tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21072865
Tiểu thuyết
08.09.2014
Triệu Xuân
Trả giá

Chương Hai


Quán nhậu của mẹ con Bảy Tụ ở thị trấn Mỏ Tôm đông khách nhất vùng này. Nó đông khách không chỉ vì trước quán treo bảng hiệu bằng tiếng Tây chen tiếng ta: “Restaurant Thanh Tú - Bán đủ các món ăn Âu - Á. Welcome to Thanh Tú”(1). Nó đông khách chủ yếu vì hai lẽ: Một là ở đây có những món ăn cực ngon, có đủ loại rượu bia, có nghệ thuật phục vụ khách bất cứ loại nào. Thứ hai, ở đây có hai người đẹp, quá đẹp, cứ ngỡ như người ta đã ăn cắp tượng thần Vệ nữ đưa vào quán này. Hai người đẹp ấy là mẹ con Bảy Tụ. Mẹ lai Pháp - Việt, con gái là kết quả của giống lai ấy cộng với dòng máu Tàu. Mẹ ba mươi tư tuổi, con mười bảy tuổi. Cả hai, theo ý của nhiều thực khách, còn đẹp hơn rất nhiều minh tinh màn bạc. Nhưng còn một lẽ thứ ba khiến quán này đông khách mà ít người nghĩ ra, đó là vì mẹ con Bảy Tụ trở thành một siêu chủ vựa. Bán đồ ăn chỉ là cái cớ, là cái vỏ ngụy trang thôi.


Ngày trước, ở Mỏ Tôm có bảy, tám chủ vựa lớn, mà rặt người ở Cà Mau, ở Sài Gòn, Cần Thơ về, chứ không có người bản xứ nào giàu sụ cả. Nay Bảy Tụ tự hào mình là cỡ chủ vựa lớn nhất vùng này. Trong tay mụ có mạng lưới thu gom hải sản tận gốc, tận ấp, tận ghe tàu trên biển. Mụ trói chặt khách hàng - tức là ngư dân - vào mình bằng tiền, bằng hàng ứng trước, bằng các món nhậu tuyệt ngon và bằng cả sắc đẹp tuyệt vời của hai mẹ con mụ.


Quán Thanh Tú, vì thế đông khách, đông từ sáng sớm tới đêm khuya. Căn nhà ấy mụ mua lại của một người quen cũ, có vị thế rất đẹp. Ngồi trong quán nhìn ra, ba bề sông nước, cứ ngỡ ngôi nhà thủy tạ. Mặt tiền là con lộ chính đi vào chợ Mỏ Tôm. Bên kia lộ, đối diện với quán là phòng thủy sản và phòng thuế, cùng một loạt các phòng ban của huyện. Mỗi buổi sớm mai, người ta thấy hai mẹ con Thanh Tú đứng ở sân sau, day mặt ra sông, phía mặt trời mọc, để luyện tập thể dục thẩm mỹ. Những lúc như thế, chả ai còn làm việc gì được nữa. Người chèo ghe phải dừng tay trố mắt nhìn. Người đi tàu đò phải nhả mẩu thuốc lá ra để trầm trồ khen. Quang cảnh buổi bình minh đẹp là thế cũng muốn hờn ghen với sắc đẹp mỹ miều của con người. Người mẹ da trắng mịn màng, tóc đen huyền, cánh mũi cao kiêu sa và mắt thì xanh, nhìn da diết. Gương mặt ấy, vầng trán ấy lẽ ra phải làm khuôn mẫu cho các họa sĩ và nghệ sĩ điêu khắc mới đúng, Người con giống mẹ như tạc nhưng mơn mởn hơn, hấp dẫn hơn vì đang tuổi dậy thì, chân cũng dài và thon như chân mẹ, eo nhỏ, bàn tay và cánh tay nõn nà. Sự cân đối giữa mông và ngực tạo cho cô con gái vẻ đẹp vừa rất trần tục vừa rất thanh tú, mỹ miều. Người ta bảo, giống con lai thường đẹp vì tính trội. Quả không sai tí nào.


Một thời ở chợ thị trấn, không ai không biết cô Bảy Tụ, cô gái mang trong mình dòng máu lai Pháp - Việt. Không ai rõ bố cô là ai, chắc là một tên lính Pháp đóng đồn ở thị trấn này. Mẹ cô chết vì bệnh gan cổ trướng, có lẽ tại quá nghiền rượu. Lúc ấy, cô Bảy mới lên bảy tuổi. Một chủ vựa cá ở chợ nhận cô về nuôi, thực ra là mướn người ngồi lựa cá. Nhưng càng lớn, cô gái càng đẹp, vẻ đẹp hiếm có ở vùng này: thân hình chắc lẳn, chân dài, mắt biêng biếc, gương mặt Tây phương nhưng tóc thì đen huyền. Khi đã thành thiếu nữ, cô bán hàng đắt khách đến mức chủ vựa phải thay đổi cách cư xử, nhận cô là con. Nhà có năm đứa con rồi, cô được coi là út, mang thứ bảy. Cái tên cô Bảy Tụ có từ thời ấy, được cô giữ cho tới mãi sau này, khi trở thành vợ bé của một ông chủ có trong tay hai nhà máy đông lạnh ở Chợ Lớn. Năm Bảy Tụ mười sáu tuổi, cô đã đẹp đắm đuối, mê hồn biết bao chàng trai. Ông chủ của hai nhà máy đông lạnh mang tên Đông Hải biết tiếng cô, đã mua một chiếc tàu bốn mươi lăm mã lực tặng cho chủ vựa ở thị trấn đổi lấy cô Bảy Tụ.


Bảy Tụ được bứng về Chợ Lớn hầu hạ Đông Hải. Được một tháng thì cô mang bầu. Vợ cả của Đông Hải ghen quá, thuê côn đồ đánh Bảy Tụ, nhưng thằng đánh thuê lại bị cô quyến rũ. Cô thoát chết. Đông Hải ngấm ngầm mua một căn nhà cho Bảy Tụ ở. Đứa con gái ra đời, được đặt tên rất hợp với người: Thanh Tú. Lâm Thanh Tú ra đời. Vợ cả Đông Hải tuyệt tự. Người ta đồn rằng vì mụ ác và tham quá nên vô sinh. Trong khi đó, Bảy Tụ đẻ sồn sồn năm một. Sau Thanh Tú, Bảy Tụ còn đẻ cho chủ được hai đứa con trai nữa nhưng cả đều chết yểu. Mẹ con Bảy Tụ, Thanh Tú vẫn ở nhà riêng. Bảy Tụ cam chịu, không hề ta thán gì.


Nào ngờ, chính điều nhẫn nhục ấy về sau đã giúp mẹ con Bảy Tụ.


Đánh hơi thấy công cuộc cải tạo tư sản, vợ chồng Đông Hải bí mật tẩu tán tài sản rồi chuồn đi, mang theo những tài sản quí nhất. Trước đó, Đông Hải không quên cô vợ bé đẹp như tài tử xinê, đã dúi cho Bảy Tụ vàng và quí kim. Lão ta không thể nào thuyết phục được vợ lớn cho mang theo Thanh Tú mà sắc đẹp rõ là hơn cả mẹ. Hai mẹ con Bảy Tụ đón đoàn cải tạo của Nguyễn Trọng Phái vào nhà với sự bình tâm: Bảy Tụ chỉ làm chủ một cửa hiệu nhỏ bán đồ hải sản khô ở chợ Bình Tây; toàn bộ tài sản do vợ chồng Đông Hải quản lý. Nhưng đó chưa phải là cái lô cốt an toàn nhất. Cái lô cốt an toàn, chở che cho Bảy Tụ chính là của cải và... sắc đẹp của hai mẹ con. Ngay lần đầu tiên giáp mặt, Phái đã kinh hoàng trước vẻ đẹp của Thanh Tú và của mẹ cô. Điều đó không qua nổi ánh mắt lọc lõi của Bảy Tụ. Quả nhiên, bằng nghệ thuật điêu luyện của mình, Bảy Tụ đã mua đứt được Phái. Mụ biết rất rõ là Nhà nước đang tìm mọi cách chuyển tư sản và tiểu thương sang sản xuất. Mụ biết, chỉ còn cách trở về Mỏ Tôm làm nghề mua bán cá như mười mấy năm trước là đắc sách. Muốn vậy, phải làm thế nào để gom hết được tài sản mụ đang nắm trong tay đưa về Mỏ Tôm làm vốn rồi sẽ tính sau. Nhìn ánh mắt thèm muốn lóe lên trên gương mặt của trưởng đoàn cải tạo, Bảy Tụ quyết định đặt cược thật khẳm vào anh chàng háo sắc này. Giao cho con gái nhiệm vụ tiếp ba nhân viên ở phòng khách, đích thân mụ mời trưởng đoàn Trọng Phái lên lầu thăm phòng riêng của mình và con gái. Lên tới nơi, giữa lúc Phái đang mê mẩn vì làn da trắng, ánh mắt như hút như dán, bộ ngực đồ sộ đầy khiêu khích đang phập phồng của người đàn bà ngoài ba mươi tuổi, sung mãn, thì Bảy Tụ thẳng thắn bày tỏ:


- Thưa anh cán bộ, - giọng Bảy Tụ ngọt lịm như rót vào tai - mẹ con em chỉ mong được về quê sản xuất. Thôi thì trăm sự em chỉ biết trông vào tài đức của anh. Dạ. Được như mong muốn thì mẹ con em sẽ đội ơn anh cán bộ suốt đời. Dạ. Em đây, và... con gái em nữa, cháu nó vừa tròn mười bảy đó. Dạ, hai mẹ con em sẽ chẳng tiếc anh cán bộ điều chi...


Phái ngây ra, chưa kịp nói gì, Bảy Tụ đã quì xuống, ôm lấy đùi của Phái vuốt ve. Phái mỉm cười nhìn cánh cửa phòng đã được chủ nhà cài chốt. Anh đứng lặng, mắt lim dim, buông thả. Thoáng trong óc anh một dự tính: Để coi mụ ta giở trò gì...


Nhưng đầu óc Phái không đủ tỉnh táo “để coi” được nữa. Đêm hôm đó và đêm sau, đêm sau nữa, Phái đến nhà Bảy Tụ. Tất nhiên là đến một mình. Đã lâu lắm, kể từ ngày vô Sài Gòn làm công tác cải tạo, Phái mới được thỏa sức tận hưởng. Với nghệ thuật làm tình của Bảy Tụ thì cô thư ký của Phái chẳng mùi mẽ gì. Kể cả những cuộc truy hoan từ thời Phái còn là học sinh ở trường Đoàn Kết tới giờ; kể luôn cả cô vợ của Phái, Phái đều thấy tầm thường so với của lạ mà Bảy Tụ dâng hiến. Và... Bảy Tụ đã cho Phái no nê tình ái, cùng với năm cây vàng. Bảy Tụ nói:


- Em tặng anh năm cây là để ghi nhớ năm đêm chúng mình... với nhau. Sẽ còn dài dài... nếu anh không quên mẹ con em.


Nguyễn Trọng Phái ký tên vào văn bản kết luận: “Mẹ con bà Trương Thị Tụ chỉ là tiểu thương loại C. Họ vốn là người ở, bị chủ tư sản Đông Hải bóc lột. Đề nghị chính quyền các cấp tạo mọi điều kiện cho bà Trương Thị Tụ được về quê sản xuất theo đúng nguyện vọng của bà”.


*


Mẹ con Bảy Tụ ở thị trấn Mỏ Tôm, mua lại một căn nhà nhỏ đối diện với phòng thủy sản huyện để mở quán nhậu. Chỉ vài ngày sau khi khai trương, quán Thanh Tú đã thu hút hầu như toàn bộ giới ăn chơi thị trấn. Nhưng như thế thì chưa mùi mẽ gì. Thị trấn nhỏ, với vài trăm nóc nhà đâu phải là mục tiêu của mẹ con Bảy Tụ. Ngay từ khi còn ở Sài Gòn, trong cái đêm đầu tiên sử dụng nghệ thuật làm tình để mua đứt trưởng đoàn cải tạo Trọng Phái, Bảy Tụ đã tính tới viễn ảnh: Quán nhậu của mình sẽ có những vòi bạch tuộc vô hình vươn tới các xóm ấp, tới tận ghe, tàu để hút tôm về. Bởi thế, mục tiêu lớn nhất, thực khách mà quán Thanh Tú cần thu hút nhất - là cán bộ lãnh đạo ở huyện, ở xã, và ngư dân. Bảy Tụ muốn nắm cho được người sản xuất và người quản lý những người sản xuất. Mục tiêu rõ ràng, phương tiện thì cực kỳ mạnh: tiền và tình. Bảy Tụ nắm chắc phần thắng ở mình. Thí cho thằng cha trưởng đoàn cải tạo mấy cây vàng, bất quá cũng như là đánh rơi, ăn nhằm gì, sẽ thâu lại mấy hồi. Nghĩ vậy, tính vậy nên Bảy Tụ đi những bước thật vững chắc, và quả là mụ đã đi trước thiên hạ.


Như một khối nam châm khổng lồ, quán ăn Thanh Tú hút vào lòng nó tất cả dân nhậu ở Mỏ Tôm, mà phần lớn là những ngư dân lao động cật lực trên biển. Bảy Tụ xởi lởi với tất cả mọi loại người. Bằng vào thái độ rất niềm nở, lễ độ và đưa tình rất nghệ thuật, bằng vào biện pháp kinh tế cổ truyền để cốt hút khách là bán chịu bán thiếu, quán Thanh Tú nổi tiếng nhanh chóng. Trong các xóm ấp, ai cũng mong sau chuyến đi biển về, được thư thái ngồi nhậu trong quán cô Bảy để vừa thưởng thức các món ăn ngon, vừa thỏa mãn ngắm nhìn cái nõn nường của hai má con cô chủ. Nhiều người, khi nhìn ngắm, nuốt nước miếng xuýt xoa: Cả đời họ ao ước cũng không được tới... thiên đường.


Nhưng chẳng riêng gì giới ăn chơi ở thị trấn, chẳng riêng gì dân ăn nhậu, dân đi biển..., quán Thanh Tú hút vào hầu như toàn bộ cán bộ của huyện. Như là lẽ tự nhiên, người ta ăn sáng ở đây, rồi ăn trưa, ăn chiều. Ai cũng khen quán cô Tú bán rẻ, ăn ngon. Thú vị nhất là có thể ăn cả tháng, khi lãnh lương mới trả tiền. Đối với một vài nhân vật giữ trọng trách ở phòng thuế, phòng thủy sản, công an huyện... thì có quên trả tiền cũng được.


Có cảm tưởng rằng, mẹ con cô Tú mở quán ăn không phải để kiếm lời, làm giàu, mà chỉ đơn thuần là để phục vụ: phục vụ người lao động, phục vụ cán bộ công nhân viên trong huyện. Trong khi quán Thanh Tú khách ăn nườm nượp vô ra, thì ở cửa hàng ăn uống của huyện, mái tranh đã dột, các cô nhân viên chỉ còn mỗi việc bán chui số bia chai ít ỏi cho mấy quán ăn ở trong chợ; và lâu lâu mang thuốc lá vào bán phục vụ cuộc họp của Ủy ban.


Đến khi Nguyễn Trọng Phái được cử về làm trưởng phòng thủy sản Mỏ Tôm thì quán Thanh Tú đã thịnh vượng lắm rồi. Căn nhà mua lại của chủ cũ bây giờ chỉ dành để phục vụ khách. Hai mẹ con cô Tú không còn phải ngủ ở căn nhà ấy nữa. Họ đã xây thêm hai phòng ở sát mé sông, mỗi phòng đều có toa lét riêng, lát gạch men hồng giống những phòng ngủ ở Sài Gòn.


Bảy Tụ đón tân trưởng phòng bằng một bữa tiệc đặc biệt: các món ăn đặc biệt, chai rượu đặc biệt - rượu cônhắc Pháp lâu năm có in ảnh hiệp sĩ mỉm cười. Và, điều này đặc biệt hơn, buổi tiệc có hai người: Phái và Bảy Tụ. Cô con gái duyên dáng rót rượu mời Phái, thoáng bừng mặt khi nhận ra ánh mắt hau háu của Phái nhìn vào khoảng trống do cổ áo hơi rông tạo ra. Cô mỉm cười thật tình rồi ngọt ngào:


- Anh Phái dùng rượu với má. Em xin phép ra ngoài bán hàng. Đừng buồn em nghe!


Mẹ con Bảy Tụ đều kêu Phái là “anh”. Thực tế, Bảy Tụ tuy hơn Phái vài tuổi nhưng còn rất trẻ so với sự lớn con và gương mặt già dặn do chơi bời nhiều của Phái. Đáp lại, Phái kêu Bảy Tụ bằng cái tên mọi người thường kêu: “cô Bảy” và xưng “tôi”. Với Tú, Phái kêu “Tú” và xưng “anh”.


- Sáu tháng mới gặp lại, Tú không cho anh được cụng ly sao?


Phái rời mắt khỏi khoảng trắng ngần ở ngực Tú, để chiếu ánh mắt vào đôi mắt và đôi môi cô.


- Dạ. Vui quá má há.


Tú nói với mẹ để thay lời xin phép, rồi tự rót cho mình một ly và nâng ly rượu, đứng lên. Phái cũng đứng dậy. Anh cố ý đứng thật gần. Khi chạm ly, Phái nhìn rõ bờ môi mọng ướt át đa tình của Tú.


Chờ cho con gái ra khỏi, khép cửa lại, Bảy Tụ nhả nhớt:


- Nhớ anh quá trời hà! Ai ngờ anh lại được điều về đây với em.


- Với má con em chớ! - Phái sán lại, nắm lấy bàn tay người đàn bà, tay kia choàng qua lưng, ghì chặt.


Họ run rẩy ngã xuống giường. Phái tính để bàn tiệc lại ăn sau... Nhưng người đàn bà rõ ràng là chủ động hơn. Bảy Tụ giữ lấy bàn tay người đàn ông đang đói, nói rành rọt:


- Từ từ nào! Nó mang đồ ăn vào kìa!


Phái nuốt nước miếng, ngồi dậy. Bảy Tụ đẩy Phái ngồi vào ghế. Sau một cái hôn thật dài, Bảy Tụ nói:


- Thật là trái đất tròn! Từ lúc biết tin anh về Mỏ Tôm tới giờ, em như trẻ lại! Em nhớ anh quá hà!


- Thiệt không? Nhớ anh hay là... nịnh anh đó?


- Cả nhớ và cả nịnh. Người như anh dại gì mà không nịnh. - Bảy Tụ ghì chặt cổ Phái, áp sát mặt vào mặt Phái, giọng nói run rẩy nhưng thẳng thắn, không úp mở - Người như anh dại gì không nịnh, không chìu! Đẹp trai này, to con này, và quan trọng hơn, có chức, có quyền, lại ham mê sắc đẹp! Đúng không nào?


- Hử! Em... - Phái tính nói “Em lõi đời quá” nhưng kịp ngừng lời.


- Em làm sao?


- Em đẹp quá.


- Đẹp thế nào? - Đôi mắt Bảy Tụ rừng rực đam mê.


- Thế nào à? Bốc lửa chứ còn thế nào nữa. Nào, cho anh đi.


- Hí hí hí... - Bảy Tụ cười, cà bộ ngực đầy khiêu khích vào ngực Phái, rồi kề ly rượu vào môi Phái - Chưa được. Bây giờ anh phải ăn đã. Phải ăn, dạo này anh ốm quá. Phải ăn cho mập mới... đủ sức mà... làm việc chứ.


*


Từ Sài Gòn, Đước về Mỏ Tôm, lòng trĩu nặng nỗi buồn. Chuyến xe đò lèn chặt người và hàng hóa ì ạch lết về đến Cà Mau vừa đúng lúc rađiô nổi nhạc hiệu của chương trình thời sự chiều. Không nuốt nổi tô hủ tiếu nhạt thếch, tanh ngòm của cửa hàng ăn uống quốc doanh, Đước nhịn đói đi tìm nơi ngủ.


Cái gọi là “Nhà khách Ủy ban” trước năm bảy mươi lăm vốn là một khách sạn của tư nhân. Khách sạn vào loại sang nhất xứ này. Mới có mấy năm trời đổi chủ, nó thay đổi quá nhiều. Mỗi phòng trước đây kê một giường đôi, có nệm, có drap trắng đàng hoàng; nay thay vào đó là những chiếc giường cá nhân, trải chiếu, nhiều chiếc đã gãy chân. Không một phòng nào ở trên lầu có nước. Mọi chuyện tắm rửa phải xuống dưới đất. Hệ thống máy lạnh, quạt và đèn néon biến mất. Bây giờ, những chiếc bóng đèn tròn đỏ cạch, dây nhợ lòng thòng, đến cả công tắc cũng không có. Người phục vụ nhà khách dẫn Đước lên lầu hai, lúi húi mãi không bật được đèn, phải nhờ Đước làm giúp. Đước bật lửa, ngoắc hai đầu sợi dây lại. Bóng đèn tròn Thủ Đức loại bảy mươi lăm oát tỏa ra thứ ánh sáng của đèn dầu. Người phục vụ - mà bây giờ Đước mới nhìn rõ mặt, là một cô gái lối ngoài ba mươi tuổi, mặc chiếc quần màu đen bằng loại vải dầu, chiếc áo cũng đen, vải ka tê - giải thích với Đước rằng máy phát điện của thị xã không đủ dầu chạy, điện yếu lắm, sáng như vầy là may lắm rồi.


Lại một đêm nữa, Đước không nhắm mắt được.


Mới ba giờ sáng, anh dậy, mò xuống bể nước tắm giặt một hồi rồi ra bến tàu đò. Đước tìm được chỗ ngồi trên chiếc tàu đò vỏ gỗ đã quá nát, cúi nhìn đồng hồ: mới có bốn giờ.


- Một giờ nữa mới chạy. Chú bộ đội mới tới xứ này lần đầu hả? - Một người trạc năm mươi, có lẽ dân đi biển, vừa bập bập điếu thuốc rê cuốn loa kèn vừa nhìn Đước, ánh mắt thật hiền.


- Cháu ở đây mà!


- Ủa! Dân Mỏ Tôm à?


- Dạ, cháu quê Xẻo Đước.


- Ủa, con anh Hai nào vậy, chú em?


- Dạ, ba cháu là Hai Mắm.


- Trời đất! Con trai ông Hai đây sao? Mới về hả? Giải ngũ hay là về phép? Biết tin ông già chưa?


- Dạ... rồi... Chú ở xã nào, sao biết ba cháu?


- Ở xứ này có ai mà không biết ông Hai! - Ông Năm Xị, tên của người khách, rít một hơi thuốc thật dài, liệng đầu mẩu qua ô cửa xuống sông, rồi thở dài, gương mặt sa sầm - Đời bây giờ đảo lộn hết rồi. Cách mạng thì bị qui là phản cách mạng. Bọn vác súng ăn lương Mỹ ngày trước thì bây giờ lại nắm quyền lãnh đạo xã ấp. Thật tréo ngoe. Bọn nó lùa bà con mình vô tập đoàn như lùa vịt. Ai không vô tập đoàn thì bị qui tội chống cải tạo, chống cách mạng. Dân tình nhốn nháo điêu linh quá xá...


Năm Xị nhổ nước miếng qua ô cửa sổ, nói như độc thoại, không cần biết có ai nghe mình:


- Như ông Hai Mắm, thật là oan ức. Cả một đời làm lụng, con đi theo cách mạng, bản thân ổng cũng từng nuôi giấu cán bộ cấp cao. Vậy mà, đùng một cái bị qui là tư sản, bị cải tạo. Không, ăn cướp thì đúng hơn... Rồi bị vu cho tội phản quốc, vượt biên. Chà! Ai mà tin được ông Hai Mắm lại vượt biên! Nhưng biết làm sao được. Nông nỗi này, còn khổ. Sau ông Hai, đến đám ngư dân bị ăn cướp. Đúng là ăn cướp. Tiền bán tôm không đủ mua dầu. Bán tôm bữa nay, bốn năm tháng sau mới được lãnh tiền. Cứ như là đi xin không bằng! Vô cửa hàng, mua ổ bánh mì cũng phải trả tiền trước. Vậy mà bán hàng tấn tôm, nửa năm mới được lãnh tiền! Hừ! Đời đảo điên quá trời. Một quốc gia muốn hùng cường phải có cái nền tảng đạo lý chứ. Nhưng nền tảng không có! Nó tan rã rồi! Chú em à! Chú em chuyển ngành về huyện nhà, qua mừng lắm. Bà con ngư dân mừng lắm. Nhưng liệu có làm nên cơm cháo gì? Bây giờ mọi việc khác lắm, không giống như những điều người ta nói với dân thuở ở làng rừng đâu.


Khách đã ngồi chật tàu đò, ngồi cả lên mui. Một thanh niên quần tây xanh, áo sơ mi trắng, đeo sắc cốt màu đen, đầu đội nón cối, chân đi loại dép da có quai hậu, đế cao như guốc con gái, bước xuống tàu. Anh ta ngó nghiêng vào các bao bố, những túi, giỏ xách của khách hàng. Một lát, có tiếng phụ nữ xoe xóe ở phía mũi tàu:


- Thôi đi cậu. Thất nhơn thất đức vừa phải thôi chớ. Có mấy trăm cuốn tập học trò, vài chục mét vải mà đánh thuế hai ngàn đồng thì chịu sao thấu? Còn buôn bán sao được nữa. Thế này thì người ta lấy đâu ra quần áo che thân, mấy đứa con nít rồi mù chữ hết. Trời ơi là trời!


- Bà không chịu nộp phải không? Mời bà lên phòng, mang tất cả hàng hóa lên.


- Tôi không đi đâu cả. Bộ cậu bắt tôi hả? Tôi thách đó. Nè, tôi nói cho mà nghe, con tôi nó đi Giải phóng, nó chết trận để cho bây giờ cậu bắt má nó hả? Hả?


Ông Năm Xị nãy giờ ngưng nói, có ý để cho Hai Đước nghe được đoạn đối thoại trên, lúc này, ông rút trong túi ra một bình rượu, loại bình bằng nhựa của nhà binh Mỹ. Ông Năm mời Đước. Đước cầm bình rót đầy nắp, ngửa cổ uống cạn, rồi trao bình cho ông Năm. Ông đưa cả bình lên uống một hơi dài, khà một tiếng khoan khoái và nhổ nước miếng qua ô cửa. Giọng ông vẫn oang oang:


- Ngày trước, mình chửi chế độ nó là sưu cao thuế nặng, bóc lột, bòn rút của dân. Nay mới biết là mình nói bậy... Thuế má bây giờ cao hơn trước, nhiều thứ, nhiều ngạch hơn trước. Có mặt hàng đưa từ ấp lên chợ tỉnh, đóng thuế cả chục lần... Ở xã tôi, xã An Viên ấy mà, người ta bắt giam một lúc tám người vì tội đi biển về không bán tôm cho trạm thu mua của huyện mà ghé vào chợ bán cho chủ vựa. Có nơi xảy ra đánh nhau rồi đó! Đời bây giờ đảo điên quá rồi!


- Chú có biết chú Ba Tràm không? - Đước hỏi.


- Bạn chí cốt của tôi đó. Nghe nói, giả vừa phải giao năm khẩu đáy cho Nhà nước. Con gái giả, con Út Thơm ấy mà, nó là bí thư Đoàn. Nó thuyết phục giả. Chà chà! Cái trò cải tạo, tập thể hóa kiểu này rồi đói rũ xương. Toàn bộ ghe tàu, đáy sông, đáy biển của ông Hai Mắm bị quốc hóa(1) rồi. Riết rồi biển vắng ngắt cho coi. Còn ai thiết đi biển nữa. Đời bây giờ đảo điên rồi mà. Chẳng còn gì là đạo lý nữa.


Hai Đước nghe nhoi nhói trong lòng khi ông Năm Xị nhắc đến cha mình, nhất là những khi dứt một ý, ông lại kết bằng câu “Đời bây giờ đảo điên”. Có lẽ nào đến nông nỗi vậy?


Bao nhiêu ước mơ, hoài bão, bao nhiêu xương máu đổ ra, bao nhiêu mất mát, cam chịu của hàng chục triệu con người, không lẽ để đạt được cái điều mà ông Năm Xị kêu bằng “điên đảo”. Nhưng có thể nào biện minh được, phản bác được? Đó là sự thực. Đước đang sống với thực tại, anh sắp sửa vào cuộc, tắm mình trong sự thực tàn nhẫn ấy. Nhìn những gương mặt trên chiếc tàu đò này, anh thấy gì? Sự đói nghèo đang hiển hiện. Sự bất bình ẩn chứa, chỉ cần có cái cớ là bùng ra, xì ra. Ông Năm Xị - không hiểu tên thật của ông là vậy hay là tại ông ghiền rượu, ông uống một hơi hết năm xị chăng? Nhưng ông Năm Xị đâu có say! Những lời ông nói với Đước suốt chuyến đi là của người tỉnh, rất tỉnh, là của người hiền, rất hiền. Gương mặt ông lúc Đước mới gặp, cũng như lúc chia tay, là gương mặt của người dân biển: quắc thước mà bao dung, khẳng khái mà chí tình, chí nghĩa. Những người dân như cha anh, như ông Ba Tràm, ông Năm Xị đây làm sao anh không tin được?


Sự thật bao giờ cũng nhiều đắng cay.


*


Ấp Xẻo Đước! Sau khi đến Ủy ban huyện làm thủ tục, Đước hối hả về nhà. Dòng sông ăm ắp nước lóa nắng.


Lòng nao nao khi ngồi trên vỏ lãi(1), từ xa Đước đã nhận ra căn nhà thân yêu của mình ở ngay đầu ấp, nơi dòng sông uốn cong hình đuôi tôm. Nơi này, gần bốn mươi năm trước đây, anh đã cất tiếng khóc chào đời. Má anh thường ẵm con - anh và sau đó là Trầm - ngồi ở bậc cầu thang ngóng ra sông đón ba từ hướng biển trở về. Nơi này, anh đau xót đến tê cứng cả tay chân khi nghe tin má bị bọn ác ôn Nguyễn Lạc Hóa bắn chết. Gần hai chục năm đã qua đi, kể từ ngày anh lén cha, bỏ nhà đi Giải phóng. Và nay, anh đã trở về, lòng trĩu nặng nỗi buồn vì biết chắc là cả má, cả ba đều không có ở nhà như những ngày ấu thơ xưa kia... Ôi tuổi ấu thơ, dù nhiều buồn vui, cay đắng, nhưng thật tuyệt vời biết bao. Những ngày đi biển học nghề. Những chuyến ra khơi săn cá mập, đụng tàu của người Mã Lai, suýt nữa thì choảng nhau. Ba anh không nói gì, chỉ nhìn vào con trai và nhìn họ. Thế là họ hiểu. Những người lao động chân chính trên biển, dù là người quốc tịch nào, cũng đều giống nhau ở cái nghĩa hiệp, thương người. Trước cái bao la của biển trời, con người bao giờ cũng thoáng trong tầm nhìn, quảng đại trong cách tư duy. Những ngày thơ ấu, trong tình yêu thương bao la của má, trong sự rèn luyện toàn diện của ba, Đước đã được trui rèn để trở nên một con người không bao giờ biết lui bước trước mọi trở ngại.


Thế nhưng cuôc sống bây giờ khác trước nhiều. Có những chuyện, anh mới nghe, mới gặp lần đầu tiên trong đời. Liệu anh có vững vàng được chăng?


Một tấm bảng to chầng dầng ngay trước nhà Đước. Nó là một tấm tôn gỡ ra từ mái chuồng heo, vẽ bằng sơn đỏ, dòng chữ đã bong sơn, loang lổ: “Công ty Thủy sản Mỏ Tôm - Trạm thu mua số I”. Đước sững sờ. Quả là anh không thể nào ngờ tới. Người ta tịch biên gia sản của cha anh, kể cả căn nhà này để làm trạm thu mua? Hẳn là người ta phải biết anh hiện đang còn ở đây, là sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vậy thì ai, kẻ nào dám tịch biên luôn cả căn nhà này, nơi có bàn thờ ông bà, thờ má? Hai Đước xăm xăm bước lên từng bậc cầu thang, vào nhà. Trong nhà lố nhố năm, sáu người; có hai tay - có lẽ du kích xã - cầm súng AR15 gác ngoài cửa.


- Anh cần gì?


Một tay du kích mặt đen như lai, mắt trắng dã, ria mép tua tủa, sẵng giọng hỏi. Mãi vài năm sau này, anh mới biết chính nó đã xả súng bắn chết ông Năm Xị khi ông vừa được sở hữu chiếc tàu 33 CV(1).


- Tôi về nhà tôi. - Đước cố dằn lòng, trả lời.


Một người đàn ông đã già, to lớn, nãy giờ nhìn đăm đăm vào Đước, chợt la lên:


- Thằng Hai Đước, phải không con?


- Dạ con đây. Chú Ba Tràm! Ôi! Chú Ba mạnh không chú?


Hai người xô hai tay du kích, nhào tới nắm lấy tay nhau, mừng rỡ.


- Chú ngồi đây làm chi? Nhà của con sao vầy nè?


- À... chuyện dài lắm, Hai ơi! Tụi nó đang bắt tao cùng mấy ông, mấy bà đây!


- Bắt giam à? Tội gì chú? - Đước trố mắt hỏi.


- Tội không bán tôm cho trạm. Tao không chịu vô tập đoàn mà. Từ ngày thằng Phái về xứ này, nó lùa hết trọi dân biển vào tập đoàn. Nhờ thành tích cải tạo đó mà tỉnh đã đề nghị Chánh phủ trao huân chương cho huyện này đó. Ôi! Thật là tai họa. Nhưng mà tao không vô. Biển là của chung. Tao đi biển, tao bán tôm là quyền của tao chớ...


- Ra vậy.


Đước thở dài. Anh nhớ lại câu chuyện mà Năm Xị kể ở trên tàu đò. Quay ra phía hai du kích, Đước hỏi:


- Các anh tính giữ chú Ba và bà con tới bao giờ?


- Chúng em không rõ nữa, anh Hai. - Người không để ria mép lễ phép trả lời - Mấy ổng nói tụi em gác thì em chỉ biết gác. Nhưng... có lẽ phải chờ lâu anh Hai à. Em nghe mấy ổng nói là tại vì chú Ba Tràm với mấy người này đã ở ngoài tập đoàn không chịu cải tạo, lại còn ngang nhiên đưa tôm đi bán cho tư thương. Họ tái phạm quá nhiều, không coi luật pháp ra gì, không chịu viết bản cam kết...


- Cái gì? - Ba Tràm quát - Có luật rừng, luật ăn cướp, chứ luật pháp nào cho phép bắt buộc dân phải bán tôm với giá quá rẻ mà không trả tiền liền. Quân ăn cướp! Ai thèm cam kết với chúng mày.


- Thôi đi ông già. - Người có ria mép trợn mắt đốp lại - Ông đừng chửi bới om sòm, tội nặng thêm đó. Biết thân biết phận thì viết cam kết. Muốn lên nhà lao huyện thì tùy.


Hai Đước chưng hửng nhìn người du kích có ria mép; nhìn ông Ba Tràm và bốn người ngư dân cùng bị bắt. Hiện thực cuộc sống ở quê hương đúng là không như anh tưởng: Một xã hội thanh bình, mọi người tự do làm ăn, đi lại, sắm sửa, dựng xây. Té ra, nghĩ vậy mà không phải vậy. Ngồi xe đò từ Sài Gòn về tới Cà Mau, anh đã thấy tận mắt bao nhiêu cảnh khám xét, chặn bắt, cãi cọ, chửi bới, đe dọa rồi. Giờ đây, những câu chuyện của ông Năm Xị đang diễn ra ngay trước mắt anh, ở trong nhà anh - căn nhà ba má anh đã phải lao động cật lực, cúi gập người, lưỡi chạm tới sình, để dựng lên. Giờ đây, một thằng nhãi ranh, tướng mạo lưu manh chứ du kích gì thằng này, nó đang hỗn hào với những người như chú Ba Tràm, suốt một đời dốc lòng theo cách mạng. Có lẽ vì những chuyện ấy mà ông Năm Xị thường kết thúc câu chuyện của mình: “Đời bây giờ đảo điên quá trời!”.


Hai Đước biết rằng, không nên đối thoại với tên lưu manh khoác vỏ du kích mà ông Ba Tràm vừa nói cho anh biết: Cha nó là thiếu úy ngụy đi cải tạo mới được tha về. Anh nói với người du kích không để ria mép đi mời chủ tịch xã tới. Cậu ta lễ phép vâng lời. Đó là Quỳnh, con trai Tư Minh - xã đội trưởng. Trước kia, thời kỳ Đước còn chỉ huy du kích ở làng rừng, xã đội trưởng Minh là liên lạc của anh. Minh bị thương, bị giặc bắt nhưng không hề khai báo. Giặc nhốt Minh trong hầm tối. Khi Đước đưa du kích vào đánh, cứu được Minh ra thì cánh tay trái của anh đã bị nhiễm trùng, phải cưa tay sát nách. Đước đi thoát ly; Minh vẫn bám làng rừng chiến đấu cho đến ngày giải phóng. Bây giờ anh là xã đội trưởng. Vợ anh mới chết sau lần sinh nở thứ mười, cùng với đứa bé thiếu tháng. Quỳnh là con trai đầu, nó mới mười sáu tuổi mà cao lớn y hệt ba nó. Ông Ba Tràm nói rằng, cánh du kích cũ, chỉ còn cha thằng Quỳnh là xài được. Chủ tịch xã thì “quá ể”. Nó coi dân như là quân ngụy không bằng!


Chẳng phải ai xa lạ, chủ tịch xã chính là bạn học cùng lớp thuở nhỏ của Đước. Đó là Thức, con trai ông chủ vựa tôm ở thị trấn. Thức học rất dốt, nhưng được cha cưng chiều, mỗi ngày đi học được cha cho mấy trăm đồng ăn quà. Thức thường mua quà cho Đước ăn; đáp lại, Đước cho Thức cóp pi toàn bộ bài vở. Sau Đước bỏ học, đi du kích. Thức học tiếp nhưng không qua được lớp chín, ở nhà theo nghiệp bán buôn của cha mẹ. Trong một trận tấn công của quân Giải phóng vào Mỏ Tôm, pháo giặc từ cụm giang thuyền trên sông nã vào chợ làm sập toàn bộ nhà cửa. Cha Thức chết ngay từ loạt pháo đầu. Năm bảy mươi, Thức lấy vợ, hai vợ chồng tiếp tục buôn bán cùng bà mẹ già ở chợ Mỏ Tôm. Đầu năm bảy mươi lăm, nhà Thức trở thành cơ sở của du kích, tạo điều kiện cho du kích và lực lượng vũ trang huyện “lót ổ” để tấn công vào Chi khu Quân sự Mỏ Tôm, tiến tới giải phóng hoàn toàn thị trấn. Từ tháng năm năm bảy mươi lăm, Thức là cán bộ thanh niên của huyện; đầu năm bảy mươi sáu được cử về làm chủ tịch xã.


Quỳnh chèo ghe đến trụ sở Ủy ban xã ở giữa ấp Xẻo Đước. Khi được Quỳnh báo tin: “Chú Đước bây giờ là đại úy, vừa về tới, cần gặp chú gấp”, Thức hối hả xuống lấy vỏ lãi đến trạm thu mua liền.


Họ gặp nhau. Thức tỏ ra niềm nở quá đáng, không giấu giếm vẻ quị lụy; rồi không chờ Đước yêu cầu, Thức ra lệnh thả tất cả những người bị bắt giữ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần. Sách đã tái bản lần thứ 12 năm 2013.


www.trieuxuan.info  







(1) Nhà hàng Thanh Tú. Thanh Tú chào đón quí khách.




(1) Ý nói quốc hữu hóa.


 




(1) Loại xuồng nhỏ gắn máy Kôle chín mã lực.




(1) Tàu gắn máy ba mươi ba mã lực.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »