tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18520352
04.10.2014
Tư liệu
CLB Manchester United & Sân vận động Old Trafford

Old Trafford (hay còn gọi là Nhà hát của những giấc mơ) là một sân vận động bóng đá có ghế ngồi toàn bộ ở Đại Manchester, Anh và là sân nhà của câu lạc bộ bóng đá Manchester United - câu lạc bộ vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá Anh với 20 chức vô địch quốc gia và là một trong 3 CLB có lượng người hâm mộ đông nhất thế giới cùng với 2 CLB của Tây Ban Nha là Real Madrid và Barcelona. Với sức chức 75.957 chỗ ngồi, Old Trafford là sân vận động lớn thứ hai nước Anh (sau Wembley).



Nhà văn Triệu Xuân thăm sân vận động Old Trafford tháng 6-2014. Ảnh Lê Hạnh


Manchester United chọn sân Old Trafford làm sân nhà từ năm 1910. Tuy nhiên, trong 8 năm từ 1941 đến 1949, Manchester United phải chung sân Maine Road với đối thủ cùng thành phố Manchester City.


Old Trafford thường xuyên tổ chức các trận bán kết thuộc Cúp FA cũng như các trận đấu quốc tế của Anh.


Khởi công năm 1909, Old Trafford được hoàn tất vào năm 1910, với tổng kinh phí xây dựng lên đến 60 000 bảng, trở thành ngôi nhà mới của CLB Manchester United, thay thế cho vận động trường cũ kỹ Bank Street ở Clayton. Sân bóng được thiết kế bởi kiến trúc sư tài ba Archibald Leitch, cũng là người đã xây nên các cầu trường danh tiếng khác của Anh quốc như Hampden Park, Ibrox, và White Hart Lane.


Vào các năm 1911 và 1915, Old Trafford là địa điểm tổ chức chung kết cúp FA. Năm 1939, sân thu hút 1 lượng khán giả kỷ lục là 76.962 người đến theo dõi trận bán kết cúp FA giữa Grimsby và Portsmouth. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến (1939-1945), Old Trafford bị tàn phá nặng nề bởi những cuộc oanh tạc bằng không quân của phát xít Đức, do thế mà trong suốt 3 năm sau đó từ 1946 đến 1949, Manchester United phải "đá nhờ" tại sân Maine Road của CLB cùng thành phố là Manchester City. Năm 1966, Old Trafford là 1 trong những sân vận động được dùng cho World Cup tổ chức tại Anh. Trận chung kết tái đấu cúp FA năm 1970 giữa Leeds và Chelsea cũng diễn ra tại đây. Trong thập niên 1970, Nhà hát của những Giấc mơ trở thành sân bóng đầu tiên ở Anh được trang bị hàng rào quanh sân, nhằm ngăn chặn những hành vi quá khích của cổ động viên (hàng rào này về sau bị dỡ bỏ).


Thiết kế nguyên thủy của Old Trafford bao gồm 1 khán đài ngồi có mái che, và 3 mặt khán đài đứng lộ thiên. 3 mặt lộ thiên này sau đó đều được lắp đặt thêm mái bằng, với những hàng cột chống đỡ bên dưới.. Những hàng cột dĩ nhiên gây trở ngại cho tầm nhìn của người hâm mộ, do vậy mà trong thập niên 1960, người ta thay thế hệ thống mái che cũ bằng những tấm mái chìa không cần đến cột trụ.


Song song với việc nâng cấp thường xuyên, sức chứa của Old Trafford cũng dần được thu nhỏ lại, từ thập niên 1960 trở đi thì chỉ còn có 58 000 chỗ. Sang đến đầu thập niên 1990, sân lại phải trải qua 1 đợt tái thiết, dỡ bỏ hoàn toàn những khu khán đài đứng, và thay vào đó khán đài ngồi, ngõ hầu đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn cầu trường của liên đoàn bóng đá Anh. Sau lần tái thiết ấy, sức chứa của sân bị rút xuống còn có… 44.000 chỗ, quá ít với 1 đội bóng tầm cỡ như MU. Nhận rõ sự bất cập, ban lãnh đạo CLB quyết định mở rộng Old Trafford vào năm 1995 với việc xây mới khu khán đài 3 tầng phía Bắc, tăng tổng sức chứa lên 56.000. Tân khán đài phía Bắc, với kinh phí xây dựng 19 triệu bảng, có chiều cao 200 feet, và sở hữu 1 giàn mái chìa lớn nhất toàn châu Âu. Viện bảo tàng Manchester United, phòng truyền thống, khu nhà hàng Red Café, và những khán phòng đặc biệt dành cho các VIP cũng tọa lạc nơi khán đài mới này.


Tuy thế, khán đài phía Nam mới là trung tâm của Old Trafford, với khu vực dành cho ban huấn luyện, phòng kiểm soát an ninh, khu tác nghiệp truyền hình, cũng như các văn phòng quản trị và vài nhà hàng sang trọng. Điểm đặc biệt của khán đài phía Nam là hơi dốc, do đó mà có phần thấp hơn 3 khán đài còn lại. Đường hầm dành cho cầu thủ trước kia cũng từng nằm ở trung tâm khán đài Nam, nhưng đến năm 1993 thì được chuyển sang nằm ở góc Tây Nam, cùng với phòng chờ và phòng thay quần áo. Đường hầm cũ vẫn còn, nhưng bỏ không, chỉ mở cửa mỗi khi có khách tham quan, hay nhân 1 dịp đặc biệt nào đó.Bây giờ,khán đài phía Nam có tên là khán đài Sir Alex Ferguson và cửa khán đài có bức tượng vị huấn luyện viên huyền thoại này để tri ân ông với những đóng góp cho đội bóng


Khán đài phía Đông ngoài những chỗ ngồi thông thường, còn có khu dành riêng cho cổ động viên đội khách nằm ở góc Đông-Nam, và khu dành cho người khuyết tật ở kế cận. Tên gọi trước đây của khán đài này là Hậu Đài. Bảng Gôn và bảng tỷ số được đặt ở đấy. Về sau, bảng tỷ số này được thay thế bằng 2 bảng điện tử gắn tại 2 góc khán đài Bắc. Tháng 1-2000, khán đài Đông được xây thêm lên 1 tầng, góp thêm 3.000 chỗ vào tổng sức chứa của Old Trafford. Mặt tiền khán đài Đông trông như 1 cao ốc văn phòng, với những bức tường và cửa đều làm bằng kính tráng thiếc, phía trước là tượng đài ngài Matt Busby, bảng đồng tưởng niệm thảm họa Munich, cùng với chiếc đồng hồ nối tiếng ghi nhớ thời khắc định mệnh ngày 6 tháng 2 năm 1958. Cửa hàng kinh doanh đồ lưu niệm Manchester United cũng nằm trong khu này.


Khán đài phía Tây, tức hậu đài Stretford, là chỗ tụ hội của các fan hâm mộ cuồng nhiệt nhất. Trước kia, nơi đây là khu khán đài đứng với 20.000 fan "to mồm" (Người ta đã từng đo đạc và phát hiện ra rằng: tiếng ồn do các fan khán đài Stretford gây nên còn dữ dội hơn cả âm thanh gầm rít phát ra khi 1 chiếc phi cơ phản lực cất cánh). Sau năm 1993, Stretford được cải tạo thành khán đài ngồi, và đến tháng 8 năm 2000 thì được xây thêm tầng 2. Tại hội trường bên trong tầng 2 này, có tượng đài của siêu sao vang bóng 1 thời Denis Law, người mang biệt danh "ông vua của Stretford".


Sau khi tầng 2 của khán đài Tây hoàn tất, sức chứa của Old Trafford là 68.217 chỗ. Hiện nay, kế hoạch tiếp tục mở rộng 2 góc Tây Bắc và Đông Bắc khởi công từ đầu tháng 8-2005 đã hoàn thành. Từng khu khán đài mới đang dần đưa vào hoạt động ở một số trận đấu cuối cùng của mùa giải 2005/06, trước khi chính thức trở thành một phần của SVĐ huyền thoại này kể từ mùa giải 2006/07 trở đi. Tổng sức chứa của sân Old Trafford sau khi dự án mở rộng này hoàn thành sẽ là 75.000, đứng thứ 2 ở Anh, sau SVĐ quốc gia Wembley. Về lâu về dài, ban lãnh đạo Manchester United còn dự tính xây mới khán đài Nam với kiến trúc tương tự như khán đài Bắc, nhằm tăng sức chứa lên 1 con số khổng lồ là … 92.000.


Năm 1996, Old Trafford đăng cai 1 trận bán kết EURO tổ chức tại Anh. Năm 2003, sân vinh dự trở thành địa điểm của trận chung kết Champions League giữa AC Milan và Juventus. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng không khí ở Old Trafford hiện nay có phần kém sôi nổi hơn trước, Sir Alex Ferguson cũng hay phàn nàn rằng các fan giờ đây hay ồn ào vô lối và ít còn đồng ca như xưa. Do đó, tầng trên của hậu đài Stretford đã được tổ chức thành 1 khu chuyên ca hát cổ vũ, nhằm tạo lại sự hưng phấn của những ngày xưa…. Dù cho thế nào chăng nữa, Old Trafford vẫn luôn luôn vĩ đại, và ma thuật của nhà hát giấc mơ không bao giờ ngưng mê hoặc những "túc cầu giáo dân".


Câu lạc bộ bóng đá Manchester United



- Nhấn chuột vô đây, đọc Danh sách cầu thủ của Manchester United



 


Trụ sở tại Trafford, Greater Manchester. Đây là một trong những câu lạc bộ thành công tại nước Anh, đã từng 20 vô địch bóng đá Anh, đoạt Cúp FA 11 lần và UEFA Champions League 3 lần.


Đại kình địch của Manchester United là câu lạc bộ Liverpool, Leeds United, Arsenal và đội bóng cùng thành phố Manchester City.[3][4]


Câu lạc bộ được hình thành với cái tên Newton Heath (L & Y.R. F.C) vào năm 1878 và là một đội làm việc thuộc ga xe lửa Lancashire and Yorkshire Railway tại Newton Heath. Sau khi suýt phá sản vào năm 1902, câu lạc bộ được tiếp quản bởi J.H. Davies - người đã đổi tên nó thành Manchester United như ngày nay. Manchester United chọn Sir Matt Busby làm huấn luyện viên sau Thế chiến thứ hai, và chính sách chưa bao giờ được nghe đến lúc bấy giờ của ông trong việc lấy phần lớn cầu thủ từ đội trẻ đã mang lại thành công, với việc đội bóng đoạt giải vô địch quốc gia vào năm 1956 và 1957. Thành công ấy bị tạm dừng bởi thảm họa máy bay tại München vào năm 1958, trong đó tám cầu thủ của đội đã thiệt mạng. Nhiều người đã nghĩ đội bóng có lẽ đã gục ngã, nhưng một lần nữa Busby sau khi bình phục đã xây dựng một đội hình mạnh khác mà sau đó đã đoạt giải vô địch quốc gia các năm 1965 và 1967, và trở thành đội bóng Anh đầu tiên vô địch UEFA Champions League năm 1968.


Manchester United không có được những thành công lớn như vậy cho đến thập niên 1990 và những năm đầu 2000, khi Sir Alex Ferguson dẫn dắt đội đoạt 8 chức vô địch giải ngoại hạng trong 11 mùa giải. Vào năm 1999, Manchester United trở thành đội bóng đầu tiên đoạt ba chức vô địch trong một mùa giải - Ngoại hạng Anh, cúp FA và UEFA Champions League - một kỉ lục đến giờ vẫn chưa bị phá vỡ. Câu lạc bộ được vận hành dưới dạng công ty tránh nhiệm hữu hạn cổ phần từ 1991, và khả năng bị giành quyền kiểm soát là rất cao. Sự cố gắng tiếp quản câu lạc bộ của Rupert Murdoch đã bị ngăn chặn bởi chính phủ Anh vào năm 1999, nhưng vào năm 2005 Malcolm Glazer hoàn thành một cuộc tiếp quản không thân thiện, bất chấp sự ngăn cản đáng kể từ nhiều cổ động viên của United.


Vào cuối mùa giải 2012-13 Sir Alex Ferguson tuyên bố nghỉ hưu và chọn HLV của Everton lúc đó là David Moyes thay thế nhưng chỉ sau 10 tháng, đến cuối mùa giải 2013-14 ông đã bị sa thải. Vào ngày 19 tháng 5 năm 2014, HLV của Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan Louis van Gaal được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ.[5] Trận đấu đầu tiên dưới triều đại của HLV Louis van Gaal là chiến thắng 7-0 trước LA Galaxy tại Mỹ.


Những năm đầu (1878-1945)


Manchester United được thành lập năm 1878, mặc dù dưới một cái tên hoàn toàn khác - Newton Heath LYR (Công ty Đường sắt Lancashire và Yorkshire).


Một chút hoài nghi về ảnh hưởng của mình đối với cuộc chơi trong nước, thậm chí trên thế giới, những người công nhân trong khu đường sắt tại Newton Heath chỉ muốn hưởng thụ niềm đam mê của mình qua những trận đấu với đội bóng của những bộ phận khác của công ty đường sắt Lancashire và Yorkshire hay những công ty đường sắt khác.


Thật ra, khi Liên đoàn bóng đá Anh được thành lập năm 1888, Newton Heath không nghĩ rằng họ đủ khả năng để trở thành những thành viên sáng lập như những câu lạc bộ khác trong đó có Blackburn Rovers và Preston North End. Thay vào đó họ đã chờ đến năm 1892 mới bắt đầu bước vào cuộc chơi. Tuy nhiên, họ bắt đầu mùa bóng đầu tiên thật tệ hại, đứng cuối bảng và phải đá trận play-off với Small Heath (nay là Birmingham City) để trụ lại.


Đoạn phim được biết đến sớm nhất của Manchester United là trận thắng 2–0 tại Burnley vào ngày 6 tháng 12 năm 1902, quay bởi Mitchell and Kenyon.


Đội Manchester United team vào mùa giải 1905/6. Họ đã giành ngôi á quân giải hạng nhì và được lên hạng


Những năm sau đó, Newton Heath gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, thậm chí khi bắt đầu bước vào thế kỷ 20, họ đã dự định giải thể đội bóng. Tuy nhiên, một ông chủ nhà máy bia ở địa phương, John Henry Davies, đã đứng ra cứu câu lạc bộ. Chuyện kể rằng John Henry Davies chỉ biết về tình hình khó khăn của đội bóng khi ông bắt gặp một con chó của đội trưởng Newton Heath, Harry Stafford.


Davies quyết định đầu tư vào đội bóng chỉ với mong muốn được điều hành nó. Điều này đã dẫn đến việc thay đổi tên của đội bóng, sau một vài lựa chọn như Manchester Central và Manchester Celtic bị từ chối, cái tên Manchester United đã ra đời vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1902.


Nhân vật có ảnh hưởng tiếp theo đến với Manchester United là Ernest Mangnall, người được bổ nhiệm làm thư ký cho đội bóng vào tháng 9 năm 1903 nhưng được biết đến nhiều hơn như là huấn luyện viên đầu tiên của câu lạc bộ. Câu lạc bộ của Ernest Mangnall, cùng với những cầu thủ mới ký được như thủ môn Harry Moger và tiền đạo Charlie Sagar, đã kết thúc ở vị trí thứ ba giải hạng hai mùa giải 1903/04 và 1904/05.


Mùa giải tiếp theo, 1905/06, đã chứng tỏ là một trong những mùa giải vĩ đại nhất trong giai đoạn đầu của Manchester United. Hàng trung vệ với Dick Duckworth, Alex Bell và đội trưởng Charlie Roberts có công rất lớn khi đưa đội vào tới vòng tứ kết cúp FA, nhưng quan trọng hơn là đội bóng đã kết thúc mùa giải với vị trí thứ hai giải hạng hai. 12 năm sau khi bị xuống hạng, Manchester United đã giành lại được vị trí của mình trong nhóm đầu.


Để chào mừng chiến thắng trở lại giải hạng nhất, Mangnall đã ký hợp đồng với Billy Meredith từ đối thủ kình định cùng thành phố Manchester City. Còn được đặt biệt danh là Phù thuỷ Xứ Uên, Meredith đã từng dính vào một vụ sì-căng-đan bán độ tại Manchester City và bị đưa ra bán đấu giá cùng với 17 cầu thủ khác. Mangnall nhanh chóng quyết định và đã có được chữ ký của Meredith trước khi cuộc đấu giá bắt đầu


Sự gia nhập của cầu thủ chạy cánh này đã mang lại cảm hứng cho toàn đội - Meredith đã kiến thiết vô số bàn thắng cho Sandy Turnbull trong mùa giải1907/08 khi Manchester United đoạt chức Vô địch Giải bóng đá Anh (Football League Championship) lần đầu tiên.


Danh hiệu thứ ba được bổ sung vào bảng danh dự của câu lạc bộ là Cúp FA, tại cuối mùa giải khốc liệt năm 1909. Manchester United đánh bại Bristol City 1-0 trong trận chung kết với bàn thắng của Sandy Turnbull.


Là nhà vô địch, năm 1908 Manchester United đã chơi trận đấu tranh FA Charity Shield lần đầu tiên trong lịch sử của mình. Họ đã đánh bại đội đoạt cúp FA, Queen Park Rangers với tỷ số 4-0 nhờ vào một cú hat-trick của cầu thủ cùng họ với Sandy, Jimmy Turnbull.


Và như vậy chương đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ đã kết thúc trong tiếng tăm lừng lẫy, hứa hẹn nhiều thành tích hơn nữa trong giai đoạn tiếp theo, trong đó có việc chuyển sang một sân vận động mới, một thánh địa bất diệt đã ra đời – Old Trafford.


Kỉ nguyên của Matt Busby


Thế chiến lần 2 nổ ra đã đẩy lùi bóng đá ra khỏi suy nghĩ của mọi người suốt giữa những năm từ 1939 đến 1946. Nhưng thậm chí khi giải đấu vắng bóng, Old Trafford vẫn được chăm sóc một cách cẩn thận.


Vào ngày 11/3/1941, sân vận động đã bị trúng bom trong suốt thời kì Quốc Xã Đức tấn công. Sự tấn công đó đã phá hủy toàn bộ khán đài chính, phòng thay đồ của cầu thủ và những phòng chuyên dùng.. Sự tàn phá đó là một điều gây xúc động mạnh nhưng sự lạc quan đã đến ngay sau đó không lâu.


Một người đàn ông đã gia nhập vào Manchester United, người được coi là quan trọng nhất trong lịch sử của câu lạc bộ Manchester United - Matt Busby, Cựu cầu thủ của Manchester City và Liverpool. Ông đến "Quỉ đỏ" vào năm 1945 với một bản hợp đồng ngắn hạn 5 năm nhưng không ai có thể ngờ, ông là huấn luyện viên của Manchester United suốt 25 năm sau đó.


Busby không mất nhiều thời gian để xây dựng đội hình cũng như thể hiện trình độ của mình, biến đổi một vài vị trí trong đó có cả những cầu thủ được coi là quan trọng trước đó. Ông cũng đã kiếm "bộ năm tiền đạo nổi tiếng" khi mua họ về trong cùng một thời điểm:Jimmy Delaney,Stan Pearson,Jack Rowley, Charlie Mitten và Johnny Morris.


Tuy nhiên chữ kí quan trọng nhất mà Busby có được không phải là một huấn luyện viên mà là một trợ lý huấn luyện viên, người mà ông đã gặp trong suốt chiến tranh và được nhận định như một cánh tay phải hoàn hảo, Jimmy Murphy. Bộ đôi này đã cùng nhau hướng tới mục tiêu đưa United trở thành một quyền lực của bóng đá Thế Giới.


F.A Cup cũng là chức vô địch đầu tiên mà câu lạc bộ có được kể từ lần vô địch giải hạng nhất vào năm 1911 và đó cũng là mục tiêu số một mà giờ đây các chàng trai của Matt Bushy đang hướng tới. Trong suốt năm mùa giải đầu tiên ở United, Matt Bushy đã mang về cho câu lạc bộ 2 trong bốn chiếc cúp quan trọng nhất và 4 trong nhiều chiếc khác (1949/1950). Busby và Murphy đã bước những bước đầu tiên trên con đường xây dựng một đội bóng tuyệt vời và tất nhiên trước tiên phải có sự thay đổi trong thành tích ở nội địa. Họ đã có một chút thành công khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai sau Liverpool mùa giải 1946/47, một vị trí cao nhất câu lạc bộ có được trong 36 năm đó cũng là lý do chính cho sự lạc quan để rồi đội bóng đã giành được chức vô địch cúp liên đoàn trong cùng năm.


Những chàng trai của United trộn lẫn giữa những tài năng địa phương và các cầu thủ đã khẳng định được mình, United đã có thành tích đầu tiên của họ trong năm tiếp theo khi họ đánh bại đội bóng Blackpool với Stanley Matthews, Stan Mortensen, Harry Johnston trong trận chung kết F.A Cup 1948. Đó là lần đầu tiên sau 39 năm đội bóng "Quỉ đỏ" trở lại với chức vô địch từ năm 1909.


Những thành tích tuyệt vời đã mang người hâm mộ trở lại với đội bóng - đã có hơn 1 triệu người đến xem đội thi đấu trong mùa giải 1947/1948, cùng với đó là sự thoát khỏi nợ nần. Chắc chắn các fan sẽ không phải chờ quá lâu để "sờ" vào được những chiếc cúp mà họ khao khát bấy lâu nay....


Giai đoạn 1950-1968


Nếu mọi điều tốt đẹp phải kết thúc, điều đó hiển nhiên đúng với đội bóng dưới sự huấn luyện của Matt Busby. Sau hậu chiến, United đã có những thành công rực sáng vào thập niên 1950.


Sự bất đồng ý kiến về chiến thuật trong trận chung kết F.A Cup năm 1948 trong phòng thay đồ là một dấu hiệu không tốt đẹp cho sự tan rã chăng ? khi mà Johnny Morris rời Old Trafford đến Derby và Charlie Mitten mang tài năng của mình đến đất nước Nam Mĩ Colombia. Một vài người hâm mộ đã vô cùng lo lắng khi câu lạc bộ mất một số ngôi sao nhưng một vài khác trong số họ tỏ ra tin tưởng vào Bushy coi đó như một sự trung thành.


Kế hoạch tuyệt vời của người đàn ông Scotland đó là "những chàng trai trẻ cho tương lai", họ đã được chiêu mộ từ cuối những năm của thập niên 1940. Jackie Blanchflower và Roger Byrne là những cầu thủ trong lứa đầu tiên và họ đã được gán cho cái tên là "Babes" bởi một tờ báo trong trận ra mắt đầu tiên của họ vào mùa giải 1951/1952,United đã chiến thắng giải đấu quan trọng nhất (cúp hạng nhất cũ) lần đầu tiên kể từ năm 1911.


Byrne, 21 tuổi, đã tham gia các trận đấu quan trọng và tỏ ra thành công, với 24 lần xuất hiện bao gồm 6 lần mà ghi được 7 bàn bên cánh trái, anh trở thành một hậu vệ trái thật sự và là đội trưởng của United trong 4 năm từ tháng 2 năm 1954.


Trong hai mùa bóng liên tiếp 1955/1956 và 1956/1957.Byrne đã được nâng chiếc cúp vô địch với tư cách là một thủ quân của một đội bóng trẻ tuyệt vời bao gồm những cầu thủ trưởng thành dưới sự huấn luyện của Bushy.Eddie Colman, Mark Jones và David Pegg tất cả họ trở thành những người thường xuyên có mặt trong đội hình chính kể từ khi được đưa lên, sau một loạt chức vô địch ở F.A Cup dành cho lứa thanh niên bắt đầu vào năm 1953.


Không phải các tài năng đều là những cầu thủ do United đào tạo nhưng các huấn luyện viên của Man Utd tỏ ra hài lòng với những sự lựa chọn đúng đắn của họ:£30,000 với Tommy Tylor,một tiền đạo từ Barnsley. Anh tỏ ra là một "chữ kí" xuất sắc khi tiếp tục có những bàn thắng cho cả câu lạc bộ và đội tuyển Anh. Một cuộc đầu từ tốt khác với thủ môn Harry Gregg đến từ Doncaster Rovers vào tháng 12 năm 1957.Với phí chuyển nhượng là £23,000, anh trở thành thủ môn đắt giá nhất lúc bấy giờ.Dường như ngay lập tức anh trở thành người chặn đứng các cú sút số một cho cả United và đội tuyển Bắc Ai-len.


Một tài năng trẻ xuất sắc khác cho cả câu lạc bộ và đội tuyển Quốc Gia Anh là Duncan Edwards. Một cầu thủ có sức mạnh, tài năng và sự trưởng thành mặc dù đang ở độ tuyển thiếu niên vì vậy Matt Bushy không thể nào mà không mang anh về United.Vào tháng 4 năm 1953, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất ở giải hạng nhất khi mới tròn 16 tuổi và 185 ngày. Một trận đấu đã cô đọng lại đượcmột đội hình Babes mới, xuất sắc của Bushy nhiều nhất đó là trận gặp Arsenal trên sân Highbury 1/2/1958. Trước 63,578 khán giả MU đã đánh bại "những khẩu thần công" với tỷ số 5-4 từ những bàn thắng của Ewards, Taylor(2),Bobby Charlton và Denis Viollet.


Buồn thay, trận đấu tuyệt vời nhất trong lịch sử bóng đá Anh cũng là một trận cầu cuối cùng của một đội bóng xuất sắc trong lịch sử United.Từ Highbury, các cầu thủ đáp máy bay đi thi đấu ở giải vô địch Châu Âu để tham gia trận đấu ở vòng 2 gặp "Sao đỏ Belgrade" và tỷ số của trận đấu là 3-3


Chiến thắng 5-4 trước đó là sự thể hiện của một tập thể vững mạnh, chuyến bay định mệnh trên bầu trời Munich diễn ra ngay sau đó ngày 6/2/1958,những tin tức về tai nạn thảm khốc bay về đã làm tăng lên nỗi buồn của thành Manchester..22 người đã mất bao gồm 7 cầu thủ là Byrne, Colman, Jones, Pegg, Taylor, Geoff Ben và Liam Whelan..cầu thủ thứ 8 là Duncan Edwards - đã không vượt qua khỏi chấn thương mặc dù đã được sự giúp đỡ nhiệt tình từ bệnh viên của nước Đức sau 15 ngày.


Sự đau buồn bao trùm lên câu lạc bộ, thành phố và các trận cầu trong một thời gian dài và dường như có một điều không thể tưởng tượng được rằng nếu United tìm được vinh quang sau thảm họa khủng khiếp.


Nhưng khi Matt Bushy không vượt qua được thương tích trầm trọng và phải có một cuộc điều trị lâu dài thì dường như United cũng có sự bấp bênh. Đội bóng được điều khiển bởi trợ lý huấn luyện viên Jimmy Murphy, họ đã vào được chung kết F.A Cup năm 1958. Họ đã bị thua trước Bolton Wanderers, 12 tháng sau khi để thua Aston Villa cũng trong trận trung kết.


Mùa giải 1967-1968, MU lọt vào chung kết cúp C1 và giành chiến thắng 4-1 trước SL Benfica trên sân Wembley. Bobby Charlton mở tỉ số ở phút thứ 53 tuy nhiên sau đó phút thứ 75, tiền đạo Graca của Benfica lại ghi bàn gỡ hòa. Trận đấu phải bước sang hiệp phụ. Phút thứ 3 của hiệp phụ thứ nhất, George Best lập công giúp Quỷ Đỏ dẫn trước 2-1. Một phút sau đó, Brain Kidd ghi bàn, nâng tỉ số lên 3-1. Phút thứ 99, Bobby Charlton tung cú sút tuyệt đẹp vào góc xa khi đối mặt với thủ thành José Henrique, giúp cho Quỷ Đỏ tiến rất gần tới chức vô địch. Tỉ số 4-1 được giữ nguyên cho đến cuối trận và Manchester United đã giành được chiếc cúp C1 đầu tiên trong lịch sử CLB.


1969-1986


Logo của Manchester United cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970


United vật lộn sau khi thay thế Busby bằng Wilf McGuinness và Frank O'Farrell trước khi Tommy Docherty trở thành huấn luyện viên vào cuối năm 1972. Docherty, hay "the Doc", cứu United khỏi việc xuống hạng mùa giải này nhưng cuối cùng United bị xuống hạng vào năm 1974. Đội bóng thăng hạng ngay lập tức sau một mùa giải và vào đến trận chung kết FA Cup năm 1976, nhưng đã bị Southampton đánh bại. Họ vào đến trận chung kết FA Cup lần nữa vào năm 1977, đánh bại Liverpool F.C. và ngăn chặn đối thủ này giành được cú ăn ba đầu tiên trong lịch sử mà sau đó United giành được vào năm 1999. Mặc dù có được thành công như vậy và sự gần gũi với cổ động viên, Docherty bị sa thải không lâu sau trận chung kết vì mối quan hệ của ông với vợ một nhà vật lí trị liệu bị phát hiện.


Dave Sexton thay thế Docherty làm huấn luyện viên vào mùa hè năm 1977 và thực hiện lối chơi phòng thủ hơn. Phong cách này không được sự đồng tình từ phía người hâm mộ, họ vốn quen với lối bóng đá tấn công mà Docherty và Busby đã sử dụng, và sau khi không giành được một chiếc cúp nào Sexton đã bị sa thải vào năm 1981.


Ông được thay thế bởi Ron Atkinson người mà ngay lập tức đã phá vỡ kỉ lục giá chuyển nhượng ở nước Anh khi mua về Bryan Robson từ West Brom. Đội hình của Atkinson nổi bật với những hợp đồng mới như Jesper Olsen, Gordon Strachan bên cạnh những cầu thủ trưởng thành từ đội trẻ Norman Whiteside và Mark Hughes. United đoạt vô địch FA Cup vào các năm 1983, 1985 và tràn ngập khát vọng vô địch giải quốc gia vào mùa giải 1985-86 sau khi đã giành chiến thắng trong 10 trận đầu tiên và nhanh chóng dẫn trước đối thủ 10 điểm vào tháng 10. Đội hình sụp đổ sau đó và United kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư. Lối chơi đơn điệu tiếp tục ở mùa giải sau, và khi United đứng trước nguy cơ bị xuống hạng lần nữa, Atkinson bị sa thải ngày 5 tháng 11 năm 1986 với số tiền bồi thường 100.000 bảng Anh.


Kỷ nguyên của Alex Ferguson (1986-1999)


Alex Ferguson thay thế Atkinson dẫn dắt đội và kết thúc mùa giải ở vị trí 11. Mùa giải tiếp theo (1987-88), United kết thúc ở vị trí thứ hai, với việc Brian McClair trở thành cầu thủ United đầu tiên sau George Best ghi được 20 bàn trong một mùa.


Tuy nhiên, United đi xuống vào năm 1989, với nhiều bản hợp đồng của Ferguson không được như sự trông đợi của người hâm mộ. Đã có sự suy đoán rằng Ferguson sẽ bị sa thải vào đầu năm 1990 nhưng chiến thắng tại vòng ba của FA Cup trước Nottingham Forest đã cứu vãn cả mùa giải và United đoạt vô địch FA Cup mùa này.


United giành chiến thắng tại Cúp các nhà vô địch Cúp quốc gia Châu Âu (European Cup Winners' Cup) vào mùa 1990-91, đánh bại nhà vô địch Tây Ban Nha Barcelona ở trận chung kết, nhưng ở mùa giải tiếp theo Manchester United để tuột chức vô địch giải quốc gia về tay địch thủ Leeds United. Trong lúc ấy vào năm 1991 câu lạc bộ được tung ra thị trường chứng khoán Luân Đôn với giá 18 triệu bảng Anh, do đó mang vấn đề tài chính của United ra trước công chúng, điều mà trước đó chưa từng xảy ra.


Vụ chuyển nhượng Eric Cantona vào tháng 11 năm 1992 mang đến cho United sức mạnh lớn, và họ kết thúc mùa giải 1992-93 với chức vô địch lần đầu sau năm 1967. Họ giành cú đúp (vô địch giải Ngoại hạng và FA Cup) lần đầu tiên vào mùa giải tiếp theo, nhưng huấn luyện viên huyền thoại đồng thời là chủ tịch câu lạc bộ Matt Busby mất vào ngày 20 tháng 1 năm 1994.


Ở mùa giải 1994-95, Cantona nhận án treo giò 8 tháng vì nhảy vào khán đài và tấn công một cổ động viên của Crystal Palace F.C.. Thua hai trận cuối cùng khiến cho United thành kẻ về nhì cả ở giải Ngoại hạng và FA Cup. Ferguson sau đó đã bán đi các cầu thủ chủ chốt và thay họ bằng các cầu thủ từ đội hình trẻ. Tuy vậy các cầu thủ trẻ, một vài trong số họ sau này nhanh chóng trở thành những cầu thủ nổi tiếng thế giới, đã thi đấu tốt một cách đáng ngạc nhiên và United giành cú đúp lần nữa ở mùa giải 1995-96.


Họ đoạt vô địch giải Ngoại hạng năm 1997, và Eric Cantona chia tay với sự nghiệp bóng đá ở tuổi 30, sớm hơn một vài năm so với phần lớn các cầu thủ khác. United khởi đầu mùa giải tiếp theo một cách suôn sẻ nhưng cuối cùng một loạt những chấn thương khiến họ về nhì cả giải Ngoại hạng Anh và FA Cup sau Arsenal F.C.


Cú ăn ba (1998–1999)


1998-99 là mùa giải thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ, Manchester United trở thành đội bóng Anh đầu tiên đạt được cú ăn ba - vô địch cả giải Ngoại hạng Anh, FA Cup và Champions League trong một mùa giải. Trận chung kết Champions League hết sức thú vị khi United bị dẫn 1-0 khi trận đấu chỉ còn 1 phút, tuy nhiên hai bàn thắng ghi được ở phút bù giờ đã giúp họ giành được chiến thắng từ tay Bayern München. Hai tiền vệ trung tâm chủ chốt của United, Roy Keane và Paul Scholes, không được dự trận đấu này vì bị treo giò. Sau đó Ferguson được phong tước hiệp sĩ vì những đóng góp cho bóng đá Anh.


Vụ chuyển nhượng tiếp theo được cho là vô cùng thành công của Sir Alex chính là việc đưa về sân Old Trafford Cristiano Ronaldo từ CLB Sporting Lisbon với giá chuyển nhượng 12 triệu bảng vào năm 2004.Mùa giải 2007-2008 là mùa giải vô cùng thành công với Ronaldo và MU khi anh đưa MU tới cú đúp vô địch UEFA Champions League và Premier League bằng 42 bàn thắng trên tất cả các mặt trận.


Sau cú ăn ba


Alex Ferguson


United đoạt vô địch giải Ngoại hạng các năm 2000 và 2001 nhưng báo giới cho rằng những mùa giải này là thất bại vì đã thi đấu không thành công tại Champions League. Ferguson sử dụng lối chơi thiên về phòng thủ nhiều hơn khiến United khó bị đánh bại tại châu Âu nhưng điều đó đã không thành công, United kết thúc mùa giải 2002 ở vị trí thứ 3. Họ giành lại chức vô địch ở mùa giải 2002-03, nhưng phong độ đi xuống khi Rio Ferdinand nhận án treo giò 8 tháng vì bỏ lỡ một buổi kiểm tra doping. Họ chỉ vô địch F.A. Cup năm 2004, tuy nhiên đã loại Arsenal (vô địch giải Ngoại hạng Anh mùa này) trên đường đến trận chung kết.


Mùa giải 2004-05 United tiếp tục thi đấu không thành công vì khả năng ghi bàn kém cỏi, và United kết thúc mùa giải chỉ với một phần thưởng an ủi Carling Cup và chỉ về thứ 3 ở giải Ngoại hạng. Lúc này mặc dù chơi hay hơn Arsenal trong trận chung kết nhưng United bị thua sau loạt penalty. Cuối mùa giải đó Malcolm Glazer mua lại câu lạc bộ và biến nó thành tài sản riêng của mình.


United mở đầu mùa giải 2005-06 không suôn sẻ, với việc đội trưởng Roy Keane rời câu lạc bộ sau khi chỉ trích công khai đồng đội, và sau khi thi đấu tệ hại ở vòng bảng, lần đầu tiên sau hơn 10 năm họ không được dự vòng đấu loại trực tiếp UEFA Champions League.


Nhưng 3 năm sau đó là quãng thời gian tuyệt vời của MU, giành 3 chức vô địch Premier League liên tiếp, 1 cúp Champions League sau chiến thắng nghẹt thở trước Chelsea(2007-2008), 1 cúp thế giới Các câu lạc bộ tại Nhật Bản(2008-2009) và những thành công trên thị trường chuyển nhượng. Nhưng điều đáng tiếc nhất là MU đã không bảo vệ được chức vô địch Champions League năm 2008-2009 trước Barcelona. Và đó cũng là trận đấu cuối cùng của Ronaldo với MU.


Vụ tiếp quản của Malcolm Glazer


Vào ngày 12 tháng 5 năm 2005, Malcolm Glazer - một doanh nhân Mỹ - đưa ra lời đề nghị mua lại câu lạc bộ với giá khoảng 800 triệu bảng Anh (1.47 tỉ dollar Mỹ). Vào ngày 16 tháng 5, ông tăng lượng cổ phần của mình tại United lên 75% - một tỉ lệ đủ để đưa câu lạc bộ ra khỏi thị trường chứng khoán và trở thành tài sản cá nhân, đồng thời thông báo rằng điều đó sẽ được thực hiện trong vòng 20 ngày. Vào ngày 7 tháng 7, Glazer chỉ định các con trai là Joel, Avram và Bryan làm giám đốc, cùng lúc đó Sir Roy Gardner từ chức chủ tịch cùng với hai giám đốc khác.


Một vài người hâm mộ United bày tỏ sự lo lắng khi câu lạc bộ rơi vào tay Glazer đã để lại cho United khoản nợ 265 triệu bảng, họ lo rằng Manchester United sẽ không có tiền để cạnh tranh trên thị trường chuyển nhượng với Liverpool, Real Madrid hay Chelsea. Glazer khẳng định rằng Sir Alex vẫn có thể liên hệ mua các tên tuổi lớn; tuy nhiên các bản hợp đồng của Ferguson từ sau tiếp quản trở nên dè dặt không bình thường.


Mùa giải 2006-2007


Hiện nay, một kỉ nguyên mới đang hình thành trên sân Old Trafford. Ngày 6 tháng 11 năm 2006, Sir Alex Ferguson đã kỉ niệm tròn 20 năm dẫn dắt Quỷ Đỏ. Mùa giải 2006/2007 bắt đầu, Manchester United đã có được danh hiệu vô địch mùa Đông sau khi thua 2 trận, hoà 2 trận và thắng 14 trận, ghi được tổng cộng 41 bàn thắng (12 cái tên trong danh sách ghi bàn trong đó có 3 cầu thủ ghi 8 bàn là Saha - Ronaldo - Rooney) và để lọt lưới mình 9 bàn.


Manchester United đã vô địch giải Ngoại hạng trước 2 vòng đấu sau khi thắng trận derby với Manchester City 1-0, trong khi Arsenal cầm hòa Chelsea 1-1 tại Emirates.


Mùa giải 2007-2008


Khác với việc chi tiêu khá dè dặt trong vài mùa giải gần đây, trước mùa giải 2007-2008, Manchester United đã không ngần ngại chi ra những khoản tiền lớn để mang về nhiều ngôi sao, đáng chú ý nhất là Carlos Tevez và Owen Hargreaves cùng hai ngôi sao trẻ Nani và Anderson.


Tuy được tăng cường về nhân sự, đương kim vô địch Giải Ngoại hạng Anh không có một khởi đầu như mong muốn. Họ mất hai trụ cột Wayne Rooney (chấn thương) và Cristiano Ronaldo (cấm thi đấu do thẻ đỏ) trong nhiều trận liền, cùng với việc Carlos Tevez chưa kịp hòa nhập với đội, hàng tấn công của Manchester United gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm bàn thắng.


Điều đặc biệt trong sự khởi đầu của mùa giải là chuỗi trận toàn thắng với tỉ số tối thiểu 1-0 trên khắp các mặt trận. Kết thúc chuỗi trận nghèo nàn về bàn thắng đó là chiến thằng đậm đà 4-0 trước Wigan trên sân nhà vào ngày 6 tháng 10 năm 2007. Ngày 20 tháng 10, Manchester United thắng Aston Villa 4-1 và 27 tháng 10 Manchester United giành chiến thắng 4-1 trước Middlesbrough; ngày 3 tháng 11 trên sân Emirates trận đấu giữa hai địch thủ là Arsenal và Manchester United kết quả hoà nhau với tỉ số 2-2.


Sau đó Manchester United liên tục bám đuổi Arsenal trên bảng xếp hạng. Ở vòng đấu cuối của lượt đi, Arsenal bất ngờ bị Portsmouth hạ trong khi Man Utd có chiến thắng 4-0 ngay trên sân The Light của Sunderland, và Man Utd trở thành nhà vô địch lượt đi.


Tuy nhiên không may là ngay sau đó thì họ lại thất bại trước một West Ham United, đội bóng đã 2 lần vượt qua họ mùa trước. MU đang khiến người hâm mộ họ hết sức lo lắng


Tuy vậy MU đã giành chiến thắng 1-0 trước Birmingham City và tiếp tục bán đuổi Arsenal với 2 điểm ít hơn. Ngày 12-1-2008 sau trận hòa 1-1 thất vọng của Arsenal trước Birmingham các cầu thủ MU tràn đầy khí thế khi tiếp các cầu thủ Newcastle trên sân nhà và giành chiến thắng vang dội với tỷ số 6-0, với hat-trick của C.Ronaldo và đòi lại ngôi đầu.


Ngày 19-1-2008 MU tiếp tục giành chiến thắng 2-0 trước đội bóng khó chơi Reading và giữ vững ngôi đầu.


Trong khuôn khổ cúp FA MU sẽ gặp Tottenham Hotspur tại vòng 4 sau khi vượt qua Aston Villa tại vòng 3.


Tại Champions League Man Utd là đội bóng thi đấu xuất sắc nhất tại vòng đấu bảng với 5 trận thắng và 1 trận hòa. Tại vòng 2 MU gặp đương kim vô địch quốc gia Pháp Olympique Lyonnais.


Và ngày 11-5-2008, vòng đấu cuối đầy kịch tính giữa hai cặp đấu Man Utd-Wigan và Chelsea-Bolton, khi 2 đội MU và Chelsea đều đồng điểm. Kết quả MU đã giành ngôi vô địch PL với 87 điểm (HS: 80-22), Chel 85 điểm(65-26) khi để Bolton cầm hòa 1-1


Tại Champions League Man Utd là đội bóng thi đấu xuất sắc nhất tại vòng đấu bảng với 5 trận thắng và 1 trận hòa. Tại vòng 2 MU gặp đương kim vô địch quốc gia Pháp Olympic Lyon, vượt qua AS Roma và Barcelona ở tứ kết và bán kết. Tại trận chung kết với Chelsea, họ dẫn trước 1-0 nhờ bàn thắng của Ronaldo nhưng bị gỡ hòa do công của Frank Lampard, tuy nhiên MU đã giành chiến thắng đầy vất vả sau loạt đá luân lưu kịch tính và giành được chiếc Cup C1 thứ 3 trong lịch sử câu lạc bộ.


Bên cạnh đó Cristiano Ronaldo cũng đã giành được danh hiệu tiền đạo xuất sắc nhất UEFA Champions League và danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất UEFA Champions League


Mùa giải 2008-2009


MU phát triển phong cách phòng thủ hơn trong mùa 2008-09, dựa vào Rio Ferdinand, Nemanja Vidić, và Patrice Evra và những người khác. Thủ môn Edwin van der Sar giữ tổng cộng 21 trận sạch lưới trong giải Ngoại hạng, từ 15 Tháng mười một - 4 Tháng ba không thủng lưới một bàn nào trong tất cả các giải.


Ngày 21 Tháng Mười Hai 2008, MU đem về phòng truyền thống một danh hiệu nữa với một chiến thắng trong FIFA Club World Cup, đánh bại LDU Quito Ecuador 1-0 tại Nhật Bản, Wayne Rooney ghi bàn thắng duy nhất. Hai tháng sau, họ đoạt League Cup, sau khi đánh bại Tottenham Hotspur 4-1 trên chấm phạt đền. Vào ngày 16 Tháng Năm, MU bảo vệ Premier League lần thứ 11 của họ - và chức vô địch quốc gia lần thứ 18 - sau trận hòa 0 -- 0 trên sân nhà với Arsenal.


Vào ngày 27 Tháng Năm 2009, Barcelona đánh bại Manchester United 2-0 trong trận chung kết Champions League tại Rome, với các bàn thắng của Samuel Eto'o và Lionel Messi.Trận chung kết Champions League là trận đấu cuối cùng cho cả Carlos Tévez. - Hợp đồng cho mượn kết thúc vào ngày 30 tháng 6 - và Cristiano Ronaldo - người đã được bán cho Real Madrid với 80.000.000 £, phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng thế giới của Kaká từ AC Milan sang Real Madrid với giá 56.000.000 £. Tuy nhiên, Man Utd bù đắp tổn thất bằng cách kí Michael Owen miễn phí, Antonio Valencia với giá 17.000.000 £ và Gabriel Obertan với £ 3.000.000.


Mùa giải 2009-2010


Mùa 09-10 khởi đầu tốt cho Manchester United dù vắng bóng Cristiano Ronaldo, tuy họ thua Chelsea tại siêu cúp nước Anh (hai đội hòa nhau sau 120' và phải phân thắng bại trên chấm 11m) và cú sốc 1-0 thua Burnley tại Turf Moor. Một chuỗi chiến thắng theo sau đó, bao gồm derby 4-3 thắng Manchester City, với bàn quyết định phút 96 bởi Michael Owen. Tuy nhiên, đội có màn trình diễn nghèo nàn với Liverpool, kết quả là một thất bại 2-0 ở Anfield. Vào ngày 03 tháng một năm 2010, Manchester United bị sốc với trận thua 1-0 đối thủ truyền kiếp Leeds United ở sân nhà trong vòng ba FA Cup.


Manchester United đánh bại Aston Villa 2-1 tại Wembley để bảo vệ League Cup, đây là lần đầu tiên trong lịch sử của câu lạc bộ mà họ bảo vệ thành công một danh hiệu trong một giải đấu loại trực tiếp.


Trong giai đoạn loại trực tiếp của Champions League, United đã hạ AC Milan. Họ giành chiến thắng đầu tiên tại San Siro 3-2, nhờ hai bàn thắng của Wayne Rooney. Trận lượt về, United nghiền nát đối thủ 4-0, với Rooney một lần nữa ghi được hai bàn thắng. Kết quả là, họ tiến vào tứ kết, với tổng tỉ số 7-2. Điều này cũng đánh dấu trận đấu trở lại của David Beckham về sân Old Trafford. Anh nhận được sự đón tiếp nồng hậu đáng kinh ngạc từ những người hâm mộ MU. Sau đó MU vào trận tứ kết gặp Bayern Munich, trận lượt đi trên sân khách mặc dù dẫn trước rất sớm từ phút thứ 2 nhờ bàn thắng của W.Rooney nhưng họ lại không may khi để thất bại 2-1 nhờ 2 bàn thắng của Ribéry và Olíc. Trận lượt về trên sân Old Trafford, dù sớm dẫn trước 3 bàn nhờ cú đúp của Nani và 1 bàn của Darron Gibson; tuy nhiên Munich cũng đã kịp ghi 2 bàn. Với tổng tỉ số hai lượt trận là 4-4 nhưng MU bị loại do luật bàn thắng sân khách.


Sau đó 4 ngày họ phải tiếp đón đội bóng kình địch là đối thủ cạnh tranh trực tiếp đến ngôi vô địch Primier League là Chelsea, họ đã để thua 2-1 do sự thiếu vắng chân sút chủ lực Wayne Rooney và những sai lầm cực kì ngớ ngẩn của tổ trọng tài. Sau đó là trận hòa 0-0 đáng thất vọng trước Blackburn khiến họ kém Chelsea tới 4 điểm trên BXH nhưng may mắn là ở vòng đấu sau đó họ đã có chiến thắng đầy kịch tính trước Man City đội bống kình địch cùng thành phố nhờ pha lập công ở phút thứ 93 của lão tướng Paul Scholes.Sau đó Chelsea cũng thất thủ 2-1 trước Tottenham Hotspur và MU chỉ còn kém Chelsea 1 điểm và chức vô địch cũng chỉ được định đoạt trong vòng đấu cuồi cùng của mùa giải. Cuối cùng, MU không thể làm nên lịch sử với 4 lần đăng quang liên tiếp, vì Chelsea đã có chến thắng dễ dàng 8 - 0 trước Wigan Athletic ở vòng đấu cuối, vòng 38.


Mùa giải 2010-2011


Họ khởi đầu mùa giải bằng chiến thắng hủy diệt Chelsea 3-1 trên sân Wembley trong trận siêu cúp Anh. Nếu xét theo bề dày lực lượng và tình hình tài chính thì đây là mùa giải rất thành công của MU. MU bước vào mùa giải mới với khoản nợ gần 700 triệu £, do đó họ đã trải qua mùa hè chuyển nhượng khá thầm lặng (2 bản hợp đồng đáng chú ý là Chicharito và Bebé;Chicharito được đánh giá là bản hợp đồng thành công nhất giải Ngoại Hạng và ngược lại đối với Bebé); và đội hình thi đấu của họ bị đánh giá khá thấp (do không có nhiều ngôi sao chất lượng nhất là sau khi CR7 ra đi năm 2009), không những so với đại kình địch Chelsea, Arsenal, mà còn với Manchester City hay Tottenham Hotspur.


MU có chiến thắng mở màn 3-0 trước Newcastle tại vòng 1. Họ thi đấu khá ổn định ở sân nhà mùa giải này, nổi bật là chuỗi 19 trận bất bại tại đấu trường Primier League (thắng 19 trận, chỉ hòa 1 trận trước WBA trong một trận cầu khó hiểu). Thành công này đến do chiến thuật xoay vòng cầu thủ và khả năng xây dựng tinh thần thi đấu kỳ tài của Sir Alex. Điều đặc biệt là MU thi đấu khá bết bát trên sân khách (chỉ thắng có 5 trận so với 11 trận của mùa trước) với những trận hòa vất vả trước Blackburn Rovers, Aston Villa, Birmingham City... và trận thua Wolverhampton tại vòng 26 (chính trận thua này đã chấm dứt chuỗi 19 trận bất bại của MU). MU đã dẫn đầu bảng xếp hạng 5 tháng (từ tháng 1/2011). Kể từ vòng 33 trở đi, khi Chelsea bắt đầu hồi sinh còn Arsenal tụt lại sau với những trận thua, thì Danh Hiệu Vô Địch Premier League 2010-2011 trở nên khó đoán hơn với cuộc đua Song Mã hấp dẫn giữa Manchester United và Chelsea. Trận đấu được xem là chung kết của cả mùa giải chính là trận thư hùng giữa 2 đội này trên sân Old Trafford của MU, ở vòng 36. Kết quả MU đã giành chiến thắng 2-1 thuyết phục với các pha làm bàn của tài năng trẻ Chicharito (chỉ ngay giây thứ 36 của trận đấu sau đường chuyền của Park Ji-sung và trung vệ Đội trưởng Vidíc (bàn thắng còn lại của Chelsea do công của Lampard; theo đó, MU đã bỏ Chelsea 6 điểm trên bảng xếp hạng, họ đã chạm một tay vào chức vô địch. Ở 2 vòng đấu cuối, MU có trận hòa nhọc nhằn trước Blackburn Rovers để đăng quang Primier League 2010-2011. Tuy nhiên cúp không được trao ngay trận đấu đó vì FA không muốn làm giảm sự chú ý đối với trận chung kết cúp FA giữa Manchester City với Stoke City chỉ vài giờ sau đó. Họ đã trở thành nhà vô địch với số điểm ít nhất (80 điểm) và thành tích sân khách tệ nhất trong vòng 1 thập niên qua. Nhưng bất chấp tất cả, chức vô địch này đã nâng tổng số chức vô địch đấu trường quốc nội của MU lên con số 19. Họ đã chính thức vượt mặt Liverpool để trở thành CLB bóng đá giàu thành tính nhất nước Anh cho đến hiện tại.


Ngoài ra, MU đã thành công khi vào đến Bán Kết Cúp FA sau khi hạ hàng loạt đối thủ trong đó đáng chú ý là Liverpool ở vòng 3 và Arsenal ở tứ kết, họ không may để thua Manchester City 0-1 (đội sau này đã giành cúp FA 2010-2011)


Ở đấu trường danh giá nhất Châu Âu UEFA Champions League, MU cũng đạt được thành công khi tiến đến trận Chung Kết. Họ đã vượt qua vòng đấu bảng với thành tích 8/8 trận bất bại và là đội có hàng phòng thủ mạnh nhất (chỉ lọt lưới 4 bàn). Ở vòng 1/16, sau trận lượt đi "thoát chết" với tỉ số 0-0, MU đã giành chiến thắng 2-1 trận lượt về với Marseille tại sân nhà Old Trafford. 2 trận đấu với đại kình địch Chelsea ở vòng Tứ Kết là 2 trận được đánh giá là giàu cảm xúc nhất của MU tại cúp C1 2010-2011. Lượt đi trên sân Stamford Bridge của Chelsea, MU đã bất ngờ giành chiến thắng 1-0 sau pha phối hợp chính xác và đẹp mắt như trong Sách Giáo Khoa Bóng Đá mà người kết thúc là Wayne Rooney. Lượt về, người hâm mộ càng chứng kiến phong độ tuyệt vời của MU khi họ chiến thắng thuyết phục 2-1 với 2 bàn thắng của Chicharito và Park Ji-sung. Ở vòng Bán kết, MU đã không tốn nhiều sức vượt qua "chú ngựa" ô của giải là Schakle 04 ngay tại sân nhà của Schakle. Một tuần sau đó ngay tại Old Trafford họ đè bẹp Schakle với tỉ số 4-1 chỉ với đội hình 2!.Họ vào chung kết cúp C1 lần thứ 3 chỉ sau 4 năm. Trận chung kết trong mơ diễn ra giữa FC Barcelona và Manchester United ngày 28/5/2011 tại Sân vận động Wembley (Luân Đôn, Anh) đã kết thúc với tỉ số 3-1 nghiêng về đội bóng xứ Catalunya. Barcelona đã trình diễn thứ bóng đá tuyệt hảo Tiqui-Taca và giành chiến thắng xứng đáng với các pha lập công của Lionel Messi, David Villa và Pedro Rodriguéz. Nhưng MU dưới bàn tay Sir Alex đã có một trận cầu đẹp và fairplay với nhiều pha phản công chất lượng; khán giả túc cầu vẫn nể trọng MU là một thế lực ở Châu Âu. Sau trận đấu này họ chính thức chia tay 2 huyền thoại là Van der Sar và Paul Scholes.


MU đã lập kỷ lục mới khi thu về hơn 62 triệu £ tiền bản quyền truyền hình cho mùa giải Primier League 2010-2011 và nhiều khoản thưởng khổng lồ từ UEFA, FA... Tình hình tài chính năm 2011 của MU đã khả quan hơn, khi dư nợ của họ chỉ còn khoảng 450 triệu €; điều này hứa hẹn một mùa hè chuyển nhượng sôi động cho họ.


Mùa giải 2012-2013


Là mùa giải thứ 21 của Manchester United tại Premier League. Tại mùa giải này MU một lần nữa giành chức vô địch giải ngoại hạng anh, CLB đã vào vòng 16 đội của UEFA Champions League 2012–13. Vào cuối mùa giải HLV Alex Ferguson chính thức nghỉ hưu vì lý do sức khỏe, nhưng vẫn sẽ ở câu lạc bộ là một giám đốc câu lạc bộ và đại sứ.[6]


Mùa giải 2013-2014


Vào ngày hôm sau câu lạc bộ công bố HLV của Everton là David Moyes sẽ thay thế Ferguson từ ngày 1 tháng 7, đã ký một hợp đồng sáu năm.[7][8][9] Nhưng chỉ sau 10 tháng thì ông bị sa thải vào ngày 22 tháng 4 năm 2014 vì ông không thể bảo vệ danh hiệu vô địch Premier League và làm cho CLB mất suất tham dự UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 1995-1996. CLB bổ nhiệm Ryan Giggs tạm thời làm cầu thủ kiêm Huấn luyện viên CLB cho đến hết mùa giải.[10] Họ cũng không đủ điều kiện cho Europa League, nghĩa là lần đầu tiên Manchester United đã không đủ điều kiện cho một cuộc cạnh tranh ngôi vị vô định châu Âu kể từ mùa 1995-1996.[11] Ngày 19 tháng 5, 2014, CLB đã xác nhận bổ nhiệm Louis van Gaal thay thế cho Moyes, trên một hợp đồng ba năm và bổ nhiệm Giggs là trợ lý.[12] Malcolm Glazer, chủ sở hữu của câu lạc bộ, đã qua đời vào ngày 28 tháng 5, 2014.[13]


Huy hiệu của câu lạc bộ được thiết kế dựa vào Huy hiệu của Hội đồng Thành phố Manchester, mặc dù chỉ còn lại là Chiếc tàu buồm căng gió.[14] Quỷ đỏ là biệt danh bắt nguồn từ "The Red Devils"; biệt danh này và Chiếc khăn quàng cổ ra đời năm 1960, và được câu lạc bộ công nhận chính thức vào năm 1970, mặc dù nó không được in lên ngực áo đấu cầu thủ cho đến năm 1971 (Trừ khi đội bóng chơi trong trận chung kết khi đấu Cup ).[14]


Một bức ảnh của đội Newton Heath, thực hiện trong năm 1892, được cho là hiển thị các cầu thủ mặc áo làm từ màu đỏ và màu trắng và quần short màu xanh.[15] Từ 1894-1896, các cầu thủ mặc áo màu xanh lá cây và vàng đặc biệt [15] mà đã được thay thế vào năm 1896 bởi áo sơ mi trắng, được mặc cùng với quần short màu xanh [15] Sau khi thay đổi tên vào năm 1902, câu lạc bộ đã được thay đổi màu sắc thành áo đỏ, quần trắng và có sọc màu đen, mà đã trở thành sân nhà của Manchester United.[15] Áo đấu ít thay đổi cho đến năm 1922 khi câu lạc bộ cho ra áo sơ mi trắng mang một màu đỏ "V" quanh cổ, tương tự như chiếc áo mặc trong trận chung kết cúp FA năm 1909. Chiếc áo được mặc định làm áo đấu sân nhà cho đến năm 1927.[15] Trong một thời gian vào năm 1934, chiếc áo đấu sân nhà màu trắng sau đó đổi thành màu đỏ có kẻ sọc màu đen và cũng ít thay đổi áo đấu.[15] Các sọc màu đen được thay đổi từ năm 1959 đến năm 1965, ở giai đoạn này tất cũng màu đỏ cho đến năm 1971, câu lạc bộ thay đổi áo đấu sang màu đen, quần cũng màu đen và tất màu trắng. Áo sân nhà hiện nay là một chiếc áo sơ mi màu đỏ có cổ viền màu trắng có cúc, cộng với đường viền màu đen và đỏ.[16]


Manchester United đi đấu sân khách thường mặc áo sơ mi trắng, quần đen và tất trắng, nhưng đã có một số trường hợp ngoại lệ. Áo đấu bao gồm một dải màu đen với trang trí màu xanh và vàng từ năm 1993 đến năm 1995, những chiếc áo sơ mi màu xanh hải quân với mối xoắn ngang trong mùa giải 1999-2000,[17] và các bộ áo đấu màu giải 2011-12 trở đi, trong đó có một áo đấu màu xanh hoàng gia và tay áo có đai bằng lực lượng hải quân màu xanh và đen, với quần short màu đen và sọc màu xanh.[18] Áo đấu màu xám mặc trong mùa giải 1995-1996 đã bị bỏ chỉ sau năm trận đấu vì cầu thủ tuyên bố rất khó khăn khi tìm đồng đội phối hợp.[19] Năm 2001, để kỷ niệm 100 năm đổi tên là "Manchester United", áo đấu nữa màu trắng / vàng đã được phát hành, mặc dù thực tế không phù hợp với truyền thống của câu lạc bộ.[20]


Bộ áo đấu thứ ba của câu lạc bộ thường là tất cả các màu xanh, đây là trường hợp gần đây nhất là trong mùa giải 2014-15.[21] Trường hợp ngoại lệ bao gồm màu xanh lá cây và vàng chiếm một nửa áo mặc từ năm 1992 đến năm 1994, một chiếc áo sọc xanh-trắng mặc trong 1994-1995 và 1995-1996 và một lần trong mùa 1996-97, một bộ áo đấu toàn màu đen mặc trong mùa giải 1998-1999, và trắng với mối xoắn ngang màu đen và đỏ mặc giữa năm 2003 và 2005.[22] Từ năm 2006-07, áo đấu thứ ba đã thường được gắn liền mùa giải trước, những trường hợp ngoại lệ là mùa giải 2008-09.[23] và mùa giải 2014-15.


Trước Thế chiến thứ hai, rất ít cổ động viên Anh đi theo cổ vũ cho đội bóng trong từng trận đấu bởi vấn đề thời gian và giá cả. Khi United và Manchester City chơi trên sân nhà vào những chiều thứ bảy, nhiều người sống ở Manchester đến sân xem United một tuần và City tuần sau. Sau chiến tranh, sự kình địch giữa hai đội bóng mạnh hơn và cổ động viên chỉ chọn một đội duy nhất để xem.


Khi United đoạt vô địch giải quốc gia năm 1956 họ có số khán giả đến sân nhà trung bình cao nhất giải, một kỉ lục đã được giữ bởi Newcastle United trong một vài mùa trước. Sau thảm họa máy bay München năm 1958, nhiều người ở ngoài thành phố Manchester bắt đầu cổ động cho United và việc đi lại nhanh hơn và rẻ hơn khiến cho nhiều người bắt đầu theo đội bóng đến các trận đấu. Điều đó làm tăng sự cổ động cho United và là một lí do giúp cho United có lượng khán giả đến sân cao nhất giải trong phần lớn các mùa tiếp theo, ngay cả khi họ thi đấu ở giải hạng hai mùa giải 1974-75.


Mặc dù người ta thường thấy có ít người Manchester cổ động cho United (điều tương tự với Juventus và Bayern München), tờ Manchester Evening News đã một vài lần thực hiện một cuộc khảo sát người Manchester về đội bóng mà họ cổ vũ, kết quả United đều xếp đầu và có lần đã đạt tỉ lệ 66%. Một báo cáo vào năm 2002, Do You Come From Manchester?, chỉ ra United có số người đặt mua vé của mùa giải có mã vùng Manchester cao hơn Manchester City, mặc dù tỉ lệ vé bán của City cho người dân Manchester trong tổng số vé cả mùa họ bán ra cao hơn. Manchester United ước lượng họ có 75 triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, trong đó có 40 triệu người ở châu Á.


Cuối những năm 1990, đầu 2000, sự lo ngại của nhiều cổ động viên United trước khả năng đội bóng có thể bị mua lại tăng dần. Nhóm cổ động viên IMUSA (Independent Manchester United Supporters' Association - Hội cổ động viên Manchester United độc lập) đã hoạt động rất mạnh mẽ để ngăn cản kế hoạch mua lại câu lạc của Rupert Murdoch vào năm 1999. Một nhóm gây áp lực khác, Shareholders United Against Murdoch (bây giờ là Shareholders United) được thành lập trong khoảng thời gian này để kêu gọi cổ động viên mua lại cổ phiếu của câu lạc bộ, chừng mực nào đó đã làm tăng tiếng nói của cổ động viên trong vấn đề gây lo ngại cho họ, như giá vé và sự phân phối, và làm giảm nguy cơ các cá nhân hay tổ chức mà họ không mong muốn mua đủ cổ phiếu đề giành quyền kiểm soát đội bóng. Tuy nhiên, cách làm này thất bại khi ngăn cản Malcolm Glazer trở thành cổ đông lớn nhất của đội bóng. Nhiều cổ động viên giận dữ, và một vài trong số đó đã thành lập một câu lạc bộ mới với tên FC United of Manchester. Câu lạc bộ mới này thi đấu ở giải Hạt Tây Bắc (North West Counties League) hạng hai, và thu hút lượng khán giả mỗi trận khoảng trên 2500 người.


Từ khi Malcolm Glazer và gia đình lên nắm quyền trong Hội đồng Quản trị Man Utd, họ bị các CĐV đả đảo, phản đối thường xuyên và kịch liệt. Mâu thuẫn có lúc đã lên tới đỉnh điểm, khi nhà Glazer đem cầm cả đội bóng vào ngân hàng; khiến MU nguy khốn với tổng nợ khổng lồ gần 750 triệu £. Tuy nhiên, với những thành công của đội bóng những năm 2007-08, 2008-09, 2010-11, một bộ phận đã bắt đầu có thái độ thân thiện hơn với nhà Glazer.


Ban lãnh đạo câu lạc bộ


    Chủ sở hữu: Gia đình Malcolm Glazer[29]


    Chủ tịch danh dự: Martin Edwards[30]


Ban giám đốc Manchester United


    Đồng chủ tịch: Joel Glazer & Avram Glazer[31]


    Phó Chủ tịch: Ed Woodward[31]


    Những giám đốc: Bryan Glazer, Kevin Glazer, Edward Glazer, Darcie Glazer, Robert Leitão, John Hooks và Manu Sawhney.[31]


    Giám đốc điều hành: Richard Arnold[31]


    Giám đốc điều hành khu vực châu Á Thái Bình Dương: Jamieson Reigle[32]


Câu lạc bộ bóng đá Manchester United


    Những giám đốc: David Gill, Michael Edelson, Sir Bobby Charlton, Sir Alex Ferguson[33]


    Thư ký Câu lạc bộ: John Alexander[34]


    Đại sứ quán của câu lạc bộ: Andy Cole,[35] Gary Neville,[36] Bryan Robson,[37] Peter Schmeichel[38] Park Ji-sung


Ban Huấn Luyện đội 1


    Huấn luyện viên trưởng: Louis van Gaal


    Trợ lý Huấn luyện viên trưởng 1: Ryan Giggs


    Trợ lý Huấn luyện viên trưởng 2: Albert Stuivenberg [40]


    Huấn luyện viên thủ môn: Frans Hoek [41]


    Huấn luyện viên thể lực: Tony Strudwick [42]


    Huấn luyện viên sức mạnh & sự điều hoà: Gary Walker [43]


    Trưởng hiệu suất của con người: Tiến sĩ Richard Hawkins [42]


    Huấn luyện sinh lý học: Jos van Dijk [44]


    Chuyên gia phân tích hiệu suất: Max Reckers [45]


    Huấn luyện viên đội dự bị (U21 United): Warren Joyce [46]


    Trinh sát trưởng: Jim Lawlor[47]


    Trinh sát trưởng đối lập: Marcel Bout [41]


Ban huấn luyện đội Học viện


    Giám đốc học viện: Brian McClair[48]


    Trợ lý giám đốc lứa tuổi từ 17-21: Paul McGuinness


    Trợ lý giám đốc lứa tuổi từ 9-16: Tony Whelan


    Huấn luyện viên trưởng U18: Paul McGuinness


    Huấn luyện viên trưởng U13-16: Chris Casper[49]


    Huấn luyện viên trưởng U11-12: Tony Whelan


    Huấn luyện viên trưởng U9-10: Eamon Mulvey


    HLV thủ môn của Học viện: Alan Fettis [50]


    HLV thủ môn của Học Viện (U9-16): Jack Robinson [51]


    Các trợ lý Huấn luyện viên Học viện khác: Eddie Leach, Tommy Martin, Mike Glennie & Andy Welsh


Những con người nổi tiếng


Những tay săn bàn vĩ đại nhất


            Tên       Thời gian thi đấu           Giải[54]             Cúp FA[55]       Cúp Liên đoàn[56]         châu Âu[57]       Khác[58]             Tổng cộng[59]


1          Anh Bobby Charlton      1956–1973        199 (606)           19 (78) 7 (24)    22 (45) 2 (5)      249 (758)


2          Scotland Denis Law       1962–1973        171 (309)           34 (46) 3 (11)    28 (33) 1 (5)      237 (404)


3          Anh Jack Rowley           1937–1955        182 (380)           26 (42) 0 (0)      0 (0)      3 (2)      211 (424)


4=        Anh Dennis Viollet         1952–1962        159 (259)           5 (18)    1 (2)      13 (12) 1 (2)      179 (293)


4=        Bắc Ireland George Best            1963–1974        137 (361)           21 (46) 9 (25)    11 (34) 1 (4)      179 (470)


6          Anh Joe Spence            1919–1933        158 (481)           10 (29) 0 (0)      0 (0)      0 (0)      168 (510)


7          Wales Mark Hughes       1983–1986


1988–1995        120 (345)           17 (46) 16 (38) 9 (33)    1 (5)      163 (467)


8          Wales Ryan Giggs         1991–2014        110 (607)           11 (69) 9 (37)    27 (135)            1 (18)    158 (865)


9=        Hà Lan Ruud van Nistelrooy       2001–2006        95 (150)            14 (14) 2 (6)      38 (47) 1 (2)      150 (219)


9=        Anh Paul Scholes          1994–2011        102 (463)           13 (43) 9 (21)    26 (126)            0 (15)    150 (668)


Những cầu thủ Manchester United xuất sắc nhất năm của Giải ngoại hạng anh


Những cầu thủ Manchester United xuất sắc nhất năm của giải Ngoại Hạng Anh Mùa bóng            Cầu thủ             Chức vụ             Quốc tịch          Tài Liệu Tham Khảo(s)


1995–96            Peter Schmeichel          Thủ Môn            Denmark          [60]


1998–99            Dwight Yorke    Tiền Đạo            Trinidad and Tobago    [61]


2002–03            Ruud van Nistelrooy      Tiền Đạo            Netherlands      [62][63]


2006–07            Cristiano Ronaldo          Tiền Vệ              Portugal           [64]


2007–08            Cristiano Ronaldodouble-dagger (2)       Tiền Vệ              Portugal           [64][65]


2008–09            Nemanja Vidić   Hậu Vệ              Serbia [66]


2009–10            Wayne Rooney Tiền Đạo            England           [67]


2010–11            Nemanja Vidić (2)          Hậu Vệ              Serbia [68]


Các huấn luyện viên trong lịch sử


Tên       Thời Gian


Flag of England (bordered).svg A. H. Albut        1892-1900


Flag of England (bordered).svg James West      1900-1903


Flag of England (bordered).svg J. Ernest Mangnall         1903-1912


Flag of England (bordered).svg John Bentley     1912-1914


Flag of England (bordered).svg Jack Robson    1914-1922


Flag of England (bordered).svg John Chapman 1921-1927


Flag of England (bordered).svg Lal Hilditch        1926-1927


Flag of England (bordered).svg Herbert Bamlett             1927-1931


Flag of England (bordered).svg Walter Crickmer             1931-1932, 1937-1945


Flag of Scotland.svg Scott Duncan       1932-1937


Flag of Scotland.svg Sir Matt Busby      1945-1971


Flag of England (bordered).svg Wilf McGuinness           1969-1970


Flag of Ireland.svg Frank O'Farrell          1971-1972


Flag of Scotland.svg Tommy Docherty 1972-1977


Flag of England (bordered).svg Dave Sexton     1977-1981


Flag of England (bordered).svg Ron Atkinson    1981-1986


Flag of Scotland.svg Sir Alex Ferguson             1986-2013


Flag of Scotland.svg David Moyes        2013-2014


Flag of the Netherlands.svg Louis van Gaal        2014-nay


Trong lịch sử CLB, những đội bóng từng cạnh tranh quyết liệt với Manchester United có Liverpool, Manchester City và Leeds United. Hiện nay, kỷ lục 18 lần vô địch giải đấu cao nhất của Liverpool đã chính thức bị Manchester United phá bỏ, trong khi từ lâu Liverpool đã không còn là một thế lực nữa nên thay thế họ là Chelsea và Arsenal trở thành đối trọng của Manchester United. Còn lại, Manchester City là đối thủ lớn nhất trong cùng thành phố.[cần dẫn nguồn]


Những trận đấu Manchester United - Liverpool FC đã bắt đầu trong suốt thập niên 60 khi 2 CLB này nằm trong số những CLB mạnh nhất nước Anh. Những trận cầu kịch tính giữa 2 đội bóng diễn ra đều đặn sau đó. Trong những năm gần đây, cuộc chiến giữa Manchester United và Chelsea cũng chào đón được rất nhiều sự quan tâm của người hâm mộ trên khắp thế giới.[cần dẫn nguồn]


Quả bóng vàng châu Âu


    Scotland Denis Law – 1964


    Anh Bobby Charlton – 1966


    Bắc Ireland George Best – 1968


    Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo – 2008


Giày vàng châu Âu


    Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo (31 bàn thắng) – 2008


Cầu thủ xuất sắc nhất năm của UEFA


    Anh David Beckham – 1999


    Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo – 2008


Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA


    Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo – 2008


Kỷ lục


    Ngày 22-04-2013, Manchester United tự xô đổ kỷ lục của mình với lần thứ 20 vô địch bóng đá Anh (13 lần vô địch giải Ngoại Hạng), sau chiến thắng 3-0 trước Aston Villa tại vòng 34 - chiến thắng giúp họ vô địch sớm 4 vòng đấu.


    Ngày 14-05-2011, Manchester United Trở thành đội bóng giàu thành tích nhất nước Anh với 19 lần vô địch quốc gia và 11 lần vô địch cúp FA.


    Ngày 14-05-2011, Giggs lại lập kỷ lục: Với việc vào sân thay người trong trận đấu Blackburn (1-1) MU, tiền vệ xứ Wales đã chính thức vượt qua cột mốc 572 trận ra sân tại Premier League của thủ thành James


    Ngày 22-12-2011, với bàn thắng ở phút 43 vào lưới Fullham trong trận MU thắng 5-0, Giggs đã tiếp tục trở thành cầu thủ duy nhất cho tới nay ghi bàn tại tất cả các mùa giải của Premier League.


    Ngày 27-4-2011, trong trận đấu Schalke 04- Manchester United, Ryan Giggs đi vào lịch sử là cầu thủ già nhất ghi bàn khi mỡ tỷ số trong chiến thắng 2-0. Thành tích trước đây thuộc về Maldini.


Huấn luyện viên có nhiều lần vô địch nhất: Ferguson (Manchester United)/Carlo Ancelotti (AC Milan)/Ottmar Hitzfeld (Borussia Dortmund/Bayern Munich)/Vicente Del Bosque (Real Madrid)/Jose     Cầu thủ nhiều lần khoác áo nhất: Ryan Giggs (828 trận)


    Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất: Bobby Charlton (249 bàn)


    Cầu thủ ghi nhiều bàn tại giải vô địch nhất: Bobby Charlton, 199 bàn trong giai đoạn 1956-73


    Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất ở giải vô địch một mùa giải: Dennis Viollet, 32 bàn giải hạng nhất, 1959-60


    Cầu thủ ghi nhiều bàn trong 1 trận nhất: George Best 6 bàn vào lưới Northampton Town, 1970


    Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất: Bobby Charlton, 106 lần khoác áo đội tuyển Anh


    Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất tại giải vô địch: Bobby Charlton, 606 lần 1956-73


    Kỉ lục về số khán giả trên sân nhà tại giải vô địch: Old Trafford 70.504 v Aston Villa, giải hạng nhất, 27 tháng 12 1920


    Kỉ lục về số khán giả trong 1 trận đấu: Maine Road 83.250 v Arsenal, giải hạng nhất, 7 tháng 1 1948


    Kỉ lục về số khán giả đến sân Old Trafford: 76.962, Wolves v Grimsby Town, Cúp FA vòng bán kết, 25 tháng 3 1939


    Chuỗi trận bất bại lâu nhất (trên tất cả các mặt trận): 45 trận từ 24 tháng 12 1998 đến 10 tháng 3 1999


    Số bàn thắng nhiều nhất ghi trong một mùa giải: 103 bàn ở các mùa 1956/57 và 1958/59


    Số điểm đạt được nhiều nhất trong một mùa giải: 92 điểm ở mùa 1993/94


    Cầu thủ ghi bàn nhanh nhất: 15 giây - Ryan Giggs v Southampton, giải vô địch, 6 tháng 2 1999


    Cầu thủ ghi 4 bàn nhanh nhất: 13 phút - Ole Gunnar Solskjær v Nottingham Forest, giải vô địch, 18 tháng 11 1995


    Mùa 2010-2011, tại đấu trường Champions League, Manchester United đã lọt vào vòng 2 mà chỉ thua duy nhất 1 bàn, đây là kỷ lục thua ít nhất từ khi giải đấu thay đổi thể thức mới.


Manchester United đã thi đấu 79 mùa giải ở giải đấu cao nhất cấp quốc gia (chỉ có Everton, Aston Villa, Liverpool và Arsenal có nhiều mùa giải hơn).


________


    ^ “Manchester United Football Club”. Premier League. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008.


    ^ Rollin, Glenda; and Rollin, Jack (2008). “The Clubs”. Sky Sports Football Yearbook 2008-2009. Sky Sports Football Yearbooks. London: Headline Publishing Group. tr. 254–255. ISBN 978-0-7553-1820-9.


    ^ Smith, Martin (15 tháng 4 năm 2008). “Bitter rivals do battle”. The Daily Telegraph (London: Telegraph Media Group). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.


    ^ Stone, Simon (16 tháng 9 năm 2005). “Giggs: Liverpool our biggest test”. Manchester Evening News. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.


    ^ “David Moyes: Manchester United appoint Everton boss”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013.


    ^ “Sir Alex Ferguson to retire this summer, Manchester United confirm”. Sky Sports (BSkyB). 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2013.


    ^ “David Moyes: Manchester United appoint Everton boss”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.


    ^ “Manchester United confirm appointment of David Moyes on a six-year contract”. Sky Sports (BSkyB). 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.


    ^ Jackson, Jamie (9 tháng 5 năm 2013). “David Moyes quits as Everton manager to take over at Manchester United”. guardian.co.uk (Guardian News and Media). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.


    ^ “David Moyes sacked by Manchester United after just 10 months in charge”. The Guardian (Guardian News and Media). 22 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014.


    ^ Hassan, Nabil (11 tháng 5 năm 2014). “Southampton 1-1 Man Utd”. British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014.


    ^ “Manchester United: Louis van Gaal confirmed as new manager”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014.


    ^ “Manchester United owner Malcolm Glazer dies aged 86”. The Guardian (Guardian News and Media). 28 tháng 5 năm 2014.


    ^ a ă Barnes et al. (2001), p. 49.


    ^ a ă â b c d Barnes et al. (2001), p. 48.


    ^ “New United home kit unveiled”. ManUtd.com (Manchester United). 7 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014.


    ^ Devlin (2005), p. 157.


    ^ “Reds unveil new away kit”. ManUtd.com (Manchester United). 15 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011.


    ^ “13.04.96 Manchester United's grey day at The Dell”. The Independent. 15 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2012.


    ^ Devlin (2005), p. 158.


    ^ “United reveal blue third kit for 2014/15 season”. ManUtd.com (Manchester United). 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014.


    ^ Devlin (2005), pp. 154–159.


    ^ “New blue kit for 08/09”. ManUtd.com (Manchester United). 28 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ “First Team”. http://thethao.vnexpress.net/ (Manchester United). Truy cập 19/4/2014.


    ^ “Real Madrid mượn Chicharito”. Cris (theo ManUtd). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2014.


    ^ “Powell loaned to Leicester”. Adam Marshall. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.


    ^ “Villa đã có được Cleverly”. Mun (theo ManUtd). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.


    ^ “Zaha trở lại Crystal Palace dưới dạng cho mượn”. Mun (tổng hợp). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2014.


    ^ Red Football Shareholder Limited: Group of companies' accounts made up to 30 June 2009. Downloaded from Companies House UK


    ^ Gardner, Neil (8 tháng 10 năm 2009). “Martin Edwards voices concerns over Manchester United's future”. The Times (London: Times Newspapers). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010.


    ^ a ă â b “Board of Directors”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013.


    ^ “Management”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014.


    ^ “Who are the Directors of Manchester United Football Club?”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010.[[]][liên kết hỏng]


    ^ “Reds' new Club Secretary”. ManUtd.com (Manchester United). 20 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ Tuck, James (17 tháng 7 năm 2013). “Cole enjoying club role”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.


    ^ “Nev's new role”. ManUtd.com (Manchester United). 8 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.


    ^ “Manchester United appoint Bryan Robson as global ambassador”. The Times (London: Times Newspapers). 20 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010.


    ^ “New role for Schmeichel”. ManUtd.com (Manchester United). 27 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.


    ^ a ă â b “Club Directory: Manchester United Football Club Limited”. Premier League. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2014.


    ^ “New coaching appointment: Albert Stuivenberg”. ManUtd.com (Manchester United). 6 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014.


    ^ a ă “Manchester United F.C. appoint Louis van Gaal as manager”. 19 May 2014. Manchester United F.C. Press Office. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014.


    ^ a ă “Coaching Staff: Richard Hawkins”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ Shergold, Adam (15 tháng 7 năm 2013). “United's coaches get tough in training as De Gea and Van Persie return... so it's no wonder they needed a sit down afterwards!”. Mail Online (Associated Newspapers). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.


    ^ Bostock, Adam (21 tháng 7 năm 2014). “Gallery: United's new faces”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014.


    ^ “Van Gaal introduces his backroom staff”. ManUtd.com (Manchester United). 25 tháng 7 năm 2014. tr. 2. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014.


    ^ Bartram, Steve (16 tháng 12 năm 2010). “Res: United 5 N'wcstle 1”. ManUtd.com (Manchester United). tr. 3. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011.


    ^ “Interview: Jim Lawlor”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ “Coaching Staff – Brian McClair”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ Ocean of Optimism (30 tháng 6 năm 2010). “Casper In As Man Utd Youth Guru”. Vital Grimsby Town (Vital Network). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.


    ^ Marshall, Adam (28 tháng 7 năm 2014). “Keeper focus: Joel Pereira”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014.


    ^ “Hands-on top flight training for Pickering Town ’keeper Toby Wells”. York Press (Newsquest (Yorkshire & North East)). 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014.


    ^ “Reds appoint new club doctor”. ManUtd.com (Manchester United). 4 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.


    ^ Bostock, Adam (4 tháng 7 năm 2014). “United physio Swire retires”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014.


    ^ “All Goalscorers in All League Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “All Goalscorers in FA Cup Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “All Goalscorers in League Cup Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “All Goalscorers in All European Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “All Goalscorers in All Other Competitive Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “All Goalscorers in All Competitive Matches”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.


    ^ “Seasonal Awards 1995/96”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.


    ^ “Seasonal Awards 1998/99”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.


    ^ “Van Nistelrooy scoops award”. BBC Sport (BBC). 14 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.


    ^ “Van Nistelrooy nets Golden Boot”. BBC Sport (BBC). 14 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.


    ^ a ă “Ronaldo & Ferguson win top awards”. BBC Sport (BBC). 14 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.


    ^ White, Duncan (12 tháng 1 năm 2009). “Cristiano Ronaldo wins Fifa World Player of the Year”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014.


    ^ “Ferguson and Vidic scoop Premier League awards”. The Independent. Press Association. 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.


    ^ Dimond, Alex (10 tháng 5 năm 2010). “Manchester United Striker Wayne Rooney Named Barclays Premier League Player Of The Season”. Goal.com (Perform Group). Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.


    ^ “Manchester United duo Sir Alex Ferguson and Nemanja Vidic win Premier League awards”. The Daily Telegraph. 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.


wikipedia

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thực hư chuyện cha ruột Thái sư Trần Thủ Độ - Kiều Mai Sơn 30.03.2017
Nguyễn Phúc Khoát - Tư liệu 28.03.2017
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Uy thế của Võ vương - Lê Nguyễn 28.03.2017
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Phủ Võ vương qua mắt y sĩ phương Tây - Lê Nguyễn 27.03.2017
'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu? - Hồ Tường 27.03.2017
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
xem thêm »