tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051677
Lý luận phê bình văn học
22.09.2014
Nguyễn Hữu Dũng
Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng: Văn học Ba Lan – Duyên nợ đời tôi


-      Tiểu sử Nguyễn Hữu Dũng


- Nhấn chuột vô đây để đọc bài cùng chủ đề: Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và tiểu thuyết Quo Vadis


 


Là học sinh miền Nam, tốt nghiệp phổ thông năm 1966, tôi vào học ngành Máy tàu thủy, Khoa Công nghiệp cá, Trường Đại học Thủy sản. Ra trường, giảng dạy vài năm ở bộ môn Cơ khí Tàu thuyền, tôi đi Ba Lan làm nghiên cứu sinh ở Khoa Cơ khí, Đại học Bách khoa Łódz, phân hiệu Bielsko-Biała. Bảo vệ luận án tiến sĩ về cải thiện quá trình cháy trong động cơ điezen năm 1980, được phong phó giáo sư năm 1989 cũng về chuyên ngành động lực, giảng dạy rồi làm quản lý trong lĩnh vực thủy sản, đời tôi nặng nợ với các thứ sắt thép, cơ khí, máy móc, với cháy và nổ, với tôm và cá, dường như chẳng có chút gì liên quan gì với văn thơ. Ấy vậy mà không hiểu sao mối duyên nợ của tôi với văn học Ba Lan suốt đời không dứt được.


Tôi vẫn nhớ mãi ấn tượng về buổi sớm mai đầy sương mù cuối tháng tám năm 1976, gần 40 năm trước, khi lần đầu tiên được đến Ba Lan. Ðoàn tàu liên vận quốc tế vượt qua dòng sông Bug như một dải lụa mềm mại, nhẹ nhàng dừng bánh trên sân ga biên giới Terespol ở phía đông Ba Lan. Trời chưa sáng hẳn. Tôi mở cửa toa tàu, bước xuống sân ga vắng lặng, nơi chỉ có những người lính biên phòng và hải quan đang bình thản đi đi lại lại. Tôi cố căng ngực hít sâu hơi mát trong lành của buổi ban mai đầu tiên được đặt chân trên đất nước của Chopin. Trong làn sương sớm như lan toả về từ quá khứ xa xôi, những cánh rừng bạch dương và rừng phong lá chưa ngả màu, hiện ra mờ ảo như huyền thoại, có một vẻ gì thật riêng, thật thanh bình, thật Ba Lan - mà lạ lùng thay, với tôi sao xiết bao gần gũi. Trò chuyện đôi câu cùng một anh lính biên phòng Ba Lan rất trẻ, người vùng cao nguyên Sląsk, tôi bàng hoàng ngỡ như mình đã gặp ở đâu rồi phong cảnh này, hơi ban mai tươi mát này, làn sương dịu dàng quấn quýt này, đã quen thân chàng lính trẻ ấy từ lâu lắm rồi, đâu như từ tiền kiếp.


Và khi bình minh lên, con tàu chuyển bánh đưa tôi đi sâu vào đất nước Ba Lan xinh đẹp, tôi mới chợt nhớ ra rằng mình đã cảm nhận được tất cả từ những điều ấy từ truyện ngắn Người gác đèn biển của Henryk Sienkiewicz, câu chuyện về ông lão Skaviński, một người Ba Lan trung thực, giản dị nhưng kiên cường, đã từng chiến đấu cho nền độc lập của đất nước mình, bị số phận xô đẩy phải lang bạt như một chiếc lá mỏng manh sang tận xứ trời biển xa xôi Nam Mỹ, đã từng trải biết bao thăng trầm trong kiếp làm người, mà lòng vẫn nức nở vì một tiếng thơ của Adam Mickiewicz. Trong cơn mơ, người gác đèn biển tha hương ấy nhớ như thấy lại cũng làn sương mờ này, ánh lửa bập bùng đây kia, như nghe thấy những tiếng nhạc dân vũ quen thuộc, khi anh còn là một chàng khinh kỵ trẻ tuổi đứng gác làng mình...


Truyện ngắn ấy tôi được đọc trong tập Truyện cổ điển Ba Lan khi còn là học sinh lớp 7, ấy là quyển sách vỡ lòng đã đưa dắt tôi đến với nền văn học Ba Lan giàu có. Nó như một khe suối nhỏ trong vắt, thanh khiết đến thánh thiện trong cánh rừng đại ngàn bao la, dẫn tôi đến với dòng sông lớn của một nền văn học lớn, đầy sức sống, luôn trăn trở, sinh sôi, luôn tìm tòi sáng tạo, với những tên tuổi của Adam Mickiewicz (24/12/1798 – 26/11/1855), Juliusz Słowacki (4/9/1809 – 3/4/1849), Henryk Sienkiewicz (5/5/1846 – 15/11/1916), Bolesław Prus (20/8/1847 – 19/5/1912), Władysław Reymont (7/5/1867– 5/12/1925), Czecław Miłoś (30,6/1911 – 14/8/2004), Wisława Szymborska (2/7/1923 – 1/2/2012) và của bao nhà văn, nhà thơ huyền thoại khác.


Mãi về sau này, khi đã được đọc, được hiểu thêm về văn học Ba Lan, đã làm được đôi điều nhỏ nhoi trong việc dịch và giới thiệu một số tác phẩm của nền văn học bao la ấy, tôi mới lờ mờ cảm nhận được định mệnh đã gắn bó số phận mình với dòng văn học ấy. Nó xuất phát từ điều bí ẩn gì đó nằm sâu trong tâm linh, nằm bên trên khối óc, bên ngoài khả năng tư duy của tôi, điều gì đó có trước cả những điều tôi mong muốn. Nào ai biết tại sao mình lại yêu cái này mà không yêu cái khác trong những vẻ đẹp đa dạng và phong phú trên đời. Nó là duyên nợ khởi nguồn từ tiền kiếp. Tôi đã mạo muội tâm sự điều đó với Tổng thống Ba Lan, trong buổi chiêu đãi tại Đại sứ quán Ba Lan ở Hà Nội, khi ông sang thăm và trao cho tôi tấm Huân chương Chữ thập Hiệp sĩ để ghi nhận đóng góp cho việc dịch và giới thiệu văn học Ba Lan. Ông hỏi thật rằng ông nghe nói nghiên cứu sinh Việt Nam vốn "dốt" tiếng Ba Lan, mà sao tôi lại dịch được giỏi thế, tôi thưa rằng tôi chẳng giỏi giang gì, rất có thể tôi được ngấm đẫm từ vô thức tình yêu đối với ngôn ngữ và văn học Ba Lan chỉ vì kiếp trước tôi là một cô gái Ba Lan!


Người đầu tiên truyền cho tôi kiến thức về ngôn ngữ và văn học Ba Lan là bà Kazimierza Budzianka, cô giáo Trung tâm Tiếng Ba Lan cho người nước ngoài (Studium Języka Polskiego dla Cudzożiemców) ở Łódz, người mà nhiều lưu học sinh và nghiên cứu sinh Việt Nam thường gọi triù mến là cô Buda. Còn nhớ, trong 9 tháng dạy tiếng Ba Lan cho tôi, bà đã 3 lần cho tôi điểm 6 (dù thang chỉ có điểm 5 là cao nhất), mà như bà nói, để đánh giá thật công bằng trình độ làm chủ tiếng Ba Lan của cậu “học sinh cá biệt” là tôi! Bà cũng đã nhiệt tình giúp tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành biên soạn quyển Từ điển Kỹ thuật Ba Lan – Việt Nam mà nhiều thế hệ lưu học sinh Việt Nam thế hệ trước đã sử dụng. Nhưng trên hết, bà là người đã dành nhiều tâm huyết dạy cho tôi giá trị những tác phẩm của H. Sienkiewicz, B. Prus, W. Reymont,…


Bảo vệ luận văn tiến sĩ vào ngày 15/10/1980, cùng ngày nghệ sĩ Đặng Thái Sơn đoạt giải nhất cuộc thi piano mang tên Frederyk Chopin ở Warszawa, đầu năm 1981 tôi về nước, mang đến Nhà xuất bản Văn Học (ngày ấy còn ở 48 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội) một bản đề cương giới thiệu các tác phẩm của Henryk Sienkiewicz. Trong bản viết tay 5 trang trên giấy caro khổ rộng ấy, tôi đề nghị nhà xuất bản Văn học tổ chức dịch và giới thiệu những tác phẩm hay nhất của ông, gồm có Quo vadis, W pustyni i w puszczy (Trên sa mạc và trong rừng thẳm), bộ ba tiểu thuyết lịch sử: Ogniem i meczem (Bằng lửa và gươm), Potop (Nạn hồng thủy) Pan Wolodyjowski (Ngài Volodyovski), Krzyżacy (Hiệp sĩ Thánh chiến) và các truyện ngắn tuyệt tác.


Tiếp tôi ngày xuân năm 1981 ấy là các anh Anh Trúc, Thúy Toàn và giám đốc nhà xuất bản Lý Hải Châu. Các anh đã nhiệt tình động viên tôi dịch văn học Ba Lan, trước hết là Quo vadis. Và thế là tôi dấn thân vào cuộc hành trình dài, theo sự dẫn dắt của tình yêu định mệnh, theo những duyên nợ tiền định của đời tôi với nền văn học Ba Lan. Cuộc hành trình ấy đã cho tôi được gặp biết bao con người nhiệt thành, bao bạn văn thân thiết, mà hôm nay, xin bạn đọc cho phép tôi được nhắc tên với lòng biết ơn sâu sắc nhất. Đó là các anh chị Anh Trúc, Hoàng Thúy Toàn, Ngô Thu Hằng, Hoàng Ngọc Hà, Trần Minh Tâm, Đoàn Tử Huyến, Triệu Xuân, Anh Ngọc, Hồng Diệu, Lê Thanh Nga,… các anh chị biên tập viên ở các nhà xuất bản Văn học, Kim Đồng, Thanh niên, Phụ nữ, Hà Nội, Hội nhà văn, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây,…và các báo, tạp chí Văn Nghệ, Văn nghệ Quân đội, Tác phẩm mới,…


Tôi rất biết ơn các bạn văn chuyên dịch văn học Ba Lan nhiều thế hệ, như Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh, Hữu Chí, Từ Đức Hòa, Tạ Minh Châu, Lê Bá Thự, Lâm Quang Mỹ, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Thanh Thư, Nguyễn Văn Thái,…đã có cùng tình yêu văn học, luôn có mặt trong lòng tôi trên những bước đường khám phá các giá trị của văn học Ba Lan và chuyển tải đến cho bạn đọc người Việt, không có sự ngăn cách của tuổi tác và nghề nghiệp chuyên môn.


Đặc biệt, tôi muốn nhắc đến con người khiêm nhường đã dịch truyện ngắn Người gác đèn biển của Henryk Sienkiewicz, chuyện ngắn đầu tiên truyền cho tôi tình yêu văn học Ba Lan thuở thiếu thời mà tôi đã nhắc ở phần trên - bác Hữu Chí. Bác tên thật là Ðỗ Hữu ích. Cuộc đời bác thật lắm nỗi truân chuyên, ngẫm ra lại thấy những nét hao hao giống chuyện ông lão Skaviński, người gác đèn biển ở bờ biển Panama trong truyện ngắn của văn hào Sienkiewicz. Sự giống nhau không phải ở những tình tiết éo le, không phải chỉ ở thân phận long đong, mà ở tính cách, ở sự kiên cường đối đấu với số phận, và ở tình yêu dành cho mảnh đất đã sinh ra mình, tình yêu đối với văn học, tình yêu và sự tha thứ dành cho con người.


Cũng như số phận bao người thuộc thế hệ cha anh tôi, cuộc đời bác thật phong phú nhưng cũng biết bao chìm nổi. Hoạt động cách mạng từ những năm tiền khởi nghĩa, cùng thời với những tên tuổi nổi tiếng trong văn hoá hiện đại, chàng thanh niên Hải Phòng giàu nhiệt tâm và lòng say mê ấy đã làm bao nhiêu việc khác nhau, từ diệt mật thám trừ gian đến sáng tác những ca khúc cách mạng hào hùng, có sức lay động lòng người trong những ngày hừng hực khí thế cách mạng lúc bấy giờ và còn vang vọng không chỉ đến tận bây giờ. Vậy mà.... Mà thôi, kể làm gì, những thăng trầm, những được mất hơn thua của cuộc đời dâu bể. Chỉ cốt ở tấm lòng.


Hữu Chí giỏi nhiều ngoại ngữ nhưng lại không có điều kiện để học tiếng Ba Lan, bác dịch văn học Ba Lan chủ yếu qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Công việc bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Cho đến tận cuối đời, người đàn ông ấy vẫn còn say mê dịch. Có lần tôi vân vi hỏi tại sao bác không phát huy sở trường ngoại ngữ hoặc theo người đời tìm giới thiệu một nền văn học khác vốn đã nổi tiếng, mà lại phải là Ba Lan, bác chỉ cười. Nó là cái duyên, cái nợ. Ðã là duyên nợ thì đừng hỏi nguyên do.


Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc đến những kỷ niệm rất riêng tư của tôi về 4 tác giả và một số tác phẩm chính mà tôi đã có duyên nợ tìm hiểu và đã may mắn dịch được, trong kho tàng đồ sộ, mênh mông, vô giá của văn học Ba Lan. 


Henryk Sienkievich sinh ngày 7/5/1846 tại Wola Okszeiska miền Podlesie, trong một gia đình quý tộc đã bị sa sút. Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkiewicz bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Na marne (Phí hoài, 1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, như  Humoreski z teki Woroszyłły (Chuyện vui từ những ghi chép của Woroszyłła, 1872), Stary Sługa (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876) và Selim Mirza (1877), ông đã mô tả một cách sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng. Thời kỳ 1876 -1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ và cho đăng Listy z podróży (Những bức thư từ các chuyến đi, 1876 -1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó nổi bật lên vấn đề thân phận người nông dân. Những tác phẩm nổi bật nhất trong thời kỳ này là Szkice węglem (Ký họa bằng than, 1877), Na jedną kartę (Chỉ một trang, 1879), Komedia z pomyłek (Hài kịch từ những nhầm lẫn, 1878), Przez stepy (Băng qua thảo nguyên, 1879), W krainie złota (Ở xứ sở của vàng, 1880), Za chlebem (Kiếm miếng bánh, 1880), Latarnik (Người gác đèn biển, 1881) Wspomnienia z Maripozy (Hồi ức từ Maripoza, 1882), và Sachem (1883). Tôi và anh Lê Bá Thự đã chọn dịch một số truyện ngắn hay, xuất bản trong tập Trên bờ biển sáng (Văn học, 1988).


Năm 1890-1892 đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkiewicz, từ lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa, ông bước sang miền đất mới của các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh diễn ra ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Ogniem i Mieczem (Bằng lửa và gươm, 1883 -1894), Potop (Trận hồng thủy, 1884-1886), Pan Wołodyjowski (Ngài Volodyjovxki, 1887 -1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của Sienkiewicz, là một tuyệt phẩm trong kho tàng văn học Ba Lan.


Tiếp đó, Sienkiewicz hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội: Bez dogmatu (Phi giáo lý, 1889 -1890) và Rodzina Połanieckich (Gia đình Polaniexki, 1895), phê phán giới quý tộc đang suy đồi.


Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo Vadis (1895-1896) là cuộc khủng bố các Kito hữu thời Nero bạo chúa ở Cổ La Mã. Những chương đầu tiên xuất hiện trên nhiều tờ báo Ba Lan từ tháng 3/1895 đến tháng 2/1896, nhanh chóng được in thành sách, và ngay lập tức trở thành tác phẩm được đặc biệt hâm mộ trên toàn châu Âu, được dịch ngay ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật và Arập. Tác phẩm cũng được chuyển thể thành opera và là tiểu thuyết đầu tiên được dựng thành phim năm 1913 và nhiều lần về sau.


Tiểu thuyết lịch sử Krzyżacy (Hiệp sĩ Thánh chiến, 1897-1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lừng, chống lại các hiệp sĩ thuộc dòng tu Thánh Chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan.


Năm 1905 ông là nhà văn Ba Lan đầu tiên được nhận giải Nobel văn học. Trong lời đáp ông nhấn mạnh rằng vinh dự này đặc biệt giá trị cho một người con của dân tộc Ba Lan. Ông tuyên bố: "Người ta nói Ba Lan đã chết, nhưng đây là bằng chứng rằng Ba Lan vẫn chiến thắng!"


Cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên, H. Sienkiewicz cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi W pustyni i w puszczy (Trên sa mạc và trong rừng thẳm, 1910-1911). Ông cũng viết tiểu thuyết Na polu chwały (Trên mảnh đất vinh quang), mà ông dự định là tập đầu của một bộ ba mới, và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913-1914) mà cái chết không cho phép ông hoàn thành. Henryk Sienkiewicz mất tại Vevey (Thụy Sĩ) ngày 15/11/1916 thọ 70 tuổi. Năm 1924, khi Ba Lan được độc lập, tro di hài của ông được đưa về Ba Lan và được an táng tại nhà thờ Thánh Jan ở Warszawa, với nhiều danh nhân dân tộc khác.


H. Sienkiewicz đã để lại cho nhân loại một di sản văn học đồ sộ và vô giá. Ngay từ thuở sinh thời của văn hào đã từng có nhiều người cố gắng thu thập và xuất bản toàn bộ những tác phẩm của ông. Đáng chú ý nhất là công trình của Nhà xuất bản Gebethner và Wolf, trong những năm 1880 - 1939 đã xuất bản 46 tập tác phẩm chọn lọc của Sienkievich.


Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bè lũ Hítle ra lệnh cấm lưu hành những tác phẩm sục sôi lòng yêu nước của Sienkievich, chúng tịch thu và đốt các tác phẩm của ông, song nhân dân Ba Lan vẫn nâng niu, gìn giữ, truyền tay nhau đọc, dù rằng không ít người vì thế đã bị kết án tử hình hoặc bị đưa vào trại tập trung.


Ngay trong mùa xuân năm 1945 còn vương khói đạn, trong cảnh đất nước bị tàn phá đến mức hủy diệt, với những điều kiện cực kỳ khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến của Sienkiewicz được tái bản, và đó là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên được xuất bản trong lòng nước Ba Lan mới. Chỉ vài năm sau chiến tranh, Chính phủ Ba Lan đã quyết định cho xuất bản toàn bộ tác phẩm của văn hào. Dựa trên các bản thảo và những bản in lần đầu may mắn được cứu thoát khỏi sự đốt phá của bè lũ phát xít, lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm của H. Sienkiewicz gồm 60 tập được chỉnh lý và xuất bản trong khoảng thời gian 1949-1954, dưới sự chủ trì của giáo sư Julian Krzyżanowski.


Quo vadis


Quo Vadis được viết trong thời kỳ sung sức nhất của H. Sienkiewicz. Ý đồ sáng tác xuất hiện vào mùa xuân năm 1893, khi nhà văn tới thăm Roma lần thứ hai. Như nhà văn đã viết trong bức thư gửi nhà khảo cổ học kiêm nhà phê bình văn học người Pháp Boyer D'Agen vào năm 1912: "Tôi nảy sinh ý định sáng tác Quo Vadis trong chuyến lưu trú dài ngày tại Roma, khi tôi đọc các tập Niên ký của Taxits, một trong những nhà văn tôi yêu thích nhất . Họa sĩ nổi tiếng Siemiradzki đang sống tại Roma hồi ấy là người hướng dẫn tôi đi tham quan cái thành đô vĩnh hằng này và ở một trong những cuộc dạo chơi như thế, anh ấy đã chỉ cho tôi ngôi nhà thờ nhỏ mang tên Quo Vadis. Lúc ấy, tôi đã nảy sinh ra ý định viết một tiểu thuyết về thời kỳ lịch sử đó".


Trong suốt hai năm 1893-1894, tác giả đã tiến hành những công cuộc chuẩn bị, khảo cứu rất công phu, để xây dựng nền móng cho tác phẩm, đồng thời đã vài lần thử nghiệm chủ đề này trong một số phác thảo khác nhau. Quo Vadis được chính thức bắt đầu viết từ mùa xuân năm 1895 tại Vacsava và được hoàn thành ngày 18/2/1896 tại Nice (Pháp). Vừa viết, Sienkiewicz vừa cho đăng tải Quo Vadis trên tờ "Báo Ba Lan" ở Warszawa và hai tờ báo khác tại Poznan và Kraków. Vài tháng sau, tác phẩm được nhà xuất bản Gebethner và Wolf in thành sách (3 tập).


Quo Vadis là bức tranh toàn cảnh xã hội La Mã vào năm 64 sau công nguyên, với những mâu thuẫn chính trị xã hội và tôn giáo đã căng thẳng tới tột đỉnh, chỉ chực bùng nổ. Mặc dù ở lần xuất bản đầu tiên, Quo Vadis có mang thêm phụ đề nhỏ "Tiểu thuyết về thời Nero", nhưng thực ra Sienkiewicz không có ý định dựng một tiểu thuyết lịch sử theo nghĩa đầy đủ của từ này. Tác giả chỉ giới hạn trong việc vẽ nên một bức tranh chi tiết và sinh động của xã hội La Mã tại  Roma. Trong các sự kiện lịch sử của thời kỳ đó, tác giả chỉ tập trung vào hai vấn đề lớn: vụ đốt cháy thành Roma và cuộc khủng bố các tín đồ Kito hữu.


Chính sự thu gọn chủ đề và bình diện các sự kiện lịch sử ấy đã cho phép tác giả làm nổi bật lên sự đối đầu giữa hai thế giới: một bên là thế giới cung đình bạo chúa đa thần giáo của triều thần La Mã vây quanh Nero, bạo chúa đang ở đỉnh cao của quyền lực, xa hoa và tội ác, nhưng đã thối nát cực độ và đang suy vong; còn một bên là thế giới nô lệ và dân nghèo theo đạo Kito, tập trung quanh hai vị Sứ đồ Piotr (Latin: Peter) và Pavel (Paul). Cái thế giới hồi ấy không chút quyền lực, nhỏ nhoi và yếu ớt nhưng đầy hấp dẫn bởi tư tưởng mới và không cam chịu khuất phục bạo lực, đang lớn dần lên, chiếm lĩnh vũ đài xã hội - chính trị. Tượng trưng cho điểm đỉnh của sự đối đầu này là cuộc đọ nhãn quang tình cờ giữa Nero và Sứ đồ Piotr khi Hoàng đế cùng đám quần thần rời bỏ Roma, - thành đô đã bị Nero thầm kết án tử hình. "Trong một chớp mắt, hai con người ấy nhìn nhau (...) đó là giây phút đọ nhãn quang của hai vị chúa tể trái đất, một kẻ ngay sau đó biến đi như một giấc mơ đẫm máu, còn người kia - chính cụ già khoác manh áo thô kệch nọ - sẽ chiếm lĩnh đến muôn đời sau cả thế gian lẫn thành đô này" (Chương 36).


Quo vadis là tiểu thuyết Ba Lan đầu tiên tôi dịch, không phải bởi vì đó là tác phẩm được giải Nobel văn học, mà bởi vì tôi yêu nó. Và có phải tình yêu đó, bắt nguồn từ một chi tiết rất nhỏ nhoi: dẫu nhà văn Ba Lan thế kỷ XIX dựng lại chuyện về thời Hoàng đế Nero ở xứ La Mã tận Nam Âu vào đầu thế kỷ thứ nhất sau Công lịch, nhưng Henryk Sienkiewicz vẫn không quên dân tộc mình, qua hình tượng cô gái rất đỗi xinh đẹp và dịu hiền Ligia và bác lực sĩ với sức gấu Ursus - hai người con của bộ tộc là cội nguồn của dân tộc Ba Lan ngày nay.


Trên sa mạc và trong rừng thẳm (W pustyni i w puszczy)


Trên sa mạc và trong rừng thẳm là quyển sách duy nhất mà Henryk Sienkiewicz viết cho bạn đọc thiếu nhi trước lúc đi xa. Ra đời năm 1911, tác phẩm đã được đón nhận và hoan nghênh nồng nhiệt, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Kể lại cuộc hành trình đầy vất vả của cậu bé Stas và cô bé Nen, bị dân hồi giáo bạo loạn bắt cóc, sau khi tự giải thoát phải đi bộ hàng ngàn cây số suốt nhiều tháng ngày giữa sa mạc và những khu rừng hoang để tim về với gia đình, tác phẩm đã gợi nên khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những chân trời xa, vượt mọi hiểm nguy, chiến thắng bất công tàn ác, lập nên những kỳ tích phi thường.


Tôi dịch quyển sách kỳ thú này song song với việc dịch Quo vadis trên một cái máy chữ xách tay, trong những năm dạy ở Đại học Thủy sản Nha Trang, chính xác hơn trong những tháng ngày nằm bệnh viện với bệnh hen phế quản ngày càng nặng vì dị ứng thời tiết (đến mức đã có lúc Trường đã phải tính đến việc viết lời điếu!). Có lẽ tình cảnh lúc ấy của bản thân cũng có nhiều nét bi kịch tương đồng, nên giúp tôi thấu hiểu thêm số phận các nhân vật trong 2 tác phẩm của Sienkiewicz, để tìm được cách diễn đạt tiếng Việt thoát hơn chăng?


Hai quyển sách đều được in năm 1985 trên giấy trắng (chuyện khá hiếm vào thời khó khăn đó!): Quo vadis được anh Anh Trúc biên tập, nhà xuất bản Văn học in; còn Trên sa mạc và trong rừng thẳm được chị Ngô Thu Hằng biên tập, nhà xuất bản Kim Đồng in. Tôi vô cùng biết ơn các anh chị biên tập và hai nhà xuất bản đã làm ông bà đỡ mát tay cho bản dịch. Và cũng nhờ cảm tình của bạn đọc mà cả hai cùng được tặng giải thưởng văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam, cùng năm với anh Hoàng Ngọc Hiến dịch thơ Maiacôpxki.


Hiệp sĩ Thánh chiến (Krzyżacy)


Trong đời sáng tác văn học giàu thành tựu của Henryk Sienkiewicz (1846-1916), không tác phẩm nào được thai nghén lâu như tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến. Ngay từ năm 1865, trong lòng chàng sinh viên Henryk Sienkiewicz 19 tuổi đã nẩy mầm ý định xây dựng một tiểu thuyết xứng tầm với cuộc đụng đầu lịch sử đầu thế kỷ XV giữa quốc gia Ba Lan phong kiến tập quyền với Dòng tu Thánh chiến, mà đỉnh cao là trận đại thắng Grunwald năm 1410 của liên quân Ba Lan - Litva. Và trong nhiều năm sau đó, văn hào đã đôi phen thể nghiệm chủ đề này trong một số tác phẩm phác thảo, bản sớm nhất mang tựa đề Hiệp sĩ Spytko xứ Menstyń, được viết vào năm 1865. H. Sienkiewicz đâu thể ngờ rằng, phải đến tận 35 năm sau, tâm nguyện thời trẻ này của ông mới trở thành hiện thực.


Trong khi đang miệt mài với kiệt tác Quo vadis, H. Sienkiewicz đã hé lộ cho một người bạn ý định viết tiểu thuyết lịch sử nhan đề Hiệp sĩ Thánh chiến, quyển sách mà ông dự định sẽ xuất bản vào năm 1897 để kỷ niệm 25 năm hoạt động văn học của mình. Và sau khi chấm dứt dòng cuối cùng của kiệt tác mang lại cho ông giải thưởng Nobel văn học năm 1905 – ông liền bắt tay ngay vào việc viết quyển tiểu thuyết lịch sử đã thai nghén từ lâu. Công việc sáng tác kéo dài 4 năm trời ròng rã, bắt đầu tại Zakopane (Ba Lan) năm 1896, kết thúc năm 1900 tại Parc Saint Maur gần Pari (Pháp).


Theo thói quen đã có từ nhiều năm, không đợi tiểu thuyết hoàn thành, ngay từ năm 1897, nhà văn đã cho đăng tải dần trên “Tuần báo minh hoạ Warszawa” cùng vài tờ nhật báo khác. Những trang bản thảo Hiệp sĩ Thánh chiến hình thành trong những cuộc hành trình liên miên khắp trong ngoài nước của văn hào, trong các khách sạn và nhà nghỉ ở Ba Lan, Pháp, Áo, Thuỵ Sĩ và Italia, những nơi ông có thể tách ly hẳn khỏi thế giới bên ngoài, chỉ sống với thế giới tưởng tượng của riêng mình, với độ trượt thời gian bốn trăm năm vào quá khứ.


Ngày 10/3/1900, khi ông mệt mỏi viết một chữ “HẾT” thật to dưới trang bản thảo cuối cùng, thì thực ra, công việc vẫn chưa hoàn tất. Ông vẫn còn phải tiến hành sửa chữa lại tác phẩm đã được in rải rác trên các trang in khổ lớn (với rất nhiều lỗi morat) của tờ Tuần báo. Mãi hơn nửa năm sau, tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến mới được in thành sách lần đầu, gồm 4 tập.


Bối cảnh lịch sử của Hiệp sĩ Thánh chiến là một thời kỳ phức tạp mà huy hoàng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ba Lan, giai đoạn hậu kỳ Trung thế kỷ, kéo dài từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV. Được thống nhất nhờ những hoạt động chính trị và quân sự sáng suốt của các đức vua Władysław Łokietek (1260-1333) và Kazimierz Đại Đế (1310-1370), đến cuối thế kỷ XIV, sau khi đức vua Kazimierz Đại Đế qua đời, quốc gia phong kiến Ba Lan lại phải trải qua những thử thách nghiêm trọng, với nhiều lục đục nội bộ.


Dưới triều vua Ludwik Hunggari (1326-1382), các công vương đánh nhau để tranh giành đất đai và quyền bính. Hai năm sau khi vua Ludwik băng hà, được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ muốn thống nhất quốc gia và củng cố chế độ tập quyền, thứ nữ của ông là công chúa Jadwiga lên ngôi nữ hoàng. Những nhà chính trị sáng suốt đương thời đã tìm mọi cách kết mối duyên lành giữa vị nữ hoàng trẻ trung, xinh đẹp với đại quận công Litva đương thời là Władysław Jaghełło (1351-1434). Và họ đã thành công. Năm 1386, sau khi chịu lễ rửa tội để cải đạo, W. Jaghełło đã kết hôn với nữ hoàng Ba Lan Jadwiga để trở thành vị hoàng đế của liên minh vương quốc Ba Lan – Litva.


Sự ra đời của liên minh Ba Lan – Litva hùng mạnh, có lãnh thổ trải dài từ sông Odra ở phía tây tới các sông Oka và Doniec ở phía đông, với giới hiệp sĩ đông đảo và những đội quân thiện chiến, đã trở thành chướng ngại vật chính, ngăn cản sự bành trướng của vương quốc Kitô giáo mang tên Dòng tu Thánh chiến. Hình thành từ cuối thế kỷ XII tại Palextin trong các cuộc thập tự chinh, đến thế kỷ XIV-XV, Dòng tu của các hiệp sĩ Kitô giáo gồm chủ yếu là người Đức này bắt đầu quay trở về xâm lấn vùng Đông Âu và Nam Âu.


Năm 1226, sau thoả thuận giữa đại giáo trưởng Herman Von Zaletx của Dòng tu với công vương Ba Lan Konrad Mazowiecki, Dòng tu được phép ngụ cư trên vùng đất Chełm của Ba Lan. Bộ phận ở miền Đông vùng Pribaltic tách ra thành một dòng tu độc lập, tiến hành những cuộc chiến tranh nhằm lấn chiếm đất đai của Phổ (năm 1283) và vùng đất giáp biển Baltic (gồm cả thành phố Gdańsk) của Ba Lan (năm 1309), hình thành một quốc gia ngày càng bành trướng, trải dài từ sông Visła đến sông Narwa, chắn đường thông đến biển Baltic của cả Ba Lan, Nga và Litva. Do chiếm được vị trí địa lý thuận lợi, Dòng tu vừa mở rộng giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế, vừa áp dụng chính sách đàn áp rất hà khắc đối với cư dân bản địa trong các vùng đất bị chúng chiếm đóng. Phần lớn cư dân trong vùng phải phiêu bạt, chạy trốn sang phía đông sông Neman, những người còn sót lại ở quê hương bản quán thì sục sôi căm hận, chỉ chờ dịp là nổi lên khởi nghĩa.


Cuộc khởi nghĩa chống quân Thánh chiến nổ ra năm 1409 trên vùng đất Zmudż đang bị Dòng tu chiếm đóng, đã mở đầu cho ngòi lửa chiến tranh âm ỉ từ lâu giữa liên minh Ba Lan – Litva, được sự hỗ trợ của các dân tộc Slavơ khác với Dòng tu Thánh chiến. Đỉnh cao của nó là trận đại chiến diễn ra gần Grunwald. Ngày 15/7/1410, trên những cánh đồng của các làng Grunwald, Lodwigovo và Stębark, đội quân đông tới 29.000 người của liên quân Ba Lan – Litva – Nga đã giáp chiến với đạo quân 21.000 người của Dòng tu Thánh chiến. Trận đánh kết thúc bằng chiến thắng huy hoàng của phía Ba Lan – Litva. Đó là một trong những trận đánh lớn nhất và nổi tiếng nhất ở Châu Âu thời Trung cổ.


Theo quan niệm của tác giả, cuộc đụng đầu lịch sử giữa các dân tộc Slavơ với thế lực xâm lược của Dòng tu Thánh chiến mang ý nghĩa triết học của cuộc đối kháng chính – tà, tạo nên cốt lõi của lịch sử nhân loại. Toàn bộ diễn biến của tiểu thuyết, cùng với bao thăng trầm của số phận các nhân vật chính và phụ dường như chỉ để chuẩn bị cho cái kết cục hùng vĩ: Chính thắng Tà, Hoà bình thắng Chiến tranh, Người giữ nước thắng Kẻ xâm lược.


Để sáng tác Hiệp sĩ Thánh chiến, Henryk Sienkiewicz đã dày công nghiên cứu các sử liệu về thế kỷ XIV-XV, trước hết là bộ Lịch sử Ba Lan đồ sộ của nhà sử học Jan Długos, người sống gần như cùng thời với các sự kiện được mô tả. Nhờ sử dụng một cách chọn lọc tinh tế những chất liệu sử học, dân tộc học, truyền thuyết, thần thoại, dân ca, thổ ngữ... Henryk Sienkiewicz đã tái tạo được một bức tranh sống động và trung thực, với đầy đủ sắc mầu, âm hưởng của quá khứ hào hùng của dân tộc Ba Lan.


Tác phẩm tái dựng một quốc gia phong kiến tập quyền thời trung cổ ở Châu Âu, với các giai tầng xã hội khác nhau: vua và hoàng hậu, quận công và quận chúa, các trang hiệp sĩ vùng biên ải, đám quan lại giàu có, các trang chủ quý tộc, những người nông dân nghèo khổ, các hiệp sĩ Thánh chiến ngạo mạn, tàn bạo và quỷ quyệt... Sự phân hoá các giai tầng xã hội được khắc hoạ sắc nét. Vương triều quốc gia và triều đình của các công vương vùng Mazowsze theo đuổi những đối sách chính trị khôn khéo; giới quý tộc già chăm lo cho sự cường thịnh của gia tộc,  giới hiệp sĩ trẻ hăng máu ham thích chinh chiến, phiêu lưu; đám thị dân lo làm giàu bằng đủ mọi mánh lới tích cóp; những nông phu vốn chỉ quen với ngôi nhà nghèo nàn cùng mảnh ruộng phát canh của mình, nhưng khi Tổ quốc cần lại chiến đấu bằng những nông cụ cầm tay sẵn có...


Bằng việc sử dụng thủ pháp mô tả thông qua các cuộc phiêu lưu của những nhân vật chính, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể và rất toàn diện. Tác giả tập trung hơn cả đến giới hiệp sĩ – “cái cốt” của tinh thần dân tộc thời bấy giờ, chính họ là người quyết định vận mệnh dân tộc trong các cuộc chiến chinh thời phong kiến trung cổ. Hơn mười nhân vật hiệp sĩ được mô tả với những cá tính rất sâu sắc và phong phú. Bên cạnh giới hiệp sĩ là giới trang chủ quý tộc, những cột trụ tập hợp dân cư địa phương theo tinh thần gia trưởng, tộc trưởng. Giới tiểu quý tộc này mạnh lên nhờ sự hỗ trợ của Nhà thờ. Còn chính Nhà thờ, tuy bị phân hoá thành nhiều dòng tu, nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử, trong mối tương tác với phía “đời”, đúng như trong mối quan hệ lịch sử cụ thể của quốc gia phong kiến Ba Lan thời bấy giờ.


Chủ đề chiến tranh tự vệ của các dân tộc chỉ muốn được sống yên vui nhưng không được hưởng hoà bình, được H. Sienkiewicz khắc hoạ rõ nét trong Hiệp sĩ Thánh chiến. Vào thời buổi nhiễu nhương ấy, con người phải tập trung toàn bộ sức mạnh của mình để tự vệ. Trong một thời đại như thế, sức mạnh là tiêu chuẩn chính đặc trưng cho giá trị đích thực của đàn ông, là cơ sở của vinh quang và lòng kính trọng. Toàn bộ tác phẩm là sự chuẩn bị đầy công phu như một cuộc “tích gió” cho cơn bão quyết liệt sẽ nổ bùng ra trong vài chương cuối sách, đồng thời cũng là khúc trường thiên ca tụng sức mạnh quả cảm của những con người đầy nghĩa hiệp mà rất đỗi thuỷ chung.


Mối tình tay ba Danuszka – Zbyszko – Jagienka cũng là một sáng tạo độc đáo, được xử lý tài tình của Henryk Sienkiewicz. Vượt ra khỏi những lối mòn thông thường, tác giả đã xây dựng một tam giác tình yêu trong sáng, thanh cao, giàu hy sinh, không vởn một chút ghen tuông, mà vẫn rất hợp lý, rất “đời thường”. Những giải pháp mà Henryk Sienkiewicz sử dụng để giải quyết các tình huống “nút” quả là độc đáo, bất ngờ, mang đến bao thú vị cho người đọc.


Quá trình giao lưu để tiến đến hình thành một nền văn hoá giàu có, đầy bản sắc của dân tộc Ba Lan cũng đã được Henryk Sienkiewicz mô tả xuất sắc trong Hiệp sĩ Thánh chiến. Những yếu tố tích cực của văn hoá phương Tây được giới hiệp sĩ trẻ Ba Lan nhanh chóng hấp thu. Cái mới tập trung ở 4 trung tâm cung đình lớn, những phong tục mới, tiêu chuẩn đạo đức mới, các dạng thức sinh hoạt xã hội mới... góp phần làm thay đổi bộ mặt của quốc gia phong kiến tập quyền. Những lễ tiết cung đình, những tiệc rượu, những hội võ, những cuộc săn bắn quy mô lớn,... được mô tả bằng ngòi bút sinh động, tài hoa, trở thành những mẫu mực của nghệ thuật miêu tả sinh hoạt vốn là một mặt mạnh của văn xuôi Henryk Sienkiewicz.


Những sinh hoạt thời “tiền chiến” đó được hội tụ chung quanh hai tiêu điểm của cái “enlip xã hội” thời ấy: Bogdaniec và Spychów – hai trang ấp điển hình của làng xã Ba Lan trung thế kỷ. Chúng quy tụ các đại diện điển hình của những giai tầng xã hội mang văn hoá phong tục khác nhau, tạo nên một sự so sánh ngầm mà lại rất “nổi” về hai định hướng tương phản nhau, phân hoá giới hiệp sĩ quý tộc Ba Lan đương thời. Trang Bogdaniec được hồi phục từ đổ nát bởi lao động hoà bình của những bàn tay con người được quý trọng hơn vàng ròng; trong khi trang Spychów thì lại bị tàn hoại vì ngọn lửa chiến tranh không bao giờ tắt. Hai khuôn mặt điển hình của giới trang chủ quý tộc đã góp phần làm thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội của quốc gia phong kiến Ba Lan thời ấy, để rồi vài chục năm sau trở thành lực lượng nhiều đặc quyền đặc lợi nhất.


Một mặt thành công đáng kể nữa của Hiệp sĩ Thánh chiến là việc tác giả đã dày công nghiên cứu  thể nghiệm để sáng tạo nên một ngôn ngữ diễn đạt độc đáo. Nổi bật xuất sắc nhất là đối thoại của nhân vật, với những từ ngữ được sử dụng hết sức chuẩn xác, mang đẫm mầu sắc thời trung cổ mà vẫn dề hiểu với người Ba Lan thời hiện đại. Henryk Sienkiewicz đã rất thành công trong việc khai thác các chất liệu thổ ngữ của vùng Sląsk để dựng lại đối thoại của các nhân vật sống năm trăm năm về trước. Tiếc thay, đó lại là những sự tinh tế đến lắt léo về ngôn từ mà người dịch khó lòng chuyển đạt nổi sang tiếng Việt.


Những giá trị về nội dung và nghệ thuật lớn lao khiến Hiệp sĩ Thánh chiến trở thành tài sản văn hoá tinh thần quý giá của dân tộc Ba Lan. Tính chặt chẽ của cấu trúc, nghệ thuật đan xen mật thiết của các tuyến tình tiết, sự hài hoà giữa hai mặt mô tả số phận chung của toàn dân tộc và số phận riêng tư của các nhân vật chính – đã khiến các nhà phê bình văn học đánh giá  Hiệp sĩ Thánh chiến là tác phẩm hoàn thiện nhất trong các tiểu thuyết lớn của Henryk Sienkiewicz.


Hiệp sĩ Thánh chiến là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên được ấn hành trong lòng nước Ba Lan mới. Từ đó đến nay, chỉ tính riêng ở Ba Lan, Hiệp sĩ Thánh chiến  đã được tái bản trên 60 lần, mỗi lần với số lượng hàng trăm nghìn bản. Tác phẩm cũng đã được dịch ra trên 40 thứ tiếng, được dựng thành một bộ phim dài 2 tập rất công phu, chiếm được sự hâm mộ của nhiều thế hệ người đọc và người xem khắp thế giới. 


Và như một định mệnh truyền kiếp, tôi cũng đã phải dịch tác phẩm này ròng rã hơn 20 năm: bắt đầu từ ngày 8/3/1990 và đến ngày hôm nay tôi vẫn chưa hoàn thành tập cuối! Nhưng tôi vẫn tin rằng mình sẽ hoàn thành được việc dịch tác phẩm cực kỳ khó dịch này như ông đã hoàn thành sáng tác ra kiệt tác ấy.



Tadeusz Dołęga – Mostowicz



Tadeusz Dołęga – Mostowicz (10/8/189820/9/1939) là nhà văn xuất sắc của nền văn học Ba Lan thời cận đại. Ông là tác giả của những tiểu thuyết tâm lý xã hội theo khuynh hướng tình cảm rất được ưa chuộng: Znachor (Thầy lang), Profesor Wilczur (Giáo sư Vintrur), nhưng nổi tiếng nhất với tác phẩm hiện thực phê phán đặc sắc Kariera Nikodema Dyzmy (Đường công danh của Nikođem Đyzma) xuất bản năm 1932.


Hoạt động văn học trong cuộc đời ngắn ngủi nhưng hấp dẫn của T. Dołęga – Mostowicz diễn ra trùng với thời kỳ 20 tồn tại và phát triển của nước Ba Lan tư bản giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới (1919-1939), trong bối cảnh đất nước vừa giành lại độc lập sau hàng thế kỷ bị các thế lực đế quốc chia cắt, xâu xé, hoàn toàn bị xóa tên trên bản đồ thế giới, để rồi chẳng mấy chốc lại rơi vào nanh vuốt của bè lũ phát xít Đức. Chính thời kỳ giai cấp tư sản dân tộc non yếu được nắm tay lái con thuyền quốc gia vừa bị lọt vào cái “mắt bão” - vùng tạm thời yên tĩnh giữa những cơn bão táp hung bạo trên toàn thế giới, song không thiếu những rối ren phức tạp trong nước - là thời kỳ thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội phát triển, thời kỳ những nghịch cảnh, những đảo lộn xã hội diễn ra liên tiếp, tập trung và sôi động hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là thời kỳ được T. Dołęga – Mostowicz lấy làm bối cảnh cho quyển tiểu thuyết xuất sắc nhất của ông.


Đường công danh của Nikodem Dyzma quả là hiển hách, đáng ngạc nhiên, bởi đó gần như là cuộc hội tụ của biết bao “ngẫu nhiên may mắn”, bao “số đỏ”, đến mức khiến người đời phải chóng mặt, ngỡ ngàng. Ở chương đầu sách, y chỉ là một anh công chức cấp thấp ở tỉnh lẻ bị mất việc, đang lang thang tìm việc làm, túi rỗng không và chiếc dạ dày lép kẹp. Ấy thế mà tới những trang cuối sách y đã là một triệu phú cỡ lớn, chủ một cơ ngơi nông-công-nghiệp khổng lồ, chính khách số một của đất nước, người được chính Tổng thống mời ra đảm nhiệm sứ mạng thành lập nội các mới, nhằm chèo lái con thuyền quốc gia qua cơn bão chao đảo!


Xuyên suốt tác phẩm là hai quá trình có hướng ngược nhau, diễn ra đồng thời, ở một con người - đó là nhân vật chính: Nikodem Dyzma. Y leo nhanh đến mức đáng kinh ngạc trên những bậc thang danh vọng, nhưng lại tụt dài về phương diện nhân cách, từ cái trong sạch của một con người bình thường xuống vũng bùn nhơ nhớp của những tội lỗi ghê gớm nhất. Ban đầu, dù thất nghiệp, đói rách, Dyzma vẫn còn lương tâm trong sạch, thấy cái phong bì của cậu bé bưu điện đánh rơi y còn gọi với theo để định trả, nhặt được giấy mời đi dự tiệc (gửi một người khác), y mang đến tận nhà (trong bụng chỉ thầm mong được trả công vài đồng bạc), y biết đỏ mặt ngượng khi bịa ra một câu chuyện phạm tội vô hại kể cho một cô gái làm tiền.


Thế rồi, chỉ qua một bữa tiệc mà y đến dự nhằm thỏa mãn cái đói, y đã nhảy một bước lọt vào xã hội thượng lưu. Và y không hề ngần ngại khi lừa cơ cướp cả cơ nghiệp lẫn cô vợ xinh đẹp của ông chủ đã hết lòng đối xử tử tế với y, y không run tay khi thuê bọn lưu manh, giết một ân nhân cũ để bịt đầu mối, không hề áy náy khi ra lệnh cho bọn cảnh sát đánh đập dã man một cô gái vô tội đã nặng lòng yêu y. Sở dĩ y tha hóa nhanh như thế về phương diện đạo đức chỉ bởi y đã tiếp xúc với những “tinh hoa” của giới cầm quyền. Xét về phương diện ấy, Dyzma cũng là một nạn nhân của xã hội tư bản - một nạn nhân “tự nguyện”. Sự trèo nhanh leo cao của y không phải là thành quả đạt được bởi những thủ thuật không mấy tinh khôn mà y đã học được ở các “tinh hoa” thượng lưu xã hội kia (như kiệm lời để giấu dốt, nhắc lại ý của người khác nhận rằng là của mình…) mà có nguyên nhân sâu xa hơn: đó là sự mâu thuẫn giữa các giới cầm quyền, các cá nhân có thế lực trong guồng máy xã hội, đó là sự dốt nát trong đánh giá của các giới đó đối với Dyzma.


Các vị đại diện cao cấp nhất của xã hội đã không có khả năng phân biệt thật giả, đã ngộ nhận về khả năng - thậm chí tài năng - của Dyzma, đã đưa y lên những địa vị cao sang, đã để y đánh lừa một cách “hào hiệp” nhất. Đúng như lời chàng công tử bá tước Ponimirski gào lên kết thúc quyển sách: “Không phải hắn dắt mũi các người đâu! Chính các người đã bê cái đồ súc vật ấy đặt lên thành tượng đài! Chính các người! Hỡi lũ người đánh mất hết những tiêu chuẩn lý trí!” Mỉa mai hơn, Dyzma được leo lên cao đến thế còn chính vì y đã làm thỏa mãn được dục vọng thấp hèn của các vị “phái đẹp” quý tộc trong những cuộc “hành lễ bí mật” mà thực chất là những cuộc hành lạc tập thể, những cuộc loạn hôn không tiền khoáng hậu. Trong các “tài năng” đã đưa Dyzma lên những địa vị cao sang, có “tài” đĩ đực!


Trong số những nạn nhân khác của cái xã hội nhầy nhụa đó, người đọc còn nhận thấy: Người càng có địa vị xã hội thấp hèn, thậm chí càng ở “dưới đáy” thì phẩm chất đạo đức lại càng trong sạch. Cô gái Mańka dù phải bán thân nuôi miệng, nhưng vẫn ý thức được sự ghê tởm của cái “nghề” mà mình bắt buộc phải làm, vẫn giữ một tình yêu chân thật đối với Dyzma, và vẫn biết căm phẫn tột độ khi tình yêu ấy bị bội bạc. Dẫu sao cuối cùng Mańka cũng nhận ra bộ mặt thật của Dyzma. Đáng thương cho một phụ nữ xinh đẹp, yếu đuối mà lại muốn hưởng lạc như bá tước tiểu thư Nina, cho đến cuối cùng vẫn không hiểu rằng mình bị đánh lừa, vẫn không hiểu được bản chất người chồng “lý tưởng” và “lỗi lạc” của mình!


Ý nghĩa tố cáo và phê phán của tác phẩm còn tập trung cao ở hình tượng chàng bá tước “điên” Ponimirski. Chàng là nạn nhân của một trò lừa đảo đã khiến cha chàng khuynh gia bại sản, rồi lại trở thành nạn nhân của một vụ lừa đảo mới, còn trắng trợn hơn, đê mạt hơn. Không phải ngẫu nhiên tiếng nói gần với sự thật nhất, tiếng cười châm biếm sâu cay nhất đối với những nghịch cảnh xã hội lại được tác giả đặt vào miệng một người “điên”, một người “tâm thần”, vốn có một địa vị cao sang, một gia sản giàu có, một học thức uyên bác, nhưng rốt cuộc vẫn bị vứt ra một xó vườn, hay cùng lắm - làm đày tớ dạy tiếng Anh cho „ông chủ”.


Chất bi và hài được kết hợp hài hòa, trong đó cái hài được tập trung cao, tạo nên một tiếng cười mỉa mai, sâu cay đối với cả bộ máy nhà nước tư sản, từ cấp thấp lên cấp cao nhất. Nhà văn đã thể hiện một bộ mặt xã hội với những biểu hiện sinh động lạ thường qua một bút pháp tưởng như dửng dưng, khách quan mà sắc sảo, tinh tế. Người đọc còn hâm mộ tác phẩm của T. Dołęga – Mostowicz vì nhà văn đã dựng lại hết sức sống động, hết sức thực từ ngôn ngữ, thói quen, phong tục, tập quán đến cảnh sinh hoạt và bầu không khí của xã hội thượng lưu quý tộc những năm 20-30. Tác phẩm sử dụng nhiều yếu tố hư cấu nhưng rất thực, và tả được cái thực của xã hội, bởi lẽ nhà văn đã chọn những không gian thích hợp để những yếu tố hư cấu kia hiện ra trong những dáng vẻ thực của đời.


Bằng những giá trị nghệ thuật lớn lao, tiểu thuyết của T. Dołęga – Mostowicz đã phản ứng mạnh mẽ chống lại một xã hội lố lăng, bênh vực quyền tồn tại và phát triển của những con người lương thiện, trung thực. Chính vì vậy, ngay sau khi ra đời, Đường công danh của Nikodem Dyzma liền được xem là một hiện tượng văn học đặc sắc ở Ba Lan. Tác phẩm được in lại nhiều lần và cũng được đưa lên màn ảnh ở Ba Lan, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.


Đọc Đường công danh… và tìm hiểu thân thế sự nghiệp của T. Dołęga – Mostowicz, người đọc Việt Nam không khỏi bất giác nghĩ tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) và chợt thú vị về những nét tương đồng giữa hai tác giả cũng như hai tác phẩm. Hai tác giả sinh ra chỉ chênh nhau hơn một giáp, sống gần như đồng thời với nhau, lại mất cùng một năm, ở hai phương trời xa cách nhau hàng chục nghìn cây số, song đều tài hoa sắc sảo, đều phải từ giã cuộc đời giữa tuổi sáng tạo rực rỡ, để lại cho đời những tác phẩm sống mãi. Mối duyên văn chương cũng đưa dắt, cho tôi cơ may được quen biết TS. Nguyễn Văn Bao - Hiệu trưởng Đại học Tây Bắc, trong luận án tiến sĩ nghiên cứu văn học, so sánh hai tác giả và tác phẩm này với nhau. Quả cũng là duyên tiền định!


Tôi cũng đã có duyên để dịch hai tiểu thuyết Znachor (Thầy lang) và Profesor Wilczur (Giáo sư Vintrur) của Tadeusz Dołęga – Mostowicz, hai tác phẩm thuộc mảng tâm lý xã hội, rất đời và rất hay, đã được chị Minh Tâm biên tập và được nhà xuất bản Hà Nội in năm 1991-1992, được các nhà sách tái bản liên tục trong những năm gần đây và được bạn đọc Việt Nam yêu mến.



Helena Mniszek


 


Helena Mniszek (24/5/187818/3/1943), tên thật là Rawicz Radomirska thuộc dòng họ Mniszek Tchużnicki, sinh năm 1878 tại điền trang Kurczyce tỉnh Wolynie. Năm 1899 bà lấy ông V. Chużyński, chuyển đến sống ở Platerowo (Litva), được bốn năm thì chồng qua đời. Năm 1910 bà tái giá, lấy ông A. Radomiski, theo chồng về điền trang Rogale, sau đó chuyển đến trang Chuchary ở tỉnh Płock (Ba Lan). Năm 1931, bà lại góa chồng. Mùa thu năm 1939, đại chiến thứ hai bùng nổ, bà bị quân Đức đuổi khỏi nhà, phải chuyển đến Sabni cùng Podlasie rồi mất tại đó năm 1943.


Trong 20 năm hoạt động văn học (1909-1930) bà để lại nhiều tác phẩm, đáng kể nhất là các tiểu thuyết: Trędowata (Con hủi,1909), Ordynat Michorowski (Đại công tử Mikhôrôvxki, 1910), Zaszumiały Pióra (Những ngù lông xào xạc, 1911), Panicz (Cậu chủ, 1912), Książęta boru (Các quận công của rừng (1912), Gahenna (1914), Czciciele szatana (Những kẻ thờ phụng quỷ sa tăng, 1918), Pustelnik (Ẩn sĩ, 1919), Verte (Chàng Vécte, 1921), Prawa ludzi (Quyền của người, 1922), Sfinks (Nhân sư, 1922), Królowa Gizella (Hoàng hậu Gizella, 1925), Dziedzictwo (Ông bà chủ, 1927), Z ziemi łez i krwi (Từ mảnh đất của nước mắt và máu, 1927), Kwiat magnolii (Hoa mộc lan, 1928), Powojenni (Những người hậu chiến, 1929), Magnesy serc (Nam châm của con tim (1930),… và một số tập truyện ngắn khác nữa. Bà còn nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động xã hội.


Năm 1909, khi tiểu thuyết Trędowata (Con hủi ) – tác phẩm đầu tay của nữ văn sĩ chưa được ai biết đến – ra mắt bạn đọc, các nhà phê bình văn học đương thời lạnh nhạt và hờ hững đón tiếp, hạ cố viết đôi lời bình luận công thức và sáo rỗng. Họ nghĩ rằng, sau một kiếp sống ngắn ngủi và thầm lặng, tác phẩm sẽ âm thầm chịu sự lãng quên của đời, như vô vàn tiểu thuyết khác của “nữ phái”. Không ngờ Con hủi trở thành hiện tượng văn học, náo động thị trường xuất bản, được tái bản hàng chục lần với số lượng kỷ lục, là tác phẩm văn học bán chạy nhất trong  thời gian giữa hai cuộc chiến tranh, được dịch ra nhiều thứ tiếng và đã 2 lần đưa lên màn ảnh.


Con hủi còn trở thành một đề tài gây tranh cãi gay gắt giữa người đọc và một số nhà phê bình, khiến tốn không ít giấy mực. Các thiếu nữ nói riêng và phụ nữ nói chung – hâm mộ tác phẩm đến mức cuồng nhiệt, nhiều thế hệ “phái đẹp” coi nó là sách gối đầu giường, là đỉnh cao của những niềm hi vọng và mơ ước. Họ đóng bìa da, khảm bạc, truyền cho con gái như một thứ của gia bảo. Còn giới phê bình thì từ chỗ phảy tay coi thường, đã cay cú trước nhiệt tình sôi sục “đến không thể hiểu nổi” của người đọc, chuyển sang công kích tác phẩm, mở cả ”một cuộc chiến tranh thực sự” (như lời nhận xét của báo chí Ba Lan đương thời) chống lại tác phẩm của cô gái trẻ chưa từng có tên tuổi trên văn đàn thuở ấy.


Con hủi là một câu chuyện tình thơ mộng và đắm say, trong sáng và mãnh liệt, tươi đẹp nhưng thảm thê của đôi thanh niên tài sắc, cưỡng chống lại những ràng buộc của đẳng cấp quí tộc để bảo vệ hạnh phúc mà họ đã chọn. Chàng – đại công tước Waldemar Mikhorowski – là một thanh niên quí tộc thuộc dòng họ quyền quí nhất nước, nhiều thế hệ từng đảm nhiệm những cương vị cao sang. Chàng có học thức, giàu có, quảng giao, nhiệt thành, can trường, mới mẻ trong tư duy cả quyết trong hành động, say sưa và nồng nhiệt trong tình yêu. Nàng – Stefcia Rudeska – chỉ là con gái một điền chủ nhỏ, thất vọng vì mối tính đầu đã rời gia đình đến làm gia sư cho cô ruột của chàng. Cảm vì sắc, mến vì tài, lại mang trong tâm thức niềm khao khát của cuộc tình truyền kiếp bất hạnh từ đời trước (ông nội của chàng và bà ngoại của nàng từng yêu nhau tha thiết nhưng không lấy được nhau), đôi trẻ đã vượt qua những hiểu lầm đầu tiên, cảm nhận được giá trị đích thực của nhau và đến với nhau. Trải qua bao đấu tranh gay go, với gia đình, xã hội và với chính mình để bảo vệ tình yêu, tình yêu của họ đã thắng: họ được làm lễ đính ước và chuẩn bị cho ngày cưới.


Nhưng giới quí tộc không cam chịu thất bại, chúng đã hèn hạ dùng những thủ đoạn thâm hiểm để phá vỡ hạnh phúc đôi trẻ. Xtefchia gục ngã trước ngón đòn đê hèn ấy vào đúng ngày hôn lễ được ấn định, trong tấm áo cưới trắng tinh như tâm hồn trinh bạch và cao quí của nàng. Nàng đã chết để cho tình yêu thắng, như nhân ái vĩnh viễn chiến thắng cái ác trên cõi đời này. Cái chết thảm thương của nàng và hạnh phúc dở dang ấy là lời phản kháng quyết liệt, lên án những bất công và thói hằn học ghê tởm đối với hạnh phúc của người khác vẫn tồn tại trong một số kẻ mang danh con người, ngay trong những tầng lớp tự khoe là cao sang nhất.


Và vì thế, nhiều người coi Con hủi là tác phẩm ca ngợi tình yêu – một tình yêu khó khăn và hoàn mỹ, một tình yêu đích thực và lý tưởng, niềm khát vọng vĩnh viễn của con người, là một thiên Rômêô và Juliet mới, là bi kịch đối kháng giữa tình cảm chân chính với những định kiến xã hội hẹp hòi, có sức cuốn hút đến kỳ lạ. Có phải vì thế mà dù đã 100 năm trôi qua với bao biến đổi về quan niệm xã hội, Con hủi vẫn có chỗ đứng trong trái tim người đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Mặc dù người đọc thời nay dễ dàng nhận ra những nét ngây thơ và lý tưởng hóa trong câu chuyện của đôi thanh niên thời đầu thế kỷ, Con hủi vẫn đánh thức bao khao khát cao quí, muốn được sống hết mình, được yêu hết mình, và khi cần – được hy sinh cho tình yêu ấy.


Còn nhớ, chị Minh Tâm, biên tập viên Nhà xuất bản Hà Nội đặt hàng, nhưng tôi không sao mua nổi nguyên bản Con hủi tại các hiệu sách lớn ở Warszawa. Nhưng duyên may, sau vài lần tâm sự với một ông chủ cửa hàng sách cũ ở Bielsko-Biala, trước khi tôi về nước một bà cụ đã mang tặng tôi quyển sách mà bà đã mua và giữ gìn từ thời còn trẻ. Nhờ thế tôi có nguyên bản để dịch và in ở nhà xuất bản Hà Nội năm 1990, đầu tiên với tên gọi "Tình yêu truyền kiếp".


 



Alfred Szklarski 


Alfred Szklarski (21/1/1912 – 9/4/1992) là nhà văn chuyên viết truyên thiếu nhi rất nổi tiếng của Ba Lan. Szklarski sinh tại Chicago, mất tại Ba Lan. Ông bắt đầu học ở Chicago nhưng tốt nghiệp ở Ba Lan sau khi cùng cha về nước năm 1926. Szklarski sống ở Warszawa trong thời phát xít Đức chiếm đóng, tự nguyện tham gia cuộc khởi nghĩa Warszawa.


Alfred Szklarski bắt đầu sáng tác trong thời gian Đức chiếm đóng Ba Lan, bằng các tiểu thuyết viết cho người lớn: Żelazny pazur (Vuốt sắt, 1942), Krwawe diamenty (Kim cương đẫm máu, 1943) and Tajemnica grobowca (Bí mật của nấm mồ, 1944). Sau chiến tranh ông chuyên tâm vào việc sáng tác cho thanh thiếu niên, và trở nên nổi tiếng nhất với bộ sách phiêu lưu với nhân vật chính là chàng thiếu niên Tomek Wilmowski (Tômếch Vinmốpxki) và các bạn trong đoàn săn thú hiếm của cha chàng, đi khắp mọi vùng đất hoang vu hẻo lánh nhất của hoàn cầu.


Ngoài tập đầu Tomek w tarapatach (Tomek trong cơn hoạn nạn) in năm 1948 với tên tác giả là  Fred Garland, bộ sách phiêu lưu gồm 9 tập: Tomek w krainie kangurów (Tomek ở xứ sở kanguru, 1957); Tomek na Czarnym Lądzie (Tomek ở Lục địa đen, 1958); Tomek na wojennej ścieżce (Tomek trên đường chiến đấu, 1959); Tomek na tropach Yeti (Tomek lần theo dấu Người Tuyết, 1961); Tajemnicza wyprawa Tomka (Chuyến đi bí mật của Tomek, 1963); Tomek wśród łowców głów (Tomek giữa những kẻ săn đầu người, 1965); Tomek u źródeł Amazonki (Tomek ở nguồn sông Amazon, 1967); Tomek w Gran Chaco (Tomek ở Gran Chaco, 1987) và Tomek w grobowcach faraonów (Tomek trong hầm mộ vua pharaon, 1994) - quyển sách mà ông không kịp tự hoàn thành.


Trong những năm 1974-1980, Szklarski cùng với vợ, Krystyna Szklarska, sáng tác bộ ba tiểu thuyết lịch sử về bộ lạc thổ dân Sioux của Bắc Mỹ, với tiêu đề chung Złoto Gór Czarnych (Vàng Núi Đen). Bộ sách gồm 3 tập: Orle Pióra (Lông đại bàng, 1974); Przekleństwo złota (Lời nguyền của vàng, 1977); Ostatnia walka Dakotów (Cuộc chiến đấu cuối cùng của người Sioux, 1979), đã dựng lại một cách chân xác cuộc sống, phong tục tập quán của người da đỏ, và lịch sử cuộc chiến đấu hào hùng, bất khuất của họ chống lại bọn thực dân da trắng.  Cảm hứng chủ đạo dẫn dắt bộ tiểu thuyết là sự tương đồng với lịch sử của người Anhđiêng với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Ba Lan. Ông mạnh mẽ lên án chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và ca ngợi sự cùng tồn tại hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.


Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học danh giá của Ba Lan, như giải Orle Pióro (Bút lông Đại bàng) năm 1968) and Huân chương Nụ cười năm 1971, hai lần được nhận giải thưởng của Thủ tướng (1973, 1987) về sách văn học cho thiếu nhi. Sách của ông được tái bản liên tục với số lượng rất lớn; chỉ riêng bộ sách về Tomek đã được in tới 8 lần trong khoảng 20 năm, trung bình 100.000 cuốn mỗi tập cho một lần tái bản, tổng cộng khoảng 11 triệu bản. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Nga, Ucraina, Bungari, Tiệp, Đức, và cả chữ nổi Braille cho người mù.


Ở Việt Nam tôi mới dịch và được nhà xuất bản Kim Đồng cho in 2 quyển (Tômếch và Thủ lĩnh Tia Chớp ĐenTômếch ở xứ sở cănguru), được bạn đọc đón nhận nhiệt tình. Tôi dự định năm nay và những năm tới sẽ dành thời gian giới thiệu toàn bộ sách quý này, và nếu được số phận nuông chiều, biết đâu cả bộ ba Vàng Núi Đen của ông bà Alfred và Krystyna Szklarski cũng sẽ đến được với bạn đọc Việt Nam.


Càng sống, càng đọc, càng dịch càng thấu cảm sự diệu kỳ của mối liên kết lòng người của văn chương. Nó là tiếng lòng vô hình mà bền chặt, có sức xuyên thấu thời gian và không gian, có thể khiến những vùng đất xa xôi, những thân phận con người tưởng không hề có gì chung với chúng với ta, bỗng chốc trở nên xiết bao gần gụi. Ðối với riêng tôi, văn học của dân tộc Ba Lan anh em là những tiếng lòng như thế.


Có ai đó nghĩ rằng dịch văn học chỉ là sự chuyển dịch ngữ nghĩa, là sự diễn dịch sang ngôn ngữ khác những điều tác giả đã viết sẵn. Là vậy thật, mà cũng không chỉ là vậy. Bởi vì hình như cái cốt lõi vẫn là chuyện tấm lòng, chuyện tình yêu, chuyện duyên nợ. Người dịch phải có một tấm lòng, một tình yêu thế nào mới có thể có duyên tìm được nguyên tác hợp với tạng mình, giữa rừng văn học bao la không dễ phân thật giả, mới có duyên để tìm được lối đến với tâm hồn người đọc giữa muôn nẻo cuộc đời, và phải có chút tài năng thế nào đó mới có thể trở thành sứ giả truyền đạt những uẩn ức của tâm hồn tác giả, làm cho những con chữ vốn đã cùn mòn có được cái hồn, khơi gợi, giao lưu và nối kết được với nỗi lòng của người đọc.


Dịch văn học là lao động sáng tạo văn học với những quy chuẩn nghiệt ngã. Tác phẩm văn học dịch thành công được tạo ra bởi mối giao hoà giữa sự rung cảm trước vẻ đẹp nhân văn và ngữ văn của văn bản gốc, sự đồng điệu của người dịch với tâm hồn tác giả và năng lực sáng tạo văn học của bản thân người dịch. Người dịch trước hết phải tinh tế trong việc chọn tác phẩm có giọng tâm hồn đồng điệu với mỹ cảm của mình, và quan trọng hơn phải có khả năng sáng tạo để truyền cảm xúc của mình vào văn bản dịch.


Ba Lan có lẽ là quê hương trong miền tiềm thức quá vãng của tôi, người Ba Lan là đồng bào của tôi trong tiền kiếp. Phải chăng điều đó có thể lý giải phần nào những đồng cảm, tình gắn bó máu thịt với văn học của đất nước xa xôi mà luôn gần gũi ấy. Tôi chỉ mong ước có được nhiều thời gian hơn để dành trọn vẹn cho việc chuyển tải những vẻ đẹp của nền văn học cổ điển và đương đại Ba Lan. Mà thời gian của mỗi đời người thì quá chật.


Tranh thủ những giờ phút rảnh hiếm hoi, tôi đã lao động miệt mài trong gần 40 năm, cố chuyển tải những giá trị tinh tuý của nền văn học Ba Lan bắt nguồn từ tình yêu và sự gắn bó có nguyên do tiền định với một đất nước xa xôi, một dân tộc can trường và nhiều lận đận, như dân tộc Việt Nam. Hy vọng là nỗ lực của một người yêu Ba Lan không vô ích, dẫu chỉ như một dòng suối nhỏ róc rách len lỏi giữa rừng già, dẫn bạn đọc tìm đến với những dòng sông lớn và cả đại dương - nền văn học với vẻ đẹp mê hồn của dân tộc Ba Lan anh em thân thương.


Hà Nội, 15/5/2013


PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »