ngắn của ông được in trong các tuyển tập và được đánh giá là những truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Điều này cho thấy sức hấp dẫn và sức sống của truyện ngắn của Trang Thế Hy đối với thời gian và tâm hồn con người.


 


Trang Thế Hy cho rằng: “Con người Việt Nam vốn đa cảm. Sự đa cảm này khiến tâm hồn con người giống với tâm hồn của nghệ sĩ…”. Trang Thế Hy luôn phát hiện và nâng niu vẻ đẹp của tâm hồn của những con người bình thường trong cuộc sống. Dù nhân vật của ông chỉ là những người vô danh hay là người nghệ sĩ thì tính cách và tâm hồn của họ đều toát lên cái đẹp, phẩm chất của một nghệ sĩ. Trong truyện ngắn: “Thèm thơ”, Trang Thế hy đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn tinh khiết của một cô gái bán hoa. Sống giữa thế giới bùn nhơ nhưng cô gái vẫn thèm nghe đọc thơ để thanh lọc tâm hồn. Truyện ngắn: “Thèm thơ” có sức tác động mạnh mẽ đến cảm xúc thẩm mỹ của người đọc và giúp người đọc nhận ra sự lay động, thức tỉnh kỳ diệu của thơ ca đối với thế giới nội tâm của con người. Truyện ngắn: “Rác và hoa” của Trang Thế Hy hàm chứa ẩn ý về sự tương phản giữa vẻ đẹp nhân cách của con người. Con người trở thành “rác” hay “hoa” chính là do nhân cách sống của mỗi người được biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày. Trang Thế Hy không triết lý về cái đẹp nhưng qua chi tiết nhân vật cô gái quét rác biết nâng niu cái đẹp nhỏ nhoi, nhà văn đã bộc lộ cái nhìn và quan điểm của mình đối với việc cần gìn giữ, nâng niu cái đẹp bình dị của cuộc sống.


 


Truyện ngắn: “Tiếng hát và tiếng khóc” của Trang Thế Hy là tác phẩm tiêu biểu bộc lộ quan niệm của ông về mối quan hệ giữa nghệ thuật và nhân sinh. Qua lời đối thoại giữa nhân vật bà bán thuốc là và họa sĩ, nhà văn Trang Thế hy đã gián tiếp thể hiện quan niệm của mình về nghệ thuật: “Người nghệ sĩ phải biết lắng nghe và cảm nhận được những sắc thái, cung bậc tình cảm của con người. Nếu không thì người nghệ sĩ sẽ làm khổ chính mình bằng sự bất tài của mình…”


 


Phát hiện vẻ đẹp tài tử trong tâm hồn của mỗi con người, nhà văn Trang Thế Hy đã khắc họa và tôn vinh cái đẹp giản dị và đáng qúi như những viên ngọc lấm láp cát bụi giữa cuộc đời.


 


Thơ của Trang Thế Hy chủ yếu viết theo thể thơ tự do, câu thơ giàu tính triết luận và tư duy thơ vạm vỡ, khỏe khoắn. Trang Thế Hy thường đưa một vài yếu tố của cốt truyện vào trong bài thơ tạo nên tính đối thoại giữa chủ thể trữ tình và các yếu tố trữ tình. Trang Thế Hy mê thơ của thi hào Tagore và ông đã từng dịch một số bài thơ của Tagore nên tư duy thơ của ông phảng phất tư duy thơ vũ trụ của Tagore. Tính triết lý nhân sinh và phong cách thơ thâm trầm, sâu sắc đã tạo nên sức hấp dẫn của thơ Trang Thế Hy đối với người đọc.


 


Trong bài thơ: “Lời nói dối nhân ái”, Trang Thế Hy viết:


 


”Gió nói với chiếc lá:


Đừng buồn


Cái đẹp nào cũng phù du


 


Vì chỉ có cái phù du mới đẹp…


 


Lá biết gió nói dối nhưng lá vẫn vui vẻ bay vèo theo gió…


 


Tiếc thay, những lời nói dối ta phải nghe hàng ngày


 


Lại là những lời nói dối không nhân ái!”


 


Bài thơ vừa mang tính đúc kết, chiêm nghiệm về sự đối nhân xử thế trong cuộc sống vừa mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc.


 


Hơn nửa thế kỷ sáng tác, nhà văn Trang Thế Hy đã tạo được “thương hiệu” và phong cách độc đáo của truyện ngắn Trang Thế Hy. Âm thầm sáng tạo, xa lánh mọi bon chen, cám dỗ của danh lợi, Trang Thế Hy góp công lớn trong việc tiếp thêm sức sống và tạo nên sự dung chứa kỳ diệu của thể loại truyện ngắn đối với hiện thực cuộc sống và sự bí ẩn của tâm hồn, tính cách con người.


 


Bến Tre- Mỹ Tho, tháng 12-2008.


VTC.


           


Trang Thế Hy giữa đắng và ngọt


Bài của Hà Đình Nguyên


Tôi đã từng được gặp nhà văn Trang Thế Hy vài lần ở đám giỗ nhà văn Sơn Nam (Tiền Giang) hoặc ở tư gia của ông (Bến Tre), có cảm giác nhà văn rất kiệm lời.


Nhà văn biết cách im lặng


Những lần gặp ông trong đám giỗ nhà văn Sơn Nam, tôi thường thấy chú Tư Sâm (tức nhà văn Trang Thế Hy) ngồi cùng bàn với nhà thơ Kiên Giang và “anh Năm” Nguyễn Quang Sáng. Anh Năm thua chú Tư Sâm gần 10 tuổi cộng với ngoại hình thấp đậm, da dẻ hồng hào nên trông có vẻ tráng kiện hơn. Chú Tư thân hình gầy đét, đi đứng phải có người dìu… Vậy mà, anh Năm “đi” trước…


Sau nhiều ngày tháng chuẩn bị, NXB Trẻ tình cờ chọn ngày 20.7.2014 để làm lễ “ký kết tác quyền trọn đời” với nhà văn Trang Thế Hy (90 tuổi). Khi chúng tôi cùng đoàn của NXB Trẻ đến tư gia của ông (khu phố 1, P.Phú Tân, TP.Bến Tre) thì đã thấy họa sĩ Lê Triều Điển và vợ ông (nhà thơ - họa sĩ Phạm Thị Quý), các nhà thơ: Ý Nhi, Trần Hữu Dũng, Lynh Bacardi, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tiến Văn, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, họa sĩ Vũ Hà Nam… đang quây quần ở đó. Lại nghe nhà văn Cao Xuân Sơn đang cùng đoàn NXB Kim Đồng trên đường xuống đây. Sao cụ già 90 tuổi này có sức hấp dẫn đến vậy?


Nhớ hôm gặp ông Tư Sâm lần trước, ông ngồi bần thần nhìn ra vuông sân nhỏ, nơi có những con chim sẻ vụt sà xuống, nhảy nhót rồi bay đi. Ông nói: “Nhiều khi mơ ước được như mấy con chim nhỏ bé kia, mà cũng không được…”. Nghe ông nói mà cám cảnh, hiểu được thế nào là giai đoạn “lực bất tòng tâm”. Vậy mà, sáng ngày 20.7 ấy, ông rất vui, chuyện vãn rất sôi nổi, và… đọc thơ tiếng Pháp ro ro. Một đồng nghiệp hỏi (để thử) chú có quan tâm đến những tài năng văn học hiện nay. Ông trầm ngâm giây lát rồi nói: “Gần đây có Nguyễn Ngọc Tư gọi tóc là “những sợi máu khô”, tôi cho đó là tài năng...”. Rồi ông đọc thơ của Bùi Giáng (sợ chúng tôi ghi không kịp, ông đọc chậm và nhắc chừng “xuống hàng”): “Con chim thì ta biết nó bay (xuống hàng). Con cá thì ta biết nó lội (xuống hàng). Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ (xuống hàng). Còn thơ là gì, ấy là điều ta không biết!”. Ông Tư Sâm còn trích dẫn câu danh ngôn (của một vị thánh Hồi giáo): “Con người chỉ mất hai năm để học nói nhưng phải mất đến hơn sáu mươi năm để học cách im lặng”, và giải thích thêm: “Học cách im lặng không phải là suốt đời im lặng. Học cách im lặng là để biết khi nào không thể im lặng”. Quả là một nhà văn rất kiệm lời của những lần gặp trước tan vèo đâu mất, trước mặt tôi bây giờ là một nhà hiền triết với những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời.


Từ Đắng và ngọt đến Quán bên đường


Trước năm 1975, chúng tôi thường nghêu ngao một ca khúc phổ từ thơ khá nổi tiếng là bài Quán bên đường của Phạm Duy. Bài hát nhanh chóng phổ biến bởi có những ca từ rất lạ, rất bình dân: “Ngày xưa... ngày xửa... ngày xưa. Chiều mơ chiều nắng đẹp khoe màu tơ. Hai đứa mình còn trẻ thơ. Rủ nhau ngồi ngưỡng cửa chơi thẩn thơ... Em cầm một củ khoai, ghé răng cạp vỏ rơi, xong rồi mình chia đôi. Khoai sùng này lượm mót, sao ngọt lại ngọt ghê!... Nhà em phải chăng là đây? Dè đâu chẳng may là quán. Em bẹo hình hài đem bán... Rồi em hỏi anh: làm chi? Cầm bút để viết ngày đêm, viết gì? Đời thối phải nói là thơm. Ngòi bút là chiếc cần câu nồi cơm. Em hỏi nghệ thuật là chi? Là đui, là điếc, là câm mà đi...”.


Phần nhạc thì đã có tác giả rõ ràng nhưng tác giả của phần thơ lại ghi là “khuyết danh”. Sau này, có nhiều người xì xầm rằng tác giả bài thơ là nhà văn Bình Nguyên Lộc, người khác bảo của Minh Phẩm, lại có nhiều ý kiến cho rằng của Trang Thế Hy. Tuy nhiên, sau khi thẩm định lại từ các nguồn tư liệu, giờ đây có thể khẳng định đó là bài thơ Đắng và ngọt của tác giả Minh Phẩm. Trong sự nghiệp 60 năm sáng tác của mình, Trang Thế Hy đã sử dụng gần 10 bút danh, trong đó có những bút danh chỉ dùng một lần, như trường hợp bút danh Song Diệp ở bài thơ Thanh gươm tháng Tám và Minh Phẩm ở bài thơ Đắng và ngọt.


Về bài thơ sau, tác giả bộc bạch: “Tháng 9.1959, người chủ biên tuần báo Vui sống (Sài Gòn), nhà văn Bình Nguyên Lộc, khi duyệt bài vở cho tờ báo số 9, đã góp ý với cộng tác viên Minh Phẩm - người nộp bài thơ Đắng và ngọt, rằng cái vị của cuộc đời này nó đa dạng và phức hợp lắm chứ không đơn giản như sự nhu hiền đồng thuận tạo hài hòa hay ngạo mạn đương đầu gây đối nghịch giữa hai cái vị đắng và ngọt”. Vậy rồi, Bình Nguyên Lộc sửa cái tựa từ Đắng và ngọt thành Cuộc đời. Sau đó, Bình Nguyên Lộc lại trao bài thơ cho Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc Quán bên đường. Lúc này Trang Thế Hy (Minh Phẩm) đã vào vùng kháng chiến, Phạm Duy sợ bản nhạc bị kiểm duyệt, không cho phát hành nên để tên tác giả thơ là “khuyết danh”. Tuy nhiên, hiện nay ở một số trang mạng chuyên về ca nhạc, có nơi vẫn để Quán bên đường, nhạc Phạm Duy, thơ Bình Nguyên Lộc…


Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh năm 1924 tại Hữu Định, Châu Thành (Bến Tre). Ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau 1954, ông ở lại Nam bộ hoạt động văn hóa.


Ông từng bị chính quyền VNCH bắt giam năm 1962, sau đó ông thoát ly vào vùng kháng chiến... Cuộc đời dịch chuyển như vậy nên tác phẩm của ông bị thất thoát khá nhiều. Theo thống kê chưa đầy đủ của gia đình thì ông có khoảng 65 truyện ngắn, khoảng 20 bài thơ và 2 tiểu thuyết (Hoa tình chỉ nở một lần, Nét buồn bạc mệnh).


NXB Trẻ đã và đang nỗ lực tiến hành tìm kiếm các bản thảo của ông, sắp tới sẽ giới thiệu 5 tập sách, 35 tác phẩm của ông (dưới dạng sách điện tử, sách in giấy). Dự kiến vào tháng 10.2014 (nhân sinh nhật 90 tuổi của ông) sẽ phát hành đợt sách (giấy) đầu tiên gồm những tác phẩm đặc sắc của ông: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Anh Thơm râu rồng (Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam 1960 - 1965), Mưa ấm (tập truyện ngắn 1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (tập truyện 1989), Tiếng khóc và tiếng hát (tặng thưởng của Hội Nhà văn VN 1994), Nợ nước mắt (tập truyện ngắn - tặng thưởng loại A của Ủy ban Toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, 2001)...


 


HĐN.


 


Tác phẩm của Trang Thế Hy: 'Vàng mười' của văn học Nam bộ


Bài của Trần Hoàng Nhân


Lễ ký kết tác quyền trọn đời giữa NXB Trẻ và nhà văn Trang Thế Hy đã diễn ra hôm 20/7/2014 tại nhà riêng của ông ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành, TP Bến Tre. Tất cả các tác phẩm của Trang Thế Hy sẽ do NXB Trẻ độc quyền khai thác.


Như vậy, cho đến nay, NXB Trẻ đã ký kết tác quyền trọn đời toàn bộ tác phẩm với hai nhà văn (trước đó là nhà văn Sơn Nam).


 


Lâu nay, việc mua tác quyền trọn đời của các nhà văn, nhạc sĩ đã được nhiều đơn vị xuất bản văn hóa tiến hành. Tùy vào từng điều kiện khác nhau, mà các đơn vị này có thể mua toàn bộ các tác phẩm của một tác giả hay chỉ mua một hoặc vài tác phẩm cụ thể. Ví dụ, trước đây Công ty Văn hóa Phương Nam độc quyền khai thác các tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy dưới các hình thức từ in ấn đến biểu diễn. Gần đây, Công ty Cổ phần dịch vụ Phú Nhuận (TP.HCM) đã mua tác quyền bài thơ Ở hai đầu nỗi nhớ của nhà thơ Trần Đình Chính.


 


Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, cho biết: “NXB Trẻ ký tác quyền trọn đời với rất nhiều nhà văn, nhưng chúng tôi chỉ chọn lọc một số tác phẩm chứ không ký toàn bộ. Với nhà văn Trang Thế Hy, tất cả các tác phẩm của ông từ thơ đến văn xuôi đều được NXB Trẻ ký trọn đời như trước đây đã làm với nhà văn Sơn Nam”.


Khi phóng viên TT&VH, thắc mắc: “Ở ta có rất nhiều nhà văn lớn tầm cỡ như Sơn Nam, Trang Thế Hy, nhưng tại sao NXB Trẻ chỉ ký toàn bộ tác phẩm trọn đời với hai nhà văn này?”. Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, giải thích: “NXB Trẻ thuộc Thành Đoàn TP.HCM, lại là đơn vị đóng ở miền Nam nên chúng tôi luôn quan tâm gìn giữ và phát huy giá trị của những tác phẩm văn học Nam bộ. Nhà văn Sơn Nam và Trang Thế Hy là hai cây đại thụ của văn học Nam bộ nên rất phù hợp với các tiêu chí của chúng tôi. Có thể nói, văn chương của nhà văn Trang Thế Hy là “vàng mười” của văn học Nam bộ đáng để chúng ta giữ gìn”.


 


Bắt đầu phát hành vào dịp thượng thọ 90


Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, ông sinh ngày 9/10/1924 tại Bến Tre. Như vậy, vào tháng 10 tới đây, nhà văn sinh nhật lần thứ 90. Được biết, nhân dịp này, Hội Văn nghệ tỉnh Bến Tre và gia đình sẽ làm lễ mừng thượng thọ của ông tại ngôi nhà mà ông đã ở sau khi “đi chỗ khác chơi” như cách nói của ông. Trước khi về quê sống từ năm 1992 đến nay, nhà văn Trang Thế Hy từng làm việc ở Hội Nhà văn TP.HCM. Tuổi trẻ của ông trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.


 


Những ai từng đến nơi ở của nhà văn Trang Thế Hy tại Bến Tre đều thấy rằng, hình như ngôi nhà này từ rất lâu chưa được sửa sang gì. Mới đây, con đường đất nhỏ trước nhà được mở rộng và tráng nhựa, xe cộ đi lại nhiều và ồn ào hơn. Ở tuổi 90 sức yếu không chịu được tiếng ồn, nên số tiền tác quyền được NXB Trẻ trao hôm 20/7 sẽ được con cháu nhà văn dùng vào việc sửa sang để ngôi nhà trở lên thoáng mát và cách ly tiếng ồn cho nhà văn nghỉ dưỡng.


Ngoài số tiền khá lớn được NXB Trẻ trao cho nhà văn Trang Thế Hy đợt này, hợp đồng ký kết còn ghi rõ: Gia đình nhà văn sẽ tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của nhà văn Trang Thế Hy do NXB Trẻ xuất bản, sau khi nhà văn qua đời.


Dự kiến, những tác phẩm đặc sắc sau khi ký tác quyền trọn đời với nhà văn Trang Thế Hy sẽ được NXB Trẻ ấn hành nhân dịp thượng thọ 90 tuổi của ông.


 


THN.


 


Nhà văn Trang Thế Hy: Hạnh phúc trả bằng đau khổ



Bài của Trần Hữu Dũng


Lần này đoàn chúng tôi xuống Bến Tre thăm “cây cổ thụ của văn học Nam Bộ” với chút bùi ngùi, lo lắng vì ông bước vào tuổi 90. Thân thể gầy gò, đôi mắt sáng cương trực, nhà văn Trang Thế Hy bảo: “Ăn ít lắm, chia ra nhiều bữa…”. So với bức chân dung sơn dầu họa sĩ Nguyễn Trung vẽ ông treo ở phòng khách, chỉ còn giọng nói và tiếng cười mang nhiều âm sắc mạnh mẽ cuộc sống. Ông lặng lẽ tiếp khách, làm tròn vai trò người chủ nhà dù hơi thở dồn, đứt quãng do chứng phổi tắc nghẽn. Người cháu ngoại phải bồng ông ngồi vào bàn vì không còn đi lại quanh quẩn trong nhà được nữa. Con đường mới phóng sát gần cửa nhà, ăn mất đi mảnh vườn trồng ổi, chuối. Sau nhà là vườn dừa, gió lồng lộng thổi.


Hơn 22 năm ông rời căn phòng lầu hai số 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (TP.HCM) về lại quê nhà huyện Châu Thành, Bến Tre với lời chào ngắn gọn: “Tôi đi chỗ khác chơi…”. Đó là câu nói của người nghệ sĩ Tư Chơi trong truyện ngắn Chút hào quang từ mảnh vỡ của một ngôi sao buồn của Trang Thế Hy. Ông Tư Chơi dặn dò nhà văn trẻ: “Nếu như mày nổi tiếng - biết đâu chừng mậy, cuộc đời khắc nghiệt này lâu lâu cũng chơi cái trò tặng phẩm bất ngờ - nếu như con nổi tiếng, con phải nghe lời chú Tư nghe con, là khi nào biết mình viết hết được rồi thì phải đi chỗ khác chơi, đừng bẹo hình bẹo dạng ở nơi trường văn trận bút…”. Ghê thật, nhà văn, nhân vật gắn bó với nhau trong trang sách tới cả ngoài đời thật!


 


Trang Thế Hy chỉ nói những gì ông đã chiêm nghiệm, ấp ủ chín muồi.


Nhiều người gọi ông là “hiền nhân đất phương Nam”, chính vì thế mà biết bao nhà văn, nhà nghiên cứu, bạn đọc ở Hà Nội, TP.HCM, nước ngoài, cùng các đoàn làm phim HTV, VTV… đến thăm, quay phim dựng nên chân dung ông. Tôi nhớ ngày 29-10-2004, UBND tỉnh Bến Tre chúc mừng ông nhân lễ mừng thượng thọ 80 tuổi nhà văn Trang Thế Hy bằng hai câu: “Vầng nguyệt bên sông mượt mà Văn phụng mỹ/ Trang đời cõi thế rạng rỡ Bút hy chi”.


Ông luôn gắn bó với các cây bút trẻ như Lý Lan, Thanh Nguyên, Trầm Hương… từ những ngày ở thành phố. Các buổi dùng cơm tại nhà ông, qua các câu chuyện kể về nghề văn luôn là những bài học kín đáo mà nhà văn Trang Thế Hy muốn gửi gắm cho thế hệ sau. Anh Tư Lê - con ông nói: “Nguyễn Ngọc Tư hay ghé thăm ông già, có khi nói chuyện đến thâu đêm suốt sáng…”.


Nhà thơ Ý Nhi gọi nhà văn Trang Thế Hy là “niềm hạnh phúc được trả bằng rất nhiều đau khổ” đúng hệt theo cái định nghĩa về hạnh phúc trong truyện ngắn Một nghệ sĩ của ông: “Gặp hạnh phúc là người nào trong tuổi già vẫn còn giữ được nguyên vẹn tình yêu của mình đối với cái gì mình đã yêu thương từ thuở ấu thơ. Niềm hạnh phúc đó, đương nhiên là phải được trả giá bằng rất nhiều đau khổ”.


Khoảng 10 năm trước ông còn khỏe, lúc nào đoàn thành phố ghé thăm, nhà văn Trang Thế Hy vẫn quây quần trò chuyện xôm tụ bên chái nhà tôn. Ông hay nói về Lỗ Tấn, Hemingway, Gorky, Dostoievsky, Tolstoy, Stefan Zweig, Nguyễn Đình Chiểu… và đọc thơ tình yêu của Tagore. Lạ là ông hát nhạc Pháp hòa nhịp theo giọng của cô đào Pháp qua chiếc máy hát cũ mèm. Đó là lúc tôi bắt gặp đôi mắt ông sáng rực niềm vui long lanh, khoái cảm tuyệt vời!


Ông thích rượu whisky, hút thuốc lá Pall Mall nhưng rất ghét ai “thắc mắc” về các nhân vật trong các truyện ngắn ông viết. Có lần ông nói thẳng: “Đâu có gì đáng nói…”.


Mỗi người nhớ đến nhà văn Trang Thế Hy theo cách riêng mình, tôi tải lên Facebook mấy tấm ảnh chuyến đi Bến Tre thăm ông, nhà thơ Vương Ngọc Minh bên Mỹ cảm thán: “Ông Hy già quá…”. Còn vợ chồng họa sĩ Lê Triều Điển lại nhớ đến câu hát trong bài Quán bên đường, thơ Trang Thế Hy, nhạc Phạm Duy: “Rồi em hỏi anh làm chi?/ Cầm bút để viết ngày đêm, anh viết gì…/ Em hỏi nghệ thuật là chi?/ …/ Nhìn nhau lặng lẽ nhìn nhau/ Nào có ai đánh mà sao lòng đau”.


 


Trần Hữu Dũng


 


 Nhà Văn Trang Thế Hy: Bình thản hồn nhiên


 


Bài của Minh Nguyễn


 


1. Năm 1992, ông rời chốn đông vui giữa trung tâm Sài Gòn náo nhiệt, ai hỏi ông đều nói “đi chỗ khác chơi”. Chỗ khác đó là trở về ngôi nhà nhỏ xíu, liêu xiêu ven con lộ nhỏ bên bờ kinh đầy những cành mua tím. Ngôi nhà nép dưới tán dừa mới trồng lại sau chiến tranh trong vuông vườn nho nhỏ. Ở nơi đó, những tưởng ông quên đi nỗi nhọc nhằn chữ nghĩa, những ám ảnh văn chương. Nhưng ngược lại, ông chẳng hờ hững chút nào với những sự kiện nổi bật của văn đàn, những sự kiện văn hoá, những nỗi buồn thế sự cả trong nước và thế giới. Sự kiện nào ông cũng rành rẻ, tường minh gốc rễ của nó.


 


Ông thân thiết với Nguyễn Ngọc Tư từ cung cách dung dị trong cuộc sống đến những điều quái lạ trong văn chương của cô gái Nam bộ ấy. Đọc và nhớ đến chi ly từng chi tiết, tình tiết trong câu chữ và tính cách nhân vật của Tư. Ông nhớ hoài hình ảnh lục bình trong ao - Nguyễn Ngọc Tư gọi là bị nhốt - mà vẫn trổ bông trong một tản văn đăng trên báo, truyện ngắn Cải cho tới tiểu thuyết Sông. Đọc Cánh đồng bất tận, ông nói “Tư viết thấy ghê” - tính chất dữ dội của câu chuyện và ngôn ngữ sắc lạnh của Nguyễn Ngọc Tư.  Ông nói thêm: Văn Tư đa chiều và đa nghĩa nên không phải dễ đọc.


 


Có một lần, trong câu chuyện với nhà văn Nguyên Ngọc chung quanh “Cánh đồng bất tận” bị phê phán nặng nề về quan điểm sáng tác, ông buồn chảy nước mắt. Không phải mủi lòng vì sợ Tư không chịu đựng nổi mà vì trong số những người nhân danh chân lý ấy có một nhà thơ Nam bộ thuộc hàng cha chú của Nguyễn Ngọc Tư mà ông từng yêu mến. Nỗi đau đó đeo đẵng ông.


 


Còn với Alice Munro, Nobel văn chương 2013, ông có nhận xét thú vị: Bà này rất ngộ. Nhân vật của bà toàn là những thân phận nhỏ nhoi. Chi tiết của bà cũng nho nhỏ từ cuộc sống thực trong mối quan hệ gia đình. Hơi dài dòng nhưng văn bà không có câu nào dở. Câu nào cũng hai ba tầng nghĩa.Truyện ngắn Thị trấn trên đường đi là một ví dụ. Trong đó ông nhắc tới đoạn đối thoại với một câu trả lời chung của hai người khi cả hai vợ chồng đều lao xuống hồ để cứu hai đứa con nhỏ sắp chết đuối. Người vợ hỏi chồng: Tại sao anh làm vậy? Tôi không biết - Người chồng trả lời. Người chồng cũng hỏi vợ câu hỏi đó, bà ta cũng trả lời y chang: Tôi không biết. Tưởng đâu là lẩm cẩm nhưng thật là ý nhị. Trên đời này có ai lý giải được tình yêu thiêng liêng đâu. Người ta có thể chết cho người thân của mình được sống.


 


Ở nơi xa vắng đó, dù không có sáng tác nào mới, nhưng ông vẫn quan sát  cuộc sống mỗi ngày. Sự kiện nào với ông cũng là một liên hệ gắn bó, một chiêm nghiệm.


 


 


2. Trang Thế Hy nặng nợ với văn - chương - chữ - nghĩa từ giữa cuối những năm năm mươi thế kỷ trước. Ông viết không nhiều, hơn 50 truyện ngắn, vài chục bài thơ. Bài thơ “Đắng và Ngọt” của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa “Quán bên đường”. Ông cũng viết tiểu thuyết dưới hình thức feuilletons trên báo. Trang Thế Hy say mê thơ Tagore, ông là một trong số ít người dịch thành công những tác phẩm của thi hào vĩ đại này. Với những gì còn lại và đã công bố trong những  tập truyện ngắn (Nắng đẹp miền quê ngoại, Mưa ấm, Người yêu mùa thu, Vết thương thứ mười ba, Nợ nước mắt) cho thấy Trang Thế Hy đã chọn cho mình cõi riêng, một mình một phong cách, vừa nghiêm cẩn, vừa sâu lắng, sang trọng. Ông hiện lên trên các trang viết sự tinh tường, thấu hiểu và điềm tĩnh trước cuộc sống, trước thân phận con người.


 


Năn 2007, hơn 40 năm sau ông mới có dịp trở lại Củ Chi, nơi đã tôi luyện nhân cách và phong cách văn ông. Ông từng nhiều lần nói vậy. Màu xanh của mảnh đất này không làm ông nguôi ngoai nỗi buồn. Tất cả những người quen cũ của ông đều không ai trở về sau cuộc chiến.  Năm 1966, chiến tranh vào thời kỳ ác liệt nhất, trên đường từ “R” xuống chiến trường Củ Chi, ông đi qua nơi các đơn vị bộ đội đóng quân, chuẩn bị cho những đợt xuất kích, hàng huyệt mộ được đào sẵn, nhìn những hạt bụi bay mù trời, ông rùng mình và tưởng tượng, biết đâu, trong những huyệt mộ ấy có cái dành sẵn cho mình. Cái bi thảm và tàn khốc của chiến tranh, sự nhỏ nhoi của con người đó mở đầu truyện ngắn Hạt bụi (bản thảo đã mất), sau này thành truyện Anh Thơm râu rồng. Nhiều ý kiến của lãnh đạo, thậm chí là một số nhà văn từ Bắc vào, nghi ngại quan điểm sáng tác của ông. Từ cái nhìn chiến tranh như vậy, ông đọc Nỗi buồn chiến tranh với một tâm thế sẻ chia. Vài ba lần  Bảo Ninh từ Hà Nội vào tìm ông, đến lần thứ ba mới có cuộc tri ngộ giữa hai người. Trong câu chuyện với Bảo Ninh, ông vẫn bày tỏ day dứt về Số phận con người của Sôlôkhôp. Một tác phẩm mà mỗi lần đọc nó, người ta luôn cảm thấy ám ảnh, khó dứt ra khỏi hình ảnh của hai con người xa lạ - hai cha con - Andrey Sokolov và chú bé mồ côi Vania nương tựa vào nhau.


 


Ông đọc Nguyễn Huy Thiệp từ những tác phẩm đầu tiên, và dõi theo sự xuất hiện của anh nhiều năm sau. Một lần cùng nhà thơ Nguyễn Duy gặp Nguyễn Huy Thiệp, dù chỉ 15 phút sơ giao, nhưng họ vẫn kịp trao cho nhau cảm xúc về lòng tự trọng nghề nghiệp. Đối với Trang Thế Hy,  nhân cách sống của con người và nhân cách văn chương là một. Ông nghĩ  Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư, dù ở hai đầu đất nước, phong cách văn khác nhau nhưng đều là người như vậy.


 


 


3. Con đường dẫn vào nhà ông giờ được mở rộng và trải nhựa. Ông hiến tặng 500 mét vuông đất cho dự án này. Con đường cao lên, ngôi nhà sát đường hơn nhưng thấp xuống. Những cây mua tím không còn. Cây bưởi sai oằn trái trước sân cũng không còn. Có cảm giác những trận mưa bão kéo dài ngôi nhà ấy sẽ xâm xấp nước. Có hề chi, nó vẫn là điểm gặp gỡ những người bạn xa gần. Lý Lan, Minh Ngọc, Chinh Ba, Hà Dương Tuấn, Nguyễn Bá Chung, Võ Trường Chinh ở Mỹ, Pháp về,  Nguyễn Trung, Mỹ Hà, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Lê Văn Thảo từ Sài Gòn xuống, Nguyên Ngọc, Ngô Thảo, Trung Trung Đỉnh, Lê Minh Khuê từ Hà Nội vào hằng năm vẫn đến với ông mỗi khi có thể. Căn nhà nhỏ của ông thành nơi đàm đạo văn chương và thế sự. Câu chuyện nào của ông cũng có ngằn, uyên thâm đông tây kim cổ. Những bạn trẻ đôi khi đến với ông cũng chỉ để nghe một câu chuyện bâng quơ nhưng trong đó luôn chứa đựng một thông điệp, điều thiện sẽ phục sinh con người.


 


Di cảo của nhà thơ Chim Trắng, có một bài thơ dành tặng ông Trang Thế Hy: Bài thơ có đoạn viết:


Đau đớn thay Nụ cười của đá (*) đã không thành một nụ cười


 


Bão tố quất lên đôi vai gầy ông tưởng chừng không còn đứng nổi


 


Nhưng ông đã thành nhà tiên tri


 


Ông vẫn đi qua những hố bom bãi mìn và viết


 


Bất tài đố kỵ ấu trĩ giả dối rượt đuổi ông đến tận cùng


 


Hoà bình - những cánh chim câu hãy còn rơi nước mắt


 


….


 


Khoả lấp món nợ nước mắt chưa trả nổi bên ly rượu ổi, giọng cười hào sảng cùng                                                                                                                                                                                                                        bè bạn bốn phương


 


Trích “Cây sậy Trang thế Hy” - “Lời chào ngọn gió”, di cảo thơ Chim Trắng


 


Hỏi ông về tác phẩm này, (Nụ cười của đá) ông trả lời bằng giọng buồn buồn: Đó là một truyện ngắn hơi dài khẳng định rằng đá không biết cười.  Sau khi viết xong truyện này, ông bị giới chức tuyên huấn, văn nghệ ở “R” đánh tả tơi, duy nhất có ông Trần Bạch Đằng – khi đó là Phó trưởng Ban Tuyên huấn trung ương cục miền Nam đến thăm an ủi - chứ không hề bênh vực - ông. Bản thảo truyện ngắn đó giờ ở đâu? – Tôi hỏi, ông nói lạc mất từ khi nó mới ra đời ở khu rừng miền đông ấy, (Có thể những người nặng lời phê phán quan điểm sáng tác của ông  thông qua truyện ngắn này cất giữ để làm bằng cho việc quy chụp ông hoặc đã thủ tiêu nó - NV) bởi sau đó thì ông lại đi chiến trường, sống với những người du kích. Thời đó, bản thảo viết tay, không có điều kiện lưu giữ nếu như bản thảo chưa được in ra.


 


 Bước vào tuổi 90 - sinh nhật 89 năm tuổi của ông diễn ra cuối tháng 10/2013 ấm cúng tại ngôi nhà nhỏ đó với bè bạn khắp nơi về. Hỏi ông đang đọc gì, ông nói đang đọc lại Nguyễn Hiến Lê với những cuốn sách dạy làm người, dạy cách ứng xử với cuộc đời. Ông nhớ Trang Châu và câu chuyện người đàn ông nọ, vợ chết không khóc - mà còn vỗ trống và hát. Vợ mất không khóc đã là lỗi mà vỗ trống và hát thì lỗi nặng hơn.


 


Nhưng người đàn ông ấy giải thích rằng ông không khóc không có nghĩa là không đau buồn, vỗ trống và hát đâu có nghĩa là vui. Cái chết là tiếp nối của sự sống của một cuộc đời khác theo dòng bất tận của vòng luân hồi. Người đàn ông ấy bình thản đón nhận sự thật của cuộc đời như nó vốn có.


Sinh nhật tròn 90 tuổi của ông sắp đến. Ông lại tổ chức buổi nhậu (có thể không phải là một ngày mà nhiều ngày khác nhau vì nghe đâu mọi người, từng nhóm dự định đến với ông trong dịp này) dành trọn cho bạn bè.


Bình thản hồn nhiên, từ lâu đã là chọn lựa cho cách sống của nhà văn Trang Thế Hy. Con người tri túc  mới chọn được cho mình cách sống ấy. 


 


Minh Nguyễn


____


(*) Nhan đề một truyện vừa của Trang Thế Hy hoàn thành năm 1972 còn ở dạng bản thảo. Với tác phẩm này cùng với truyện vừa “Hạt bụi” ông đã bị một “tai nạn văn xuôi” trong quá trình lao động sáng tạo của mình.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »