tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19386501
08.10.2014
Tư liệu
Khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội

Ra đời cùng với sự ra đời của Trường Đại học Sư phạm, tính từ 1951 theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Trải qua 50 năm, lịch sử của Khoa Ngữ Văn là lịch sử tiến lên phía trước. Có thể chia lịch sử đó thành ba chặng lớn và mỗi chặng lớn bao gồm nhiều chặng nhỏ:


    - Chặng lớn thứ nhất: từ 1951 đến 1956


    - Chặng lớn thứ hai: từ 1956 đến 1975


    - Chặng lớn thứ ba: từ 1975 đến nay.


A. Chặng I: từ 1951 đến 1956


  1. 1951 - 1954


    Cuối năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang vào giai đoạn gay go ác liệt. Nhưng với đường lối “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương tích cực xây dựng nền đại học bằng việc thành lập hai cơ sở đào tạo đại học. Một ở Nam Ninh (Trung Quốc), gồm trường khoa học cơ bản và trường Sư phạm cao cấp tự nhiên. Một ở trong nước gồm hai phân hiệu Dự bị đại học tại hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Sau đó, phân hiệu Nghệ An được chuyển ra nhập với phân hiệu Thanh Hoá thành một. Trường Dự bị đại học Thanh Hoá bấy giờ chỉ mới phân làm hai chuyên ngành lớn : khoa học tự nhiên và Văn khoa. Trong văn khoa, Văn và Sử là một. Nhà trường không có trường sở, bàn ghế. Lớp học là các ngôi đình làng. Bàn là những tấm gỗ mượn của dân kê lên để viết. Một số sinh viên làm được bàn xếp thì mang theo đến lớp mà dùng. Còn ghế, chủ yếu là đôi dép cao su (thường gọi là dép Bình Trị Thiên vì ra đời trong hoàn cảnh kháng chiến ở Bình Trị Thiên) hoặc cái gì khác thì tuỳ. Học vào ban đêm để tránh máy bay địch oanh tạc. Thầy và trò, mỗi người đều có một cái đèn hoa kỳ nhỏ, trên có chụp bằng giấy để khỏi hắt ánh sáng ra ngoài. Sinh viên, hầu hết không có học bổng. Một số ít có thì được nhận bằng thóc. Đại đa số đã phải tự kiếm sống để ăn học bằng các hình thức : làm gia sư, dạy trường dân lập, kéo xe gác… thời gian học của dự bị đại học là một năm rưỡi. Sau khi tốt nghiệp, hầu hết được học tiếp lớp sư phạm cấp tốc trong một học kỳ. Ra đời trong khói lửa chiến tranh, thời gian học chỉ hai năm, điều kiện dạy và học thiếu thốn hết mức, vậy mà trường dự bị đại học ở Thanh Hoá đã là một dấu son đẹp trong ký ức của nhiều người. Được thế, trước hết nhờ có đội ngũ giáo sư gồm những đại trí thức của đất nước như: Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Trương Tửu. Bên cạnh các giáo sư, là những giảng viên có uy tín như : Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đức Chính, Chiêm Tế, Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Danh Hoàn… Trong số các giáo sư vừa kể trên đây, có 4 vị sau này đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh là : Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh. Còn về học trò thì quả đây là một thế hệ sinh viên ưu tú, vừa đựơc sàng lọc nghiêm ngặt trên con đường thi cử, học vấn, vừa được tôi luyện trong không khí kháng chiến vệ quốc thần thánh. Hầu hết trong họ đã trở thành những giáo viên kế tục mấy vị trong số “thất hiền” của lớp đại học văn khoa trước đó 3 năm, đóng vai trò cốt cán cho sự nghiệp dạy văn cấp 3 ở miền Bắc trong quãng thời gian 1954 đến 1975 trên cả nước. Trong thế hệ này, một số sau này đã thành danh, thành giáo sư, phó giáo sư như Đặng Thanh Lê, Phan Trọng Luận, Trần Đình Hượu, Trần Thanh Đạm, Phan Sĩ Tấn, Nguyễn Xuân Nam…Cũng có người chuyển sang hoạt động ở ngành văn hoá mà nổi tiếng như Trọng Bằng, giáo sư nghệ sĩ nhân dân, giám đốc nhạc viện Hà Nội, Chủ tịch Hội âm nhạc Việt Nam…, Nguyễn Đức Đàn, giáo sư, hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du, nhà nghiên cứu văn học có thành tựu.


2. 1954 -1956


    Tháng 7-1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Hoà bình lập lại ở miền Bắc. Ngày 10-10-1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng, trường Dự bị đại học ở Thanh Hoá (với khoá II) và trường Sư phạm cao cấp ở Nam Ninh (Trung Quốc) cùng được lệnh chuyển về Hà Nội tiếp quản trường Đại học Hà Nội cũ tại đường Lê Thánh Tông, trước vườn hoa Tao Đàn. Trong hoàn cảnh mới, có sự sắp xếp tổ chức thành hai trường ĐHSP: Khoa học và Văn học. Đại học sư phạm Văn học do giáo sư Đặng Thai Mai làm giám đốc, giáo sư Nguyễn Mạnh Tường làm phó giám đốc. Đội ngũ thầy giáo vẫn là đội ngũ của dự bị đại học ở Thanh Hoá trứơc đó nhưng có thêm một giáo sư từng lừng danh triết học ở phương Tây là Trần Đức Thảo (sau này cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh) và một số giảng viên khác là Hoàng Xuân Nhị (nguyên giám đốc giáo dục Nam Bộ) Hoàng Thiếu Sơn, Phan Ngọc, Hoàng Tuệ, Trần Lê Nhân. Hai vị thứ trưởng bộ Giáo dục (cũng là hai uỷ viên trung ương Đảng) bấy giờ là Nguyễn Khánh Toàn và Hà Huy Giáp đã tham gia giảng dạy. Với năm học đầu tiên sau khoá đào tạo. Một khoá gồm những sinh viên đã học xong năm thứ nhất của dự bị đại học khoá II ở Thanh Hoá, nay về Hà Nội tiếp tục năm thứ hai. Khoá đào tạo này còn có thêm một số sinh viên vốn là giáo viên được cử đi học, lúc đầu vẫn học năm thứ nhất, nhưng hết học kỳ một thì được bỏ năm thứ nhất chuyển lên học chung với năm thứ hai và tiếp theo là năm thứ ba. Có hiện tượng đó là do yêu cầu chuẩn bị cho kế hoạch thống nhất đất nước hai năm sau theo hiệp định Giơnevơ. Một khoá khác gồm những sinh viên mới được tuyển vào trường, vốn là học sinh đã tốt nghiệp cấp 3 từ khu Bốn, khu Ba, khu Việt Bắc, khu Năm (tập kết), hoặc vừa tốt nghiệp tú tài ở Hà Nội tạm chiếm. Ngoài ra, còn có một ít học sinh tốt nghiệp tú tài ở Sài Gòn tạm chiếm vượt tuyến ra Hà Nội học. Với ĐHSP Văn học, ngay ở năm học 1954-1955, đã tách Văn khỏi Sử Địa (vào năm học 1955- 1956, Sử Địa mới tách nhau). ở năm học đầu 1954-1955 bên cạnh trường ĐHSP Văn học, cũng đã thành lập lớp Dự bị đại học Văn học. Nhưng sau một năm dự bị, lớp học này cũng nhập vào ĐHSP Văn khoa, để cùng học tiếp năm thứ hai, năm thứ ba và cùng ra trường vào cuối năm học 1956-1957. Năm học 1955-1956, ĐHSP Văn học ngừng tuyển sinh một năm. Điều đáng nói là trong điều kiện hoà bình, trường ĐHSP Văn học, cũng như trường ĐHSP Khoa học, đã có giảng đường lớp học khang trang ở đường Lê Thánh Tông mà nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý. Ký túc xá sinh viên chính là khu nhà D (một trong bốn khu nhà ký túc của sinh viên có từ  thời Đông Dương học xá trước 1945 kể lại), mà ngày nay đã khiêm tốn nép mình giữa bao nhiêu giảng đường, nhà cửa to lớn của Đại học Bách khoa Hà Nội. Hai khoá học đầu tiên sau ngày hoà bình lập lại đã cung cấp cho ngành giáo dục ở bậc phổ thông cấp 3, một đội ngũ giáo viên Văn học, hùng hậu hơn nhiều so với trước. Trong số sinh viên tốt nghiệp cuối năm học 1955-1956, một số đã được giữ lại làm cán bộ giảng dạy gồm: Cao Huy Đỉnh (sau này được giải thưởng Hồ Chí Minh), Lê Hoài Nam, Nguyễn Duy Bình, Cao Xuân Hạo, Phạm Hoàng Gia, Văn Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ (bút danh Thúc Hà, được giải nhất thơ của Liên hoan thanh niên thế giới tại Berlin,1955 với bài “Chờ con má nhé”) và Bùi Quang Đoài (nhà văn Thái Vũ). Cũng cần nói thêm là, sau ngày hoà bình mới đựơc lập lại, ở Hà Nội chỉ mới có ba trường thực sự đại học là ĐHSP Văn học, ĐHSP Khoa học, Đại học Y Dược nên được nhà nước rất mực quan tâm. Đặc biệt, có lần (1956) Hồ Chủ Tịch, không báo trước, đã đến thăm sinh viên Ký túc xá (Việt Nam học xá). Có một câu chuyện nhỏ nhưng rất có ý nghĩa, xin được kể lại như sau: Trong buổi đến thăm sinh viên này, Bác Hồ hỏi: “các cháu có thương nhau không?” - Tất cả đều đáp : “Dạ, có ạ”. Bác hỏi tiếp : “Thương nhau thì phải làm gì?” Anh sinh viên Trịnh Hiệt trưởng sinh viên ĐHSP Văn học nhanh nhảu đáp : “Dạ, phải tương trợ nhau ạ!” Bác Hồ hỏi ngay: “Thế có tương mắm không?” Mọi người cười ồ, Bác nói : “sinh viên Văn khoa là phải bảo vệ tiếng Việt - Từ gì tiếng Việt đã có thì cố mà dùng. Chỉ khi tiếng Việt không có mới phải dùng từ Hán - Ví dụ: phải dùng từ độc lập, chứ không thể nói : Việt Nam dân chủ cộng hoà: đứng một mình - tự do - hạnh phúc.” Mọi người lại được một trận cười khoái chá và một bài học có ý nghĩa lớn.


B. Chặng II: Từ 1956 đến 1975


1. 1956 - 1958


    Năm 1956, bước vào năm học 1956-1957, nền đại học xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đi vào một giai đoạn phát triển mới. Đó là năm thành lập các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Nông lâm, Đại học Sư phạm. Đây là một trường Đại học Sư phạm hoàn chỉnh, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trường có Ban giám hiệu mới gồm hiệu trưởng là giáo sư sử học kiêm thi sĩ Phạm Huy Thông, hiệu phó là giáo sư Nguyễn Thúc Hào. Trong hai niên khoá 1956-1957, 1957-1958 quan hệ giữa hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội là quan hệ vừa độc lập, vừa đan xen. Bởi đã có  trường, hai Ban Giám hiệu, hai đối tượng sinh viên, hai hệ thống phòng ban, nhưng trường sở vẫn là một khoa và đội ngũ giáo viên vẫn là một. Giáo viên vẫn dạy cả ở hai đối tượng sinh viên thuộc hai trường - Chủ nhiệm khoa văn lúc này là giáo sư Đặng Thai Mai. Đội ngũ thầy giáo của khoa cũng đựơc tăng cường. Trong năm học 1956-1957 về khoa làm cán bộ giảng dạy có các vị: Vũ Đình Liên (nhà thơ, tác giả của bài thơ nổi tiếng Ông đồ), Trương Chính (nhà phê bình văn học, tác giả của Dưới mắt tôi viết năm 1939), Đỗ Đức Hiểu, Đinh Gia Khánh và ba cán bộ phiên dịch trung văn được đào tạo từ Trung Quốc về là Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Thạch Giang. Tháng 8-1957, khoa lại có thêm một số cán bộ giảng dạy vốn là sinh viên vừa tốt nghiệp được tuyển chọn : Nguyễn Đình Chú, Trần Văn Hối, Nguyễn Hải Hà, Trần Văn Bính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán và Bùi Văn Nguyên được điều từ trường cấp 3 lên đại học. Bấy giờ, đã có sự phân định chức danh trong đội ngũ giáo viên đại học. Trên hết là giáo sư gồm Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Huy Thông, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị. Dưới giáo sư là giảng viên - Dưới giảng viên là phụ giảng - Dưới phụ giảng là trợ lý, tập sự trợ lý.


2. 1958 - 1965


    Bước vào năm học 1958-1959 hai Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội tách ra. Trường ĐHSP Hà Nội nhường hẳn cơ sở cũ ở đường Lê Thánh Tông cho trường ĐHTH Hà Nội, và chuyển ra xây  dựng trường mới trên cơ sở của trường Trung cấp Sư phạm Trung ương đang chuẩn bị giải thể tại cây số 8 đường Hà Nội - Sơn Tây. Trong hoàn cảnh mới, việc quan trọng là phân chia cán bộ giảng dạy trước đó còn chung một khoa nay là hai khoa riêng rẽ. Hầu hết đã được chia về khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội, gồm : Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Vũ Đình Liên, Trương Chính, Lê Hoài Nam, Nguyễn Đình Chú, Trần Văn Hối, Trần Văn Bính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, ở tại khoa Văn trường ĐHTH Hà Nội có: Đặng Thai Mai (nhưng ngay sau đó đã sang làm Viện trưởng Viện Văn học), Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Duy Bình, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hải Hà (nhưng một năm sau thầy Hà cũng chuyển sang Sư phạm), ở khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, cũng vào dịp này, còn được bổ sung thêm hai nhà tu thư, vốn là hai nhà nghiên cứu thuộc nhóm nghiên cứu văn học Lê Quí Đôn là Lê Trí Viễn và Huỳnh Lý. Thêm nữa, có Nguyễn Trác, một thầy giáo văn trung học nổi tiếng của Hà Nội và thầy Nguyễn Cửu Cúc trước đó phụ trách giáo vụ trường. Vào đầu năm học 1959-1960, khoa lại có thêm những thầy giáo vốn là của trường Trung cấp Sư phạm Trung ương vừa giải thể : Hoàng Như Mai (nguyên Hiệu trưởng TCSP Trung ương), Đặng Thanh Lê, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Hoàn, Phạm Thị Hảo, Phan Sĩ Tấn, Nguyễn Ngọc Côn và một số sinh viên vừa tốt nghiệp của khoá 1956-1959 là : Hoàng Dung, Lê Cận, Trần Văn Mười, Lê Hiền, Lý Hữu Tấn, Lương Duy Trung, Phan Côn. Nhưng vào đầu năm học 1960-1961, lại có việc chia bớt một số cán bộ giảng dạy cho khoa Văn ĐHTH gồm : Hoàng Như Mai, Đinh Gia Khánh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức; và một số vào khoa Văn trường ĐHSP Vinh gồm: Lê Hoài Nam, Trần Văn Hối, Lê Bá Hán. Bên cạnh việc chia bớt cán bộ giảng dạy cho các khoa bạn, hàng năm tiếp theo, khoa vẫn có kế hoạch bổ sung bằng cách chọn từ nguồn sinh viên tốt nghiệp. Với khoá học 1957-1960 có Nguyễn Nghĩa Dân, Đỗ Bình Trị, Đinh Trọng Lạc, Thành Thế Thái Bình, Phạm Luận, Hoàng Nhân, Quách Hy Dong, Lê Tố; khoá học 1958-1960 có Đỗ Hữu Châu, Đoàn Trọng Huy; khoá học 1959-1961 có Đào Nguyên Tụ, Nguyễn Đức Dũng (Từ Sơn), Nguyễn Thị Ngọc, Hồ Văn Nho, Nguyễn Xuân Tự; khoá học 1960-1962 có Trịnh Thu Tiết, Hoàng Thung; khoá học 1961-1964 có Lê Biên, Vũ Viết Rậu. Với khóa học 1962-1965 có: Nguyễn Trọng Nghĩa, Doãn Như Tiếp, Phùng Quí Nhâm, Đỗ Đức Tín, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Mỹ Hoà, Trần Quang Minh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Khoa Diệu Biên, Lê Văn Trúc.


    Trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy của khoa, bên cạnh việc tuyển chọn từ nguồn sinh viên tốt nghiệp trong khoa còn có tuyển chọn từ nguồn giáo viên cấp 3, hoặc sư phạm trung cấp. Năm 1960, có Bùi Hoàng Phổ từ trường sư phạm miền núi. Năm 1961, có Nguyễn Hoành Khung tốt nghiệp ĐHTH (1960), sau một năm ở lại trường ĐHTH cũng chuyển sang Sư phạm. Đến năm 1963 có Đái Xuân Ninh vốn là giáo viên cấp 3 làm chuyên gia dạy Việt ngữ ở Ba Lan về, có Hoàng Lân là từ trường cấp III lên. Ngoài ra lại có những người được đào tạo từ nước ngoài về. Đầu năm học 1960-1961 có: Bùi Văn Ba, Trần Xuân Đề từ Trung Quốc về. Đầu năm học 1961-1962 có Phan Hữu Nghệ, Trần Hoán, Lê Quang Thung , Lê Đăng Bảng cũng từ Trung Quốc về. Tiếp đó lại có Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh từ Liên Xô về. Đặc biệt đến năm 1963, có hai phó tiến sĩ văn học đầu tiên được đào tạo ở Liên Xô là Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Văn Hạnh, cũng được phân về khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội. Nhưng cũng trong năm 1963 thày Huỳnh Lý đựơc điều vào ĐHSP Vinh làm chủ nghiệm khoa Văn và sau đó hai cán bộ giảng dạy của khoa là Lê Đăng Bảng, Nguyễn Đức Dũng được cử vào chiến trường miền Nam. Lê Đăng Bảng sau đó đã hi sinh.


    Trải mấy năm xây dựng từ 1958 đến 1965, khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội đã có được một đội ngũ cán bộ giảng dạy hùng hậu, làm nền và đào tạo cho những bước phát triển tiếp tục về sau.


    Về mặt tổ chức, ở một hai năm đầu khi mới tách ra khỏi khoa chung của hai trường ĐHSP Hà Nội và ĐHTH Hà Nội, khoa Ngữ văn chỉ mới là phân khoa, cùng với phân khoa Lịch sử, nằm chung trong một khoa Văn Sử do thầy Nguyễn Lương Ngọc làm trưởng khoa (kiêm phân khoa trưởng của Văn). Tuy vậy trong khoa Văn đã trước sau lần lượt hình thành các tổ bộ môn gồm: tổ Văn Việt Nam I do thầy Bùi Văn Nguyên làm tổ trưởng, tổ Văn Việt Nam II do thầy Lê Trí Viễn làm tổ trưởng (năm 1963 thầy Lê Trí Viễn làm chủ nhiệm khoa thì thầy Nguyễn Đình Chú phụ trách sau đó mới làm tổ trưởng). Tổ Văn Việt Nam III do thầy Nguyễn Trác làm tổ trưởng. Tổ Văn học nước ngoài do thầy Nguyễn Đức Nam làm tổ trưởng. Tổ Giáo học pháp do nhà thơ Vũ Đình Liên làm tổ trưởng. Tổ Lý luận văn học do thầy Nguyễn Lương Ngọc kiêm nhiệm tổ trưởng, tiếp đến là thầy Trần  Văn Bính, Lê Đăng Bảng rồi Nguyễn Văn Hạnh lần lượt thay. Nhóm ngoại ngữ kiêm phiên dịch Trung văn do thầy Nguyễn Ngọc San làm nhóm trưởng. Tổ Ngôn ngữ do thầy Hoàng Tuệ làm tổ trưởng. Năm 1963 có thêm tổ Cổ văn dạy về Hán Nôm lúc đầu do thầy Lê Trí Viễn phụ trách, sau đó là cô Phạm Thị Hảo, thầy Nguyễn Ngọc San, thầy Đặng Đức Siêu… Cán bộ Văn phòng khoa có: Nguyễn Thuý phụ trách công tác tổ chức cán bộ, Nguyễn Văn Thịnh phụ trách công tác văn phòng.


    Nhiệm vụ chính của khoa là đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản cùng khoa học sư phạm. Trong đào tạo, phương châm được đặt ra là làm sao thể hiện được bản sắc sư phạm, vì đây là nơi đào tạo những giáo viên ngữ văn chứ không phải là các nhà nghiên cứu ngữ văn. Với phương châm này, nội dung chương trình đào tạo phải gắn với nội dung chương trình cấp 3, phải ưu tiên phân môn giảng văn (vì ở cấp 3 có nhiều giờ giảng văn), coi trọng bộ môn Giáo học Pháp, cũng như Giáo dục nói chung. Nếu ai có dịp so sánh nội dung đào tạo ở khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội từ 1956 trở đi sẽ thấy càng về sau, bên cạnh phần chung, phần riêng ở khoa Văn trường ĐHSP rấy coi trọng việc biên soạn giáo trình riêng. Công việc đó đã được khởi sướng từ năm học 1958-1959. Năm đó, nhiều giáo trình đã được biên soạn, in rônéo cho sinh viên học. Chính khoa văn ĐTTH trong 2, 3 năm đầu đã dùng chung loại giáo trình này. Riêng với khoa Văn ĐHSP Hà Nội, sau đó vào năm học 1961-1962 có một đợt tập trung viết giáo trình. Kết quả là trong 2 năm 1962-1963, khoa đã lần lượt cho xuất bản một hệ thống giáo trình tại Nxb Giáo dục gồm: Lịch sử Văn học Việt Nam (6 tập, đã tái bản đến lần thứ 6 khi tái bản các tập IV, V đều thành IVA, IVB, VA, VB), Lịch sử Văn học Trung Quốc (2 tập), Lịch sử Văn học phương Tây (2 tập), Lý luận Văn học(2 tập), giáo trình Ngôn ngữ học, Giáo học pháp. Riêng bộ Lịch sử Văn học Nga - Xô Viết (2 tập) thì đến năm 1966 mới xuất bản. Trong thời gian khoảng hơn một năm mà có được một hệ thống giáo trình như thế, đến hôm nay vẫn là điều ngạc nhiên với nhiều người. Nhưng ở thời đó, chính nó là sản phẩm của đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học sư phạm bằng cách gắn việc giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Hệ thống giáo trình này đã có tác dụng rất lớn trong công tác đào tạo, không chỉ cho sinh viên khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội mà còn cho khoa Văn trường ĐHSP Vinh, cho khoa Văn các trường CĐSP, và cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa văn ĐHTH Hà Nội mà bấy giờ ở đây chưa có đủ giáo trình như ở khoa Văn ĐHSP Hà Nội. Hệ thống giáo trình này còn có ảnh hưởng với xã hội, và có giáo trình đã lan toả ảnh hưởng vào cả các trường đại học ở miền Nam, thậm chí còn sang tới Pháp với Việt kiều. Riêng bộ giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” đã được Bộ Giáo dục tặng thưởng. Để thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, từ năm học 1963-1964, ở khoa đã thành lập Hội đồng khoa học. Hàng năm, các tổ đều có hội  nghị khoa học, và khoa thì có hội nghị khoa học toàn khoa. Chính từ không khí coi trọng công tác nghiên cứu khoa học, song song với công tác giảng dạy mà nhiều cán bộ giảng dạy của khoa Ngữ văn sau này trở thành những vị giáo sư, những nhà khoa học có tên tuổi trong ngành, thậm chí là đầu ngành của cả nước.


    Nhìn chung, giai đoạn 1958 - 1965 là một giai đoạn phát triển khá nhanh chóng của khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội cả trên hai phương diện: đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong đào tạo, mặc dù thời gian đào tạo cho các khoá chưa cố định. Có khoá 3 năm, có khoá 2 năm 3 tháng, có khoá 2 năm, có khoá 2 năm cộng 1 (cho một số ít), có khoá 3 năm cộng 1 (cũng cho một số ít), nhưng nhìn chung là số lượng mỗ năm một tăng, và chất lượng thì có uy tín đối với ngành, đối với xã hội. Một số sinh viên tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội trong quãng thời gian này về sau đã thành danh. Ví dụ như Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm tốt nghiệp 1964 (nhà thơ, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá, nguyên Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Bộ Chính Trị Ban chấp hành TW khoá IX, Giải thưởng Nhà nước năm 2000), Trần Thị Thanh Thanh (tốt nghiệp năm1962, Uỷ viên TW Đảng, Bộ trưởng), Ma Văn Kháng (tốt nghiệp 1964, nhà văn được giải thưởng văn học Châu Á), Phạm Tiến Duật tốt nghiệp năm 1964 (nhà thơ, giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ, Giải thưởng Nhà nước năm 2001), Tô Nhuận Vĩ, tốt nghiệp 1964 (nhà văn), Dương Thụ tốt nghiệp 1965 (nhạc sĩ)…


3. 1965 - 1975


    5 – 8 - 1964, đế quốc Mỹ chính thức đưa không quân ra ném bom miền Bắc. Do đó, vào đầu năm học 1965-1966, khoa Ngữ văn cùng cả trường ĐHSP Hà Nội từ giã thủ đô, đi sơ tán, Khoá sơ tán ở hai nơi. Một lên xã Phúc Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Một về xã Nguyên Hoà, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Nhưng sau một học kỳ thì chuyển cả về xã Cộng Hoà, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Vào năm học 1967-1968, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chia làm ba trường : ĐHSP Hà Nội I, ĐHSP Hà Nội II, ĐHSP Ngoại ngữ. Khoa Ngữ văn nằm trong trường ĐHSP Hà Nội I. Việc chia trường hầu như không ảnh hưởng gì đối với khoa. Chỉ biết trong hoàn cảnh sơ tán, điều kiện mọi thứ rất thiếu thốn. Trường sở không có. Phải mượn đình chùa của các địa phương để làm lớp học. Sau đó, mới xây thêm được các lớp học bằng tre nứa lá và đắp tường đất vòng quanh để đề phòng bom đạn. Cả thầy và trò đều ở nhờ nhà dân. Có xây dựng một vài dãy nhà lá thì cũng chỉ đủ dành cho các thầy cô giáo có giai đình cùng sơ tán. Mỗi lớp sinh viên đều có một bếp ăn tập thể, có cấp dưỡng phục vụ. Bấy giờ, các thầy cô chủ yếu sống ở thôn Quần Ngọc thuộc xã Cộng Hoà. Cũng có bếp ăn riêng do chị Dinh làm bếp trưởng, vốn là người vui tính và nấu ăn vừa ngon vừa sạch. Đình Quần Ngọc nằm sát bờ đê con sông đào, trước sân có rặng nhãn luôn luôn toả bóng mát, là nơi hội họp của khoa. Sau đó, mới dựng được một hội trường bằng tre lá. Những năm sơ tán dù khó khăn, nhưng khoa lại có nhiều mặt phát triển. Số lượng sinh viên tăng nhanh hơn so với trước. Vào năm học 1966-1967, cả khoa đã có trên 1500 sinh viên chính qui. Thời gian đào tạo cũng được nâng lên. Bắt đầu có hệ 3 năm cộng 1, tiếp đó là 4 năm. Ngoài ra còn mở thêm 2 lớp hệ bồi dưỡng một năm, dành riêng cho những giáo viên đã dạy cấp 3, hoặc cao đẳng sư phạm, trung học sư phạm và thêm nữa là hệ đào tạo hàm thụ 4 năm. Sinh viên tăng, hệ đào tạo tăng, dĩ nhiên đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng tăng, có lúc đã lên tới 108 vị, mà nhiều người cũng nói vui là ''108 anh hùng Lương Sơn Bạc” trong truyện Thuỷ Hử. Khoa tiếp nhận nhiều thầy cô giáo hoặc dạy cấp 3, hoặc công tác ở Bộ Giáo dục: Trần Văn Thận, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thị Hoàng, Trẫn Hữu Tá, Thái Thu Lan, Đặng Anh Đào, Tôn Gia Các, Võ Bình, Đinh Xuân Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hương. Ngoài ra, còn có một số thầy từ khoa Văn trường ĐHSP Vinh chuyển ra khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội gồm Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Gia Linh, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Xuân Nam. Riêng thầy Huỳnh Lý, sau mấy năm được biệt phái vào trường ĐHSP Vinh làm chủ nhiệm khoa Ngữ văn, nay cũng về lại khoa Ngữ văn  trường ĐHSP Hà Nội. Thầy Diệp Quang Ban, Hoàng Hữu Yên từ khoa văn ĐHTH, thày Nguyễn Đình Cao từ tổ Ngoại ngữ chuyển sang. Riêng thày Đỗ Đức Hiểu vốn là cán bộ khoa Văn ĐHTH ngày trường còn thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục sau khi làm chuyên gia ở Trung Quốc về, cũng về khoa Văn ĐHSP, mấy năm sau mới về lại ĐHTH. Một số sinh viên tốt nghiệp ĐHSP Ngoại ngữ cũng được phân về khoa dạy Trung văn, hoặc Nga văn gồm: Trần Phương Thi, Huỳnh Văn Trứ, Phạm Huy Liệu, Lê Tiến Sơn, Lê Văn Sơn, Nguyễn Thị Thái Vân… Nguồn bổ sung lớn nhất vẫn là những sinh viên tốt nghiệp hoặc qua lớp bồi dưỡng thêm được chọn để giữ lại. Lần lượt trong mấy năm, gồm : Nguyễn Tiệp, Phạm Chu, Trần Phú, Phạm Quang Tản, Vi Văn Hồng, Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Tiến, Đinh Thu Hương, Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán, Hoàng Ngọc Trì, Nguyễn Tấn Phát, Bùi Công Minh, Phạm Văn Hóa, Hồ Sĩ Hiệp, Lê Ngọc Trà, Phạm Đăng Dư, Đặng Thái Thuyên, Hoàng Dư, Lâm Thị Ngọc Hoàn, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Kim Phong, Đinh Việt Anh,Trần Tiến  Đức. Sau nữa là Đinh Thị Khang, Nguyễn Ngọc Diệu, Hoàng Hiêng, Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Quanh Ninh B, Nguyễn Tiến Mâu, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Thị Bích Hà, Phạm Thu Yến,…


    Trên đà tăng nhanh số lượng cán bộ giảng dạy như thế, vẫn có chuyện san bớt cho trường bạn. Vào năm học 1966 -1967, trường ĐHSP Việt Bắc được thành lập. Các thày Hoàng Nhân, Phạm Luật, Vi Văn Hồng đã được điều lên làm chủ nhiệm khoa hoặc trưởng bộ môn. Riêng thày Trần Văn Mười thì năm 1966 cũng được điều về Nam Bộ làm Trưởng Ban giáo dục Khu 9.


    Khác với hoàn cảnh trước đó, khoa chỉ là đơn vị đảm nhiệm riêng việc giảng dạy, nay trong sơ tán, nó thành như một trường con trong trường lớn, bởi phải lo mọi việc trong đó có chuyện ăn ở của sinh viên. Do đó mà trong khoa, cùng với đội ngũ cán bộ giảng dạy, còn là đội ngũ cán bộ công nhân viên bao gồm các cán bộ văn phòng, tổ chức, thư viện, tài vụ và cấp dưỡng, mà số lượng ước tính cũng đến trên dưới bốn chục người.


    Trong sơ tán, tuy phương tiện rất thiếu thốn, nhưng không khí dạy và học lại rất nghiêm túc và sôi nổi. Thầy vẫn dạy hết lòng.Trò vẫn học hết sức. Trong phong trào thi đua hăng hái toàn khoa bấy giờ, tổ Văn Việt Nam II (bấy giờ bộ môn VHVN có 3 tổ I, II, III) do thầy Nguyễn Đình Chú làm tổ trưởng là tổ được công nhận danh hiệu lao động XHCN đầu tiên của khoa và cũng là của trường ĐHSP HN I. Tiếp sau đó, các tổ Văn học Việt Nam III, Văn học Việt Nam I, Lý luận văn học, Văn học nước ngoài, Ngôn ngữ cũng lần lượt được công nhận danh hiệu tổ lao dộng XHCN. Trong phong trào chung này, nổi lên là sự gần gũi giữa thầy và trò tới mức mà về sau không dễ gì có lại. Có được điều đó là nhờ có nhiệt tình của thầy cô, nhưng cũng là do hoàn cảnh khách quan thầy trò trong khi sơ tán, đều ít có dịp về nhà. Sự gắn bó đựơc thể hiện dưới nhiều hình thức. Ví như Tổ Văn Việt Nam II đã có đợt huy động tất cả các thầy cô của tổ xuống “hai cùng” (cùng ở, cùng ăn) với sinh viên để quan sát tìm hiểu tình hình học tập, phương pháp học tập của từng sinh viên và từ đó góp ý cho họ cách cải tiến nâng cao chất lượng học tập. Trong học tập, ngoài nội dung chính khoá, việc tổ chức ngoại khoá rất coi trọng. Bấy giờ, có phong trào các lớp sinh viên thi nhau tổ chức những đêm biểu diễn văn nghệ bằng cách chuyển thể tác phẩm văn học lên sân khấu, ví như với Truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên, Tắt đèn, Ô-ten-lô, Hamlét, Lôi Vũ.. Những buổi biểu diễn này không chỉ lôi cuốn sinh viên vào không khí văn học nghệ thuật, tạo điều kiện cho họ hiểu sâu hơn tác phẩm văn học, mà quan trọng nữa là tạo ra những cơ hội gắn bó nhà trường với địa phương. Trong các đêm biểu diễn văn nghệ đó, nhân dân địa phương từ các cụ già cho đến các em thiếu niên nhi đồng tất nập kéo nhau đến xem rất hào hứng. Có đêm gặp cảnh gió mùa đông bắc, mà chương trình biểu diễn vẫn kéo dài cho tới hơn 12 giờ đêm mới kết thúc. Khoa còn chủ trương cho sinh viên rèn luyện năng lực đưa văn học vào đời sống, vào nhân dân bằng cách bố trí cho các nhóm sinh viên đi về các thôn xóm, không chỉ ở xã Cộng Hoà nơi sơ tán, mà còn ở các xã lân cận, tập những buổi nói chuyện văn thơ, biểu diễn văn nghệ, nói như ngôn ngữ hiện nay là giao lưu văn hoá. Hoạt động này, được giáo viên theo dõi, đánh giá hẳn hoi. Để nâng cao kết quả học tập của sinh viên, khoa còn mời nhiều nhà văn có tên tuổi như : Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Huy Cận, Xuân Diệu… về nói chuyện tại khu sơ tán, cũng như mời nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký, các nghệ sĩ lão thành: cụ Nho Tuý, cụ Sơ, bà Liễu, cùng một số diễn viên nói chuyện và minh họa nghệ thuật tuồng, tạo ra một quang cảnh rất sôi động giữa làng quê trong thời chiến tranh ác liệt. Với khoa Ngữ văn lúc này, ý thức gắn nhà trường với nhiệm vụ chiến đấu cũng rất đựơc coi trọng. Có mấy đợt thầy và trò đi thực tế chiến đấu ở Nam Ngạn (Hàm Rồng - Thanh Hoá), Vĩnh Linh, Bắc Giang, cùng sống và chiến đấu với bộ đội ở các trận địa pháo cao xạ.


    Sau cuộc tấn công Mậu Thân (1968), đế quốc Mỹ buộc phải hạn chế ném bom miền Bắc, chỉ còn từ vĩ tuyến 20 trở vào. Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ khoa đưa sinh viên về lại trường. Nhưng đến đây, số lượng sinh viên đã đông lên nhiều, nhà trường không còn đủ chỗ ở nên khoa vẫn phải sơ tán ở xã Cổ Nhuế và Đông Ngạc cách trường 2 đến 5 cây số. Chỉ có giáo viên thì coi như hết sơ tán, về sống ở gia đình riêng và đến lớp giảng dạy như ngày chưa sơ tán. Sau đó, nhà trường có kế hoạch chuẩn bị từng bước để đưa sinh viên về lại trường. Nhưng vào tháng 4-1972, giặc Mĩ lại đem B52 ra rải thảm miền Bắc, Hà Nội lại một phen khẩn trường sơ tán. Khoa Ngữ văn đang đêm đã phải kéo toàn bộ sơ tán lên xã Liên Minh thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Sau mấy tháng, lại kéo nhau về Văn Giang, rồi lại về Cộng Hoà, Yên Mĩ, nơi sơ tán cũ. Trong dịp sơ tán lần này, khoa ngữ văn đã để lại ba lớp biên chế thành một đại đội tự vệ vừa trực chiến vừa học văn hoá tại trường cùng với đại đội tự vệ của các thày. Tổ trực chiến của các thầy và Đài quan sát của sinh viên được báo chí bấy giờ mệnh danh là “Con mắt phía Tây thủ đô“. Trong dịp máy bay Mĩ bị bắn rơi ở Mễ Trì (Từ Liêm - Hà Nội), Khoa Ngữ văn được công nhận là đơn vị tự vệ xuất sắc tham gia bắn rơi máy bay Mĩ. Trong đại đội, có cô Nguyễn Thị Bích Hà bấy giờ là một nữ sinh viên gan dạ được đài báo biểu dương.


    Trước đó, từ năm học 1970-1971, theo chủ trương của nhà nước, nhiều sinh viên kể cả một số cán bộ giảng dạy của khoa là các thầy Phạm Văn Hoá, Bùi Công Minh, Trần Quang Minh đã nhập ngũ. Không ít người trong số này hiện nay đã trở thành sĩ quan cao cấp trong quân đội. Một số về học lại để thành giáo viên. Trong số sinh viên nhập ngũ, có người đã hi sinh anh dũng như anh Vũ Đình Văn, một người có năng khiếu thơ, đã hy sinh trong trận chiến đấu chống B52 của Mĩ tại Hà Nội. Sau ngày anh hy sinh, thơ của anh đã đựơc in và được giải thưởng của tuần báo Văn nghệ với những lời đánh giá rất cao. Còn thày giáo trẻ Bùi Công Minh vừa mới nhập ngũ đã có bài thơ Hành khúc ngày và đêm  được nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu phổ thành một nhạc phẩm nổi tiếng.


C. Chặng III: 1975 đến nay


1. Từ 1975 đến 2000


    Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc đại thắng vào ngày 30 - 4 - 1975. Cả nước hoàn toàn độc lập. Bắc Nam sum họp một nhà- Trong sự đổi thay  lớn lao của đất nước, khoa Ngữ văn cũng có nhiều biến động. Trước hết là sự biến động về đội ngũ cán bộ giảng dạy. Một số thầy như Nguyễn Văn Hạnh đang làm phó chủ nhiệm khoa thì được điều vào Huế tiếp quản đại học, làm Viện trưởng Viện đại học Huế. Thầy Trần Văn Thuận cũng đang làm phó chủ nhiệm kiêm bí thư Đảng uỷ khoa thì được điều về tiếp quản giáo dục tỉnh Quảng Ngãi, làm hiệu trưởng trường cấp 3 sau đó làm hiệu phó kiêm bí thư Đảng uỷ trường ĐHSP Qui Nhơn mới thành lập. Phần lớn các thầy cô giáo quê miền Nam đều được điểu về giảng dạy tại các trường miền Nam vừa giải phóng. Về Đại học Cần Thơ có thầy Lê Tố. Về đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh có các thầy cô : Trần Xuân Đề, Phạm Thị Hảo, Hồ Văn Nho, Nguyễn Tấn Phát, Trần Hoàn, Đinh Xuân Hiền, Hồ Sĩ Hiệp, Phùng Quí Nhâm, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Nhung, Lê Văn Sơn, Lê Ngọc Trà, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Thị Mĩ Hoà, Nguyễn Thị Diệu Biên. Về đại học sư phạm Huế có cô Nguyễn Thị Hoàng, thày Nguyễn Tiến Hùng, thầy Nguyễn Xuân Tự cũng về Huế làm hiệu trưởng trường Quốc học sau đó mới chuyển về ĐHSP Huế.


    Năm 1976, trên đà phát triển nhanh chóng của nền đai học, trường ĐHSP II (Xuân Hoà) ra đời - khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội lại phải cử cán bộ đi xây dựng khoa Văn cho ĐHSP Hà Nội 2. Thầy Đinh Trọng Lạc làm chủ nhiệm. Thầy Đào Nguyên Tụ làm phó chủ nhiệm - Thầy Trần Tiến Đức và Thầy Bùi Minh Toán làm chủ nhiệm bộ môn. Nguyễn Thị Bích Hà, Lê Hữu Tỉnh làm cán bộ giảng dạy. Việc giảng dạy ở khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Xuân Hoà trong 2, 3 năm đầu chủ yếu là do khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đảm nhiệm. Năm 1981, thầy Thành Thế Thái Bình được cử làm chủ nhiệm khoa Văn, sau đó là Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội 2. Riêng thầy Lê Trí Viễn, từng là một chủ nhiệm lâu năm (từ 1963) và có nhiều sáng kiến đóng góp trong việc xây dựng phát triển khoa về mọi mặt, đến năm 1978 cũng chuyển vào ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh. Thầy  Đỗ Bình Trị làm quyền chủ nhiệm khoa (1978-1982). Thầy Nguyễn Đức Nam cũng được điều lên Bộ làm phó ban cải cách sư phạm, rồi thầy Đỗ Bình Trị được điều lên Bộ làm Cục phó Cục đào tạo và bồi dưỡng. Chức chủ nhiệm khoa lại do thầy Đỗ Hữu Châu đảm nhận. Sự hao hụt về đội ngũ cán bộ giảng dạy như thế là quá lớn mặc dù vẫn có sự bổ sung. Thầy Nguyễn Khắc Phi sau mấy chục năm từ khoa Văn ĐHTH Hà Nội vào dạy khoa văn ĐHSP Vinh nay trở lại khoa Văn ĐHSP Hà Nội. Thầy Lương Duy Thứ cũng từ khoa Văn ĐHSP Việt Bắc về công tác tại khoa. Khoa còn đón thêm một số vốn là cán bộ giảng dạy cấp II của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đang giải thể, gồm các thầy : Trần Đức Ngôn, Trần Thanh Xuân, Vương Mộng Bưu, Nguyễn Xuân Hậu,  Nguyễn Hoàng Tuyên … Các thầy Trần Đình Sử, La Khắc Hoà, Lê A vốn là cán bộ giảng dạy ĐHSP Vinh, và khoa cấp II sau khi bảo vệ luận án PTS (nay gọi là Tiến sĩ) ở Liên Xô (cũ) về nước cũng được phân về khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội. Thầy Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Xuân Khoa cũng từ Trường Đại học Sư phạm Vinh chuyển ra khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội. Ngoài ra, năm này, năm khác từ năm 1975, vẫn có một số sinh viên tốt nghiệp được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của khoa gồm: Hà Thị Hoà, Tạ Thanh Kim, Ngô Thị Thắng, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Bình Sơn, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Thìn, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Thị Bình, Lã Nhâm Thìn, Đinh Văn Thiện, Trần Hạnh Mai, Phan Hồng Xuân, Lê Tuấn Anh, Nguyễn Thị Bích Liên, Chu Văn Sơn (sau vài năm dạy ở ĐHSP Quy Nhơn)… Từ 1990 thì có thêm: Hà Văn Minh, Lê Nguyên Cẩn, Trần Lê Bảo, Lê Huy Bắc, Đỗ Hải Phong, Thành Đức Hồng Hà, Trần Mạnh Tiến, Lê Quang Hưng, Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Ngân Hoa, Trần Hoa Lê, Dương Tuấn Anh, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Từ Huy, Đặng Hảo Tâm… Ngoài ra còn có Phan Thị Hồng Hạnh, Đỗ Việt Hùng, Vũ Anh Tuấn… từ nơi khác chuyển về.


    Bên cạnh tình hình cán bộ giảng dạy như trên, bộ phận cán bộ văn phòng của khoa cũng có sự thay đổi. Anh Nguyễn Viết Hưng, cán bộ văn phòng chuyển đi làm trưởng phòng giáo vụ của Trường Cao đẳng Nhạc Hoạ. Cán bộ tổ chức của khoa là anh Trần Văn Sánh cũng lên Bộ làm trưởng phòng Lưu trữ. Trong khi đó có những cán bộ được tiếp tục bổ sung gồm: Trần Thị Thanh, Quách Thị Nhã, Nguyễn Thị Minh Đức, Thái Hương Sen, Lê Hải Anh, Đỗ Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Kim Oanh, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Thuỷ Nguyên.


    Đảm nhiệm công việc chủ nhiệm khoa, sau thầy Đỗ Hữu Châu là thầy Trần Đình Sử (từ 1990 đến 1995), thầy Trần Đăng Xuyền (từ 1996 đến 2004), thầy Lã Nhâm Thìn (từ 2005 đến 2008) và hiện nay là thầy Đỗ Việt Hùng.


    Đúng là sau 1975, tình hình đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng như cán bộ văn phòng của khoa Ngữ văn có nhiều thay đổi - nhưng có thay đổi gì thì với khoa, vẫn là một chặng đường phát triển mới, với những nhiệm vụ vừa quen thuộc vừa mới mẻ, nhưng đều được hoàn thành tốt đẹp.


    Trước hết, về đào tạo, hệ thống 4 năm đã được cố định. Số lượng tuyển sinh hàng năm cũng ổn định. Điều mới là bên cạnh hệ đại học chính quy, khoa còn tham gia đào tạo các hệ hàm thụ, hệ vừa học vừa làm, hệ tại chức, hệ đào tạo từ xa, hệ đào tạo chính quy theo địa chỉ… Thêm nữa, là hệ cao học (sau này chuẩn hoá thành thạc sĩ), bắt đầu từ năm học 1976-1977, đến nay đã có trên 30 khoá, đào tạo được trên 2.000 Thạc sĩ . Cũng bắt đầu từ năm học 1976-1977, trường ĐHSP Hà Nội được nhà nước công nhận là một trong 6 đơn vị (gồm các Viện khoa học, và trường đại học) được phép đào tạo đào tạo phó tiến sĩ, nay là tiến sĩ. Thầy Đỗ Hữu Châu, thầy Diệp Quang Ban, cô Đặng Anh Đào, cô Thái Thu Lan, thầy Nguyễn Ngọc San, cô Nguyễn Thị Hoàng là thuộc lớp cán bộ của khoa đi đầu trong việc làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án. Tính đến tháng 09/2001, khoa ngữ văn đã đào tạo 112 tiến sĩ. Trong đó, một số là người nước ngoài: Lào, Campuchia, Hàn Quốc. Riêng về luận án tiến sỹ khoa học (văn học) được bảo vệ ở trong nước thì chỉ mới có một trường hợp của thày Bùi Văn Ba. Cũng cần nói thêm là năm học 1980-1981, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và trường ĐHSP Hà Nội, khoa Ngữ văn còn đào tạo thí điểm hệ 5 năm đặc biệt có trình độ tương đương sau đại học. Đã có 3 khóa đào tạo thí điểm thành công nhưng sau thấy không cần tiếp tục vì hệ sau đại học đã đi vào nề nếp.


    Khoa Ngữ văn còn làm nhiệm vụ thỉnh giảng. Sau 1975 mấy năm liền, khoa không chỉ thỉnh giảng ở khoa Văn trường ĐHSP Xuân Hoà mà còn ở khoa Văn trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế, ĐHSP Qui Nhơn, kể cả ĐHSP Cần Thơ. Ngoài ra, nhiều cán bộ của khoa còn tham gia giảng dạy ở các trường đại học khác có dạy văn như đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHTH Huế, ĐH Văn hoá, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  trường viết văn Nguyễn Du…Khoa còn làm nhiệm vụ quốc tế. Với nước bạn Lào, ngay ở thời kỳ chống Mĩ, khoa đã cử  cán bộ giảng dạy sang giúp bạn mở lớp đào tạo đại học ở Khang Khay gồm: Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Nghĩa Dân, Đào Nguyên Tụ, Hoàng Thung, Đinh Việt Anh… Sau ngày nước bạn được giải phóng hoàn toàn, tại đại học Viên Chăn, khoa vẫn thường xuyên cử cán bộ sang giúp bạn đào tạo ngay đại học và bồi dưỡng cán bộ. Với nước bạn Cămpuchia, ngay sau ngày được giải phóng khỏi hoạ diệt chủng của bọn Pôn pốt, khoa cũng đã liên tục cử cán bộ giảng dạy sang Pnôm Pênh giúp bạn mở lại trường đại học Pnôm Pênh, trực tiếp dạy tiếng Việt và một số chuyên ngành khác, kể cả việc giúp bạn biên soạn giáo trình lịch sử văn học Cămpuchia.


    Song song với nhiệm vụ đào tạo ở đủ loại hình, khắp trong nước, kể cả nước ngoài như vừa nói, khoa vẫn coi trọng việc nghiên cứu khoa học vốn đã có truyền thống từ trước, cả trên 2 hướng: khoa học cơ bản và khoa học sư phạm. Nhiều giáo trình được biên soạn mới. Nhiều giáo trình đựơc chỉnh lý để có chất lượng cao hơn. Nhiều cán bộ của khoa vẫn thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành, trên nhiều báo chí ở trung ương và địa phương.


    Trong đợt phong học hàm đầu tiên vào năm 1980 (sau mấy chục năm không phong) khoa có 1 giáo sư (Lê Trí Viễn), 4 phó giáo sư (Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Trương Chính, Bùi Văn Nguyên). Đợt II vào năm 1984 có 2 giáo sư (Nguyễn Đức Nam, Bùi Văn Nguyên) và 17 vị phó giáo sư (Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đình Chú, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Hữu Châu, Phan Trọng Luận, Bùi Văn Ba, Nguyễn Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Hoàng Dung, Lương Duy Thứ, Nguyễn Khắc Phi, Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Xuân Nam, Đinh Trọng Lạc, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San); Đợt 3 (1991-1992) có 9 giáo sư (Đỗ Hữu Châu, Phan Trọng Luận, Nguyễn Đình Chú, Đặng Thanh Lê, Bùi Văn Ba, Nguỹên Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Đăng Mạnh), 10 phó giáo sư (Lưu Đức Trung, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử, Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Diệp Quang Ban, La Khắc Hoà, Lê A, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Long). Đợt 4 (1996) có 4 giáo sư (Nguyễn Ngọc San, Diệp Quang Ban, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng), 7 phó giáo sư (Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nguyễn Đăng Na, Trần Đăng Xuyền, Trần Đức Ngôn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Quang Ninh C). Trong số các giáo sư, phó giáo sư kể trên, trong giai đoạn này công tác tại khoa có 12 giáo sư, 18 phó giáo sư (trong đó có một từ nơi khác mới chuyển về). Về học vị, đến 2005 có: tiến sĩ khoa học: 2 (Nguyễn Nghĩa Trọng, Bùi Văn Ba), tiến sĩ: 38(Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Đặng Anh Đào, Lê A, Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Ngọc San, La Khắc Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Đoàn Trọng Huy, Trần Đăng Xuyền, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm, Đinh Thị Khang, Phạm Thu Yến, Nguyễn Thị Bích Hà, Lê Trường Phát, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Thị Bình, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán, Nguyễn Viết Chữ, Lê Quang Hưng, Nguyễn Thanh Hương, Vũ Anh Tuấn, Trần Lê Bảo, Nguyễn Quang Ninh C, Lê Huy Bắc, Hà Thị Hoà, Đỗ Hải Phong, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Thìn, Lê Nguyên Cần, Trần Mạnh Tiến, Trần Hạnh Mai, Chu Văn Sơn).


    Nhiều giáo sư trong khoa đã giữ các chức vụ trong các tổ chức, hiệp hội khoa học (Đỗ Hữu Châu: Chủ tịch hội Ngôn ngữ học Việt Nam; Bùi Văn Ba: Chủ tịch Hội đồng lý luận và phê bình thuộc hội nhà văn Việt Nam), tham gia các chương trình khoa học quốc gia (Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Đình Chú : cộng tác viên thường trực chương trình quốc gia KX- 07.01), tham gia hội đồng môn Ngữ văn của Bộ giáo dục (cũ) và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Diệp Quang Ban, Bùi Văn Ba, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử, Phùng Văn Tửu…


    Nhiều cán bộ giảng dạy của khoa cũng đã đựơc phong tặng các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú. Những thầy giáo đã và đang công tác trong khoa được phong danh hiệu nhà giáo nhân dân gồm : Nguyễn Lương Ngọc, Vũ Đình Liên, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hải Hà, Phan Trọng Luận.


    Khoa Ngữ văn được tặng thưởng Huân chương lao động hạng III, hạng II; nhiều thầy cô giáo trong khoa đã được tặng huân chương kháng chiến I,II, III, huân chương lao động III, II. Nhiều giáo sư đã từng công tác ở khoa đựơc tặng giải thưởng Hồ Chí Minh: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Cao Huy Đỉnh. Riêng năm 2000 có 6 giáo sư được giải thưởng Nhà nước: Trương Chính, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử.


2. Từ 2001 - nay


Sau nửa thế kỉ xây dựng và phát triển, Khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Hà Nội bước tiếp chặng đường mới với những đặc điểm mới, thành tựu mới, định hướng mới.


1. Những đặc điểm mới


    Từ năm 2002, Khoa Ngữ văn bước vào giai đoạn chuyển giao thế hệ lớn nhất trong lịch sử của khoa: nhiều giáo sư, nhiều chuyên gia đầu ngành, nhiều thầy cô có bề dày kinh nghiệm giảng dạy nghỉ hưu, nhiều cán bộ giảng dạy trẻ được giữ lại tạo nguồn hoặc những cán bộ trẻ từ các trường, các viện nghiên cứu... được chuyển về làm công tác giảng dạy tại khoa. Chỉ tính riêng năm 2002, số cán bộ giảng dạy của khoa nghỉ hưu là 9 GS, 7 PGS. Điều này đã tạo nên một khoảng trống lớn về đội ngũ giảng dạy của Khoa, nhất là những CBGD có trình độ cao.


    Suốt nửa thế kỉ, khoa Ngữ văn lại ở vào giai đoạn trẻ nhất với một phần ba số cán bộ giảng dạy ở độ tuổi dưới 30. Sự trẻ hóa đội ngũ này đã đem đến cho khoa những thuận lợi mới và cả những khó khăn mới. Đội ngũ trẻ với sự năng động và nhiệt huyết thật dồi dào nhưng tầm cao tri thức và bề dày kinh nghiệm cần phải có thời gian bồi đắp.


    Đảm nhận công tác quản lí, lãnh đạo khoa trong thời gian này là GS. TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục làm Chủ nhiệm khoa nhiệm kì thứ hai cho đến tháng 12 năm 2003. Sau đó PGS.TS Lã Nhâm Thìn làm Chủ nhiệm khoa từ tháng 01 năm 2004 đến năm 2008, PGS.TS Đỗ Việt Hùng từ 2008 đến nay. Tham gia Ban chủ nhiệm khoa, có các Phó chủ nhiệm khoa: PGS.TS Phạm Thu Yến, PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm, PGS.TS Đỗ Việt Hùng, PGS.TS Đỗ Hải Phong, TS. Trần Hạnh Mai. Bí thư Đảng uỷ khoa, sau GS.TS Trần Đăng Xuyền là PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm giữ chức vụ này từ tháng 11 năm 2004 đến 2008, PGS.TS Lã Nhâm Thìn từ 2008 đến nay .


    Đảm nhận công tác quản lí lãnh đạo tổ chuyên môn: PGS. TS Nguyễn Đăng Na tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam I, kế tiếp là PGS.TS Vũ Anh Tuấn; PGS. TS Nguyễn Văn Long tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam II, kế tiếp là PGS. TS Nguyễn Thị Bình; PGS.TS Trần Lê Bảo tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học nước ngoài, kế tiếp là PGS. TS Đỗ Hải Phong, PGS.TS Lê Huy Bắc; PGS.TS La Khắc Hoà kế nhiệm GS.TS Trần Đình Sử làm Trưởng bộ môn Lí luận Văn học, tiếp sau là PGS. TS Lê Lưu Oanh; GS.TS Bùi Minh Toán tiếp tục làm Trưởng bộ môn Ngôn ngữ, tiếp sau là PGS. TS Nguyễn Thị Lương; GVC Bùi Thanh Hùng kế nhiệm PGS Đặng Đức Siêu làm Trưởng bộ môn Hán Nôm, tiếp đó là TS. Hà Văn Minh; PGS.TS Nguyễn Quang Ninh kế nhiệm GS.TS Nguyễn Thanh Hùng làm Trưởng bộ môn Phương pháp giảng dạy ngữ văn; PGS. TS Nguyễn Bích Hà làm Trưởng bộ môn Việt Nam học; ThS Nguyễn Chí Trung kế nhiệm ThS Quách Thị Nhã làm Tổ trưởng tổ Văn phòng.


Do yêu cầu phát triển, từ tháng 10 năm 2005, trường đã quyết định tách bộ môn Việt Nam học để thành lập khoa Việt Nam học do PGS. TS Nguyễn Bích Hà làm Trưởng khoa, PGS. TS Lê Quang Hưng làm Phó trưởng khoa. Theo đó, một bộ phận cán bộ của khoa Ngữ văn đã chuyển biên chế sang khoa Việt Nam học. Hiện nay, khoa Việt Nam học tiếp tục phát triển, PGS. TS Lê Quang Hưng làm Trưởng khoa, TS Dương Tuấn Anh (cán bộ Bộ môn Hán Nôm khoa Ngữ văn) kiêm nhiệm làm Phó trưởng khoa.


Đáp ứng nhu cầu giảng dạy môn Cơ sở văn hoá Việt Nam cho các hệ đào tạo của trường, Ban giám hiệu đã quyết định thành lập Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cơ sở văn hoá Việt Nam trực thuộc Trường, đặt tại Khoa Ngữ văn, GS. TS Trần Đăng Xuyền kế nhiệm PGS. Đặng Đức Siêu làm Trưởng nhóm. Bên cạnh đó, một số Trung tâm nghiên cứu của Trường do cán bộ của Khoa làm nòng cốt vẫn tiếp tục duy trì và phát triển, như Trung tâm Việt Nam học do GS. Đặng Thanh Lê làm giám đốc; Trung tâm Trung Quốc học do GS. TSKH Bùi Văn Ba và kế tiếp là PGS. TS Trần Lê Bảo làm giám đốc; Trung tâm nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm do PGS. Đặng Đức Siêu và kế tiếp là TS. Hà Văn Minh làm giám đốc...


    Cũng từ sau năm 2000, khoa Ngữ văn cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ngành giáo dục trong cả nước có những đổi mới to lớn về nội dung chương trình và phương pháp dạy - học. Nhu cầu cập nhật hóa, hiện đại hóa kiến thức về nội dung, nhu cầu vận dụng những tiến bộ khoa học, nhất là khoa học công nghệ thông tin vào giảng dạy trở thành nhu cầu bức thiết đối với từng người. Điều này đã đặt khoa Ngữ văn trước những thời cơ mới và cả những thách thức mới.


    Xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới trở thành một xu hướng lớn có tác động mạnh mẽ tới khoa, làm nên một đặc điểm của khoa trong những năm đầu thế kỉ mới.


2. Những thành tựu mới


    - Thành tựu mới đầu tiên, tuy không lượng hóa được thành những con số, những biểu đồ nhưng lại hết sức quan trọng. Đó là những đổi mới về nhận thức: Khoa Ngữ văn chỉ có thể tiếp tục rực sáng bằng cả ánh sáng rạng rỡ của nửa thế kỉ đầy hào quang và ánh sáng của thế hệ mới tiếp nối truyền thống sau năm 2000.


    - Khoa Ngữ văn đã làm tốt cuộc chuyển giao thế hệ. Các GS, PGS tuy đã nghỉ hưu về chế độ, chính sách nhưng không ngơi nghỉ công việc giảng dạy, công tác đào tạo của khoa. Nhiều thầy cô vẫn tham gia tích cực công việc giảng dạy, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, vẫn tâm huyết và nhiệt tình trong việc bồi dưỡng cán bộ trẻ.


    Với tiềm lực sẵn có trong truyền thống cùng với sự nỗ lực trong hiện tại, khoa đã từng bước thu hẹp những khoảng cách về đội ngũ cán bộ giảng dạy do cuộc chuyển giao thế hệ tạo ra. Từ năm 2002 đến 2010 khoa đã có thêm 3 GS, 20 PGS, 15 TS. Nhiều cán bộ trẻ của khoa đang làm NCS trong nước và nước ngoài. Một trăm phần trăm số cán bộ trẻ có trình độ thạc sĩ hoặc đang học cao học. Khoa Ngữ văn vẫn giữ vững vị thế và phát huy sức mạnh của đơn vị đứng ở hàng đầu công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học chuyên ngành ngữ văn lớn nhất trong cả nước.


    Khoa Ngữ văn có thêm 2 giải thưởng Nhà nước về nghiên cứu khoa học với các công trình của GS Bùi Văn Nguyên, GS Phùng Văn Tửu.


    - Về công tác đào tạo, khoa đã hoàn thành nhiệm vụ các năm học với khối lượng lớn. Kết quả học tập của sinh viên hàng năm hệ chính quy đạt chất lượng tốt với tỉ lệ giỏi: 7%; khá: 40%.


    Khoa vừa mở rộng các hệ đào tạo ngoài trường, vừa đa dạng và đa ngành hoá đào tạo: đào tạo văn bằng 2, dạy tiếng Việt và văn học cho người nước ngoài: lớp lưỡng quốc cử nhân sinh viên Hàn Quốc đã tốt nghiệp khoá I (5 SV), đang đào tạo lớp lưỡng quốc cử nhân sinh viên Hàn Quốc khoá II (9 SV) và khoá III (11SV);  lớp sinh viên Trung Quốc học tếng Việt đã kết thúc khoá I (39 SV), đang tiếp tục khoá II (120 SV). Ngoài ra còn có những sinh viên Hàn Quốc, Canada... theo học chương trình cử nhân, thạc sĩ tại khoa. Mở rộng liên kết với các trường đại học ở nước ngoài trong đào tạo và nghiên cứu khoa học (hệ Lưỡng quốc cử nhân với Đại học quốc gia Busan – Hàn Quốc, tham gia các hội nghị khoa học ở Hàn Quốc, Trung Quốc,…).


     Hệ thống giáo trình mới ở tất cả các hệ về cơ bản đã hoàn thành trên cơ sở cập nhật những thông tin khoa học mới nhất về chuyên ngành trong, ngoài nước.


    Chú trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Thường xuyên tổ chức hội nghị khoa học toàn thể sinh viên (số lượng tham gia khoảng 55 %) và hội nghị khoa học các lớp chất lượng cao (số lượng tham gia 100%) có kết hợp với trường Đại học KHXH & NV -  Đại học Quốc gia Hà Nội (các năm 2005, 2006…).


    Góp phần to lớn vào việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, nhiều cán bộ giảng dạy của khoa là Tổng chủ biên, chủ biên, tác giả sách giáo khoa từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông.


    - Về nghiên cứu khoa học, trong những năm vừa qua, khoa đã tham gia thực hiện 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, trong đó có 1 đề tài do khoa chủ trì, 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 50 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường.


    Tổ chức nhiều Hội nghị khoa học đạt kết quả tốt, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn: Cấp quốc tế: Hội nghị khoa học kỷ niệm 400 năm Đôn Kihôtê (2004)…; Cấp quốc gia: Những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ lần hai (2002); Đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ văn (2002); Văn học so sánh (2004); Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2005), một trong những kết quả lớn của hội nghị khoa học này là sự ra đời của cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy; Nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm trong trường cao đẳng và đại học (2005)…; Cấp trường: Kinh Dịch (2001); Kỉ niệm 100 năm ngày mất Sê-khốp (2004)….


    Trong 10 năm qua, các cán bộ trong khoa đã viết khoảng 900 bài báo, khoảng 200 cuốn sách gồm chuyên luận, giáo trình, giáo khoa.


Nhận thức rõ việc giáo dục đại học không thể tách rời với nghiên cứu khoa học, những khoa học cụ thể không thể phát triển nếu không dựa trên khoa học cơ bản, khoa Ngữ văn đã  liên tục động viên, tạo điều kiện cho các nhà khoa học nghiên cứu, công bố kết quả nghiên cứu khoa học, phục vụ việc giảng dạy tại tất cả các hệ đào tạo. Hiện nay, số sách chuyên luận của các cán bộ trong khoa đã lên tới hàng trăm. Có thể nhắc đến một số chuyên luận nổi tiếng như: Học tập thơ văn chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Đăng Mạnh), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Đặng Thanh Lê), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử), Các trường phái nghiên cứu phê bình văn học Phương Tây thế kỉ XX (Bùi Văn Ba),v.v…


    Khoa thường xuyên tổ chức các sinh hoạt học thuật hàng tháng. Nhiều nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đã dược mời đến thuyết trình và trao đổi về khoa học. Khoa Ngữ văn vừa là nơi khởi xướng, vừa là đơn vị mũi nhọn về nghiên cứu thi pháp học, phong cách học, ngữ dụng học v.v...


    - Về xây dựng đội ngũ, hiện nay khoa đang ở vào thời kì trẻ hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy. Bên cạnh các thế hệ bậc thầy, các thế hệ đàn anh vẫn tiếp tục công tác tại khoa như GS.TSKH Bùi Văn Ba, GS.TS Trần Đình Sử, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, GS.TS Bùi Minh Toán, PGS.TS Nguyễn Đăng Na, PGS.TS La Khắc Hoà, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh, có cả một đội ngũ khá hùng hậu những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học như GS.TS Trần Đăng Xuyền, PGS.TS Trần Lê Bảo, PGS.TS Lê Nguyên Cẩn, PGS.TS Lê Trường Phát, PGS.TS Nguyễn Bích Hà, PGS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Phạm Thu Yến, PGS.TS Vũ Anh Tuấn, PGS.TS Lê Lưu Oanh, PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm, PGS.TS Nguyễn Thị Bình, PGS.TS Lê Quang Hưng, PGS.TS Đỗ Việt Hùng, PGS.TS Lê Huy Bắc, PGS.TS Đinh Thị Khang, PGS.TS  Hà Thị Hoà, PGS. TS Đỗ Hải Phong, PGS. TS Nguyễn Thị Lương; PGS. TS Trần Mạnh Tiến; PGS. TS Vũ Thanh; PGS. TS Nguyễn Viết Chữ, TS Chu Văn Sơn, TS Trần Hạnh Mai, TS Nguyễn Thị Thanh Minh,  TS Nguyễn Thị Mai Liên, TS Đặng  Hảo Tâm, TS Nguyễn Thị Ngân Hoa, TS. Hà Văn Minh, TS. Lê Hải Anh, TS. Trần Văn Toàn, TS. Phạm Thu Hương, TS. Nguyễn Ái Học, TS. Trịnh Thị Lan, TS. Nguyễn Thu Thuỷ, TS. Trần Kim Phượng; TS. Nguyễn Phượng; TS. Dương Tuấn Anh, TS. Nguyễn Thanh Chung, TS. Đặng Thu Thuỷ v.v...


- Về xây dựng cơ sở vật chất, thư viện khoa ngày càng được củng cố và mở rông với số lượng sách phục vụ chuyên ngành đáp ứng được nhu cầu học tập và NCKH của sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh. Khoa đã có một phòng học chuẩn với trang thiết bị dạy và học khá hiện đại.


Bên cạnh Quỹ học bổng Nguyễn Tuân, Giải thưởng Huỳnh Lý, Giải thưởng khuyến khích tài năng trẻ, khoa đã có thêm Giải thưởng NCS xuất sắc trong năm. Các giải thưởng này được trao cho các SV, NCS xuất sắc từng khoá, từng năm, có tác dụng động viên lớn đối với SV, cao học, NCS trong học tập và nghiên cứu khoa học.


    - Về những hoạt động của các tổ chức Đảng, đoàn thể.


    Đảng bộ khoa là trung tâm đoàn kết, giáo dục và định hướng tư tưởng cho SVvà cán bộ toàn khoa, thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ và Trường giao cho. Đảng bộ luôn chú ý tới công việc phát triển Đảng trong cán bộ và sinh viên. Trong 5 năm, Đảng bộ  đã kết nạp được 15 Đảng viên mới.


    Từ năm 2001 đến 2005 , Công đoàn khoa Ngữ văn luôn được xếp loại Công đoàn xuất sắc. Các cuộc thi do Công đoàn cấp trên tổ chức, công đoàn khoa đều tham gia với thành tích cao.    Công đoàn khoa luôn tổ chức các kì nghỉ hè bổ ích và lý thú cho cán bộ: năm 2002: Đà Lạt; 2003: Malaisia và Singapore; 2004: Trung Quốc; 2005: Sapa; 2006: Campuchia. Trong tình hình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, việc làm này của khoa rất có ý nghĩa. Công đoàn khoa chú ý tới công tác phụ nữ. Hàng năm vào dịp 8/3 đều tổ chức cho chị em đi du xuân : Lạng Sơn, Thác Đa, Bắc Ninh…Nhìn chung, Công đoàn hoạt động tích cực, nhiều sáng kiến, góp phần tạo bầu không khí dân chủ, đoàn kết, phục vụ công tác chuyên môn có hiệu quả.


    Chi đoàn cán bộ giảng dạy có vai trò, vị trí quan trọng trong khoa.  Trong 5 năm gần đây, nhiều cán bộ trẻ được tuyển dụng, số Đoàn viên lên tới 39 người, tạo nên một sinh khí mới cho các hoạt động của khoa. Đoàn viên chi đoàn tham gia các công tác phong trào: Thi sinh viên thanh lịch, thi Nghiệp vụ sư phạm, các cuộc thi nhân dịp 26-3, 8-3, 20-11… Đặc biệt, chi đoàn đã ra mắt Tạp san Ngữ văn học của cán bộ trẻ. Tạp san là nơi các cán bộ trẻ trình bày kết quả nghiên cứu khoa học và dịch thuật. Chi đoàn hoạt động tích cực, có hiệu quả, tạo nên không khí trẻ, hăng say nhiệt tình trong mọi công tác của khoa.


    Liên chi đoàn khởi xướng nhiều hoạt động, nhiều phong trào trở thành truyền thống của khoa: Khởi xướng Hội thi thanh lịch từ năm 2000 và trở thành truyền thống; Khởi xướng Câu lạc bộ thơ văn và trở thành nòng cốt Câu lạc bộ thơ văn của Trường; Khởi xướng phong trào dạy học tình nguyện cho trẻ em khuyết tật từ năm 2001, dạy Hán Nôm tình nguyện cho cán bộ và sinh viên, tiếp tục duy trì từ năm 2001 đến nay. Liên chi đoàn liên tục được Trường ĐHSP Hà Nội và tổ chức Đoàn các cấp công nhận là đơn vị có phong trào sinh viên tình nguyện sôi nổi và hiệu quả nhất. (Ví dụ: Phong trào Chung sức cùng cộng đồng, Giáo dục trẻ em khuyết tật, Hiến máu nhân đạo…); liên tục đoạt giải nhất và nhì Hội thi Nghiệp vụ sư phạm, sinh viên thanh lịch của Trường. Tham gia tích cực và thường xuyên dẫn đầu các Hội thi Nghiệp vụ của các trường đại học trong cả nước.


3. Những định hướng mới


- Khoa kết hợp và phát huy hai thế mạnh bề dày truyền thống và trẻ hoá đội ngũ. Những cán bộ giàu kinh nghiệm của khoa nhanh chóng truyền thụ kiến thức và kinh nghịêm cho thế hệ sau. Thế hệ sau tranh thủ học hỏi những người đi trước, tự tin và gánh vác những nhiệm vụ cơ bản của khoa trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý. Đặc biệt, khoa chú ý phát huy thế mạnh của đội ngũ cán bộ trẻ (tốt nghiệp chuyên môn giỏi, ngoại ngữ tốt, thành thạo tin học, năng động, ham học hỏi, nhiệt tình ) trong mọi công việc, từ công tác chuyên môn đến các hoạt động đoàn thể, phong trào.


    - Để hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy - học, để có thể hội nhập và phát triển, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của khoa là phải kết hợp, cùng một lúc nâng cao trình độ về chuyên ngành với trình độ công nghệ thông tin và trình độ ngoại ngữ. Đây là nhiệm vụ chung của toàn khoa nhưng trước hết là nhiệm vụ lớn, trọng tâm của các cán bộ giảng dạy trẻ. Những cán bộ giảng dạy trẻ hiện nay và là tương lai sau này của Khoa Ngữ văn phải là những người có trình độ cao về khoa học chuyên ngành, giỏi về ngoại ngữ, thành thạo trong việc vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học.


    - Kết hợp giữa chuyên ngành và đa ngành, đa dạng hóa trong đào tạo. Hướng phát triển lâu dài và bền vững của Khoa vẫn là khẳng định vị thế hàng đầu về chuyên ngành ngữ văn nhưng điều đó không có nghĩa là bó buộc và khép kín trong chuyên ngành. Những trang sử tiếp theo của Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ phong phú, đa dạng hơn nếu có những trang, dòng viết về cử nhân văn học, cử nhân ngôn ngữ ngoài sư phạm, cử nhân văn học - báo chí, giảng dạy tiếng Việt, văn học cho người nước ngoài v.v...


    - Tiếp tục xu hướng hội nhập mạnh hơn, hiệu quả hơn. Khoa Ngữ văn có thế mạnh trong đào tạo sinh viên nước ngoài. Đó là thế mạnh về dạy tiếng Việt, dạy văn hóa Việt Nam, dạy văn học Việt Nam trong mối liên quan với nhiều ngành khoa học xã hội khác. Với sự năng động và tự tin, Khoa Ngữ văn đã không đứng chờ xu hướng hội nhập đưa vào quỹ đạo chung của thế giới. Khoa Ngữ văn đã chủ động, sẽ tích cực chủ động tham gia vào tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế.


    Khoa Ngữ văn là một trong những đơn vị lớn nhất, có một bề dày lịch sử và những thành tích lớn lao trong lịch sử xây dựng Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Đội ngũ cán bộ đầu ngành tập trung ở khoa đã làm cho khoa Ngữ văn trong nhiều năm trở thành một trong những trung tâm có uy tín nhất về khoa học ngữ văn và sư phạm của cả nước.


    Khoa Ngữ văn luôn luôn cố gắng phát huy tối đa tác dụng đối với  ngành giáo dục, đối với xã hội trong nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành ngữ văn. Những thành tích, những đóng góp của khoa đã góp phần làm nên vị thế vững mạnh của trường Đại học sư phạm Hà Nội với tư cách là một trường trọng điểm quốc gia, trường đầu đàn của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước.  


    Bốn đặc điểm và cũng là những truyền thống lớn hết sức quý báu của Khoa Ngữ văn đã được tổng kết nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập khoa, cho đến hôm nay vẫn được giữ vững và phát huy.


    Trong quá khứ cũng như trong hiện tại và tương lai, đại gia đình Khoa Ngữ văn luôn là ngôi nhà lớn của trí tuệ và tình thương.


    Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội có những đặc điểm nổi trội mang tính chất truyền thống như sau:


    Đoàn kết nội bộ


    Trong thực tế, không phải không có sự va chạm ít nhiều giữa người này người khác ở lúc này lúc khác, nhưng nhìn trên tổng thể, suốt 60 năm qua, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội vẫn có một truyền thống đoàn kết thật đáng quí: Đoàn kết giữa những người trong Đảng và những người ngoài Đảng, giữa lớp già và lớp trẻ, giữa lớp già với nhau và lớp trẻ với nhau, giữa các thầy cô giáo với các cán bộ nhân viên. Chỉ cần tham dự một số buổi họp chung của toàn khoa, chỉ ít một số buổi gặp nhau đầu tuần ở văn phòng khoa, ai cũng dễ cảm nhận được cái không khí đoàn kết đã thành một đặc điểm mang tính truyền thống đó của khoa. Có được truyền thống đoàn kết đó, trước hết phải nói đến sự nâng đỡ của chính nghề nghiệp nhà giáo vốn  đòi hỏi mọi người luôn luôn phải cố gắng làm gương cho học trò; nhất là nghề giảng dạy văn chương giàu chất nhân bản, hướng con người tới chân - thiện - mĩ. Dĩ nhiên, còn phải nói đến công ơn của những bậc thầy đã sống và làm việc mẫu mực, góp phần lập đức, làm hạt nhân đoàn kết cho khoa mà hôm nay nhiều vị đã thành người thiên cổ. Các vị chủ nhiệm khoa đầu tiên như GS. Đặng Thai Mai, GS. Nguyễn Lương Ngọc, và các giáo sư như Nguyễn Trác, Huỳnh Lý… thực sự đã tiêu biểu cho những tấm gương sáng đẹp đó.


           Tôn sư trọng đạo


    Dân tộc ta từ bao đời đã có truyền thống tôn sư trọng đạo. Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội trong 50 năm qua cũng đã vun đắp, bảo vệ được truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc để làm nên một đặc điểm của khoa. ở đây tinh thần trọng đạo được biểu hiện trước hết ở thái độ quý trọng nghề dạy học, ở ý thức tự rèn luyện để xứng đáng với tư cách là thầy cô giáo. Điều đó không chỉ là chuyện của các thầy cô. Nó cũng là chuyện của các thầy trò ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà sau đó họ cũng thành thày cô giáo. Trọng đạo phải đi đôi với tôn sư. Tôn sư là đạo lý của trò đối với thầy, dù là thầy già hay thầy trẻ, và cũng là đạo lý của lớp thầy trẻ đối với lớp thầy già. Có được truyền thống tôn sư đó,  một phần là nhờ trong suốt mấy chục năm qua, ở Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội từ cấp uỷ đảng, đến ban chủ nhiệm, các đoàn thể đã có nhiều chủ trương, nhiều biện pháp hữu hiệu nhằm tạo nên truyền thống gắn bó giữa thầy và trò, ở đây, ít nhiều tạo nên một áp lực tâm lý sẵn sàng lên án những ai vi phạm truyền thống tôn sư dù lúc còn ngồi trên ghế nhà trường hay lúc đã vào đời với bất cứ cương vị nào. Truyền thống trọng đạo tôn sư cũng dẫn đến truyền thống gắn bó giữa những người cựu sinh viên Văn ĐHSP Hà Nội đồng môn, đồng song. Các cuộc hội lớp, hội khoá chan chứa thân tình của cựu sinh viên Văn  ĐHSP Hà Nội, nhất là trong những năm gần đây đã phản ánh rõ nét truyền thống đó.


    Quyết tâm giữ vững thế mạnh trong đào tạo và nghiên cứu khoa học


    Đây là một thế mạnh đã có ngay từ buổi đầu thành lập, khoa nhờ sự có mặt của đội ngũ giáo sư tuy còn ít nhưng đều là những nhà văn hoá lớn, những  tri thức lớn của đất nước. Chính từ cái đà đó mà liên tục về sau, trong vòng nửa thế kỷ qua, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội vẫn luôn luôn cố gắng có được một đội ngũ thầy cô giáo trong đó số người giỏi khá nhiều, đủ khả năng duy trì được vị trí là một khoa mạnh vào loại nhất trong nhà trường ĐHSP Hà Nội. Chẳng những thế, đối với xã hội, nó cũng được tiếng là một đơn vị đào tạo và nghiên cứu Ngữ văn giàu uy tín. Không ít thầy cô giáo của khoa đã được dư luận coi là những nhà khoa học thuộc loại đầu ngành trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam, văn học thế giới, lý luận văn học, ngôn ngữ học, phương pháp giảng dạy văn học, Hán Nôm. Có được điều đó, phải kể đến lòng quyết tâm tự học để vươn lên, tinh thần chủ động của những thầy cô giáo giỏi trong việc xác định quan niệm: trường ĐHSP Hà Nội làm nhiệm vụ sư phạm, đào tạo giáo viên nhưng trước hết phải cố gắng là nhà khoa học giỏi để trở thành nhà sư phạm giỏi - chỉ có thể giỏi sư phạm một khi đã có khoa học giỏi. Nhờ đó mà có thế mạnh được coi như là một đặc điểm nổi trội của khoa mà mọi thầy cô giáo trong khoa hôm nay sẽ tự hào và có trách nhiệm bảo vệ và phát triển.


    Gắn bó với sự nghiệp của ngành giáo dục và sự nghiệp chung của đất nước


    Là một đơn vị lớn trong nhà Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã và đang đóng vai trò “máy cái” của nền giáo dục Việt Nam, “đầu tàu” của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước, suốt mấy chục năm qua, khoa Ngữ văn luôn luôn gắn bó, cố gắng phát huy tới mức tối đa tác dụng đối với toàn ngành giáo dục, đối với các trường sư phạm thuộc phạm vi cả nước chuyên ngành Ngữ văn, trên những hoạt động: đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, xây dựng chương trình, viết giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu bồi dưỡng, tài liệu tham khảo ở đủ các cấp học từ tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học. Điều đó đã được dư luận toàn ngành khẳng định.


    Sự gắn bó của khoa không chỉ với ngành giáo dục mà còn với sự nghiệp chung của đất nước, trước hết là trên phương diện ý thức hệ, tư tưởng chính trị cơ bản của thời đại, và những nhiệm vụ lớn của đất nước: đấu tranh  chống thực dân Pháp xâm lược, chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, xây dựng Tổ quốc theo định hướng XHCN bằng những hình thức cụ thể: thầy và trò cùng tham gia quân đội đi chiến đấu ở chiến trường B, đắp đê chống lũ, đào sông khơi nước giúp dân thu hoạch mùa màng. Hơn nữa, bằng khả năng trí tuệ, bằng trình độ văn hoá học thuật của những tri thức trong một khoa Ngữ văn có vị trí hàng đầu cả nước, đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đời sống văn hoá, khoa học, đời sống ngôn ngữ và thẩm mỹ của đất nước.


    Những đặc điểm trên thực chất đã trở thành những truyền thống quý báu của khoa, có sức sống mãnh liệt và lâu bền. Giữ vững và phát huy những truyền thống đó, khoa Ngữ văn, sẽ cùng với các đơn vị khác, xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực sự là một trường trọng điểm quốc gia, trường đầu đàn của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước.


Nguồn: nguvan.hnue.edu.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
30/01/1933: Adolf Hitler trở thành Thủ tướng Đức, nhiều cuộc mưu sát không thành, ngày 30-4-1945, hắn tự sát - Tư liệu sưu tầm 29.05.2017
Chân dung Tập Cận Bình - Evan Osnos 29.05.2017
2 bài nên đọc về H. Kissinger - Nhiều tác giả 28.05.2017
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »